1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng anh và tiếng việt

227 168 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau vẫn có sức hấp rất dẫn lớn, về thi ca có Nguyễn Thị Bích Hạnh [6], Phạm Thị Hương Quỳnh [23]; về thành ngữ tục ngữ có Vi Trường Phúc [21], Trần

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-o0o -

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-o0o -

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Ngành, chuyên ngành : Ngôn ngữ học, so sánh đối chiếu

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ QUANG NĂNG

Hà Nội, 2019

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Các tương đồng ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH 26 Hình 1.2 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm (Lakoff&Johnson,1980) 27 Hình 1.3 Các nhóm ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh

và tiếng Việt 40 Hình 2.1 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ ĐỘNG VẬT 52 Hình 2.2 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỰC VẬT 59 Hình 2.3 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ LỬA 63 Hình 2.4 Các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN LÀ CỖ MÁY trong bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng Việt……… 82 Hình 3.1: Lược đồ “đường đi” 91 Hình 3.2: Ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỂ THAO trong bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng Việt 105 Hình 4.1 Ánh xạ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CƠ THỂ

NGƯỜI 120 Hình 4.2 Sơ đồ các nhóm ẩn dụ ý niệm về THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

có miền nguồn là KHÔNG GIAN trong bản tin TTCK 130

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các tương đồng ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN LÀ BIỂN 44 Bảng 2.2 Các tương đồng ánh xạ của ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỜI TIẾT 69 Bảng 2.3 Các tương đồng ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 76 Bảng 2.4 Các tương đồng ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN LÀ CỖ MÁY 82 Bảng 3.1: Ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong bản tin TTCK 92 Bảng 3.2: Các tương đồng ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN LÀ SÂN KHẤU 99 Bảng 3.3: Các tương đồng ánh xạ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ

CHIẾN TRƯỜNG 111

Trang 6

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát 3

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.2 Ngữ liệu khảo sát 4

4 Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6

6.1 Về mặt lí luận 6

6.2 Về mặt thực tiễn 6

7 Cấu trúc của luận án 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế 8 1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 18

1.2 Cơ sở lý thuyết về ẩn dụ ý niệm 20

1.2.1 Định nghĩa về ẩn dụ ý niệm 20

1.2.2 Thuyết ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory) 20

1.2.3 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm 23

1.2.4 Ẩn dụ ý niệm và văn hoá 31

1.2.5 Một số đặc trưng văn hoá của các nước nói tiếng Anh và của Việt Nam 37

Trang 7

1.3 Khung cơ sở lý thuyết 37

1.4.Tiểu kết 42 CHƯƠNG 2 ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÓ MIỀN NGUỒN LÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG TRONG BẢN TIN TIẾNG ANH

2.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ ĐỘNG VẬT trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 51

2.2.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ ĐỘNG VẬT trong bản tin tiếng Anh 52 2.2.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ ĐỘNG VẬT trong bản tin tiếng Việt 55 2.2.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ ĐỘNG VẬT trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 56

2.3 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỰC VẬT trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 58

2.3.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỰC VẬT trong bản tin tiếng Anh 59 2.3.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỰC VẬT trong bản tin tiếng Việt 61 2.3.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỰC VẬT trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 62

2.4 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ LỬA trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 62

Trang 8

2.4.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ LỬA trong bản tin tiếng Anh 64 2.4.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ LỬA trong bản tin tiếng Việt 66 2.4.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ LỬA trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 66

2.5 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỜI TIẾT trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 67

2.5.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỜI TIẾT trong bản tin tiếng Anh 69 2.5.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỜI TIẾT trong bản tin tiếng Việt 72 2.5.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỜI TIẾT trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 74

2.6 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 76

2.6.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY

DỰNG trong bản tin tiếng Anh 77 2.6.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY

DỰNG trong bản tin tiếng Việt 78 2.6.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 80

2.7 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 81

2.7.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Anh 83 2.7.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Việt 86 2.7.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 88

2.8 Tiểu kết 89

Trang 9

CHƯƠNG 3: ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÓ MIỀN NGUỒN LÀ HOẠT ĐỘNG TRONG BẢN TIN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 91

3.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 91

3.1.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong bản tin tiếng Anh 92 3.1.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong bản tin tiếng Việt 96 3.1.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 98

3.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 99

3.2.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Anh 100 3.2.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Việt 102 3.2.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 103

3.3 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỂ THAO trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 104

3.3.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỂ THAO trong bản tiếng Anh 105 3.3.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỂ THAO trong bản tin tiếng Việt 108 3.3.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỂ THAO trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 108

3.4 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CHIẾN TRƯỜNG trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 110

3.4.1 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CHIẾN TRƯỜNG trong bản tin tiếng Anh 112

Trang 10

3.4.2 Ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CHIẾN TRƯỜNG trong

bản tin tiếng Việt 114

3.4.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CHIẾN TRƯỜNG trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 117

3.5 Tiểu kết 118

CHƯƠNG 4: ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÓ MIỀN NGUỒN LÀ CƠ THỂ NGƯỜI VÀ KHÔNG GIAN TRONG BẢN TIN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 120

4.1 Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán có miền nguồn là CƠ THỂ NGƯỜI trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 120

4.1.1 Ẩn dụ ý niệm TÌNH TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHOẺ SINH LÝ trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 121

4.1.2 Ẩn dụ ý niệm TÌNH TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHOẺ TÂM LÝ trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 127

4.2 Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán có miền nguồn là KHÔNG GIAN trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 129

4.2.1 Ẩn dụ ý niệm có miền nguồn là hướng LÊN-XUỐNG trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 130

4.2.2 Ẩn dụ ý niệm có miền nguồn là vị trí CAO-THẤP trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 135

4.2.3 Ẩn dụ ý niệm có miền nguồn là hướng RA-VÀO trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt 139

4.3 Tiểu kết 142

PHẦN KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 148 PHỤ LỤC

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngôn ngữ học tri nhận bắt đầu hình thành từ những công trình nghiên cứu trong thập kỷ 80 của thế kỷ 20 của các nhà ngôn ngữ học quan tâm tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy với các học giả tiêu biểu như Charles Fillmore, George Lakoff, Mark Johnson, Ronald Langacker, Leonard Talmy, Zoltan Kövecses, Gilles

Fauconnier, Gerard Steen…Với kiệt tác “Metaphor we live by” viết năm 1980,

Lakoff & Johnson đã phát triển Lý thuyết ẩn dụ ý niệm và trên cơ sở đó các nhà ngôn ngữ học tri nhận phát triển và ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực như nghiên cứu văn học, nghiên cứu pháp luật, ngôn ngữ học, triết học, kinh tế…Trong lĩnh vực kinh tế, các nhà kinh tế học và ngôn ngữ học cũng đã tiếp tục chứng minh tầm quan trọng của ẩn dụ nói chung và ẩn dụ ý niệm nói riêng đối với việc hiểu và truyền tải các lý thuyết và hiện tượng kinh tế trừu tượng (Henderson [84], [85], [86], [87], [88], [89]; Mc.Closkey [116], [117], [118]; Charteris-Black [42]; Oberlechner và các cộng sự [125]; Chung [51], [52], [53]…) Từ khi ngôn ngữ học tri nhận được đưa vào Việt Nam các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm và đã có khá nhiều công trình về ngôn ngữ học tri nhận với các tên tuổi như Lý Toàn Thắng [25], [26], [27], [28], Trần Văn Cơ [2], Phan Thế Hưng [11] Ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau vẫn có sức hấp rất dẫn lớn, về thi ca có Nguyễn Thị Bích Hạnh [6], Phạm Thị Hương Quỳnh [23]; về thành ngữ tục ngữ có Vi Trường Phúc [21], Trần Bá Tiến [33], về diễn ngôn chính trị có Nguyễn Tiến Dũng [4] về lĩnh vực kinh tế có Hà Thanh Hải [5], Phạm Thị Thanh Thuỳ [28]…Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi

có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn thị trường chứng khoán trong khi ngôn ngữ sử dụng để tường thuật, phân tích, bình luận thị trường chứng khoán lại vô cùng sinh động và phong phú, chứa đựng rất nhiều biểu thức ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán

Như vậy khảo sát cho thấy lĩnh vực nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm vẫn còn nhiều khoảng trống Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu ẩn dụ ý niệm về “thị trường chứng khoán” trên ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán theo ngày của tất cả các phiên giao dịch trong một năm, mà các nghiên cứu trên thế giới đa số chỉ xử lý ngữ liệu bản tin tài chính nói chung Hơn nữa ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về ẩn dụ ý niệm về “thị trường chứng khoán” và đối chiếu ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh

và tiếng Việt Vì vậy đây là khoảng trống lý luận cần thiết được lấp đầy Nghiên

Trang 12

cứu so sánh đối chiếu của chúng tôi về ADYN trong ngôn ngữ của TTCK trên ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán theo ngày sẽ là mảnh ghép tiếp theo vào bức tranh nghiên cứu chung đó

Về mặt thực tiễn, Việt Nam là nước đang phát triển khá nhanh về kinh tế, nền tài chính tuy còn non trẻ nhưng đã sôi động với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2000 Tuy nhiên, ở Việt Nam TTCK hoạt động chuyên nghiệp chỉ mới 10 năm nay nên có nhiều khái niệm trừu tượng còn khó hiểu với nhiều người, và không phải ai cũng hiểu được các thuật ngữ cũng như nghĩa ngầm

ẩn của các biểu thức ADYN trong các diễn ngôn về TTCK Vì vậy việc nghiên cứu các biểu thức ẩn dụ ý niệm là cần thiết vì nó sẽ giúp hiểu biết đầy đủ và toàn diện về lĩnh vực thị trường chứng khoán thông qua các ẩn dụ ý niệm

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy khả năng ngôn ngữ TTCK trong tiếng Việt chịu ảnh hưởng của tiếng Anh vì TTCK Việt Nam ra đời rất lâu sau TTCK thế giới trên cơ sở kế thừa Trên thế giới, TTCK đã hoạt động hàng trăm năm với sự ra đời

và phát triển mạnh mẽ đầu tiên với TTCK Anh và TTCK Mỹ từ thế kỷ 18 nên tương ứng với nó là sự phát triển lâu đời của ngôn ngữ thị trường chứng khoán trong tiếng Anh Do đó khi TTCK Việt Nam ra đời tất yếu có sự tiếp thu các biểu thức ngôn ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt dẫn đến nhiều tương đồng không chỉ trong ngôn ngữ mà còn cả trong tư duy về TTCK ở hai ngôn ngữ Mặt khác, cơ chế tri nhận ngoài tính phổ quát vẫn mang đặc điểm văn hoá cụ thể và các yếu tố văn hoá có thể gây ra các dị biệt trong việc sử dụng các biểu thức ẩn dụ ý niệm và gây khó dễ cho người sử dụng ngôn ngữ Do đó việc đối chiếu ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Việt sẽ giúp tìm ra sự tương đồng và dị biệt của các biểu thức ẩn dụ ý niệm ở hai ngôn ngữ, từ đó rõ hơn về mối liên hệ giữa văn hoá, tư duy, và ngôn ngữ giúp cho độc giả và người sử dụng ngôn ngữ tự tin hơn, đồng thời cũng giúp ích cho việc nghiên cứu liên văn hoá cũng như ứng dụng giảng dạy và dịch thuật ngôn ngữ thị trường chứng khoán

Chính vì những lý do nêu trên trên chúng tôi chọn đề tài “Ẩn dụ ý niệm về

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN trong tiếng Anh và tiếng Việt” cho công trình luận

án của mình nhằm làm sáng tỏ những khoảng trống về lý luận và thực tiễn đó

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án đề ra các mục đích nghiên cứu sau:

Trên cơ sở thống kê, miêu tả và phân tích các biểu thức ẩn dụ ý niệm trong

Trang 13

ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng Việt, luận án sẽ chỉ ra những tương đồng và dị biệt của các biểu thức ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong hai ngôn ngữ, từ đó tìm ra sự tương đồng và dị biệt về cơ sở tri nhận của chúng trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận án cần tập trung giải quyết tốt

các nhiệm vụ sau:

a Hệ thống hóa các quan điểm lí luận về ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lí luận cho việc nghiên

cứu

b Xác lập các biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán

có trong ngữ liệu bản tin TTCK tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó rút ra các loại ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt

d Miêu tả, phân tích, đối chiếu các biểu thức ẩn dụ ý niệm về TTCK có trong bản tin TTCK tiếng Anh và tiếng Việt trên cả ba bình diện: định lượng; ngữ nghĩa

và tri nhận; giao tiếp

g Giải thích các đặc điểm tương đồng và dị biệt dựa trên phương diện văn hoá dân tộc, phần nào làm rõ mối liên hệ giữa văn hoá, tư duy và ngôn ngữ

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biểu thức ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt

Ngữ liệu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi văn bản là các bản tin điện tử hàng ngày về thị trường chứng khoán Mỹ và thị trường chứng khoán Việt Nam; và trong khoảng thời gian phát hành giới hạn từ 1/1/2017-30/12/2017 Chúng tôi chỉ khảo sát 762 bản tin tiếng Anh và 219 bản tin tiếng Việt, dựa trên ngữ liệu này với miền đích xác định trước là THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN chúng tôi tìm được 16 miền nguồn

Luận án chỉ miêu tả, phân tích, đối chiếu các ẩn dụ ý niệm rút ra từ các biểu thức ẩn dụ có trong ngữ liệu, trong đó làm rõ cơ chế ánh xạ của từng loại ẩn dụ ý niệm và cách thức tri nhận, phân tích nghĩa ẩn dụ của các đơn vị từ vựng và bàn luận chức năng giao tiếp của các ẩn dụ đó

Trang 14

Các tiêu chí đối chiếu hai chiều là ba bình diện của ẩn dụ ý niệm (ngữ nghĩa, tri nhận, giao tiếp); ngoài ra còn có tiêu chí so sánh định lượng nhằm tìm ra tính nổi trội của từng loại ADYN

Vì các biểu thức ngôn ngữ trong tiếng Anh chúng tôi đưa ra minh hoạ được rút ra nguyên gốc từ bản tin tiếng Anh không có phần dịch sang tiếng Việt nên những phần dịch được chú trong ngoặc vuông trong các chương 2,3,4 là của tác giả dịch ra dựa trên ngữ cảnh của toàn văn bản

3.2 Ngữ liệu khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 762 bản tin tiếng Anh về TTCK Mỹ trong chuyên mục “Stock Market Today” (http://www.investors.com); và 219 bản tin tiếng Việt về TTCK Việt Nam trong chuyên mục “Nhịp đập thị trường” (http://www.vietstock.com) Đây là hai tờ báo điện tử dành cho các nhà đầu tư tài chính Các bản tin được công bố từ ngày 1/1/2017 đến hết ngày 29/12/2017

Các bản tin được nghiên cứu là bản tin tổng hợp sau mỗi phiên giao dịch hàng ngày của tất cả các ngày mà TTCK Mỹ và TTCK Việt Nam hoạt động trong suốt năm 2017 Trong năm 2017 thị trường chứng khoán Việt Nam có 219 ngày giao dịch, tương đương có 219 bản tin Tổng số từ của các bản tin tiếng Việt là 267.429 lượt từ Thị trường chứng khoán Mỹ có 254 ngày giao dịch, tương ứng với

762 bản tin (mỗi ngày 3 bản tin ngắn) Tổng số từ của các bản tin tiếng Anh là 355.842 lượt từ

Sở dĩ có sự chênh lệch về số lượng bản tin là do cách thức đưa tin của hai trang web khác nhau Báo điện tử của Mỹ cho ra trung bình 8 bản tin trong một ngày, tường thuật diễn biến của từng khoảng thời gian trong phiên giao dịch (mở cửa, đầu phiên sáng, giữa phiên sáng, trưa, đầu giờ chiều, cuối phiên, đóng cửa), với dung lượng trung bình khoảng 500 lượt từ/bản tin Báo điện tử của Việt Nam cho ra một bản tin cuối ngày tường thuật tình hình cả phiên giao dịch trong ngày cùng với các mốc thời gian trong phiên như vậy, với dung lượng trung bình khoảng 1.500 từ/bản tin Do tần suất đưa tin và dung lượng bài viết khác nhau như vậy nên chúng tôi không thể tìm được kiểu bản tin tương đương nhau cả về nội dung và dung lượng ở hai ngôn ngữ trên bất kỳ báo điện tử hay trang web tài chính nào mà thoả mãn được mục tiêu nghiên cứu Vì vậy chúng tôi chọn phương án là lấy 3 bản tin tiếng Anh trong một ngày sao cho tổng số từ của 3 bản tin gần tương đương với tổng số từ của 1 bản tin tiếng Việt; đồng thời nội dung của mỗi bản tin tường thuật một khoảng thời gian chính là sáng, trưa, chiều nhằm đảm bảo nội dung của cả 3

Trang 15

bản tin có đủ diễn biến chính trong cả một ngày giao dịch để tương ứng với nội dung của 1 bản tin tiếng Việt Các bản tin được mã hoá theo ngày tháng công bố

4 Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Phương pháp nghiên cứu định lượng cho phép luận án thiết lập sự so sánh trực tiếp các kết quả tìm thấy giữa hai ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt Phương pháp phân tích định tính được dùng để nghiên cứu sâu hơn các ánh xạ ẩn dụ có mặt trong hai khối ngữ liệu và cách sử dụng các biểu thức ẩn dụ, và làm sáng tỏ cách thức tri nhận

về TTCK, từ đó phát hiện ra các nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Anh

và Việt

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án là:

a Phương pháp miêu tả (của ngôn ngữ học tri nhận): dùng để miêu tả các mô hình

ẩn dụ ý niệm về TTCK trong bản tin TTCK tiếng Anh và tiếng Việt

b Phương pháp đối chiếu: Phương pháp đối chiếu hai chiều (cả tiếng Anh và tiếng Việt đều được coi là ngữ nguồn và ngữ đích) được chọn sử dụng để nghiên cứu vì phương pháp này có giá trị to lớn cho việc nghiên cứu phân tích hai ngôn ngữ với nhau; dùng để so sánh và đối chiếu các biểu thức ẩn dụ ý niệm về TTCK có trong bản tin TTCK tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó tìm ra các điểm tương đồng và dị biệt

trong hai ngôn ngữ về cả 3 phương diện là ngữ nghĩa, tri nhận, giao tiếp

c Phương pháp phân tích ẩn dụ ý niệm: dùng để phân tích các miền ý niệm và cấu tạo nghĩa qua ẩn dụ; sau đó nhận xét về mục đích sử dụng chúng trong các bản tin thị trường chứng khoán thu thập được

Việc khảo sát ngữ liệu và nhận diện các biểu thức ẩn dụ ý niệm được thực hiện theo Quy trình nhận dạng ẩn dụ ý niệm (Metaphor Identification Procedure) của nhóm Pragglejaz [131:3]

Các từ điển sau được dùng để giúp xác định nghĩa của từ

-Online etymology dictionary (từ điển từ nguyên tiếng Anh)

-Oxford English Dictionary

-Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý

d Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá-ngôn ngữ được áp dụng vì chúng tôi sử dụng các đặc trưng văn hoá, và các yếu

tố bối cảnh văn hoá xã hội để giải thích các tương đồng và dị biệt của các biểu thức ADYN trong tiếng Anh và tiếng Việt

e Thủ pháp thống kê, phân loại: dùng để thống kê các dụ dẫn và nhóm theo lĩnh

Trang 16

vực nguồn, theo tần xuất xuất hiện của chúng, theo mức độ phổ biến và theo các đặc điểm ngôn ngữ-văn hoá trên cơ sở dữ liệu các bản tin tiếng Anh và tiếng Việt thu thập được Các số liệu thống kê cho thấy mức độ thông dụng của các ẩn dụ về TTCK trong các bản tin TTCK, và là cơ sở cho các đối chiếu về mặt định lượng giữa tiếng Anh và tiếng Việt

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đây là luận án đầu tiên tại Việt Nam về đề tài ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn thị trường chứng khoán Luận án cung cấp thêm kiến thức ngôn ngữ về các ẩn dụ ý niệm có miền đích là THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, xác định sự giống nhau và khác nhau trong cách tri nhận về TTCK giữa cộng đồng nói tiếng Anh và cộng đồng người Việt Nam, qua đó làm rõ hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy trong lĩnh vực thị trường chứng khoán

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lí luận

Luận án góp phần củng cố lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, và làm rõ thêm một số vấn đề lý thuyết ẩn dụ ý niệm thông qua ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán

Luận án cũng tiếp tục khẳng định vai trò tri nhận và giao tiếp của ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn, và tiếp tục minh hoạ cho tính đa dạng văn hoá của ẩn dụ ý niệm

Ở Việt Nam đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tiên các

ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trên thể loại bản tin Nó mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về thể loại ngôn ngữ tài chính mà hiện còn bỏ ngỏ ở Việt Nam

6.2 Về mặt thực tiễn

Những kết quả thu được sẽ có ý nghĩa trước hết với những độc giả của bản tin TTCK, và những người sử dụng ngôn ngữ, đồng thời sẽ đóng góp cho công việc giảng dạy ngôn ngữ nói chung, và đặc biệt là giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành thị trường chứng khoán thuộc ngành tài chính

Đối với lĩnh vực báo chí, kết quả của luận án có thể giúp ích cho công tác viết tin hoặc dịch tin tức, bình luận về TTCK

7 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương chính và phần kết luận

Trang 17

Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng

và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của luận án, và ý nghĩa của luận án

Chương 1: Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế, và làm rõ cơ sở lý luận cho việc phân loại, miêu tả và phân tích các ẩn dụ ý niệm ở các chương sau, và xây dựng khung lý thuyết cho luận án

Chương 2: Ẩn dụ ý niệm về THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN có miền nguồn là MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3: Ẩn dụ ý niệm về THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN có miền nguồn là HOẠT ĐỘNG trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 4: Ẩn dụ ý niệm về THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN có miền nguồn là

CƠ THỂ NGƯỜI và KHÔNG GIAN trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt

Phần kết luận tóm tắt các kết quả của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp sau

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh

tế

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ngay từ những năm 1994, 1995, McCloskey đã đánh bại quan điểm là trong diễn ngôn kinh tế hầu như không có ẩn dụ Nếu như trước đây các nhà kinh tế quan niệm chỉ dựa vào các mô hình và toán học có thể giải thích toàn bộ các vấn đề kinh

tế thì sau này họ đã nhìn nhận thấy sai lầm của việc sử dụng quá nhiều toán học trong các bài viết về kinh tế (Quddus & Rashid [132]; Streeten [143]) Các nhà kinh

tế đã chuyển sang tận dụng lợi thế của ngôn ngữ, sử dụng nhiều hơn biện pháp tu từ trong đó có ẩn dụ, nhất là trong các diễn ngôn ít tính học thuật hơn, ví dụ như diễn ngôn báo chí, nhằm giúp cho nội dung truyền tải trở nên dễ hiểu hơn đối với đại chúng, hay nói một cách khác là khiến cho chúng trở thành các câu chuyện đơn giản hơn (McCloskey [116]) Nhà kinh tế học người Mỹ McCloskey là người tiên phong nghiên cứu chuyên sâu ẩn dụ trong kinh tế Bà cho rằng ẩn dụ là phép tu từ quan trọng nhất và có ý nghĩa đối với việc tư duy kinh tế Giống như các nhà nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác, các nhà kinh tế học sử dụng ẩn dụ làm công cụ phản ánh các hoạt động và khái niệm kinh tế và các ẩn dụ xuất hiện hoàn toàn tự nhiên trong các diễn ngôn kinh tế Các nghiên cứu của Henderson [84], [85], McCloskey [116], [117] và Charteris-Black [46], [47] cũng đều cho thấy rằng ẩn dụ trong kinh tế đóng vai trò quan trọng đối với việc hiểu các lý thuyết và hiện tượng kinh tế trừu tượng

Từ những năm 2000 trở lại đây xuất hiện một xu hướng nghiên cứu tìm hiểu hiện tượng ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế thông qua các phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích khối liệu Xu hướng này kết hợp quan điểm tri nhận về ẩn dụ trong khi xem xét bản chất thường quy của chúng, đồng thời cũng liên kết chặt chẽ ẩn dụ ý niệm với ẩn dụ ngôn từ trên cả hai bình diện lý thuyết và thực nghiệm Tổng quan này nhóm các nghiên cứu thành 3 nhóm (nghiên cứu dưới góc độ ngữ nghĩa và tri nhận, nghiên cứu dưới góc độ ngữ dụng, nghiên cứu dưới góc độ xã hội học)

1.1.1.1 Các nghiên cứu dưới góc độ ngữ nghĩa và tri nhận

Trang 19

Các nghiên cứu thuộc nhóm này xuất phát ban đầu từ nhu cầu ứng dụng cho giảng dạy từ vựng kinh tế qua các ẩn dụ

Theo Henderson [84] sở dĩ ẩn dụ xuất hiện khá phổ biến trong các văn bản kinh tế vì ẩn dụ là một công cụ ngôn từ được sử dụng trong kinh tế học để (i) thuyết phục và (ii) giải thích các hiện tượng kinh tế mới thông qua các khái niệm cũ đã biết

Henderson trong nghiên cứu sau đó vào năm 1994 đã xác định ba vai trò của

ẩn dụ trong các diễn ngôn kinh tế là:

(i) Sự trang trí cho văn bản hay có thể là công cụ hỗ trợ giảng dạy để minh hoạ

hay lấy ví dụ

(ii) Quy tắc tổ chức tập trung cho tất cả các ngôn ngữ

(iii) Công cụ để tìm hiểu các vấn đề kinh tế và làm cơ sở cho việc mở rộng miền

ý niệm về kinh tế

Theo đó thì vai trò thứ ba của ẩn dụ là để tìm hiểu sâu các khái niệm kinh tế

và xây dựng các mô hình dự đoán cho các hoạt động kinh tế Cách chia các vai trò

ẩn dụ như vậy cũng trùng với cách phân loại của Goatly’s [80] và đến Skorczynska

& Deignan [138] họ dán nhãn khác cho các vai trò này là ‘illustrating’ (minh hoạ),

‘generic’ (sản sinh) and ‘modelling’ (tạo khuôn) Đây cũng là cách tạo ra thuật ngữ cho các ý niệm mới trong kinh tế mà ngôn ngữ tổng quát chưa có

Gao [68] nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong bản tin tài chính trên The Economist năm 2007 và bà phân loại các ẩn dụ thành 3 loại là ẩn dụ có miền nguồn là CHIẾN TRANH, ẩn dụ có miền nguồn là THỂ THAO, ẩn dụ có miền nguồn là NÔNG NGHIỆPđồng thời kết luận rằng các thuật ngữ cụ thể từ kinh nghiệm trong thế giới vật lý được

sử dụng để hiểu các khái niệm kinh tế trừu tượng và việc nghiên cứu các ẩn dụ tri nhận

sẽ giúp nuôi dưỡng tư duy mang tính ẩn dụ về các diễn ngôn kinh tế, tức là sử dụng các thuật ngữ cụ thể một cách ẩn dụ để giúp người đọc hiểu diễn ngôn kinh tế

Cardini [45] nghiên cứu trên khối liệu 100,000 từ của các văn bản trên tờ The Economist và The International Economy trong quãng thời gian 2008-2012 và tìm ra hơn 40 ẩn dụ ý niệm về KINH TẾ miêu tả về cuộc khủng hoảng kinh tế trong

đó loại ẩn dụ coi nền kinh tế như một đồ vật bị phá hủy là phổ biến nhất, và hai tờ báo khác nhau này có lượng ngôn ngữ ẩn dụ cũng khác nhau Đây là nghiên cứu mà

đã phân loại được nhiều nhất các ẩn dụ về KINH TẾ

Ngôn ngữ trong lĩnh vực tài chính cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm như Oberlechner và các cộng sự [125], Kovács [100], Morris và các

Trang 20

cộng sự [120]…

Oberlechner và các cộng sự [125] nghiên cứu quá trình ý niệm hóa THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI bằng ẩn dụ và xem xét phương thức các ẩn dụ này góp phần cấu thành nên thị trường tài chính như thế nào Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình tri nhận về thị trường của các đối tượng nghiên cứu xoay quanh bảy ẩn dụ, đó là THỊ TRƯỜNG LÀ SẠP HÀNG, THỊ TRƯỜNG LÀ ĐỘNG CƠ, THỊ TRƯỜNG LÀ CỜ BẠC, THỊ TRƯỜNG

LÀ THỂ THAO, THỊ TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRANH, THỊ TRƯỜNG LÀ CƠ THỂ SỐNG và THỊ TRƯỜNG LÀ ĐẠI DƯƠNG. Mỗi loại ẩn dụ như vậy có chức năng đề cao hoặc che mờ một số bình diện nào đó của thị trường Chúng cũng kéo theo một loạt các hàm ý khác nhau về các phương diện thị trường như vai trò của người tham gia thị trường hay khả năng đoán trước thị trường Ông cũng đưa ra sơ đồ về tính chất có thể dự đoán của các loại ẩn dụ ý niệm về thị trường hối đoái, trong đó các ẩn dụ CHIẾN TRANH, ẩn dụ CƠ THỂ NGƯỜI thuộc nhóm không thể dự đoán, còn ẩn dụ THỂ THAO,

ẩn dụ CỖ MÁY thuộc nhóm có thể dự đoán Ẩn dụ BIỂN nằm ở giữa Đồng thời xét

về tiêu điểm ẩn dụ (metaphor focus) theo sơ đồ đó thì các ẩn dụ BIỂN, ẩn dụ CỖ MÁY, ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG có mục đích là quan sát để hiểu và dự báo; trong khi ẩn

dụ CHIẾN TRANH, ẩn dụ THỂ THAO có tiêu điểm là tham gia thị trường và mục đích

là chiến thắng (xem hình 1 phụ lục C)

Kovács [100] trong bài báo đăng năm 2006 trên tạp chí The Economist đã tiếp tục chứng tỏ quan điểm của các nhà tri nhận luận rằng ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ mà nó lan tỏa trong tư duy và ý niệm của con người, do đó nó tồn tại khắp nơi và có nhiều trong ngôn ngữ thương mại Tác giả đã hệ thống hóa các ẩn dụ

ý niệm có trong diễn ngôn thương mại và cùng với các công trình khác về so sánh đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn thương mại ở tiếng Anh, Đức và Hungari góp phần giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ kinh tế thương mại tài chính Tác giả nhóm các ẩn dụ thành các loại theo miền nguồn như sau:

- KINH TẾ/KINH DOANH LÀ CƠ THỂ NGƯỜI (TÌNH TRẠNG CÔNG TY LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHOẺ, CÁC KHÓ KHĂN LÀ BỆNH TẬT, CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ LÀ GIẢI PHÁP CHỮA BỆNH, KINH TẾ PHỤC HỒI LÀ BỆNH NHÂN PHỤC HÔI, KINH TẾ SỤP ĐỔ LÀ BỆNH NHÂN CHẾT) -KINH TẾ LÀ CHIẾN TRANH

-KINH DOANH LÀ THỂ THAO (KINH DOANH LÀ BÓNG ĐÁ, KINH DOANH LÀ SĂN BẮN, KINH DOANH LÀ ĐẤM BỐC…)

-KINH DOANH LÀ TRÒ CHƠI

-KINH DOANH LÀ HÔN NHÂN

Trang 21

-KINH DOANH LÀ BIỂU DIỄN

Đặc biệt là từ năm 2000 tới nay có rất nhiều nghiên cứu so sánh đối chiếu văn hoá về ẩn dụ trong diễn ngôn kinh tế nói chung và diễn ngôn tài chính nói riêng Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng ẩn dụ ý niệm mang tính đặc trưng văn hoá và giải thích cách sử dụng ẩn dụ dựa trên các đặc điểm tương đồng và khác biệt về văn hoá,

tự nhiên, vật lý

Rojo López và Orts Llopis [134] nghiên cứu việc ý niệm hóa bằng ẩn dụ cuộc khủng hoảng kinh tế trên báo chí tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, thu thập các bài báo trên The economist và El Economista trong các giai đoạn khác nhau (tháng 6-tháng 11 năm 2007 và tháng 9-tháng 12 năm 2008) Kết quả nghiên cứu cho thấy tại giai đoạn năm 2007 khi Tây Ban Nha đang tiến tới cuộc bầu cử trong nước trong thì trong dữ liệu tiếng Tây Ban Nha có nhiều ẩn dụ với các khung về tình hình kinh tế bằng các từ ngữ/biểu thức ngôn ngữ mang tính tích cực, trong khi

đó thì ở các bài báo tiếng Anh thì các từ ngữ mang tính tiêu cực lại xuất hiện chủ yếu, báo hiệu giai đoạn khủng hoảng sau đó

Trong luận án tiến sĩ của mình, Luporini [113] nghiên cứu việc sử dụng các

ẩn dụ ý niệm miêu tả cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2008 trên khối liệu là các bài báo của The Financial Times (tiếng Anh) và II Sore 24 Ore (tiếng Ý) Kết quả cho thấy ở cả hai khối liệu đều sử dụng các miền nguồn giống nhau cho các ẩn

dụ và trong cả hai ngôn ngữ, các ẩn dụ thường xuyên nhất đều là các ẩn dụ có miền nguồn là CƠ THỂ SỐNG, ẨN DỤ VẬT CHỨA, ẨN DỤ SỨC KHỎE (THỂ CHẤT/TINH THẦN), ẨN

DỤ CHIẾN TRANH/XUNG ĐỘT, VÀ ẨN DỤ THỜI TIẾT/LỰC LƯỢNG TỰ NHIÊN Sự khác biệt giữa hai khối liệu nằm ở tầng sâu hơn Nghiên cứu sâu hơn về các biểu thức ngôn ngữ cho thấy khối liệu tiếng Ý thì có xu hướng miêu tả khủng hoảng bằng các thuật ngữ mang tính “thảm họa” đặc biệt là trong mô hình ẩn dụ KHỦNG HOẢNG LÀ CHẤT

NỔ, KHỦNG HOẢNG LÀ THIÊN TAI Trong khối liệu tiếng Ý, tiểu ngữ liệu là các bài báo trang nhất có sử dụng nhiều nhất các ẩn dụ có miền nguồn CHIẾN TRANH/XUNG ĐỘT làm nổi bật các đặc tính như “bạo lực” hay “hiếu chiến” ở trong miền đích KHỦNG HOẢNG Ngược lại thì trong tiểu khối liệu gồm các bài báo chính thì lại xuất hiện nhiều các ẩn dụ sức khỏe mà phóng chiếu các đặc tính như “tính không thể tránh được và sự suy sụp về thể chất/tinh thần” lên miền đích

Gao [67] so sánh đối chiếu các ẩn dụ ý niệm trong các tiêu đề báo chí kinh tế trong tiếng Anh và tiếng Trung Quốc và tác giả giải thích sự khác biệt của các ẩn dụ

ý niệm là do các yếu tố môi trường về văn hóa, tự nhiên và thể chất (physical); ví dụ

Trang 22

như ở Trung Quốc nông nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên các ẩn

dụ nông nghiệp xuất hiện nhiều; hay ẩn dụ chiến tranh xuất hiện nhiều trong tiếng Trung hơn là tiếng Anh vì Trung Quốc có lịch sử gắn với chiến tranh lâu dài hơn

Cụ thể trong diễn ngôn tài chính thì có thể kể đến các nghiên cứu so sánh đối chiếu của Charteris-Black & Ennis [46], Semino [135], Chung [50], [51], [52], Kovács [99], [100]

Charteris-Black & Ennis [46] thực hiện một nghiên cứu khối liệu đối chiếu các ẩn dụ ý niệm trong các bài tường thuật tài chính trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha tại giai đoạn thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1997 Các tác giả đưa ra kết luận rằng cả hai ngôn ngữ khá tương đồng trong việc lựa chọn các ẩn dụ ý niệm với các biểu thức ngôn ngữ giống nhau nhưng có sự khác nhau về tần suất, ví dụ như KINH TẾ LÀ CƠ THỂ SỐNG, CHUYỂN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG VẬT LÝ, CHUYỂN ĐỘNG XUỐNG CỦA THỊ TRƯỜNG LÀ THIÊN TAI Họ gắn sự tương đồng đó với đặc điểm văn hóa chung giữa hai ngôn ngữ đó là hệ thống kinh

tế giống nhau và cùng gốc Latin Các tác giả cũng giải thích về tần suất xuất hiện cao hơn của ánh xạ CHUYỂN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG CỦA BIỂNtrong khối liệu tiếng Anh là do sự ảnh hưởng của truyền thống biển do nước Anh là quần đảo

Semino [135] trích dẫn trong Deignan [59] so sánh khối liệu là các bài báo trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha để nghiên cứu các ẩn dụ được sử dụng để nói

về đồng Euro lúc bắt đầu ra đời; và tác giả tìm ra những khác biệt trong các miền nguồn thể hiện sự đồng ý với đồng Euro tại nước Ý và sự nghi ngại tại nước Anh

Nhà nghiên cứu Đài Loan Siaw-Fong Chung có một loạt nghiên cứu riêng về

ẩn dụ thị trường, so sánh đối chiếu liên ngôn ngữ Trong công trình [50], Chung so sánh các ẩn dụ THỊ TRƯỜNG trong tiếng Trung, tiếng Anh và tiếng Malay, và điểm mới của nghiên cứu này là tác giả phân tích kỹ các ẩn dụ THỊ TRƯỜNG trong ba ngôn ngữ không chỉ ở mức độ nghĩa mà còn xem xét mối quan hệ giữa ngữ nghĩa

và cú pháp, từ đó đề ra một hướng tiếp cận mang tính chất định tính để so sánh các góc nhìn nổi và chìm của các cộng đồng khác nhau về nền kinh tế của họ Nghiên cứu chỉ ra rằng sự lựa chọn các ẩn dụ thể hiện cách nhìn khác nhau về kinh tế giữa các dân tộc Ví dụ như việc ít ẩn dụ THỊ TRƯỜNG LÀ CẠNH TRANH trong tiếng Anh

có thể cho thấy rằng người ta quan tâm tới việc duy trì vị trí trên thị trường hơn là

sự cạnh tranh Về vị trí cú pháp của từ đích “THỊ TRƯỜNG” thì tác giả kết luận rằng (i) các vị trí cú pháp của từ đích “THỊ TRƯỜNG” ảnh hưởng tới loại ẩn dụ được lựa

Trang 23

chọn, ví dụ khi ẩn dụ THỊ TRƯỜNG LÀ CON NGƯỜI được lựa chọn thì cả ba ngôn ngữ đều thích đặt từ THỊ TRƯỜNG như là chủ thể gây ra hành động; và (ii) ở ba ngôn ngữ thì ưu tiên về vị trí cú pháp của từ đích “THỊ TRƯỜNG” là khác nhau, ví dụ người Trung Quốc thích đặt từ THỊ TRƯỜNG ở vị trí chủ ngữ rồi mới tới bổ ngữ và tân ngữ trong khi người Malay thích vị trí tân ngữ và người Anh thích vị trí chủ ngữ Trong nghiên cứu sử dụng phương pháp khối liệu so sánh ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ NƯỚC BIỂN trong tiếng Mandarin Chinese, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, và với khung lý thuyết Mô hình ánh xạ ý niệm (Conceptual Mapping Model) của Ahren (2002), Chung và các cộng sự [51] đã tìm ra sự khác nhau về các biểu thức ngôn ngữ được đồ chiếu và tần suất xuất hiện trong mỗi ngôn ngữ Các điểm khác biệt này được thể hiện trong các nguyên tắc ánh xạ cụ thể Dựa trên các phân tích về các ẩn dụ thị trường chứng khoán trong các bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, Chung [52] đã nghiên cứu và đưa ra các chiến thuật dịch đối với ba ẩn dụ phổ biến nhất là các ẩn dụ có miền nguồn là HƯỚNG LÊN/XUỐNG, DAO ĐỘNG, CHIẾN TRANH Nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu

ưu tiên của việc dịch các bản tin thị trường chứng khoán Trung Quốc sang tiếng Anh là truyền tải thông tin, do đó khi dịch có thể sử dụng chiến lược giữ lại các ẩn

dụ ý niệm gốc đối với các ẩn dụ mà ý niệm của miền đích giống nhau trong hai ngôn ngữ; và áp dụng chiến lược thay thế bằng các cụm từ ngữ hợp với ngôn ngữ và văn hóa Anh đối với các ẩn dụ mà ý niệm của miền đích là khác nhau trong hai ngôn ngữ Ngoài ra người dịch cũng có thể bỏ các ẩn dụ ý niệm đi miễn là trong cách dịch của mình vẫn giữ đúng nghĩa

1.1.1.2 Các nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội

Nghiên cứu của các tác giả liên quan tới ẩn dụ và giới tính như Wilson [152], Fleischmann [66] cho rằng ẩn dụ KINH TẾ LÀ CHIẾN TRANH đã cho thấy rõ sự phân biệt giới tính từ xưa vì mô hình ẩn dụ này liên quan tới các hành vi mang tính nam,

và như vậy là coi nhẹ vị trí của phụ nữ trong lĩnh vực kinh doanh Koller [96] cũng

đã tiến hành một nghiên cứu rất hay về ẩn dụ và giới trong kinh doanh Tác giả còn khảo sát các độc giả của các tạp chí kinh doanh và tìm ra 90% họ là nam, điều này đặt ra các câu hỏi về chức năng liên nhân của ẩn dụ: các nhà báo không chỉ sử dụng

ẩn dụ cụ thể nào đó một cách có chọn lọc để ý niệm hóa các chủ đề theo quan điểm

cụ thể nào đó Xét trên số liệu nhân khẩu học về độc giả thì mục đích của các nhà báo ở đây có thể là để phản chiếu các biểu thức ngôn ngữ họ nhận được từ các độc giả nam hơn là để ảnh hưởng tới việc tri nhận của độc giả

Trang 24

1.1.1.3 Các nghiên cứu dưới góc độ ngữ dụng

Một số nhà nghiên cứu cho rằng ngữ nghĩa học không thể giải thích hiện tượng ẩn dụ một cách trọn vẹn bởi vì chúng ta không cần xem xét các từ có nghĩa gì khi chúng tách rời khỏi ngữ cảnh, mà chỉ xem xét người nói muốn nói gì trên phương diện dụng học khi họ dùng từ trong ngữ cảnh Một trong những hạn chế của việc phân tích ẩn dụ tách tri nhận khỏi dụng học là việc giải thích lý do xuất hiện ẩn

dụ chỉ là kinh nghiệm bên trong, tức là phản xạ vô thức Trong khi đó quan điểm dụng học cho rằng người nói sử dụng ẩn dụ nhằm mục đích thuyết phục trên cơ sở những tài nguyên có sẵn về ngôn ngữ và tri nhận, kết nối chúng và sử dụng theo mục đích của mình

Charteris-Black [48] cho rằng mục đích thuyết phục có ý thức cần phải được tích hợp trong một quan điểm tri nhận rộng lớn hơn

Cameron & Low [42] ủng hộ quan điểm rằng các mặt tri nhận và các mặt xã hội đều cấu thành nên các ẩn dụ Các tác giả phân biệt 2 cấp độ phân tích ẩn dụ:

- The Theory Level of Analysis (cấp độ lý thuyết) tập trung và việc xác lập các ẩn dụ, phân loại chúng và mục đích cũng như logic của việc tạo lập và giải thích các ẩn dụ

- The Processing Level of Analysis (cấp độ xử lý) nghiên cứu mối quan hệ giữa các

cá nhân và môi trường văn hoá xã hội trong quá trình xử lý ngôn ngữ mang tính ẩn

dụ trong các diễn ngôn cụ thể; và nghiên cứu xem việc xử lý các ẩn dụ có thể thay đổi các cấu trúc ẩn dụ và làm nghĩa mới bén rễ vào các đơn vị từ vựng

Như vậy Cameron & Low đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp nhất các ngữ cảnh văn hoá xã hội cũng như các mục tiêu diễn ngôn tương ứng trong việc tạo nên các ẩn dụ ý niệm mà tương ứng và có ý nghĩa về mặt văn hoá

Các nghiên cứu nổi bật sau đó của Cameron [41], Charteris-Black [46]; Charteris-Black & Musolff [49] cũng góp phần làm rõ hơn vai trò ngữ dụng của ẩn

dụ dường như vẫn không quan tâm đúng mức tới chức năng giao tiếp của ẩn dụ cho tới khi Steen [141] chỉ rõ nghịch lý và đưa ra mô hình ba chiều, khẳng định các chức năng của ẩn dụ có thể giải thích dựa trên mối liên hệ với ngôn ngữ, tư duy và giao tiếp và sau đó phát triển thành Lý thuyết ẩn dụ chủ ý (Deliberate Metaphor Theory) Ba chức năng đó là:

(i) Chức năng ngữ nghĩa: để lấp các khoảng trống trong hệ thống ngôn ngữ (ẩn dụ trong ngôn ngữ) có thể gọi là “naming” (đặt tên)

(ii) Chức năng tri nhận: tạo ra khung tri nhận cho các ý niệm mà cần ít nhất là được hiểu gián tiếp cục bộ (ẩn dụ trong tư duy); có thể gọi là “framing” (tạo khung)

Trang 25

(iii) Chức năng giao tiếp: tạo ra một khía cạnh khác trên đối tượng hay chủ đề nói đến trong thông điệp (ẩn dụ trong giao tiếp) và có thể gọi là “changing” (biến đổi)

Như vậy các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trên cả 3 bình diện ngữ nghĩa, tri nhận và ngữ dụng

Nhiều nghiên cứu từ những năm 2000 tiếp tục xem xét mặt xã hội của việc

sử dụng ẩn dụ ý niệm và các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn và sử dụng ẩn dụ trong các diễn ngôn kinh tế

Kovács [100] tổng kết các chức năng của ẩn dụ trong các diễn ngôn kinh tế

là (i) lấp khoảng trống về thuật ngữ (ii) chức năng liên nhân thể hiện quan điểm của nhà báo (iii) tạo tính liên kết cho toàn bộ diễn ngôn (iv) chức năng thuyết phục Chức năng thuyết phục ở đây cũng chính là chức năng giao tiếp của ẩn dụ Tuy nhiên tác giả chưa phân tích và minh hoạ

Nghiên cứu của Koller [98] cũng cho thấy rằng thông điệp thuyết phục của diễn ngôn là yếu tố quan trọng quyết định việc lựa chọn các ẩn dụ Ẩn dụ ý niệm với vai trò thuyết phục được chỉ ra rất rõ trong các nghiên cứu trên diễn ngôn quảng cáo của Hidago Downing và Kraljevic Mujic [90], [91]

Smith [139] nghiên cứu các ẩn dụ ý niệm sử dụng trong đàm phán kinh tế và ông nhận thấy rằng qua cách dùng ẩn dụ thì người nghe có thể phát hiện ra ý định của đối tác khi đàm phán

Nghiên cứu của Skorczynska & Deignan [138] tập trung tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn và sử dụng các ẩn dụ trong các diễn ngôn kinh tế khác nhau và nghiên cứu này cho thấy yếu tố độc giả và mục đích bài báo là hai nhân tố quyết định, ảnh hưởng lớn đến các dạng ẩn dụ được sử dụng, tần suất sử dụng và chức năng của chúng trong các bài báo

Chức năng giao tiếp của ẩn dụ cũng được Handford [82] nghiên cứu Ông tìm hiểu xem ẩn dụ và thành ngữ được sử dụng như thế nào trong các buổi họp kinh doanh và thấy rằng các ẩn dụ và thành ngữ được sử dụng với mực đích đánh giá Chúng được dùng để đánh giá các ý kiến một cách tích cực và từ đó tạo ra sự đoàn kết giữa các bên tham gia họp Còn khi chúng được sử dụng với mục đích tiêu cực (để phê phán chẳng hạn) thì có thể giảm nhẹ hoặc tăng cường thông điệp tiêu cực đó

Sun & Du [145] so sánh ẩn dụ trong câu nói về sứ mệnh của các công ty Mỹ

và Trung Quốc để tìm hiểu xem ẩn dụ truyền tải hình ảnh của tổ chức như thế nào

Họ tìm ra ba loại ẩn dụ là THƯƠNG HIỆU LÀ CON NGƯỜI, KINH DOANH LÀ HỢP TÁC, KINH DOANH LÀ CẠNH TRANH Kết quả cho thấy các ẩn dụ KINH DOANH LÀ HỢP

Trang 26

TÁC được sử dụng nhiều trong khối liệu về công ty Mỹ hơn, còn ẩn dụ KINH DOANH LÀ CẠNH TRANH được sử dụng nhiều hơn trong khối liệu về công ty Trung Quốc Họ rút ra kết luận rằng các công ty Mỹ thể hiện lý tưởng của họ qua “sứ mệnh” là các tổ chức mong muốn hợp tác, còn các công ty Trung Quốc thì có thiên hướng cạnh tranh vượt lên trên các công ty khác, điều mà có vẻ trái với truyền thống văn hoá Trung Hoa

Chức năng ngữ dụng của ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ tài chính cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm

Cụ thể về diễn ngôn TTCK, các nhà nghiên cứu Cheal (1979), Schmid (1981), Van Dijk (1998) trích dẫn trong nghiên cứu của O’mara Shimeck và các cộng sự [123] đã khẳng định vai trò giao tiếp thông tin của ẩn dụ ý niệm mà các nhà báo sử dụng để mô tả các hiện tượng của thị trường chứng khoán, ], cũng như các nghiên cứu khác của O’mara Shimeck [127] [128] [129] liên quan tới chức năng giao tiếp của ẩn dụ trong các bản tin/bình luận tài chính nhìn từ góc độ ngôn ngữ báo chí đều chỉ ra sự ảnh hưởng của việc sử dụng các ADYN tới hành vi của người tiếp nhận thông tin Theo O’mara Shimeck và các cộng sự [127] thì trong bản tin/bình luận tài chính tư tưởng (ideology) được mô tả thông qua ẩn dụ bằng nhiều cách: “cái gì đáng đưa lên báo; các sự kiện cụ thể được đóng khung (frame) hoặc thủ thuật “xoáy” (spin) hay các “thành kiến” có thể được phát hiện ra thông qua các

cơ chế ngôn ngữ, siêu ngôn ngữ và tri nhận-ngữ nghĩa Những cơ chế này được dùng để thể hiện thế giới quan hoặc các hệ thống giá trị, được hiểu như là quan điểm của nhà báo, hay các thủ thuật ảnh hưởng tâm lý (slant), hoặc thành kiến Theo Croteau [55] các bản tin kinh tế “mang tính tư tưởng (ideological) sâu sắc” vì

nó khuyến khích phát triển một “thế giới quan về kinh doanh” rất riêng có được bằng việc mô tả thị trường chứng khoán như là một “phong vũ biểu đo sự ổn định kinh tế” và bằng việc coi sức khoẻ kinh tế với tương ứng với sự hài lòng của nhà đầu tư chứng khoán)

Morris và các cộng sự [120] cho rằng trong các bài bình luận TTCK, các tác giả không chỉ miêu tả xu hướng TTCK mà còn giải thích chúng, hay có thể hiểu như là những câu chuyện đằng sau các con số Nghiên cứu của Morris và các cộng

sự [120] tập trung nghiên vào hai loại ẩn dụ trong các bài bình luận về thị trường chứng khoán Nghiên cứu chỉ ra rằng các ẩn dụ tác thể (agent) mô tả các quỹ đạo giá như các hoạt động mang sức mạnh của ý chí còn các ẩn dụ đối thể (object) mô

tả các quỹ đạo giống như các đồ vật vô tri vô giác Ngoài ra các ẩn dụ tác thể

Trang 27

thường xuất hiện nhiều hơn trong các ngày thị trường lên hơn là những ngày thị trường xuống, và nhiều hơn khi thị trường tương đối ổn định hơn là những khi thị trường không ổn định Điều này có thể ảnh hưởng tới các nhận định của các nhà đầu

tư, ví dụ như các bình luận dùng ẩn dụ chủ thể làm tăng kỳ vọng của các nhà đầu tư vào xu thế tiếp tục tăng

Về khía cạnh hiệu quả của ngữ dụng thì rất khó để có thể đo được tác động của các ẩn dụ lên hành vi của đối tượng tiếp nhận thông tin Nhưng các nhà nghiên cứu tri nhận đều chứng minh rằng ẩn dụ là biện pháp đóng khung có hiệu quả và có ảnh hưởng tới niềm tin của con người, và khi con người thường hành động theo niềm tin của mình thì các diễn biến trên TTCK sẽ ảnh hưởng tới phản ứng của người tiếp nhận thông tin (với vai trò là nhà đầu tư) Nghiên cứu của William [153] tìm hiểu mối quan hệ giữa truyền thông và kết quả kinh tế, cụ thể là “hệ quả của việc đóng khung bằng ẩn dụ lên các quyết định đầu tư tiếp theo” Kết quả trên hai nhóm đối tượng (một nhóm là đọc văn bản về một công ty thua lỗ mà có sử dụng ẩn dụ; hai là nhóm đọc văn bản viết không sử dụng ẩn dụ) cho thấy khi các thông tin

về sự thua lỗ được thuật lại mà có sử dụng ẩn dụ có miền nguồn CÁI CHẾT thì ảnh hưởng nhiều hơn tới quyết định sẽ đầu tư, hơn là khi thông tin đó không được truyền tải qua ẩn dụ

Như vậy các nghiên cứu đều cho thấy ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế nói chung và về diễn ngôn TTCK nói riêng đều có tác dụng lớn giúp truyền tải thông tin mới, trao đi các thông điệp, cũng như ảnh hưởng tới hành vi của người đọc, người nghe

Quy trình nhận diện ẩn dụ ý niệm

Đa số các nhà nghiên cứu trong thập niên 2000 sử dụng phương pháp diễn dịch - từ tên xuống (top-down approach) để xác lập các ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn Một số ít nghiên cứu khác theo phương pháp quy nạp – từ dưới lên ví dụ như Quy trình quy nạp 5 bước để xác lập các ẩn dụ ý niệm của Steen [140]; Quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) của nhóm Pragglejaz [131] Pragglejaz là một nhóm các nhà nghiên cứu ẩn dụ tiêu biểu thời kỳ đầu những năm 2000, và tên nhóm này là viết tắt tên của 10 thành viên (Elena Semin, Gerard Steen, Alan Cienki, Joe Grady, Zoltán Kövecses, Lynne, Alice Deignan, Graham Low) Họ đề xướng ra Quy trình nhận diện ẩn dụ (Metaphor Identification Procedure), viết tắt là MIP MIP là quy trình được sử dụng khá rộng rãi và được đánh giá là tuyệt vời và vô cùng hữu ích để xác lập các từ ngữ được sử dụng một

Trang 28

cách ẩn dụ (metaphorically used words) và từ đó nhận diện các ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn Các bước của quy trình này là:

-Bước một là đọc toàn bộ diễn ngôn viết để thiết lập hiểu biết về nghĩa

-Bước hai là xác định các đơn vị từ vựng (lexical unit) trong diễn ngôn viết

-Bước ba là nghĩa chính và nghĩa ngữ cảnh phải khớp/tương thích với các yếu tố của các miền ý niệm khác nhau

+Xác lập nghĩa ngữ cảnh của các đơn vị từ vựng hoặc cụm từ đã tìm ra

+Đối với mỗi đơn vị từ vựng, xác định xem đơn vị từ vựng (lexical unit) có nghĩa đương đại trong các ngữ cảnh khác mà cơ bản hơn (có nghĩa là cụ thể hơn, chính xác hơn, có lịch sử lâu đời hơn…) so với nghĩa trong ngữ cảnh đã cho không

+Nếu mỗi đơn vị từ vựng (lexical unit) có nghĩa đương đại trong các ngữ cảnh khác

mà cơ bản hơn (có nghĩa là cụ thể hơn, chính xác hơn, có lịch sử lâu đời hơn…) so với nghĩa trong ngữ cảnh đã cho thì quyết định xem là nghĩa ngữ cảnh có đối lập với nghĩa cơ bản nhưng lại có thể hiểu được khi so sánh với nó không

-Bước bốn là nếu câu trả lời là CÓ thì đánh dấu đơn vị từ vựng đó là có tính ẩn dụ Phương pháp quy nạp như trên mặc dù tốn công và mất nhiều thời gian nhưng đảm bảo nghiên cứu viên không bỏ sót ẩn dụ ý niệm có thể xuất hiện trong ngữ liệu

Thuật ngữ Pragglejaz [131] dùng để chỉ những từ ngữ được sử dụng một cách ẩn dụ giúp phát hiện ra các ẩn dụ ý niệm là “metaphorically used words/phrases” Luận án này sẽ sử dụng thuật ngữ tiếng Việt tương đương với nó là

“dụ dẫn”, phân biệt với thuật ngữ “biểu thức ẩn dụ” là sự biểu đạt ngôn ngữ của ánh

xạ ẩn dụ (metaphorical expressions)

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Theo khảo sát của chúng tôi, nghiên cứu tại Việt Nam về lĩnh vực diễn ngôn kinh tế cho đến nay mới chỉ có một vài nhà nghiên cứu ngôn ngữ làm công việc giới thiệu khái quát ADYN trong các tài liệu kinh tế tiếng Anh, tiếng Việt bao gồm Nguyễn Thuỵ Phương Lan [18], Phạm Thị Thanh Thuỳ [29] [30] [31]…; và đáng chú ý nhất là công trình của Vương Thị Kim Thanh [32] và Hà Thanh Hải [5]

Với nghiên cứu trên 300 tiêu đề báo chí thương mại tiếng Việt, Vương Thị Kim Thanh [29] đã tìm ra các ADYN về kinh tế và hiệu quả của chúng trong việc truyền tải thông điệp của bài báo một cách hình ảnh và biểu cảm sâu sắc và nhanh chóng nhờ cơ chế trải nghiệm khiến ẩn dụ diễn đạt được các khái niệm trừu tượng một cách dễ dàng

Trang 29

Đặc biệt Hà Thanh Hải [5] trong luận án tiến sĩ của mình đã so sánh đối chiếu một cách khá toàn diện các ẩn dụ cấu trúc cơ bản trong diễn ngôn kinh tế với

cứ liệu là báo chí kinh tế Anh-Việt Trong luận án của mình Hà Thanh Hải đã chọn cách phân loại các ẩn dụ ý niệm dựa trên các lĩnh vực nguồn từ đó tác giả nhóm các

ẩn dụ tìm được thành 4 nhóm lớn là ẩn dụ KHÔNG GIAN, ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG, và trong mỗi nhóm ẩn

dụ sẽ có các ẩn dụ bậc thấp hơn Tác giả nghiên cứu ẩn dụ từ ba bình diện nghĩa học, dụng học và tri nhận luận và thấy rằng ẩn dụ được người viết sử dụng rất nhiều trong các bài báo về kinh tế ngoài chức năng tri nhận còn có mục đích chính là thuyết phục người đọc về các quan điểm đưa ra Nghiên cứu cũng chỉ ra điểm khác nhau trong việc ý niệm hóa các hiện tượng kinh tế ở tiếng Anh và tiếng Việt, và có

sự chuyển di các ý niệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt mà các tác giả muốn dùng để giải thích các khái niệm mới; và rằng số lượng ẩn dụ và tần suất xuất hiện trong các bản tin kinh tế tiếng Anh nhiều hơn trong tiếng Viêt

*Nhận xét

Tóm lại kể từ khi ngôn ngữ học tri nhận được quan tâm nhiều hơn đã có rất nhiều nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế, trong đó đa số là tác phẩm báo chí thuộc các thể loại bản tin, bài báo, bài tường thuật Các nghiên cứu này đã tìm ra và hệ thống hoá các ẩn dụ ý niệm cụ thể xuất hiện trong các diễn ngôn kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, chỉ ra tầm quan trọng của việc hiểu ánh xạ ẩn dụ ý niệm trong việc giải thích các khái niệm kinh tế, và các mục đích giao tiếp (ngữ dụng) của việc sử dụng các loại ẩn dụ ý niệm Ngoài ra các nghiên cứu đã so sánh đối chiếu các loại ẩn dụ ý niệm trong các ngôn ngữ khác nhau và tìm ra những điểm tương đồng và những khác biệt thể hiện đặc trưng văn hoá của người bản ngữ

Kết quả khảo sát trên cho thấy hiện chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu ẩn dụ ý niệm về “thị trường chứng khoán” trên ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán theo ngày của tất cả các phiên giao dịch trong một năm, mà các nghiên cứu trên thế giới đa số chỉ xử lý ngữ liệu bản tin tài chính nói chung Hơn nữa ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về ẩn dụ ý niệm về

“thị trường chứng khoán” và đối chiếu ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời đây cũng là cơ sở để chúng tôi xác định khung cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu, và khung này sẽ được trình bày chi tiết

ở mục 1.3

Trang 30

1.2 Cơ sở lý thuyết về ẩn dụ ý niệm

1.2.1 Định nghĩa về ẩn dụ ý niệm

Trong ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ được coi là một phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có các đặc điểm giống nhau hoặc tương đồng, và nó là một biện pháp tu từ Quan điểm này có từ thời Aristote,

và các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam cũng có chung quan điểm

Trong khi quan điểm truyền thống coi ẩn dụ như một sự lệch chuẩn khỏi cách sử dụng ngôn ngữ bình thường, ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen có vai trò lớn hơn

so với ngôn ngữ mang tính ẩn dụ thì ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ là một hiện tượng tri nhận hơn là hiện tượng ngôn ngữ Các biểu thức ẩn dụ xuất hiện trong các diễn ngôn là cái phản ánh ẩn dụ tồn tại ở tầng bậc ý niệm Lakoff & Johnson [108] cho rằng bản chất của ẩn dụ là “hiểu và trải nghiệm một loại vấn đề theo lối diễn đạt của một loại vấn đề khác” thông qua sự chiếu xạ từ lĩnh vực cụ thể sang lĩnh vực trừu tượng Theo Lakoff & Johnson nhờ ẩn dụ mà con người nhận biết được thế giới khách quan bao gồm thế giới vật chất, thế giới tinh thần và thế giới cảm xúc Ẩn dụ gắn liền với đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ

Lakoff & Johnson [108] định nghĩa ẩn dụ ý niệm là việc hiểu một miền ý niệm thông qua một miền ý niệm khác Theo Kövecses [107: 2] thì định nghĩa

chuẩn hơn của ẩn dụ ý niệm là “Một ẩn dụ ý niệm là một tập hợp mang tính hệ

thống các tương đồng, hay các ánh xạ, giữa hai miền của kinh nghiệm” Định nghĩa

mới nhất này của Kövecses cũng chỉ là mang tính chất kỹ thuật hơn về mặt ngôn từ

1.2.2 Thuyết ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory)

Từ xa xưa, mặc dù phép ẩn dụ đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong văn học nhưng nó lại chỉ được coi là yếu tổ biểu đạt văn học đơn thuần tách rời khỏi thực tế và ngôn ngữ thường nhật Ẩn dụ được xem như vậy hàng thế kỉ mà không được nhìn từ một góc độ nào khác cho đến khi Lakoff giới thiệu ý niệm mới về ẩn

dụ Ông được xem là người tiên phong của thuyết ADYN khi chỉ ra rằng những đặc trưng hoàn toàn mới và cách sử dụng của ẩn dụ không chỉ trong ngôn ngữ văn học

mà còn trong ngôn ngữ nói chung Ông cho rằng ẩn dụ không chỉ là vấn đề về mặt ngôn ngữ mà còn là vấn đề tư duy Ông là người đầu tiên tuyên bố mọi sự tồn tại của chúng ta đều đơn thuần thuộc ẩn dụ, chúng ta lấp đầy ngôn ngữ của mình với ẩn

dụ một cách không chủ đích, vì đơn giản là bản năng của chúng ta là nhìn mọi thứ

qua lăng kính của ẩn dụ, Lakoff & Johnson cho rằng “…tất cả các ý niệm trừu

tượng như thời gian, trạng thái, biến đổi, nguyên nhân, mục đích hoá ra đều mang

Trang 31

tính ẩn dụ” (Lakoff & Johnson 108: 203) Lý thuyết ẩn dụ ý niệm (ADYN) được

Lakoff và Johnson khởi xướng từ năm 1980 và trong gần 40 năm qua đã được các nhà ngôn ngữ học đánh giá và phát triển thêm

Nội dung quan trọng thứ nhất của Thuyết ADYN là “Ẩn dụ có mặt ở khắp nơi”, tức là không chỉ ở một số loại hình mang tính nghệ thuật như văn học mà có thể nói rằng ngôn ngữ thường ngày phần lớn là có ẩn dụ Các nhà nghiên cứu ẩn dụ

ý niệm trong thời kỳ đầu đã xác lập được rất nhiều ẩn tụ từ nhiều nguồn như phương tiện truyền thông, hội thoại, từ điển, sách…Khi nghiên cứu ẩn dụ, G Lakoff đã có một số cách tiếp cận mới khi chỉ ra rằng ẩn dụ được coi là ánh xạ ngang qua các miền ý niệm Kết quả của nhận thức mới trong lý thuyết cũ cho thấy

ẩn dụ là trung tâm của ngữ nghĩa học và nó bao gồm hàng ngàn ánh xạ qua các miền ý niệm từ cuộc sống hàng ngày

Thuyết ADYN chỉ ra rằng con người cấu trúc nên nhiều khái niệm thông qua việc ánh xạ được hình thành trong trí óc và ánh xạ đó được đặt lên miền nguồn trừu tượng từ miền nguồn cụ thể Họ cho rằng các ý niệm trừu tượng như CUỘC ĐỜI, THỜI GIAN, TRANH LUẬN không thể thông hiểu mà không tham chiếu đến các ý niệm cụ thể dễ hiểu hơn Ví dụ ý niệm CUỘC ĐỜI có thể được hiểu thông qua ý niệm CUỘC HÀNH TRÌNH Việc ý niệm hoá như vậy tạo nên ẩn dụ ý niệm CUỘC ĐỜI

LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, trong đó CUỘC ĐỜI là miền đích, và CUỘC HÀNH TRÌNH là miền nguồn Ánh xạ ẩn dụ liên quan tới một hệ thống các thuộc tính tương đồng giữa hai miền nguồn đích, và nó mang tính cục bộ (tức là chỉ một số thuộc tính được kích hoạt phóng chiếu từ miền nguồn lên miền đích) Thuyết ADYN cũng chỉ

ra rằng khác với quan điểm truyền thống về ẩn dụ, các tương đồng có thể có sẵn tồn tại từ trước nhưng cũng có thể không có trước mà các tương đồng đó có được nhờ quá trình cảm nhận một cách ẩn dụ (xem thêm ở mục 1.2.3.4)

Một nội dung quan trọng nữa của thuyết ADYN là ẩn dụ xuất hiện trong tư duy, theo đó ẩn dụ không chỉ nằm ở ngôn ngữ mà còn nằm trong tư duy Chúng ta

sử dụng ẩn dụ không chỉ để nói về vấn đề nào đó mà còn là để tư duy về nó Vì thế

mà thuyết ADYN phân biệt các ẩn dụ ngôn từ (là các từ ngữ được sử dụng một cách

ẩn dụ) với ẩn dụ ý niệm (mô hình ý niệm dùng để tư duy) Ví dụ như ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH có thể chi phối cách chúng ta suy nghĩ về cuộc đời (chúng ta có thể đặt ra các mục tiêu mình hướng tới; chúng ra lập kế hoạch để đi tới đích, chúng ta cần chuẩn bị đối phó với các khó khăn trên đường đi)…Với những suy nghĩ như vậy thì thực tế là chúng ta đang tư duy về cuộc đời thông qua ẩn dụ ý

Trang 32

niệm CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, và do đó chúng ta sử dụng các ngôn ngữ thuộc miền ý niệm CUỘC HÀNH TRÌNH để nói về cuộc sống

Trong các nghiên cứu sau đó Lakoff & Johnson đưa ra quan điểm rằng tư duy không độc lập với thân thể mà mang tính nghiệm thân (embodiment), sau này phát triển thành Thuyết nghiệm thân Tính nghiệm thân có thể hiểu là những gì mà

cơ thể chúng ta trải nghiệm trong quá trình tương tác với môi trường, xã hội tạo cơ

sở cho những điều chúng ta suy nghĩ, hiểu biết, ứng xử và giao tiếp Đây là một quá trình mang tính hệ thống, trong đó có sự kết hợp của não bộ, các cơ quan cảm giác

và hệ thống thần kinh điều hành các vận động thân thể cũng như điều khiển mọi hành vi ứng xử của con người cả trong chủ định lẫn trong vô thức

Sau đó Lakoff cùng với một số nhà nghiên cứu khác điển hình là Kövecses

đã phát triển tư tưởng về vai trò của ẩn dụ trong việc hình thành hệ thống ý niệm của con người và cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên và lý thuyết ẩn dụ được phát triển sâu rộng hơn

Mặc dù lý thuyết ẩn dụ ý niệm được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực như nghiên cứu văn học, nghiên cứu pháp luật, ngôn ngữ học, triết học…góp phần làm sáng tỏ cách con người tư duy như thế nào, trong 30 năm qua vẫn có rất nhiều phản biện về lý thuyết ADYN Một hạn chế của lý thuyết ADYN khởi xướng từ thời đầu của Lakoff & Johnson [106] là cho rằng ẩn dụ là phép chiếu xạ qua hai miền Nhiều nhà lý luận ngôn ngữ đã phản biện rằng quá trình tâm lý diễn ra dưới ẩn dụ là

“tiến hóa” theo cả một quãng đời từ việc so sánh ở những giai đoạn đầu đời tới việc phân loại khi chúng thành quy ước [Gentner & Bowdle’s, 70:123], cho thấy một mối quan hệ phức tạp hơn rất nhiều giữa nhận thức và hình thức ngôn ngữ Fauconnier & Turner [65] với Thuyết Pha trộn ý niệm (Conceptual blending theory) cũng cho rằng

tư duy về ẩn dụ là tổ chức ở bậc cao chứ không chỉ đơn giản mà phép chiếu xạ từ các miền lên nhau Một phê bình nữa về thuyết ADYN là lý thuyết này dựa trên lý luận vòng quanh (circular reasoning), tức là các nhà ngôn ngữ của lý thuyết ADYN một mặt thì sử dùng các ẩn dụ ngôn từ để nhận diện ẩn dụ ý niệm nhưng mặt khác lại cho rằng các ẩn dụ ngôn từ tồn tại bởi những ý niệm có sẵn Nhưng sau đó các thí nghiệm ngôn ngữ tâm lý học của một số nhà nghiên cứu như Gibb [72], [75], Gibbs & Coulston [78] cho thấy rằng các nhà ngôn ngữ không nên phủ nhận sự tồn tại của các ADYN, mà chỉ nên tập trung nghiên cứu cách thức chúng xuất hiện và chức năng của chúng trong ngôn ngữ Phê bình mạnh mẽ nhất về lý thuyết ADYN liên quan tới một

số vấn đề phương pháp, ví dụ như làm thế nào để nhận dạng ẩn dụ trong diễn ngôn,

Trang 33

làm thế nào nghiên cứu ẩn dụ dựa trên ngữ liệu thực thay về chỉ có ngữ liệu là từ ngữ hay trực giác, hay chức năng ngữ dụng của ADYN trong diễn ngôn thực…(Deignan [59]; Steen [141]…) Những ý kiến phản biện hay phê bình lý thuyết ADYN thường tập trung vào riêng vào công trình đầu tiên của Lakoff & Johnson mà đây chỉ là bước đầu của lý thuyết ADYN (Kövecses [106]) Trong cuốn sách “Metaphor wars” (Chiến tranh ẩn dụ) xuất bản năm 2017, Gibbs [79] bàn về các vấn đề của ẩn dụ ý niệm, tập hợp nhiều kết quả nghiên cứu của cộng đồng lý thuyết ẩn dụ ý niệm, trong

đó cũng đánh giá các lập luận ủng hộ cũng như các quan điểm phản biện Theo chúng tôi những ý kiến phản biện cũng được coi là một phần trong sự phát triển của thuyết ADYN, hay nói cách khác các nhà ngôn ngữ đã và đang nghiên cứu tiếp các khía cạnh còn chưa được các nhà theo thuyết ADYN thời đầu để ý

1.2.3 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm

1.2.3.1 Ý niệm và sự ý niệm hoá

Theo ngôn ngữ học tri nhận, ý niệm được hình thành trong ý thức con người,

“là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn

bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lý con người” (Trần Văn Cơ [2])

Trong công trình [2], Trần Văn Cơ đã nhận định “Ý niệm chứa đựng ba

thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc hình tượng và thành tố văn hoá”

Theo ông, trong các quá trình tư duy con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới dưới dạng “những lượng tử” của tri thức Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới đó Cấu trúc này bao gồm nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng, mang những nét phổ quát Mặt khác nó bao gồm những thứ làm nó trở thành sự kiện của văn hoá, chứa đựng những nét đặc trưng văn hoá dân tộc Ý niệm mang tính chủ quan, nghĩa là nó là một mảng của bức tranh thế giới, phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Sự phân cắt thế giới thành từng mảnh (ý niệm) từ cách nhìn thế giới khác nhau của con người gọi là sự “ý niệm hoá”, trên cơ sở đó tạo nên “bức tranh ý niệm về thế giới” và khi được thể hiện ra bằng ngôn ngữ hình thành nên “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”

1.2.3.2 Miền nguồn-miền đích

Điều kiện xác định ẩn dụ ý niệm là cả hai thành tố Nguồn và Đích đều phải

là những ý niệm, và ý niệm được cấu trúc hoá theo mô hình trường: TRUNG NGOẠI VI Vai trò “trung tâm” thường là khái niệm, và đó chỉ là một phần nào đó

Trang 34

TÂM-của khái niệm chứ không phải toàn bộ khái niệm, còn “ngoại vi” là những yếu tố ngôn ngữ và văn hoá dân tộc

Trong ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm được định nghĩa như sự thông hiểu một ý niệm (hay một miền ý niệm) này thông qua một ý niệm (miền ý niệm) khác Ví dụ như khi chúng ta nói về “thị trường chứng khoán” thông qua “cuộc hành trình”, hay “thị trường chứng khoán” thông qua “biển” Mô hình của ẩn dụ ý niệm là “A là B” trong đó A là ý niệm Đích và B là ý niệm Nguồn, ý niệm Đích được hiểu thông qua ý niệm Nguồn Các ADYN được viết hoa để phân biệt với ẩn

dụ ngôn từ, ví dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ BIỂN Ý niệm ĐÍCH (THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN) trừu tượng hơn và ý niệm NGUỒN (BIỂN) cụ thể hơn Miền nguồn bao gồm một tập hợp các thuộc tính, các quá trình và các mối quan hệ được liên kết, lưu giữ với nhau trong tâm trí Chúng được biểu thị trong ngôn ngữ thông qua các từ và các biểu thức có quan hệ vốn được nhìn nhận như là sự sắp xếp theo từng nhóm có sự tương đồng với nhau mà các nhà ngôn ngữ vẫn gọi bằng thuật ngữ là “các tập hợp từ vựng” hay “các trường từ vựng” Miền đích mang tính trừu tượng và mang theo cấu trúc của nó từ miền nguồn, thông qua các mối liên kết ẩn

dụ Các miền đích có mối quan hệ với các thực thể, thuộc tính và những quá trình

có thể được tìm thấy thông qua sự phản chiếu trong miền nguồn Vì vậy trong các

ẩn dụ ý niệm miền nguồn và miền đích không thể đảo ngược cho nhau

Kövecses [104:18-27] đã liệt kê ra các miền nguồn và miền đích phổ biến như sau:

-Các miền nguồn phổ biến gồm có: human body (cơ thể người), healtth and illness (sức khoẻ và bệnh tật), animals (động vật), plants (thực vật), building and construction (toà nhà và xây dựng, máy móc và phương tiện sản xuất), games and sport (trò chơi và thể thao), money and economics transactions (tiền và các giao dịch kinh tế), cooking and food (nấu ăn và thức ăn), heat and cold (nóng và lạnh), light and darkness (sáng và tối), forces (lực đẩy), movements and direction (chuyển động và hướng)

-Các miền đích phổ biến gồm có: emotion (tình cảm), desire (khao khát), morality (đạo đức), thought (ý nghĩ), society/nation (xã hội/dân tộc), politics (chính trị), economy (kinh tế), human relationship (các quan hệ con người), communication (giao tiếp), time (thời gian), life and death (cuộc sống và cái chết), religion (tôn giáo), events and actions (sự tình và hoạt động)

1.2.3.3 Lược đồ hình ảnh

Trang 35

Để hiểu được ánh xạ ẩn dụ ý niệm thì cần nắm rõ khái niệm lược đồ hình ảnh Khái niệm này được bàn luận và phân tích trong các nghiên cứu của Lakoff & Johnson [108], Lakoff & Tuner [109] Các nhà nghiên cứu cho rằng lược đồ hình ảnh vượt ra ngoài phạm vi của lý thuyết ngôn ngữ, theo nghĩa là chúng có thực tạo

về mặt tâm lý mà được chứng minh bằng nghiên cứu thực nghiệm trong ngôn tâm lý học, tâm lý học tri nhận và tâm lý phát triển

ngữ-Cũng theo Lakoff & Tuner [109] lược đồ hình ảnh là một cấu trúc có tính chất lặp đi lặp lại và nó dựa trên kinh nghiệm của con người Nhiều miền thiếu hình ảnh, ví dụ như “thời gian, cái chết, sự giác ngộ, sự sống” Những miền như thế được gọi là miền trừu tượng hay vô ảnh Các miền tạo nên hình ảnh thì mang tính nghiệm thân, mà cũng theo Kövecses [102:57] đó cụ thể là “các trải nghiệm vật lý” ví dụ như “chuyển động trong không gian, thao tác với các vật thể, hoặc các tiếp xúc thuộc về tri giác.”

Lược đồ hình ảnh không phải là các hình ảnh cụ thể mà là trừu tượng theo nghĩa là các lược đồ trong nhận thức, biểu trưng cho các mô hình lược đồ xuất phát

từ các miền hữu ảnh chẳng hạn như “vật chứa, đường đi, khớp nối, lực đẩy, cân bằng” Đây là các mô hình tái diễn nhiều trong nhiều miền mang tính nghiệm thân

và cấu trúc nên các trải nghiệm nghiệm thân Theo Talmy [147], lược đồ cấu trúc nên các trải nghiệm mang tính nghiệm thân và cả các trải nghiệm không mang tính nghiệm thân thông qua ẩn dụ Như vậy các tác giả đã làm sáng tỏ miêu tả có vẻ trái ngược nhau về lược đồ ánh xạ: tính chất “trừu tượng” hiểu theo một cách đó là sơ

đồ trong tâm trí; hiểu theo cách khác đó là mang tính nghiệm thân Dưới đây là một

I’m out of money

He’s an up-front kind of guy I’m feeling low

Hold on, please

He just went crazy

You are driving me insane

Nguồn: Kövecses [92:43]

Lakoff & Johnson [108] và Kövecses [104] đã nhấn mạnh ý nghĩa của lược

đồ hình ảnh vì lược đồ hình ảnh là bằng chứng quan trọng cho luận điểm rằng ánh

xạ ẩn dụ ý niệm là từ các miền cụ thể đến các miền trừu tượng Do được hình thành

Trang 36

dựa trên các kinh nghiệm thân thể và kinh nghiệm không gian nên các lược đồ hình ảnh có ý nghĩa trực tiếp với con người Ví dụ như lược đồ “chuyển động” hình thành từ việc chúng ta thấy các vật thể chuyển động từ nơi này sang nơi khác và từ các hoạt động của chính bản thân chúng ra khi di chuyển Đôi khi lược đồ “chuyển

động” còn được dùng để mô tả trạng thái đang thay đổi, ví dụ như “The telephone

went dead”

Lược đồ hình ảnh được dùng làm cơ sở cho các ý niệm khác, đem lại nguồn phong phú cho ẩn dụ ý niệm Ví dụ như lược đồ “chuyển động” là cơ sở của ý niệm CUỘC HÀNH TRÌNH CUỘC HÀNH TRÌNH là ý niệm vô ảnh nhưng khi được tạo thành

từ lược đồ chuyển động với các yếu tố “điểm đầu, điểm cuối, sự chuyển động” tương ứng với các yếu tố “điểm xuất phát, đích đến, chuyến đi” của cuộc hành trình thì ý niệm CUỘC HÀNH TRÌNH lại trở thành hữu ảnh Các miền đích của nhiều ẩn dụ

ý niệm như TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH hay HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH do đó được xem như là được cấu trúc bằng

lược đồ hình ảnh của miền nguồn

SOURCE-Các tương đồng ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH được miêu

tả như sau:

một mối tình

người yêu nhau Các điểm đến của cuộc hành

trình

Mục đích của những người yêu nhau

Hình 1.1: Các tương đồng ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH

Từ đó, các biểu thức ẩn dụ liên quan tới có thể là:

Trang 37

The relationship isn’t going anywhere

Our relationship is off the track

We can’t turn back now

We may have to go our separate ways

Our relationship has hit a dead-end street [Lakoff &Johnson 108: 206]

Lakoff & Johnson nhấn mạnh đây là lỗi phổ biến khi nhầm lẫn tên gọi của ánh xạ với bản chất ánh xạ TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH là tên gọi của ánh xạ tạo ra những tập hợp các tương đồng Tên gọi của ánh xạ chỉ dùng để phát triển thêm nhiều những tập hợp tương đồng mang tính ẩn dụ Do đó, Lakoff & Johnson xác định ánh xạ là ẩn dụ ý niệm, hay nói cách khác, tập hợp những tương đồng ý niệm hoặc tương đồng bản thể Chúng có thể được coi là con đường từ miền nguồn đến miền đích

Hơn thế, Lakoff & Johnson cũng phân biệt giữa ẩn dụ ý niệm và biểu thức ngôn ngữ Trong tất cả các ví dụ liên quan tới ánh xạ TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH, chúng ta không quan sát một vài ẩn dụ, mà chỉ là một YDYN với một dãy biểu thức ngôn ngữ- ẩn dụ của tình yêu được ý niệm hóa là một cuộc hành trình

và được biểu đạt bằng rất nhiều các biểu thức ẩn dụ Do đó, ẩn dụ có thể được hiểu

là ánh xạ ý niệm hoặc ẩn dụ với những biểu thức ẩn dụ được coi là biểu thức ngôn ngữ mang tính cá riêng Quá trình ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích có thể được khái quát như sau:

Hình 1.2 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm (Lakoff & Johnson [98])

Miền nguồn là nền tảng cho ý niệm mà trong chiều ngược lại làm ánh xạ, hoặc ADYN Ẩn dụ ý niệm sau đó sẽ cung cấp toàn bộ biểu thức ngôn ngữ (hay còn được gọi là ẩn dụ ngôn ngữ) mà cuối cùng chuyển ý tưởng đến miền đích

Tính cục bộ của ánh xạ ẩn dụ ý niệm:

Theo Lakoff & Johnson ánh xạ mang tính cục bộ, nghĩa là một số thuộc tính của miền nguồn được chiếu xạ sang miền đích chứ không phải là toàn bộ Liên quan tới tính cục bộ của ẩn dụ ý niệm thì Kövecses [104] đã phân tích đặc điểm

MIỀN NGUỒN

ÁNH XẠ

(ẨN DỤ Ý NIỆM)

MIỀN ĐÍCH

BIỂU THỨC ẨN DỤ (ẨN DỤ NGÔN NGỮ)

Trang 38

“highlighting” (làm nổi bật), và “hiding” (làm mờ) của ẩn dụ Khi miền nguồn được ánh xạ sang miền đích thì chỉ một số bình diện của miền đích được đưa vào tiêu điểm (focus) và được làm nổi bật lên Như vậy có nghĩa là có những bình diện mà không được kích hoạt ấy sẽ bị che mờ đi Ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

được sử dụng để minh hoạ cho bản chất này Các biểu thức ẩn dụ liên quan tới xây

dựng, cấu tạo, và độ vững chắc của công trình với các từ ngữ như “construct, build”

(xây dựng), “framework” (cấu trúc), “solid, strong” (vững) Với tri thức thông thường chúng ta biết là có rất nhiều bộ phận khác của công trình không được sử dụng tới ví

dụ như “cửa, con người trong đó, hay kiến trúc của công trình”

1.2.3.5 Các cấp độ của ẩn dụ

Theo thuyết ẩn dụ ý niệm thì ẩn dụ gồm hai cấp độ là primary (phái sinh) và generic-level (tổng quát) Các ẩn dụ tổng quát mang tính phổ quát Kövecses [101] đưa ra ví dụ minh hoạ về ẩn dụ CƯỜNG ĐỘ LÀ SỨC NÓNG Đây là ẩn dụ bậc tổng quát (generic-level), và ẩn dụ phái sinh của nó có thể là các ẩn dụ sau:

TỨC GIẬN LÀ LỬA

NHIỆT TÌNH LÀ LỬA

MÂU THUẪN LÀ LỬA

Các miền cụ thể ở đây là “tức giận, nhiệt tình, mâu thuẫn” đều có chung bình diện “cường độ” mà có thể ý niệm hoá như là sức nóng Ý niệm SỨC NÓNG không

có tương đồng gì với ý niệm CƯỜNG ĐỘ Sức nóng là thuộc tính vật lý của vật mà chúng ta có trải nghiệm thân thể trong khi cường độ lại là một khái niệm chủ quan mang tính trừu tượng cao Vậy thì cơ sở ánh xạ ở đây là mối liên hệ về sự trải nghiệm giữa cường độ và sức nóng bởi khi chúng ta hoạt động với cường độ cao thì

cơ thể nóng lên

1.2.3.6 Phân loại ẩn dụ ý niệm

Theo Kövecses [102] ẩn dụ ý niệm có thể phân loại theo 4 cách là:

-phân loại theo tính quy ước của ẩn dụ

-phân loại theo chức năng của ẩn dụ

-phân loại theo bản chất của ẩn dụ

-phân loại theo tính khái quát của ẩn dụ

a Phân loại theo tính quy ước của ẩn dụ

Tính quy ước của ẩn dụ dẫn đến tên gọi hai loại ẩn dụ là

*conventional conceptual metaphor (ẩn dụ ý niệm mang tính quy ước)

Trang 39

*unconventional conceptual metaphor hay novel metaphor (ẩn dụ ý niệm phi quy ước /ẩn dụ mới)

b Phân loại theo chức năng của ẩn dụ

Kövecses [104] đưa ra 3 loại ẩn dụ khác nhau dựa trên chức năng tri nhận, cụ thể là ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng

Ẩn dụ cấu trúc

Ẩn dụ cấu trúc xuất hiện khi miền nguồn cung cấp “cấu trúc kiến thức dồi

dào cho miền đích” (Kövecses 104: 37) Nguồn phóng chiếu các ánh xạ dễ tiếp

nhận và dễ hiểu để truyền tải ẩn dụ đến nguồn đích theo 1 cách dễ hiểu Kövecses lí giải tư tưởng này khi sử dụng ý niệm về thời gian Nếu chúng ta xem xét ví dụ dưới đây được dịch nguyên văn sang tiếng Việt:

The time for action has arrived;[Thời điểm hành động đã đến]

I’m looking ahead to Christmas; [Tôi đang nhìn về lễ Giáng Sinh.]

Time is flying by;[Thời gian đang bay]

Thanksgiving is coming up on us [Lễ tạ ơn đang đến với tôi.]

Kövecses [104: 38] chúng ta có thể nhận thấy rằng ẩn dụ ý niệm có thể được hình dung như ánh xạ THỜI GIAN TRÔI QUA LÀ SỰ DI CHUYỂN CỦA MỘT VẬT THỂ Người quan sát có một vị trí không thay đổi và mọi vật sẽ di chuyển về phía người quan sát Trái ngược lại thì, ánh xạ sau có thể xuất hiện THỜI GIAN TRÔI QUA LÀ SỰ DI

CHUYỂN CỦA NGƯỜI QUAN SÁT QUA MỘT CẢNH ĐẸP, với ví dụ sau “His

stay in Russia extended for many years;We passed the time happily; There’s going to be trouble along the road.”

Trong biểu thức ẩn dụ kể trên, thời gian lại có một vị trí cố định không thay đổi

và người quan sát lại di chuyển theo thời gian Việc hiểu cả hai miền nguồn và miền đích làm cho ẩn dụ rõ ràng và dễ hiểu hơn như Lakoff & Johnson [108:140] đã

viết “Một ý niệm được cấu trúc mang tính ẩn dụ thông qua một ý niệm khác”

Ẩn dụ bản thể

Từ điển Tiếng Anh Collins Concise định nghĩa bản thể là “một nhánh của

trừu tượng học đề cập đến bản chất của sự sống” Ẩn dụ bản thể giúp ta hiểu về các

vật thể phi vật chất như là một thực thể Một khái niệm trừu tượng, như hoạt động, cảm xúc, ý tưởng được thể hiện như một vật cụ thể, một đồ vật, một chất liệu, một vật chứa, hoặc một con người Lakoff & Johnson đưa ra ví dụ sau để biểu đạt cách

sử dụng của ẩn dụ bản thể

Trang 40

“I can’t keep up with the pace of modern life.” [Tôi không thể bắt kịp nhịp sống

hiện đại] (Lakoff & Johnson 108: 27)” Đường đời được nhận thức là tốc độ của 1

thực thể vật chất

Ẩn dụ định hướng

Loại ẩn dụ này được biểu đạt rộng rãi trong ngôn ngữ Ẩn dụ định hướng khác với ẩn dụ cấu trúc ở chỗ chúng không xây dựng cấu trúc ẩn dụ của một ý niệm này trên một ý niệm khác, mà “tổ chức một hệ thống ý niệm hoàn chỉnh theo một hệ thống khác” (Lakoff & Johnson [108:14]) Chúng được gọi là “định hướng” vì có tiêu điểm không gian (spatial focus), trong-ngoài, trên-dưới, từ-đến…

Bản chất của ẩn dụ định hướng dựa vào cấu trúc vật lý hoặc văn hóa dân tộc

Do đó, chúng ta sẽ liên hệ cảm giác tích cực với hướng chuyển động lên trên và cảm giác tiêu cực với hướng chuyển động xuống dưới Điều này là do cơ chế vật lí của cơ thể chúng ta: tư thế đứng thẳng liên quan đến trạng thái tích cực, và tư thế cúi xuống biểu thị nỗi buồn Ví dụ dưới đây minh họa cho loại ẩn dụ này:

“He is at the peak of health”; “His health is declining” (Lakoff &

Johnson [108:15]) [“Anh ấy đang trên đỉnh của sức khoẻ”; “Sức khoẻ của anh ấy đang đi xuống”.]

Ẩn dụ định hướng ở đây là SỨC KHỎE VÀ CUỘC SỐNG LÀ HƯỚNG LÊN, ỐM ĐAU VÀ CÁI CHẾT LÀ HƯỚNG XUỐNG. Ẩn dụ này được tạo ra trên cơ sở vật lí chung ở con người là khi chúng ta ốm, chúng ta thường nằm xuống còn khi khỏe lại, chúng ta sẽ đứng dậy và có tư thế thẳng người

Kövecses [104] cho rằng công việc tri nhận của các ẩn dụ loại này là làm các

ý niệm đích trở nên mạch lạc hơn trong hệ thống tri nhận Vì vậy ông đưa ra một tên gọi khác cho ẩn dụ định hướng, đó là “coherence metaphor” (ẩn dụ liên kết) với nghĩa là các ẩn dụ đích nào đó được ý niệm hoá theo một kiểu giống nhau Ví dụ như tất cả các ẩn dụ “hướng lên” (KHOẺ MẠNH LÀ HƯỚNG LÊN) thì cũng có các ẩn dụ ngược lại là “hướng xuống” (ỐM ĐAU LÀ HƯỚNG XUỐNG)

c Phân loại theo bản chất của ẩn dụ

Theo Kövecses [92], ẩn dụ có thể dựa trên cả tri thức và hình ảnh

Hầu hết các ẩn dụ dựa vào các tri thức của con người về các ý niệm, trong đó các cấu trúc tri thức cơ bản tạo nên từ một số yếu tố cơ bản được ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích

Loại ẩn dụ dựa trên hình ảnh có thể gọi là ẩn dụ lược đồ hình ảnh, trong đó các lược đồ được ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích (xem mục 1.2.4.3)

Ngày đăng: 19/08/2019, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alaingheerbrant, J.C (2002). Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới. NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới
Tác giả: Alaingheerbrant, J.C
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
2. Trần Văn Cơ (2007). Ngôn ngữ học tri nhận. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
3. Nguyễn Đức Dân (2012). Ngôn ngữ Việt đậm dấu ấn chiến tranh. https://ione.vnexpress.net/tin-tuc/nhip-song/ngon-ngu-tieng-viet-dam-dau-an-chien-tranh-1944482.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ Việt đậm dấu ấn chiến tranh
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 2012
4. Nguyễn Tiến Dũng (2019). Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt). Luận án tiến sĩ ngữ văn. Học viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt)
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2019
5. Hà Thanh Hải (2011). Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí Anh Việt. Luận án tiến sĩ ngữ văn, Thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn-ĐHQGTPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí Anh Việt
Tác giả: Hà Thanh Hải
Năm: 2011
6. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014). Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn. Sách chuyên khảo. Học viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Năm: 2014
7. Trần Thị Hồng Hạnh (2012). Một số vấn đề ngôn ngữ và văn hóa thông qua ý niệm lòng, ruột, bụng, dạ trong tiếng Việt. Tạp chí ngôn ngữ , số 11, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Trần Thị Hồng Hạnh
Năm: 2012
8. Phan Văn Hòa, Nguyễn Thị Tú Trinh (2010). Khảo sát ẩn dụ ý niệm về cuộc đời, cái chết và thời gian trong thơ ca tiếng Anh và tiếng Việt”. Tạp chí khoa học và công nghệ. Đại học Đà Nẵng, số 5 (4), tr.106-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học và công nghệ
Tác giả: Phan Văn Hòa, Nguyễn Thị Tú Trinh
Năm: 2010
9. Phan Văn Hòa, Hồ Trịnh Quỳnh Thư (2011). Ẩn dụ ý niệm “tình yêu là cuộc hành trình” trong tiếng Anh và tiếng Việt. Tạp chí ngôn ngữ và đời sống, số 9. tr 15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tình yêu là cuộc hành trình” trong tiếng Anh và tiếng Việt. "Tạp chí ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Phan Văn Hòa, Hồ Trịnh Quỳnh Thư
Năm: 2011
10. Nguyễn Hòa (2007). Sự tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng Việt qua các ẩn dụ không gian. Tạp chí ngôn ngữ, số 7, tr.1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2007
11. Phan Thế Hưng (2009). Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận. Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Thành phố Hồ Chí Minh: Trường ĐHSP TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Phan Thế Hưng
Năm: 2009
12. Nguyễn Hùng Hậu (2004). Triết lý văn hoá phương Đông. NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý văn hoá phương Đông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2004
13. Huỳnh Ngọc Mai Kha (2015). Ẩn dụ ý niệm “Phụ nữ là hoa” trong truyện Kiều của Nguyễn Du, đối chiếu với bản dịch của Michael Counsel. Luận án tiến sĩ ngữ văn. Học viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm “Phụ nữ là hoa” trong truyện Kiều của Nguyễn Du, đối chiếu với bản dịch của Michael Counsel
Tác giả: Huỳnh Ngọc Mai Kha
Năm: 2015
14. Đào Thị Hà Ninh (2005). George Lakoff và một số vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận. Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, tr. 69-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Đào Thị Hà Ninh
Năm: 2005
15. Hoàng Kim Ngọc (2003). Ẩn dụ hóa-một trong những cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai. Tạp chí Ngôn ngữ, số 9, tr. 22-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc
Năm: 2003
16. Đinh Trọng Lạc (1999). 99 Phương tiện và Biện pháp Tu từ Tiếng Việt. Nhà Xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 Phương tiện và Biện pháp Tu từ Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nhà Xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
17. Ly Lan (2012). Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các từ biểu đạt tình cảm trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt), Luận án tiến sĩ Ngữ văn. Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các từ biểu đạt tình cảm trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt)
Tác giả: Ly Lan
Năm: 2012
18. Nguyễn Thuỵ Phương Lan (2014). Bàn về ẩn dụ trong sách kinh tế tiếng Anh. Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5 (223), tr.37-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Nguyễn Thuỵ Phương Lan
Năm: 2014
19. Trần Thị Phương Lý (2012). Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh). Luận án tiến sĩ ngữ văn. Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)
Tác giả: Trần Thị Phương Lý
Năm: 2012
20. Trần Thế Phi (2016) Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh. Luận án tiến sĩ ngữ văn, Thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn-ĐHQGTPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w