THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LHS VIỆT NAM ĐI HỌC TẠI NƯỚC NGOÀI THEO DIỆN HỌC BỔNG HIỆP ĐỊNH CỦA CỤC HTQT BỘ GDĐT THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LHS VIỆT NAM ĐI HỌC TẠI NƯỚC NGOÀI THEO DIỆN HỌC BỔNG HIỆP ĐỊNH CỦA CỤC HTQT BỘ GDĐT THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LHS VIỆT NAM ĐI HỌC TẠI NƯỚC NGOÀI THEO DIỆN HỌC BỔNG HIỆP ĐỊNH CỦA CỤC HTQT BỘ GDĐT
Trang 1THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LHS VIỆT NAM
ĐI HỌC TẠI NƯỚC NGOÀI THEO DIỆN HỌC BỔNG HIỆP ĐỊNH CỦA CỤC HTQT
- BỘ GDĐT
Trang 2- Thực trạng các chương trình học bổng Hiệp định và qui mô LHS đi học nước ngoài theo diện học bổng
Hiệp định
- Các chương trình học bổng Hiệp định
Chương trình học bổng Hiệp định do Chính phủ cácnước đài thọ trong tổng vốn viện trợ không hoàn lại choChính phủ Việt Nam theo thỏa thuận tại Hiệp định về hợp táckinh tế, Văn hóa, Giáo dục và Khoa học kỹ thuật được ký kếtgiữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước hàng nămhoặc theo giai đoạn Mục đích của học bổng Hiệp định nhằmtăng cường hợp tác, giao lưu trong lĩnh vực văn hóa giáo dụcgiữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước; đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao, bổ sung lực lượng trí thức trẻnhằm xây dựng và phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực Theocác Hiệp định hợp tác này, hàng năm cán bộ và sinh viên ViệtNam được cấp học bổng đi học tập và nghiên cứu tại nướcngoài theo diện học bổng Hiệp định
Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có trình độ đạihọc, sau đại học ở nước ngoài được Đảng, Chính phủ ta rấtquan tâm và LHS được gửi ra nước ngoài đào tạo từ năm
Trang 31951 Có thể chia việc đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ởnước ngoài theo diện học bổng Hiệp định với các nước thànhhai giai đoạn:
ra, hàng năm, trên 200 lưu học sinh được gửi đi học ở các
nước Australia, Bỉ, Hà Lan, Hoa Kỳ, Pháp, Thái Lan, (theo Báo cáo tại Hội nghị "Đổi mới, nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo cán bộ khoa học và công nhân kỹ thuật ở nước ngoài trong giai đoạn mới" của Bộ GDĐT tổ chức tại Hà Nội tháng 2/1990).
Trang 4Lực lượng cán bộ khoa học và công nhân kỹ thuật này
đã góp phần quan trọng trong việc hình thành đội ngũ laođộng kỹ thuật cả về số lượng và chất lượng, về cơ cấu trìnhđộ và ngành nghề, thực sự là lực lượng nòng cốt trong cuộccách mạng khoa học kỹ thuật ở nước ta Việc hợp tác đàotạo với nước ngoài cũng đã góp phần tăng cường tình hữunghị, hiểu biết và hợp tác giữa Việt Nam và các nước
- Giai đoạn từ 1991 đến nay
Từ năm 1991, do Liên Xô tan rã, tình hình các nước thayđổi đột ngột, các hiệp định hợp tác văn hóa, giáo dục giữaViệt Nam và các nước XHCN trước đây không còn hiệu lựcnữa hoặc nếu còn thì số lượng lưu học sinh Việt Nam đượccác nước tiếp nhận giảm đi đáng kể (năm 1991 gửi được 913LHS)
Hiện nay, căn cứ các Hiệp định/Thoả thuận ký kết vớicác nước về việc cấp học bổng Chính phủ các nước để đào tạoLHS Việt Nam, hàng năm có hơn 1.000 LHS Việt Nam đượcnhận học bổng đi học tại các nước theo diện học bổng Hiệpđịnh Bộ GDĐT (Cục HTQT) chịu trách nhiệm quản lý 20chương trình học bổng sau đây: Học bổng của Chính phủ Ấn
Trang 5Độ, Ba Lan, Bê-la-rút, Bun-ga-ri, Ca-dắc-xtan, Cam-pu-chia,Cu-ba, Hung-ga-ri, Lào, Ma-rốc, Môn-đô-va, Mô-dăm-bích,Mông Cổ, Liên bang Nga, Ru-ma-ni, Séc, Xlô-va-ki-a, Xrilan-ca, Trung Quốc, U-crai-na (Xem cụ thể nội dung củatừng chương trình học bổng tại
- Qui mô LHS Việt Nam đi học ở nước ngoài theo diện học bổng Hiệp định
Theo số liệu thống kê của Cục HTQT - Bộ GDĐT, trong
5 năm gần đây, mỗi năm có khoảng 100 nghìn LHSViệt Namđang học tập ở nước ngoài, trong đó chỉ có gần 10% là LHShọc bổng, còn lại hơn 90% là du học tự túc
Cục HTQT - Bộ GDĐT chủ yếu quản lý LHS đi học tạinước ngoài bằng tiền ngân sách nhà nước thông qua các đề án
và LHS đi học theo diện học bổng Hiệp định Đối với các lưuhọc sinh đi du học bằng kinh phí do cá nhân tự túc, theo Quyếtđịnh số 05/2013/QĐ-TTg ngày 15 tháng 01 năm 2013 của Thủtướng Chính phủ về việc Quy định việc công dân Việt Nam ranước ngoài học tập sẽ do tổ chức dịch vụ tư vấn du họccó tráchnhiệm báo cáo số liệu cho cơ quan quản lý cấp trên Hàng năm,các công ty tư vấn du học phải báo cáo số lượng học sinh đi du
Trang 6học bằng con đường tự túc, nước đến, trình độ đào tạo, thờigian học…vào ngày 15 tháng 1 hàng năm cho Sở Giáo dục vàĐào tạo đồng thời gửi báo cáo cho Bộ Giáo dục và Đào tạo(Cục Đào tạo với nước ngoài nay là Cục HTQT) để thống kê
- Số lượng LHS Việt Nam đi học ở nước ngoài từ năm 2008-2017 do Cục HTQT - Bộ GDĐT quản lý
Trong vòng 10 năm từ năm 2008-2017, đã có 13.353LHS được Bộ GDĐT quản lý và cử đi học, trong đó có:
- 6.074 LHS (chiếm 45,49%) đi học nước ngoài hoàntoàn bằng ngân sách nhà nước theo các Đề án 322, 911, 599,Xử lý nợ với Liên bang Nga 33 triệu USD (viết tắt XLN 33tr),Xử lý nợ với Liên bang Nga 17 triệu USD (viết tắt XLN 17tr),
Đề án của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (viết tắtBNN), Bộ Tư pháp (viết tắt BTP), Bộ Công Thương (viết tắtBCT) Hiện nay hầu hết các chương trình này đều đã dừngtuyển sinh (Xem giới thiệu chi tiết về các Đề án tại Phụ lục3)
- 7.279 LHS (chiếm 54,51%) đi học nước ngoài theodiện học bổng Hiệp định (viết tắt HĐ) phía nước ngoài cấphọc bổng toàn phần, ngân sách nhà nước Việt Nam cấp hỗ trợ
Trang 7thêm một phần kinh phí; trong đó tiến sĩ là 1.604 người(chiếm 22,04%), thạc sĩ là 969 người (chiếm 13,31%), đại học
là 3.916 người (chiếm 53,80%) và thực tập sinh là 790 người(chiếm 10,85%)
Hiện nay, Bộ GDĐT quản lý khoảng 20 chương trìnhhọc bổng Hiệp định với các nước Chỉ tiêu tùy theo từng Hiệpđịnh Các chương trình học bổng Hiệp định hầu hết vẫn đangđược tiếp tục gia hạn và triển khai tuyển sinh
- Thực trạng về bộ máy quản lý LHS Việt Nam đi
học ở nước ngoài theo diện học bổng Hiệp định của Cục HTQT - Bộ GDĐT
Tại Việt Nam, Bộ GDĐT đã giao nhiệm vụ cho các đơn
vị chuyên môn thực hiện công tác quản lý LHS, cụ thể:
- Từ năm 2008 đến năm 2015: Bộ GDĐT thành lập CụcĐào tạo với nước ngoài và giao nhiệm vụ chủ trì toàn bộ việcquản lý LHS
- Từ năm 2016 - 2017: Cục Đào tạo với nước ngoài sápnhập với Vụ HTQT và lấy tên Cục HTQT vào tháng 5/2017được giao nhiệm vụ chủ trì toàn bộ việc quản lý LHS ViệtNam đi học tại nước ngoài
Trang 8Ở nước ngoài Đại sứ quán các nước phối hợp với BộGDĐT thực hiện công tác quản lý LHS nhưng hiện nay chỉ
có Đại sứ quán tại LB Nga có Phòng quản lý LHS và 02 Đại
sứ quán (Lào, Trung Quốc) có cán bộ chuyên trách của BộGDĐT, trực tiếp liên hệ với Cục HTQT, phụ trách công táchợp tác giáo dục và quản lý LHS diện Hiệp định tại nướcngoài Một số Đại sứ quán Việt Nam tại các nước sở tại chỉcử cán bộ kiêm nhiệm công tác này Do đó, cán bộ quản lýLHS thực sự đang rất thiếu ở nhiều nước, nhiều địa bàn Đâycũng là vấn đề đang được bàn cãi và đưa ra trong nhiều cuộchọp liên quan đến tổng kết công tác quản lý LHS hàng kỳ,hàng năm
Trong quá trình thực hiện quản lý LHS, Cục HTQT đãnhận được sự phối hợp và hỗ trợ của các đơn vị chức năng cácnước, các tổ chức quốc tế và cơ sở đào tạo nước ngoài
- Cơ cấu tổ chức của Cục HTQT
Qua bảng cho thấy:
Trang 9Công tác quản lý LHS Việt Nam đi học tại nước ngoài ởCục HTQT - Bộ GDĐT chủ yếu do Phòng Giáo dục quốc tếphối hợp với Phòng Hành chính - Tổng hợp và Phòng Giáodục Quan hệ quốc tế thực hiện và cơ bản là do cán bộ, côngchức biên chế thực hiện.
Toàn bộ cán bộ, công chức và người lao động hợp đồngcủa Cục HTQT đều có trình độ đại học trở lên, trong đó tỷ lệ
số người có trình độ sau đại học tương đối cao 55/91 người(chiếm 60,44%) Đây là thế mạnh cũng là điều kiện thuận lợicủa Cục HTQT để nâng cao hiệu quả thực thi công vụ
Tuy nhiên, Cục HTQT tính tới thời điểm này (tháng7/2018) đã thành lập trên cơ sở sát nhập 2 đơn vị là Vụ HTQT
và Cục Đào tạo với nước ngoài được 1 năm 3 tháng nhưngmới có 3 Lãnh đạo Cục được bổ nhiệm bao gồm 01 Cụctrưởng và 01 Phó Cục trưởng Cán bộ lãnh đạo cấp phòng vẫnchưa có Mọi công việc Lãnh đạo Cục đều phải đích thân chỉđạo xử lí dẫn đến tình trạng Lãnh đạo bị sa lầy vào công việc
sự vụ Điều này ảnh hưởng rất lớn tới công tác của Cục nóichung và công tác quản lý LHS nói riêng
Trang 10Để tiếp cận thực trạng bộ máy quản lý LHS và một sốmặt của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý LHS Việt Nam
đi học ở nước ngoài theo diện học bổng Hiệp định của CụcHTQT - Bộ GDĐT, tôi đã dùng phiếu câu hỏi tiến hành khảosát điều tra với 90 khách thể (Xem Phụ lục 11) thuộc cácnhóm sau:
- 60 LHS đang học ở các nước (Liên Bang Nga 30 LHS,Trung Quốc 15 LHS, Hungary 5 LHS, Lào 5 LHS,Campuchia 5 LHS)
- 10 cán bộ quản lý ở Cục HTQT - Bộ GDĐT
- 5 cán bộ của các Cục, Vụ thuộc Bộ GDĐT (Vụ Giáodục đại học, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Giáo dục chính trị vàcông tác học sinh, sinh viên, Vụ Khoa học và Công nghệ, CụcQuản lý chất lượng)
- 3 cán bộ quản lý LHS ở ĐSQ Việt Nam ở các nướcTrung Quốc, Nga và Lào
- 5 cán bộ ở Bộ Công an (A83), Bộ Tài chính (Kho bạcnhà nước TW), Bộ quốc phòng (Đoàn 871) và Ban cán sựĐảng ngoài nước
Trang 11- 5 cán bộ quản lý 5 trường Đại học, Học viện ( ĐH HàNội, ĐH Sư phạm TDTT Hà Nội, ĐH Bách khoa, ĐH Kinh tếquốc dân, Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
- Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý LHS Việt Nam đi học tại nước ngoài theo diện học bổng Hiệp định
của Cục HTQT-Bộ GDĐT
TT Nội dung đánh
giá
Tỷ lệ đánh giá(Số người/tỷ lệ %)
Khôngthường
Trang 12Kết quả điều tra ở bảng cho thấy:
- Về số lượng cán bộ quản lý LHS hiện nay
+ Có tới 71,12% số người được điều tra cho rằng sốlượng cán bộ quản lý LHS Việt Nam đi học tại nước ngoàidiện học bổng Hiệp định hiện nay của Cục HTQT - Bộ GDĐT
là chưa đủ đã phản ánh đúng thực tế Vì chỉ tính số lượng LHS
đi học tại nước ngoài theo diện học bổng Hiệp định từ năm2008-2017 đã là 7.279 người/13.353 tổng số người đi học doCục HTQT quản lý (chiếm 54,51%) mà hiện nay chỉ có 14
Trang 13chuyên viên Phòng Giáo dục quốc tế (trong đó có 3 chuyênviên trong diện quy hoạch cán bộ lãnh đạo cấp Phòng thựchiện công tác quản lý chung công việc của Phòng) thực hiệncông tác quản lý LHS là chính, Phòng HTQT và Phòng Hànhchính - Tổng hợp hỗ trợ Tuy nhiên,những chuyên viên nàykhông chỉ quản lý LHS theo diện Hiệp định mà còn quản lý cảLHS đi theo học bổng ngân sách nhà nước, các nguồn họcbổng khác và cả LHS tự túc kinh phí nên có thể nói hiện nay
số lượng cán bộ quản lý LHS đi học tại nước ngoài của CụcHTQT đang thiếu trầm trọng Nếu chỉ tính con số hơn 6.000LHS đang học tập tại nước ngoài bằng học bổng Hiệp định(3.745 LHS) và ngân sách nhà nước (gần 2.300 LHS) mà CụcHTQT đang quản lý hiện nay thì mỗi chuyên viên Phòng Giáodục quốc tế quản lý trung bình khoảng 550 LHS, trong khinhiều nước con số này là khoảng 200 LHS (cao gần gấp 3 lần,chưa kể LHS các nguồn học bổng khác và LHS tự túc kinhphí) Mặt khác thực tế công tác quản lý LHS có những thời kỳcao điểm phải tập trung giải quyết rất nhiều công việc hànhchính sự vụ như: xử lí thủ tục đi học cho LHS mớicho kịp thờihạn nhập học trùng thời điểm LHS xin chuyển trường, chuyểnngành, gia hạn cần xử lí gấp để LHS kịp vào năm học mới,
Trang 14trùng thời điểm LHS tốt nghiệp về nước cần giải quyết thủ tụctiếp nhận(để kịp thời về cơ quan công tác khi năm học mới bắtđầu đối với những LHS công tác ở các trường) và cũng trùngthời điểm cấp phát kinh phí định kỳ cho LHS đang học Với
“một núi” công việc như vậy, các cán bộ chuyên trách và cácchuyên viên phụ trách quản lý LHS phải “vắt chân lên cổ”chạy đua với thời gian, làm ngày làm đêm để hoàn tất côngviệc Việc làm việc thông trưa không nghỉ ngơi, 7,8 giờ tốithậm chí 10,11 giờ đêm văn phòng vẫn sáng đèn làm việc, thứ
7, chủ nhật đến cơ quan không còn là hiện tượng hiếm gặp ởCục HTQT
+ Có 28,88% số người được hỏi cho rằng số lượng cánbộ quản lý LHS đi học tại nước ngoài của Cục HTQT hiệnnay là đã đủ hoặc tương đối đủ vì tuy số lượng LHS đôngnhưng nhờ các phương tiện công nghệ điện tử nhất là CụcHTQT đã áp dụng công nghệ thông tin, đầu tư xây dựng hệthống phần mềm quản lý LHS hiện đại nên giảm được rấtnhiều thời gian, công sức xử lí các công việc quản lý hànhchính sự vụ chồng chéo Đặc biệt với lòng nhiệt tình, chămchỉ, có trách nhiệm của đội ngũ chuyên viên phụ trách quản lý
Trang 15LHS nên đã kịp thời giải quyết các quyền lợi cho LHS, không
để xảy ra kiện tụng lớn
- Về việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý LHS của cán
bộ quản lý Cục HTQT – Bộ GDĐT đã đạt được kết quả như thế nào?
+ 14/90 ý kiến cho rằng rất tốt – chiếm 15,56%
+ 59/90 ý kiến cho rằng tốt – chiếm 65,56%
+ 17/50 ý kiến cho rằng chưa tốt – chiếm 18,88%
Kết quả điều tra này cho thấy trong nhiều năm qua, mặc
dù có những khó khăn nhất định nhưng đội ngũ cán bộ quản
lý LHS đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đượcgiao, đáp ứng được yêu cầu, mong muốn của những ngườiđược đi học ở nước ngoài Tuy nhiên, vẫn còn 18,88% ý kiếnphản ánh chuyên viên quản lý LHS của Cục HTQT kết quảthực hiện các nhiệm vụ quản lý LHS diện học bổng Hiệp địnhchưa tốt: Một là vì trình độ nghiệp vụ của các chuyên viênquản lý còn chưa đồng đều, công việc sự vụ quá nhiều màquản lý không khoa học sẽ dẫn đến ùn ứ, chồng chéo… Hai là
vì sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan chưa nhịp nhàng Ví
Trang 16dụ tình trạng hay xảy ra ở khâu cấp kinh phí cho LHS làchuyên viên Cục HTQT xử lí xong hồ sơ tài chính cấp phát tàichính gửi ra Kho bạc nhà nước duyệt chi và kho bạc chuyểnngân hàng chuyển tiền cho LHS Tuy nhiên, kho bạc chỉ được
bố trí 01 chỉ tiêu biên chế cán bộ phụ trách duyệt hồ sơ choLHS đi học tại nước ngoài diện học bổng Hiệp định nên tớithời kỳ cao điểm cấp phát kinh phí cho LHS, hơn 10 chuyênviên Cục HTQT chuyển hàng nghìn hồ sơ tài chính tới 01 cánbộ Kho bạc xử lí và phải xử lí trong tháng nếu không sangtháng tỷ giá quy đổi ngoại tệ thay đổi sẽ phải làm lại hồ sơtheo tỷ giá mới (Vì ngân sách nhà nước chi trả bằng VNĐ vàphải quy đổi sang ngoại tệ để chuyển vào tài khoản của LHS
ở nước ngoài) Ba là công tác tuyên truyền để LHS hiểuquyền lợi và nghĩa vụ của mình, hiểu quy trình xử lí nhất làquy trình cấp phát kinh phí, hiểu các quy định về hồ sơ giấytờ…còn làm chưa tốt Chính vì thế với yêu cầu nhiệm vụ quản
lý LHS ngày một cao hơn thì Bộ GDĐT và Lãnh đạo CụcHTQT vẫn cần quan tâm hơn nữa việc bồi dưỡng nâng caotrình độ quản lý LHS cho cán bộ quản lý LHS, thường xuyêntrao đổi, kiến nghị với các đơn vị liên quan để tạo điều kiệnphối hợp công việc tốt với Cục HTQT trong việc quản lý
Trang 17LHS, tuyên truyền cho người đi học hiểu rõ quyền và nghĩa
vụ của mình, hiểu rõ quy định, quy trình quản lý LHS củaCục để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi công vụ của cánbộ quản lý
- Về việc tổ chức bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp
vụ, kinh nghiệm quản lý LHS, nâng cao trình độ ngoại ngữ và
kĩ năng vận dụng tin học trong công tác Kết quả điều tra cho thấy:
+ 28/90 ý kiến cho rằng thường xuyên - chiếm 31/11%+ 62/90 ý kiến cho rằng không thường xuyên - chiếm68,89%
Kết quả thu được đã phản ánh đúng thực trạng công tácbồi dưỡng nâng cao trình độ cho chuyên viên quản lý LHS ởCục HTQT Vì công việc sự vụ quá nhiều nên Cục còn chưachú trọng đến công tác này Thậm chí khi có lớp tập huấn docác đơn vị khác hay do phía nước ngoài tổ chức bồi dưỡngnghiệp vụ liên quan hay lớp bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học hay
đi học sau đại học… Cục đều rất cân nhắc khi cử người tham
dự vì “không có người làm việc” Hầu hết chuyên viên tựtruyền kinh nghiệm cho nhau, “trăm hay không bằng tay
Trang 18quen” làm nhiều sẽ thuần thục Vì vậy, để nâng cao được trìnhđộ công tác quản lý LHS và cập nhật được với các phươngpháp quản lý hiện đại hiện nay, Bộ GDĐT và Cục HTQT cầntạo điều kiện bồi dưỡng thường xuyên, nhiều hơn nữa cho độingũ cán bộ của mình, tránh làm việc theo lối mòn lạc hậu.
- Thực trạng công tác quản lý LHS Việt Nam đi học tại nước ngoài theo diện học bổng Hiệp định
- Quản lý công tác xây dựng và ban hành VBQPPL trong lĩnh vực quản lý LHS Việt Nam đi học tại nước ngoài nói chung, theo diện học bổng Hiệp định nói riêng của Cục HTQT - Bộ GDĐT
Cục HTQT với tư cách là đơn vị trực thuộc Bộ GDĐT,
là cơ quan quản lý nhà nước về GDĐT nên công tác xâydựng, ban hành VBQPPL là một trong những nhiệm vụ quantrọng của Cục nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình,đảm bảo việc quản lý xã hội về giáo dục đào tạo hiệu quả.Thực tế cho thấy, nếu VBQPPL không phù hợp với thực tiễn
có thể dẫn tới những khó khăn trong quá trình thực thi làmảnh hưởng đến uy tín của cơ quan có thẩm quyền ban hànhvăn bản Chính vì vậy, trong những năm gần đây, Cục HTQT
Trang 19rất chú trọng tới công tác xây dựng và trình Chính phủ vàLãnh đạo Bộ GDĐT ban hành các VBQPPL trong lĩnh vựcmình quản lý, trong đó có quản lý LHS Việt Nam đi học tạinước ngoài và đã đạt được một số thành tựu nhất định (Xemchi tiết tại Phụ lục 4) như sau:
- Từ năm 2000-2007 Bộ GDĐT phối hợp với Bộ Tàichính xây dựng và ban hành 02 VBQPPL hướng dẫn về chếđộ, cấp phát và quản lý kinh phí đào tạo LHS ở nước ngoàibằng ngân sách nhà nước và hướng dẫn bồi hoàn kinh phí
- Trong 2 năm 2008, 2009 khi Cục Đào tạo với nướcngoài, cơ quan đầu mối về quản lý LHS đi học ở nước ngoàimới được thành lập nên chưa thực hiện công tác xây dựng vàban hành VBQPPL về quản lý LHS
- Từ năm 2010-2017 Cục HTQT (Cục Đào tạo với nướcngoài trước đây) đã xây dựng và ban hành 23 VBQPPL, thamgia Ban soạn thảo 01 VBQPPL liên quan đến quản lý LHS:Năm ít nhất là 01 VBQPPL (năm 2011) và năm nhiều nhất lênđến 08 VBQPPL (năm 2013), trung bình hàng năm là 3VBQPPL
Trang 20Để đánh giá thực trạng công tác xây dựng và ban hànhVBQPPL trong lĩnh vực quản lý LHS Việt Nam đi học tạinước ngoài của Cục HTQT - Bộ GDĐT, tôi đã dùng phiếucâu hỏi tiến hành khảo sát điều tra với 90 khách thể (Xem Phụlục 11) kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.4.
- Đánh giá thực trạng công tác xây dựng và ban hành VBQPPL trong lĩnh vực quản lý LHS Việt Nam đi học tại
nước ngoài của Cục HTQT - Bộ GDĐT
67,78
%
19
21,11
%
1011,11
%
Trang 21năng kiểm tra,
giám sát của cơ
quan quản lý nhà
nước
77
85,56
%
13
16,67
%
50
55,56
%
25
Trang 22Cục HTQT xây dựng và trình ban hành hoặc tham gia soạnthảo phù hợp với thực tiễn và mang tính khả thi cao Điều này
đã phản ánh khách quan thực tế công tác xây dựng và banhành VBQPPL của Cục HTQT Cục HTQT thường xuyên liênlạc với Đại sứ quán các nước, cán bộ quản lý LHS tại ĐSQcác nước định kỳ 6 tháng và 1 năm báo cáo tình hình LHS choBộ GDĐT (Cục HTQT), các LHS diện học bổng thườngxuyên liên lạc và định kỳ 6 tháng nộp báo cáo tình hình họctập về Cục HTQT nên Cục HTQT nắm bắt khá đầy đủ tìnhhình LHS do Cục quản lý Khi xây dựng VBQPPL Cục đềudựa trên tình hình thực tế, lấy ý kiến đóng góp của nhiềuchuyên gia, ĐSQ các nước, tổ chức, cơ sở đào tạo nước ngoài,
cơ quan công tác của LHS taị Việt Nam, bản thân LHS và cácđơn vị có liên quan trong và ngoài Bộ Đồng thời thườngxuyên đánh giá tác động của các VBQPPL đã ban hành trongthực tiễn để kịp thời bổ sung, điều chỉnh hoặc thay thế cácquy định không còn phù hợp Ví dụ Thông tư số 01/2013/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh đi học nước ngoài vừaban hành ngày 29 tháng 1năm 2013 nhưng đến tháng 3 năm
2016 Cục đã ban hành Thông tư số 06/2016/TT-BGDĐT thaythế Nguyên nhân là do năm 2015 Bộ GDĐT bắt đầu triển
Trang 23khai kỳ thi quốc gia 2 trong 1: gộp hai kỳ thi là Kỳ thi tốtnghiệp trung học phổ thông và Kỳ thi tuyển sinh đại học vàcao đẳng do đó tiêu chí điểm thi đầu vào đại học để xét tuyển
đi học đại học tại nước ngoài đã không còn phù hợp, CụcHTQT lập tức xây dựng và ban hành thông tư thay thế để kịptriển khai công tác tuyển sinh năm 2016 Hay Thông tư liêntịch số 144/2007/TTLT-BNG-BGD&ĐT-BTC ngày 5 tháng
12 năm 2007, hướng dẫn chế độ, cấp phát và quản lý kinh phíđào tạo LHS Việt Nam ở nước ngoài bằng nguồn vốn ngânsách Nhà nước, sau 3 năm thực hiện đã được sửa đổi, bổ sungbằng Thông tư Liên tịch số 206/2010/TTLT-BNG-BGD&ĐT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2010 Nguyên nhân là do mức độlạm phát ở Việt Nam cũng như các nước LHS đến học nêncần tăng mức kinh phí cấp cho LHS và bổ sung thêm mức cấpbảo hiểm y tế cho một số quốc gia chưa có tên trong thông tưtrước…Chính vì vậy, các VBQPPL về quản lý LHS do Cụcxây dựng và ban hành đều được các đối tượng trong phạm viđiều chỉnh thực hiện nghiêm túc, góp phần quyết định hiệuquả của công tác quản lý LHS Việt Nam đi học tại nước ngoàitại Cục HTQT
Trang 24Tuy nhiên vẫn còn có 9/90 người được hỏi (chiếm 10%)cho rằng công tác xây dựng và ban hành VBQPPL về quản lýLHS Việt Nam đi học ở nước ngoài của Cục HTQT chỉ đạtmức độ trung bình Điều này đòi hỏi Cục HTQT thườngxuyên phải thực hiện công tác đánh giá tác động của cácVBQPPL đã ban hành để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phùhợp với thực tiễn.
- Ở nội dung 2:
Đánh giá về tính toàn diện, đồng bộ, chặt chẽ, rõ ràng vàkhoa học của VBQPPL về quản lý LHS Việt Nam đi học tạinước ngoài thì có 61/90 ý kiến (chiếm 67,78%) cho là tốt,19/90 ý kiến (chiếm 21,11%) cho là trung bình và vẫn cònmột bộ phận 10 ý kiến (chiếm 11,11%) cho là chưa tốt
Đánh giá này đã phản ánh khách quan thực trạng xâydựng và ban hành VBQPPL về quản lý LHS Việt Nam ở nướcngoài của Cục HTQT Hệ thống các VBQPPL quản lý LHSdiện học bổng ngân sách nhà nước và học bổng Hiệp định đãđược kiện toàn tương đối toàn diện, quy định chặt chẽ, rõ ràng
và khoa học đầy đủ từ khâu tuyển sinh, thủ tục cử đi học, chếđộ báo cáo, cấp phát kinh phí, gia hạn, điều chỉnh, tạm dừng
Trang 25học, thôi học, khen thưởng, kỷ luật, bồi hoàn đến khâu tiếpnhận về nước Tuy nhiên, đối với LHS Việt Nam đi học ởnước ngoài bằng kinh phí tự túc thì chưa được quy định đầy
đủ, rõ ràng, chưa quy định chế tài quản lý chặt chẽ Mảngquản lý này được giao cho các tổ chức tư vấn du học định kỳbáo cáo Sở GDĐT các tỉnh/thành phố và báo cáo cho CụcHTQT nhưng thực tế không phải tất cả LHS tự túc đều đi theo
sự giới thiệu của trung tâm tư vấn du học và cũng không phảitrung tâm tư vấn du học nào cũng đăng ký kinh doanh và báocáo đầy đủ nên thực sự việc quản lý LHS Việt Nam đi học tạinước ngoài diện tự túc kinh phí vẫn là bài toán để ngỏ đối vớiBộ GDĐT (Cục HTQT)
- Với nội dung thứ 3:
Có tới 85,56% số người được điều tra đánh giá VBQPPL
về quản lý LHS Việt Nam đi học ở nước ngoài của CụcHTQT xây dựng và ban hành có nội dung bảo vệ tối đa quyền
và lợi ích của người đi học, tăng cường chức năng kiểm tra,giám sát của cơ quan quản lý nhà nước Đúng vậy, cácVBQPPL này là “tấm bùa hộ mệnh” về mặt pháp luật choLHS Việt Nam khi học tập tại nước ngoài, ở đây quy định rất
rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người đi học cũng như trách
Trang 26nhiệm của các cơ quan chức năng Đồng thời đây cũng làcông cụ để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường chứcnăng kiểm tra, giám sát
Tuy nhiên vẫn còn 14,44% ý kiến đánh giá ở mức độtrung bình đòi hỏi Cục HTQT cần quan tâm hơn nữa tới lợiích của người học và tăng cường công tác kiểm tra, giám sátcủa cơ quan quản lý nhà nước đối với việc quản lý LHS
- Còn nội dung thứ 4:
Đánh giá về độ công khai, minh bạch, công tác tuyêntruyền, phổ biến VBQPPL về quản lý LHS Việt Nam đi học ởnước ngoài của Cục HTQT thì hơn một nửa ý kiến 50/90(chiếm 55,56%) đánh giá ở mức độ trung bình, chỉ có 15/90 ýkiến (chiếm 16,67%) đánh giá tốt và có đến 25/90 ý kiến(chiếm 27,77%) ý kiến đánh giá chưa tốt
Điều này đã phản ánh khách quan thực trạng thực tế.Các VBQPPL về quản lý LHS Việt Nam đi học ở nước ngoài
từ khâu xây dựng tuy có lấy ý kiến trưng cầu công khai, minhbạch nhưng chưa thực sự rộng rãi, đại trà, cho đến khâu banhành văn bản cũng mới chỉ dừng lại ở mức tối thiểu là đăngcông khai VBQPPL và hướng dẫn thực hiện trên trang Thông
Trang 27tin điện tử Cục và Bộ, trên Công báo mà chưa thực sự tuyêntruyền rộng rãi nên nhiều người thậm chí là cả người đi họcnước ngoài và cơ quan công tác/chủ quản của LHS ở ViệtNam nhiều khi cũng nắm không rõ những quy định mà mình
là đối tượng trực tiếp chịu tác động
- Quản lý công tác tuyển sinh
- Về chỉ tiêu tuyển sinh
Cùng với việc mở cửa và hội nhập kinh tế, Chính phủ,Bộ GDĐT, Cục HTQT đã nỗ lực mở rộng HTQT về giáo dục,tranh thủ tận dụng, đàm phán ký kết với nhiều nước đối tác đểgiúp đỡ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng caothông qua các thỏa thuận và dự án cấp chính phủ Kết quả,Chính phủ nhiều nước đã tăng số lượng học bổng cho côngdân Việt Nam, cụ thể Liên bang Nga tăng dần từ 285 suấtnăm 2008/năm lên 408 suất/năm vào năm 2011 và lên 953suất/năm vào năm 2017; Hung-ga-ri tăng từ 5 suất/năm lên
100 suất/năm vào năm 2017 và 200 suất vào năm 2018, ma-ni tăng từ 10 suất/năm lên 20 suất/năm
Ru-Đối với các chương trình học bổng không quy định cụthể số lượng từng bậc đào tạo, Bộ GDĐT ưu tiên dành chỉ tiêu
Trang 28để đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ cho các trường đại học, cao đẳng,viện nghiên cứu khoa học, phòng thí nghiệm trọng điểm quốcgia, các trung tâm công nghệ cao.
Theo báo cáo tình hình LHS tháng 3/2018 của CụcHTQT, trong 10 năm qua, chỉ tiêu tuyển sinh của các chươngtrình học bổng Hiệp định là khoảng 8.655 chỉ tiêu, chỉ tiêutuyển sinh tăng lên hàng năm do Chính phủ các nước tăng chỉtiêu học bổng cho chúng ta, đặc biệt là LB Nga và Hungary.Tuy nhiên, số lượng ứng viên Cục HTQT tuyển sinh sơ tuyểnđược để giới thiệu cho phía bạn cấp học bổng chỉ đạt 92,36%chỉ tiêu tuyển sinh là 7.994 người và số ứng viên được phíabạn duyệt cấp học bổng và thực tế đi học chỉ là 7.279 người,đạt 87,57% chỉ tiêu tuyển sinh và 91,06% số lượng ứng viênđược sơ tuyển (Xem thống kê chi tiết tại Phụ lục 5, Phụ lục 6
và Phụ lục 7)
Như vậy, so với chỉ tiêu học bổng các nước cấp cho ViệtNam thì Cục HTQT chưa tuyển và cử đi học đủ chỉ tiêu.Nguyên nhân có thể kể đến là do một số chương trình họcbổng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ cao (Xri Lan-ca) hoặckhông cấp học bổng cho năm học tiếng (Bê-la-rút, U-crai-na)hoặc bất ổn về chính trị (U-crai-na), hoặc ở một số quốc gia
Trang 29xa xôi, chưa phát triển nên chưa thực sự hấp dẫn người đếnhọc Một nguyên nhân nữa là công tác tuyên truyền chưa tốt,chưa nhiều người biết đến các chương trình học bổng Hiệpđịnh và cũng có nguyên nhân xuất phát từ phía ứng viên đượcphía Việt Nam sơ tuyển nhưng phía nước ngoài không tiếpnhận hoặc có người đã trúng tuyển nhưng không đi học Điềunày đòi hỏi Cục HTQT cần tăng cường nâng cao hiệu quảcông tác tuyển sinh để tận dụng tối đa chỉ tiêu học bổng phíanước ngoài đã cấp cho chúng ta
- Về đối tượng tuyển sinh
Đối tượng tuyển sinh của chương trình học bổng diệnHiệp định là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có
đủ sức khỏe, theo các độ tuổi: dưới 40 tuổi đối với đào tạotrình độ tiến sĩ, dưới 35 tuổi đối với đào tạo trình độ thạc sĩ,dưới 50 tuổi đối với thực tập, dưới 25 tuổi đối với đào tạotrình độ đại học, bao gồm:
- Cán bộ, công chức trong biên chế hoặc hợp đồng dàihạn hiện đang làm việc tại các cơ quan nhà nước;
- Sinh viên đại học năm thứ nhất có kết quả học tập tốt,phẩm chất đạo đức tốt;
Trang 30- Học sinh đoạt giải tại các kỳ thi quốc tế, khu vực, quốcgia thuộc đối tượng được tuyển thẳng vào đại học;
- Sinh viên tốt nghiệp đại học, học viên tốt nghiệp thạc
sĩ trong nước hoặc nước ngoài đạt kết quả tốt trong vòng 12tháng, đăng ký học chuyển tiếp lên bậc học cao hơn, chưa cóquyết định tuyển dụng hoặc hợp đồng làm việc, hợp đồng laođộng và cam kết sau khi hoàn thành khóa học sẽ về nước làmviệc theo yêu cầu của Nhà nước
So với các chương trình học bổng ngân sách nhà nướcthì đối tượng tuyển sinh của chương trình học bổng Hiệp định
mở rộng hơn không bị khống chế về ngành nghề, cơ quancông tác, trình độ đào tạo và trình độ ngoại ngữ (Ví dụ Đề án
322 chỉ tuyển sinh sinh viên thủ khoa đầu vào đại học, sinhviên đạt giải NCKH cấp toàn quốc; Đề án 599 chỉ tuyển sinh
đi học trình độ đại học và thạc sĩ, chỉ tuyển sinh viên đạt giảiquốc tế, khu vực, không tuyển sinh các ngành kinh tế, quản lý
; Đề án 911 chỉ tuyển sinh trình độ tiến sĩ, đối tượng là giảngviên các trường cao đẳng, đại học hoặc cam kết sau khi tốtnghiệp về làm giảng viên; Đề án 599 và 911 yêu cầu ứng viênphải đủ trình độ ngoại ngữ ) Chính vì thế đã tạo cơ hội lớncho cán bộ, sinh viên, học sinh thuộc các trường trung cấp,
Trang 31trung cấp nghề, cao đẳng, đại học và các cơ quan nhà nước ởnhững vùng xa xôi như Đại học Thái Nguyên, Đại học ĐàLạt, Đại học Tây Nguyên, Đại học Tây Bắc, Đại học QuyNhơn, Đại học Xây dựng miền Tây v.v tiếp cận đào tạo quốc
tế, góp phần tạo dựng một đội ngũ cán bộ chủ chốt trong việc
mở rộng, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa họccủa nhà trường Đồng thời, chương trình đã tạo cơ hội cho nhiềuđối tượng cán bộ, sinh viên, học sinh có năng lực, ham học hỏi,tiếp cận học thuật quốc tế chứ không chỉ giới hạn ở một số lượngnhỏ những ứng viên đặc biệt xuất sắc như các học bổng ngânsách nhà nước hay các học bổng quốc tế khác (Ví dụ nhưFullbright, Ausaid)
-Về trình độ đào tạo, phương thức đào tạo và nơi đào tạo
Chương trình đã thực hiện đào tạo các trình độ Tiến sĩ,Thạc sĩ, Kỹ sư, Cử nhân, Thực tập sinh theo phương thức đàotạo tập trung toàn thời gian ở nước ngoài
Về phân bổ số lượng người đi học theo trình độ đào tạođược thực hiện theo Hiệp định đã ký kết.Đối với các chươngtrình học bổng không quy định cụ thể số lượng từng bậc đào
Trang 32tạo, Bộ GDĐT ưu tiên dành chỉ tiêu để đào tạo tiến sĩ, thạc sĩcho các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu khoa học,phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, các trung tâm côngnghệ cao.
- Số liệu LHS đi học diện Hiệp định theo các trình độ đào
tạo giai đoạn từ năm 2008-2017
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Trang 33Chương trình học bổng Hiệp định tuyển sinh trình độ đạihọc nhiều nhất chiếm 53,80%, tiếp theo là tiến sĩ chiếm22,04%, thạc sĩ chiếm 13,31% và cuối cùng là thực tập sinhchiếm 10,85%.
Cùng thời gian khảo sát từ năm 2008-2017 thì học bổngngân sách nhà nước ưu tiên tuyển sinh trình độ tiến sĩ 64,04%,tiếp theo là thạc sĩ 22,16%, đại học 13,07% và thực tập sinh làrất ít 0,72% (Nguồn Báo cáo các Đề án, Cục HTQT tháng5/2018)
Các con số trên đây cho thấy nhà nước ta khi xây dựng
đề án chú trọng tuyển sinh trình độ sau đại học còn học bổngHiệp định chủ yếu tuyển sinh trình độ đại học do có một sốHiệp định đã cố định chỉ tiêu bậc học Đây cũng là một vấn đềcần chú ý khi đàm phán ký kết hiệp định hoặc khi triển khaituyển sinh những chương trình học bổng lớn không quy định
cụ thể số lượng từng bậc đào tạo để phù hợp với mục tiêu đàotạo nhân lực chất lượng cao của đất nước trong từng giai đoạn
cụ thể
- Số liệu LHS đi học diện Hiệp định theo nước đến học và
trình độ đào tạo giai đoạn từ năm 2008-2017
Trang 35Qua bảng cho thấy:
- Số LHS học tập ở 20 nước trong 10 năm qua 2017) chủ yếu tập trung ở Liên bang Nga: 5069 người chiếm 69,64%
(2008 Trung Quốc là nước phát triển mạnh và đang có xu thếtrở thành cường quốc vào hàng nhất, nhì thế giới nhưng sốLHS Việt Nam được đào tạo ở đây đứng thứ 2 với số lượng
Trang 36415 người (5,7%), không nhiều hơn nhiều so với Lào 388LHS (chiếm 5,33%), Campuchia 277 LHS (chiếm 3.81%),Hungary 269 LHS (chiếm 3,7%), các nước cấp trên 100 LHS
là Ấn Độ, Cuba, Ucraina, các nước còn lại dưới 100 LHS
- Về ngành nghề đào tạo
Về phân bổ ngành nghề, LHS được cử đi học diện Hiệpđịnh nhóm ngành Khoa học xã hội có tỷ lệ cao nhất là 39%,LHS học ngành Khoa học kỹ thuật 26%, 20% học ngànhKhoa học tự nhiên, 8% học ngành Kinh tế - Quản lý, 4% họcngành Y Dược, 2% học ngành Khoa học Nông - Lâm - Thủysản và 1% học ngành Nghệ thuật
- Số liệu phân bổ LHS đi học diện Hiệp định từ 2008-2017
theo ngành nghề đào tạo
Khác với học bổng theo các Đề án, ứng viên có thể đềxuất cơ sở đào tạo hoặc chương trình đào tạo ở nước ngoàimong muốn đến học Đối với các chương trình học bổng diệnHiệp định, LHS không phải tìm cơ sở đào tạo tiếp nhận tạinước ngoài mà chỉ nêu nguyện vọng của mình về nơi học, sau
đó phía bạn chủ động bố trí sắp xếp vào học tại các cơ sở đàotạo để học dự bị tiếng và cơ sở đào tạo học chuyên ngành theo
Trang 37quy định của phía Bạn tại các cơ sở học tập được công nhậncủa nước đó Do vậy, văn bằng của các LHS diện Hiệp địnhsau khi tốt nghiệp về nước đều đảm bảo chất lượng và đượcBộ GDĐT công nhận Một số các chương trình học bổng diệnHiệp định quy định ngành nghề và chỉ tiêu đào tạo cụ thể như:Cuba (chỉ được 2 chỉ tiêu ngành y khoa, 2 chỉ tiêu báo chítrong tổng số 20 chỉ tiêu học bổng), Ba Lan và Ấn Độ khôngđào tạo ngành Y khoa (Tham khảo thông tin chi tiết tại Phụlục 8).
- Về quy trình tuyển sinh
Từ năm 2008-2017 Bộ GDĐT giao Cục HTQT (CụcĐào tạo với nước ngoài trước đây) là đơn vị chủ trì thực hiệncông tác tuyển sinh đối với tất cả các chương trình học bổngnói chung và chương trình học bổng Hiệp định nói riêng
Công tác tuyển sinh các chương trình học bổng Hiệpđịnh được thực hiện theo hình thức xét tuyển theo quy định tạiThông tư số 06 của Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành Quy chếtuyển sinh đi học tại nước ngoài (trước áp dụng theo Thông tư
số 01/2013/TT-BGDĐT ngày 29/01/2013) và theo quy địnhtại Nghị định, Thỏa thuận hợp tác với các nước
Trang 38Quy trình tuyển sinh được thực hiện như sau:
Bước 1 Lập kế hoạch tuyển sinh
Căn cứ Hiệp định đã ký kết, hàng năm Cục HTQT lập kếhoạch tuyển sinh chương trình học bổng Hiệp định bao gồmcác nội dung: Dự trù thời gian tuyển sinh, phương án tuyểnsinh, dự trù kinh phí, dự trù nhân lực thực hiện công tác tuyểnsinh, liên hệ với phía nước ngoài xác định chỉ tiêu tuyển sinh
và đàm phán các yêu cầu khác về điều kiện tuyển sinh (nếucó)
Bước 2 Ban hành thông báo tuyển sinh
Căn cứ kế hoạch tuyển sinh và chỉ tiêu tuyển sinh cụ thểphía nước ngoài cung cấp, Cục HTQT thực hiện theo 02 hìnhthức: i) Cục chủ trì soạn thảo và ký ban hành thông báo tuyểnsinh đối với chương trình học bổng từ 20 chỉ tiêu trở xuốngtheo ủy quyền của Lãnh đạo Bộ GDĐT; ii) Cục chủ trì soạnthảo thông báo, xin ý kiến các đơn vị liên quan trong Bộ đốivới chương trình học bổng từ 20 chỉ tiêu trở lên và trình lãnhđạo Bộ GDĐT ký ban hành
Thông báo tuyển sinh được đăng tải công khai trên trang
Trang 39web của Bộ GDĐT www.moet.gov.vn và trang web của CụcHTQT www.vied.vn
Bước 3: Ứng viên nộp hồ sơ dự tuyển
Ứng viên nộp hồ sơ dự tuyển theo thông báo và đăng kývào hệ thống đăng ký trực tuyến (online) kèm theo các files
hồ sơ định dạng PDF tại địa chỉ https://tuyensinh.vied.vn vàgửi đảm bảo hồ sơ giấy qua đường bưu điện đến Cục HTQT
Bước 4: Xử lý hồ sơ tuyển sinh
Cục HTQT tập hợp hồ sơ dự tuyển, hoàn thiện danh sáchtrích ngang online của ứng viên dự tuyển; Tổ chức các vòngđối chiếu kiểm tra thông tin của ứng viên với hồ sơ gốc.Thành lập Hội đồng tuyển chọn của Bộ GDĐT thực hiện xétduyệt ứng viên để trình lãnh đạo Bộ phê duyệt Tiêu chí xéttuyển được quy định theo Thông tư và theo quy định cụ thểcủa từng chương trình học bổng
Bước 5: Gửi hồ sơ đi đàm phán học bổng với phía nước ngoài
Cục HTQT trình lãnh đạo Bộ phê duyệt danh sách ứngviên trúng sơ tuyển Trợ giúp ứng viên hoàn thiện hồ sơ để
Trang 40gửi đi đàm phán với phía nước ngoài như: Tư vấn định hướngcho ứng viên về cơ sở đào tạo, thế mạnh của từng trường củaphía nước ngoài, trợ giúp ứng viên chọn đăng ký trường, liên
hệ xin thư tiếp nhận (theo quy định của từng chương trình họcbổng) và gửi công văn kèm danh sách ứng viên được sơ tuyển
đi đàm phán học bổng với phía nước ngoài
Đối với một số chương trình học bổng như Hung-ga-ri,Liên bang Nga, Xlô-va-ki-a, Trung Quốc sau khi có kết quả
sơ tuyển của Bộ GDĐT, ứng viên cần tiếp tục thực hiện quytrình đăng ký và upload hồ sơ vào hệ thống đăng ký trựctuyến của phía nước ngoài Một số cơ sở đào tạo tại Hung-ga-
ri yêu cầu ứng viên phải trả qua bài phỏng vấn online Hồ sơonline của ứng viên không hợp lệ sẽ bị phía nước ngoài từchối tiếp nhận
Sau khi có kết quả tiếp nhận của phía nước ngoài, CụcHTQT sẽ thông báo kết quả tuyển chọn đến các ứng viên từ
hệ thống phần mềm quản lý tuyển sinh gửi tới qua email đểcác ứng viên hoàn thiện hồ sơ làm thủ tục đi học theo quyđịnh