Nghiên cứu khoa học, thạc sĩ, tiến sĩ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHAN VIEN DA NANG
_TONG QUAN KHOA HOC
DE TAI CAP BO NAM 2004- 2005
CAC GIAI PHAP GIAI QUYẾT VẤN ĐỀ
LAO DONG, VIEC LAM CUA NGU DAN
VEN BIEN DUYEN HAI MIEN TRUNG
CO QUAN CHU TRI: PHAN VIEN DA NANG CHU NHIEM DE TAI: TS NGUYEN THE TRAM THUKY BETA = THS TRAN BINH CHIN
THANG 8- 2005
Trang 2TAP THE NGHIEN CUU
TS Nguyén Thé Tram Chiu nhiém dé tai Ths Tran Dinh Chin Thư bý đề tài CAC THANH VIEN:
Ths Lé Van Ha
Ths Lé Van Hai
TS Tran Thi Bich Hanh
PGS,TS Pham Hao
PGS,TS Trương Minh Duc
Ths Pham Phong Dué
PGS,TS Phạm Thanh Khiét
TS Đỗ Thanh Phương
TS Lê Văn Toàn
Ths Pham Quéc Tuan
CONG TAC VIEN:
Bac si Ngé Hoa
CN Tran Van Hoa
Ths Pham Van Hoan
CN Nguyén Than.
Trang 3MUC LUC
Trang
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI GIẢI QUYẾT 9
VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LAM CUA NGU DAN VEN BIEN DUYEN HAI MIEN TRUNG
1.1 Nhận thức về vấn đề lao động, việc làm trong quá trình phát 9
1.2 Những nhân tố tác động đến vấn đề giải quyết lao động, việc làm 14 của ngư dân ven biên Duyên Hải miền Trung
1.3 Một số quan điểm cơ bản về giải quyết lao động, việc làm ngư 16 dân ven biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung
1.4 Kinh nghiệm của các nước về giải quyết lao động, việc làm của 19
ngư dân ven biển
1.5 Sự cần thiết khách quan phải giải quyết vấn đề lao động, việc 21
làm của ngư dân ven biển
CHƯƠNG TE: THUC TRANG LAO DONG- VIỆC LÀM CỦA NGƯ 24
DAN VEN BIEN DUYEN HAI MIEN TRUNG 5 NAM
(2000- 2004)
2.1 Một số đặc điểm về tự nhiên, kinh tế- xã hội cé lién quan dén gidi 24
quyết vấn đề lao động, việc làm của ngư dân ven biển Duyên Hải
miễn Trung
2.2 Thực trạng lao động, việc làm của ngư dân ven biển các tỉnh 32
Duyên Hải miền Trung trong 5 năm (2000- 2004)
CHƯƠNG TH: PHUGNG HUONG, GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN 69
ĐÈ LAO ĐỘNG VIỆC LÀM CỦA NGƯ DÂN VEN BIEN
DUYEN HAI MIEN TRUNG GIAI DOAN 2005- 2010
3.1 Phương hướng 69 3.2 Các giải pháp giải quyết vấn đề lao động- việc làm của ngư dân 71
ven biển Duyên Hải miền Trung
Trang 4MG DAU
1 Tính cấp thiết của đê tài
Các tỉnh ven biên Duyên Hải miễn Trung từ Quảng Bình đến Khánh
Hoà có khoảng 9,45 triệu người, với vùng biển rộng (tổng chiều dài bờ
biển gần 1.000km), giàu tiềm năng về nuôi trồng, khai thác thuỷ sản,
phát triển công nghiệp chế biến và địch vụ tổng hợp Mặc dù vậy, cho đến nay các tỉnh vùng ven biển miền Trung vẫn chưa có chiến lược khai thác, sử dụng hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của vùng này Tình trạng
thiếu việc làm của ngư dân trong độ tuổi lao động ngày càng tăng, nhất
là đối với số lao động nữ (chiếm hơn 50% lao động ngư nghiệp) Số người
trong độ tuổi lao động ở trên bờ hiện nay của vùng này khoảng 200 ngàn người (trong đó chủ yếu là vợ con gia đình của người đánh bắt hải sản), nhưng chỉ khoảng 19% có việc làm tương đối ỗn định, 12% có việc làm
như: buôn bán và các dịch vụ khác, còn lại không có việc làm, chỉ nội trợ trong gia đình Cuộc sống của gia đình ngư dân hầu như hoàn toàn phụ
thuộc vào nghề ra khơi đánh bắt hải sản của người đàn ông, tất cả trông chờ vào sự may rủi của họ ở ngoài biển cả Ngư dân trực tiếp đánh bắt -
hải sản hiện nay có khoảng trên 300 ngàn người, đang sử dụng phương
tiện sản xuất nhỏ, thiếu trang thiết bị cần thiết, hoạt động chủ yếu ở
"vùng ven bờ, dẫn đến năng suất đánh bắt hải sản từ chỗ 3 tấn cá/1 lao
động/năm chỉ còn 2 tấn cá/1lao động/năm, khả năng khai thác giảm từ ltấn cá/CV, xuống còn 0,6 tấn cá/CV Trong khi đó, thời gian trực tiếp
đánh bắt hải sản ngoài khơi rất thấp (hàng năm chỉ có 9 tháng), khoảng
thời gian còn lại do hết mùa vụ, thời tiết xấu phải ở nhà, không có việc làm Do thời gian nhàn rỗi, thiếu việc làm trong năm quá lớn và có xu hướng tăng lên không những đối với lao động ở trên bờ mà cả lao động ra khơi đánh bắt hải sản, nên thu nhập rất thấp (bình quân đầu người 200- 280 nghìn đồng/tháng) Điều đó dẫn đến đời sống thiếu ỗn định, gặp
rất nhiều khó khăn
Trang 5Cơ cấu lao động, nghề nghiệp của ngư dân hàng nghìn năm nay cứ
lặp đi, lặp lại theo phương thức: nam là lao động chính ra khơi đánh bắt
hải sản, nữ là lao động phụ ở tiên bờ, đại bộ phận không có nghề nghiệp, không có việc làm, đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống thường nhật
trong gia đình cũng như trong công việc của ngư dân vùng ven biển
Duyên Hải miền Trung
Đa đạng hóa các loại hình công việc của cộng đồng ngư dân ven biển vùng duyên hải chưa được chú ý, làm cho khả năng tạo việc làm gặp nhiều khó khăn Cơ cấu lao động, việc làm hiện nay của ngư dân vùng ven biển Duyên Hải miền Trung chỉ phù hợp với nền kinh tế tự cung, tự
cấp, chưa thể hiện rõ nét khả năng thích nghi, phù hợp với nền sản xuất ' hàng hóa, dẫn đến kinh tế phát triển chậm so với ngư dân ven biển phía Bắc và phía Nam
Theo số liệu của các sở Giáo dục và Đào tạo ở các tỉnh Duyên Hải miễn Trung cho thấy, phần lớn ngư dân ở đây có trình độ học vấn cấp I, tình trạng tái mù chữ đang có nguy trổ thành phê biến ở một số nơi, con
em đến tuổi đi học ngày càng giảm dẫn
Sự quan tâm đào tạo ngành nghề, tạo việc làm chưa được chú ý, nhất
là đối với số người trong độ tuổi lao động ở trên bờ, dẫn đến tình trạng năm này sang năm khác thất nghiệp vẫn hoàn thất nghiệp Cuộc sống
khó khăn, tâm lý lệ thuộc vào người thân ra khơi đánh bắt hải sản luôn
Việc làm ăn thua lỗ của nhiều chủ tàu thuyền, khả năng đánh bắt
hải sản phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, thu nhập bấp bênh, đời sống khó khăn, đã xuất hiện hiện tượng một bộ phận ngư dân ở vùng ven biển nói trên có xu hướng rời bố nghề đánh bắt hải sản để kiếm việc làm ở trên
bờ, nhất là đối với lao động trẻ Những lao động ngư dân trên 50 tuổi có
xu hướng rời bỏ nghề biển, vì không thể trụ được với sự năng nhọc của
công việc Trong khi đó, hiện nay số lao động ngư dân lớn tuổi (từ 40- 50
chiếm tỷ lệ 78%%), sẽ đẫn đến nguy cơ thiếu người thay thế để tồn tại và phát triển nghề đánh bắt này
Hệ thống nước sạch chưa được đảm bảo, đường liên thôn và đường xương cá còn thiếu (chủ yếu sử dụng đường mòn trên cát) hệ thống cầu
Trang 6cang, bén bãi, chợ cá chưa được đầu tư thỏa đáng Các cơ sở y tế còn thiếu về phương tiện và thuốc men Hơn nữa, ở vùng ngư dân ven biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung trong những năm qua và sắp đến có
khoảng 8% số hộ thuộc điện quy hoạch, giải tỏa để phát triển các công trình công cộng, họ phải chuyển đến các khu tái định cư mới, cuộc sống
gặp khó khăn, môi trường, việc làm của số lao động ngư dân này đến nay _
chưa giải quyết thoả đáng Do không thể hoặc ít tiếp cận vốn vay của
ngân hàng, việc đầu tư vốn của ngư dân dé phát triển tàu, thuyền, trang ˆ
thiết bị sản xuất còn hạn chế, vốn chủ yếu dựa vào vốn tự có và vay của
tổ chức không chính thức
Từ các lý do trên, có thể khẳng định việc nghiên cứu để tài: "Cứ
giải pháp giải quyết oắn đè lao động, viée lam của ngư dan ven
bién Duyên hải miền Trung" có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trước mắt cũng như lâu dài Điều đó sẽ góp phần tạo dựng những cơ
sở khoa học cho Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương hoạch định
chiến lược và thực hiện các biện pháp có liên quan đến lao động, việc làm, nhằm khai thác khả năng tiềm tàng, không ngừng nâng cao chất
lượng cuộc sống của ngư dân các tỉnh Duyên Hải miền Trung hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Giải quyết lao động việc làm ở vùng ngư dân ven biến duyên hải miền
Trung là một trong những vấn đề bức xúc nhất trong chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội của các tỉnh nói trên Điều này đòi hỏi cần phải có sự
quan tâm đặc biệt của Dang, Nha nước, các cấp chính quyền địa phương
và sự cố gắng của mỗi lao động ngư dân Từ trước đến nay việc nghiên
cứu đề tài liên quan đến lao động, giải quyết việc làm ở nước ta nói chung, khu vực miền Trung nói riêng, có một số tác giả thực hiện như dé tai
"Việc làm 6 mién Trung: thuc trang vd giải pháp" do PTS Phạm Thanh Khiết làm chủ nhiệm, thực hiện năm 1998; luận văn Thạc sĩ Trần Đình
Chín "Giới quyết uiệc làm cho người lao động ở các tỉnh duyên hải Nam
Trung Bộ”, thực hiện năm 2009; luận án Tiến sĩ Trân Thị Bích Hạnh về
“Phát triển nguồn lao động ở khu uực Trọng điểm binh tế miền Trung”, thực hiện năm 2004 Ngoài ra, có một số bài báo đề cập chủ yếu đến các nội dung liên quan như: đổi mới phương pháp kỹ thuật đánh bắt hải sản, nâng cao hiệu quả cho vay vốn đối với hộ ngư dân, quy hoạch phát triển nghề
Trang 7đánh bắt hải sản v.v Song đối với đề tài "Các gidi phdp gidi quyết van
đề lao động, uiệc làm củu ngư dân uen biển Duyên hỏi miền Trung" cho đến nay vẫn chưa có cơ quan, nhà khoa học, tác giả nào quan tâm đầu tư
nghiên cứu một cách nghiêm túc, trên cơ sở khoa học và thực tiễn có tính
tổng thể, toàn điện, hệ thống, để từ đó để xuất các giải pháp hữu hiệu
nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề lao động, việc làm, tạo ra sự phát
triển bền vững của cộng đồng dân cư vùng Duyên Hải miền Trung Rõ ràng đây là vấn để có tính cấp thiết cần phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc để giải quyết các yêu cầu nói trên
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3 1 Mục tiêu:
- Đánh giá thực trạng nguồn lao động và việc giải quyết việc làm của
ngư dân ở vùng ven biển Duyên Hải miễn Trung hiện nay
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nguồn lao
động và giải quyết việc làm, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập cho ngư dân ven biển miền Trung
3.2 Nhiệm uụ:
- Nghiên cứu tính đặc thù của ngư dân ven biên Duyên Hải miền Trung
về nguồn lực lao động, vấn đề giải quyết việc làm, các yếu tố tâm lý, lịch sử
dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ chế thị trường
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược về lao động và giải quyết việc
làm và mối quan hệ giữa lao động - việc làm với quá trình phát triển kinh tế- xã hội và môi trường đối với ngư dân vùng duyên hải các tỉnh nói trên
- Đánh giá tình hình giải quyết lao động - việc làm trong 5 năm qua (1999- 2004) của ngư dân ven biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung nhằm xác định thành tựu, tồn tại và nguyên nhân Từ đó, có biện pháp chuyên dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động dé tao ra viéc lam, han ché lao động thất nghiệp, giảm bớt sự lệ thuộc hoàn toàn của cộng đồng ngư dân vào
nghề đánh bắt hải sản, xóa bỏ thế độc canh đối với nghề này
- Thiết lập và thực thi các chính sách đối với sự nghiệp đào tạo, nâng
cao dân trí, tay nghề cho người lao động ở vùng ngư dân ven biển Tạo
việc làm không những cho lao động ở trên bờ được thường xuyên mà
ngay cả lao động đánh bắt hải sản trong thời gian không đi biển cũng có
Trang 8việc làm, nhằm tăng thu nhập, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, các lợi thế ở vùng này
- Nghiên cứu sự tác động của chính sách kinh 'tế -xã hội và môi trường pháp lý, vai trò quản lý của nhà nước nói chung và các cấp chính
quyển nói riêng đối với ngư dân vùng Duyên Hải miền Trung
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết lao động, việc làm, các mô hình phát triển kinh tế thông qua giải quyết vấn đề lao động, việc làm vận
dụng vào vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung Qưa đó, xây dựng các phương thức chuyển dich cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề, bố trí việc làm trên cơ sở nâng cao trình độ, tăng cường năng lực của ngư dân ven biển phù hợp với cơ chế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế Điều này sẽ tạo động lực rất lớn nhằm thúc day su phat trién kinh tế- xã hội vùng Duyên Hải miễn Trung hién nay
+ Đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của lao động ngư dân ven biển
các tỉnh nói trên trong việc tạo ra điều kiện môi trường thuận lợi với những việc làm phong phú, đa dạng, phát triển các ngành có lợi thể so sánh, mở mang các nghề truyền thống ở trên bờ, khắc phục tình trạng thất nghiệp lâu nay chỉ dựa chủ yếu vào nghề đánh bắt hải sản, thu
nhập không ốn định
+ Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế -chính trị -xã hội được thể
hiện trên các mặt, các lĩnh vực thông qua sử dụng nguôn lao động, sắp xếp bố trí việc làm hợp lý, giải quyết được tình trạng thất nghiệp đang
điễn ra hiện nay
- Hoàn thiện cơ chế chính sách về lao động, việc làm, nâng cao vai trò chức năng quản lý của ngành lao động thương binh xã hội, các ngành
liên quan và các cấp chính quyền địa phương trong quá trình tạo điều kiện môi trường thúc đẩy ngư dân ven biển nói trên thực hiện vấn đề lao động và giải quyết việc làm có hiệu quả
ð Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, các quan điểm, đường lối, chủ
trương, đổi mới của Đảng và Nhà nước về cơ chế chính sách phát triển
Trang 9ngư nghiệp nước ta nói chung và các tỉnh Duyên Hải miền Trung nói
riêng Quá trình nghiên cứu đề tài, các tác giả sử dụng phương pháp:
- Điều tra khảo sát, tổng kết thực tiễn;
-Thực hiện các nội dung nghiên cứu cơ bản về đặc điểm địa lý, văn hóa, lịch sử, mức sống của ngư dân ven biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung
- Phương pháp phân tích thống kê, phỏng vấn;
- Xử lý tổng hợp các tài liệu và các phiếu điều tra xã hội học nhằm rút
ra kết luận mang tính khách quan
6 Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương
Chương I: Sự cần thiết khách quan phải giải quyết vấn đề lao động việc làm của ngư dân ven biển Duyên Hải miễn Trung
Chương 2: Thực trạng tình hình lao động - việc làm của ngư dân ven
biến Duyên Hải miền Trung trong 5 năm qua (2000 - 2004)
Chương 3: Phương hướng và giải pháp giải quyết lao động- việc làm cho ngư dân vùng ven biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung trong giai doan mdi
Sau đây là toàn bộ nội dung của đề tài
Trang 10CHUGONG I
SỰ CÂN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM CỦA NGƯ DÂN VEN
BIEN DUYEN HAI MIEN TRUNG
11 Nhận thức về vấn đề lao động, việc làm trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi người đều nhận thức
rằng, một trong những vấn đề cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát
triển nguồn lao động và tạo việc làm cho người lao động, coi đó là đỉnh
cao nhất, là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển Lý luận và thực tiễn cũng chứng minh rằng, cả ba yếu tố cơ bản nhất để phát triển con người
là đảm bảo an toàn lương thực, an toàn việc làm và an toàn môi trường Mọi chiến lược phát triển đều phải hướng vào việc phát triển con người,
lấy con người làm trung tâm va phát huy đến mức cao nhất yếu tố con người trong phát triển xã hội Vì vậy, các chính sách kinh tế- xã hội của
Đảng, Nhà nước ta đã ban hành đều hướng vào con người và phát triển con người một cách toàn điện, trong đó, đặc biệt là vấn đề lao động đảm bảo công ăn việc làm Nhờ đó, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã
đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội
Xét về khía cạnh xã hội, tất cả những người có sức lao động đều có
quyển làm việc và có việc làm thường xuyên, đó là một trong những
quyền cơ bản của con người Tuy nhiên trên thực tế, đảm bảo quyền có việc làm cho người lao động còn là một thách thức, là bài toán phức tạp
khó khăn, đặc biệt là ở nước ta, một nước đang trong quá trình chuyển - đổi nền kinh tế - xã hội, vấn đề giải quyết lao động - việc làm ngày càng đòi hỏi cấp bách Phấn đấu đảm bảo quyển có việc làm của người lao động là một quá trình thông qua hệ thống những chính sách đồng bộ của
nhà nước phù hợp với từng thời kỳ nhất định Vấn để cốt lõi bao trùm nhất là phải tạo điều kiện và cơ hội để người lao động có việc làm, có thu
Trang 11nhập bảo đảm cuộc sống của bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp
một phần cho xã hội
* Nguôn lao động
Nguồn lao động nước ta bao gồm số người trong độ tuổi lao động
(nam 16 -60; nữ từ 16-55 tuổi) có khả năng lao động (trừ những người
tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những người ngoài độ tuổi lao
động (trên độ tuổi và các em 13-15 tuổi) thực tế có việc làm Tỷ lệ nguồn
lao động trong dân số ở nước ta có xu hướng tăng lên theo sự chuyển
biến cơ cấu tháp tuổi của dân số, từ dân số trẻ sang dân số trưởng thành
Bộ phận chính của nguồn lao động là lực lượng lao động, bao gồm những
người đang làm việc và những người thất nghiệp
* Lue luong lao động
Lực lượng lao động được hiểu theo hai nghĩa rộng hẹp khác nhau: theo nghĩa rộng, lực lượng lao động xã hội là toàn bộ những năng lực, từ
sức khỏe cơ bắp và kiến thức, đến năng lực trí tuệ của tổng thê các thành viên xã hội có khả năng và mong muốn lao động Theo nghĩa hẹp,
lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động và ngoài
độ tuổi đó nhưng vẫn còn khả năng lao động, đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu việc làm và sẵn sàng làm việc
Lực lượng lao động được đánh giá trên hai mặt: số lượng lao động và chất lượng lao động Số lượng của một lực lượng lao động được xác định bằng số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi đó nhưng còn khả năng lao động và có mong muốn lao động Chất lượng của lực lượng lao động được xác định thông qua các thông số tổng hợp như kiến thức, trinh độ, năng lực, sức khỏe, thần kinh
và cơ bắp, kỹ năng, kỹ xảo lao động v.v
* Việc làm 0à các uắn đề liên quan đến uiệc làm
- Việc làm là một phạm trủ tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của toàn
bộ đời sống xã hội Khái niệm việc làm và khái niệm lao động liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau Việc làm thé
hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những
giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều
Trang 12kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính
của hoạt động con người Về giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương
quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu
tế vật chất trong quá trình sản xuất
Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học kinh tế Quốc
dân, khái niệm việc làm được hiểu ¿ở sự kết hợp giữa súc lao động uới tư liệu sẵn xuất nhằm biên đổi dối tượng lao động theo mục đích của con
người Theo Thông tư hướng dẫn về điều tra người chưa có viêc làm của
liên bộ Lao động -Thương binh và Xã hội năm 1996, thì khái niệm việc làm được nêu như sau: việc làm là những dạng hoạt động có ích, không
bị luật pháp ngăn cấm nhằm đem lại thu nhập cho gia đình
- Người lao động có uiệc làm Theo các nhà thống kê về lao động của
tổ chức ILO, người có uiệc làm là người làm một uiệc gì đó được trỏ tiền công, lợi nhuận bằng tiền hay hiện uật hoặc tham gia uào các hoạt động mang tinh chdt tu tao viée lam vi lợi ích hay uì thu nhập gia định Theo
Tổng cục thống kê và Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội thì khái niệm
người có việc làm được hiểu 1à những người từ 1õ tudi trỏ lên trong nhóm
dân số hoạt dộng bình tế, mà trong tuần lễ trước bhi điều tra người đồ
đang làm công uiệc đễ nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hoặc hiện uật
Căn cứ vào số giờ thực tế làm việc và nhu cầu làm thêm của người đựơc
coi là có việc làm trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra, người có việc làm
lại được chia ra: người đủ việc làm và người thiếu việc làm
- Người thiếu uiệc làm 'Theo TLO”, người thiếu việc làm /à ngửơi trong
tuần lỗ tham khảo có số giờ làm uiệc đưới mức qui định chuẩn cho người
có đủ uiệc làm va có nhu cầu làm thêm Việc qui định mức chuẩn về đủ
số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo tuỳ theo tình hình cụ thể của
mỗi nước Ví dụ, mức qui định chuẩn về số giờ làm việc trong tuân tham khảo một số nước như sau: ở Equado, Nigiêria, Thể Nhĩ Ky: 40 gid; Nhat Ban, O xtralia: 35 gid; Canada, Jamaica: 30 gid; Malaixa: 25 giờ Theo Téng cuc thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì người
thiếu việc làm gêm những người trong tuân lễ tính dến thời điểm điều
*TLO: Tế chức Lao động quốc tế (Internationl Labuor Organisation)
Trang 13tra có tổng số giờ làm uiệc dưới 40 giò, hoặc có số giờ làm uiệc nhỏ hơn giờ quy định dối uúi những người làm các công uiệc nặng nhọc, độc hại theo qui định hiện hành của Nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ uà đã
sẵn sàng làm uiệc nhưng không có uiệc đễ làm (trừ những người có số giờ
làm uiệc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm uiệc 0à sẵn sang làm uiệc nhưng
không tìm được uiệc) Người đủ việc làm gồm những người có số giờ làm
uiệc trong tuần lễ tính đến điều tru lồn hơn, hoặc bằng 40 giò, hoặc những người có số giờ nhỏ hơn 40 giò, nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc số người có số giờ làm uiệc nhỏ hơn 40 giờ, nhưng bằng hoặc
lồn hơn giờ qui định dỗi uối những người lam các công oiệc nặng nhọc,
độc hại theo qui định hiện hành
* Về thắt nghiệp
Theo ILO thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực
lượng lao động muốn làm việc nhưng không thê tìm được việc làm ở mức
tiền công đang thịnh hành Ở Việt Nam, người thất nghiệp là người từ đủ
15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
Về khái niệm người chưa có uiệc làm và người thất nghiệp biện nay cũng có ý kiến cho rằng, sử dung khái niệm người chưa có uiệc làm sẽ giúp chúng ta phản ảnh đúng đắn hơn thực trạng việc làm của đất nước Xét về nguồn gốc, giữa người chưa có việc làm và người thất nghiệp đều
là sự mất cân đối giữa cung câu lao động, hoặc do không phù hợp giữa
những chỗ làm việc hiện có, chưa có người làm với yêu cầu về việc làm
của những người đang tìm việc Sự khác nhau giữa người chưa có việc
làm và người thất nghiệp không mang tính bản chất, mà chỉ là sự khác nhau giữa cách phân tổ của cùng một khái niệm, một chỉ tiêu Theo đó,
sử dụng khái niệm người thất nghiệp không những chính xác, bao quát
đây đủ các trường hợp hơn, mà còn có ý nghĩa hoà nhập với thông tin quốc tế Trong số người thất nghiệp hiện nay ở nước ta, phần lớn là thanh niên mới bước vào tuổi lao động, trong đó đa số là chưa có nghề
Ở nước ta hiện nay có các loại thất nghiệp sau:
- Thất nghiệp tạm thời, là loại thất nghiệp trong thời gian thay đổi
nghề nghiệp nơi làm việc, do muốn tìm việc làm tốt hơn, loại thất nghiệp
này xảy ra ngay cả khi nền kinh tế có đầy đủ việc làm
Trang 14- Thất nghiệp cơ cấu, do sự mất cân đối giữa cung- câu lao động xảy
ra cục bộ ở một số ngành nghề, hay một số vùng, loại thất nghiệp này cũng có ngay cả khi toàn bộ nền kinh tế cung và cầu lao động là cân đối
- Thất nghiệp diễn ra một cách phổ biến do tổng cầu lao động của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân thấp hơn mức cung đáng kể
- Thất nghiệp theo mùa vụ ở nước là cũng là đáng kế vì tới 2/3 nguồn
lao động làm việc trong nông nghiệp
*Thị trường lao động
Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên
là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận
trên cơ sở các mối quan hệ lao động như: tiền công, tiền lương, điều kiện
làm việc, bảo hiểm xã hội thông qua một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng Thị trường lao động được cấu thành bởi ba yếu tố: cung, câu và giá cả sức lao động Giữa ba yếu tố này có mối liên quan, ảnh hưởng
lẫn nhau Sức lao động trao đôi trên thị trường được thể hiện thông qua số
lượng (qui mô), chất lượng (kỹ năng, trình độ) và cơ chế lao động Sự vận động của thị trường lao động cũng chính là sự vận động của các yếu tố cung, câu và giá cả sức lao động
Trong kinh tế thị trường, hàng loạt các yếu tố tác động lên nhu câu lao động như: vốn, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, công nghệ, trình độ chuyên
môn, năng lực quản lý Ngoài ra các yếu tế khác như: tâm lý, phong tục, tập quán cũng có ảnh hưởng nhất định đến cầu lao động Khi nhà nước biết
tạo điều kiện để thị trường này phát triển, cung- cầu lao động sẽ đạt tới
trạng thái cân bằng, nghĩa là cung bằng cầu
Trọng thị trường lao động luôn luôn diễn ra sự biến động về nguồn
lao động tuỳ theo các điều kiện tác động vào nó, luôn có sự tăng thêm
hay giảm đi lực lượng lao động, hình thành nên cung tiềm năng về lao động Trong những nước lao động được tự do giao lưu thì cung lao động của một nước tính tới cung tiềm năng do sự xuất khẩu hay nhập khẩu
lao động vào nước đó Với một địa phương phải tính tới cung tiềm năng
do sự di chuyển lao động từ nơi này sang nơi khác vì nhu cầu việc làm
Giữa các thành phần kinh tế, cung tiềm năng bị ảnh hưởng bởi các chính
sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và các chính sách kinh tế - xã hội khác
Trang 15việc làm
Trong nền kinh tế thị trường cung và cầu lao động có mối quan hệ
biện chứng và nhân quả
+ Nếu nền kinh tế chậm phát triển, khả năng mở mang sản xuất các
ngành nghề địch vụ thu hút thêm nhiều lao động còn thấp, thì khi đó cung lón hơn cầu
+ Khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, sản xuất, các ngành nghề mới
được mở ra thu hút thêm nhiều lao động, làm cho cầu lao động tăng nhanh và đến một lúc nào đó cung nhỏ hơn câu về lao động
+ Khi Nhà nước có các biện pháp tác động tích cực đến thị trường lao
động, cung- cầu sẽ đạt tới trạng thái cân bằng, nghĩa là cung bằng cầu
_ Tuy nhiên, thị trường lao động là thị trường không hoàn hảo, vì vậy tiền công trên thị trường chưa hoàn toàn phản ánh đúng giá cả của sức
lao động nên cung- cầu về lao động diễn ra rất phức tạp Ở các khu vực
khác nhau, thường là ở khu vực thành thị, tiền công trả cho người lao động thường cao hơn mức giá cả trung bình
- Có thê khái quát mối quan hệ có tính hệ thống giữa các khái niệm
cơ bản về lao động - việc làm ở Việt Nam như sau:
- Đặc điểm khí hậu và thời tiết
14
Trang 16- Khí hậu và thời tiết chỉ phối rất lớn đến vấn đề giải quyết lao động, việc
làm của ngư dân ven biến Vùng ven biển thường xuyên phải chống chọi với bão, lũ hạn hán, ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng ngư dân Khi thời tiết xấu, không những lao động đánh bắt hải sản không thé ra khơi,
mà ngay cả lao động nuôi trồng hải và lao động chế biến hải sản cũng phải
nghỉ việc Hơn nữa, không những lao động phải nghỉ việc mà nó còn gây ra
nhiều thiệt hại về tài sản, phương tiện lao động, làm cho nhiều lao động không có khả năng đầu tư trổ lại, đẫn đến bổ nghề, thất nghiệp
- Tiềm năng hải sản
Khi tiểm năng hải sản phong, phú, trữ lượng càng lón,càng tạo điều
kiện thuận lợi trong khai thác, từ đó tạo ra nhiều khả năng giải quyết
việc làm cho người lao động Ví dụ: vùng ven biển trước đây, trữ lượng hải sản còn phong phú, việc khai thác có năng suất cao, dẫn đến thu hút
nhiều lao động phát triển nghề này Nhưng đến nay, nguồn hải sản ven
bờ bị cạn kiệt, người lao động có xu hướng chuyên sang đánh bắt xa bờ
Song việc đánh bắt xa bờ đòi hỏi phải đầu tư trang thiết bị phương tiện,
tàu thuyền tương đối lớn, trong khi đó khả năng tài chính của nhiều lao
động ngư dân còn gặp khó khăn, lao động tham gia đánh bắt xa bờ vẫn
còn bị hạn chế
- Trình độ phát triển kinh tế -xã hội
Trình độ phát triển kinh tế, xã hội,trước hết thé hiện ở trình độ phát
triển sức sản xuất xã hội, mức độ tập trung sản xuất, mức độ phát triển ngành nghề Nếu trình độ phát triển kinh tế -xã hội của các tỉnh ven biển Duyên Hải miền Trung càng cao, càng tạo điều kiện phát triển
nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú Điều đó, sẽ tạo tao ra nhiều việc làm cho người lao động của ngư dân ven biển Ngược lại, tỉnh nào kinh
tế kém phát triển, môi trường xã hội không thuận lợi, kém năng động,
tất yếu vấn đề giải quyết việc làm của người lao động ở vùng này sẽ gặp khó khăn và tỷ lệ thất nghiệp cao
- Tốc độ gia tăng dân số
Dân số tăng nhanh là áp lực lớn đối với vấn đề lao động - việc làm Quy
mô dân số, cơ cấu dân số biến đổi, tất yếu làm biến đổi quy mô, cơ cấu
nguồn lao động Đối với vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung điều này vẫn bị ảnh hưởng, đặc biệt là giải quyết việc làm cho lao động nữ
Trang 17- Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống, giao thông, điện, thông tin, các
yếu tố phục vụ sản xuất, sinh hoạt Đây là yếu tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội ổ vùng ngư đân ven biến Điều này sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng ngư dân ven biển khai thác tài nguyên, đất đai, mặt nước, trên cơ sở phát triển các ngành, nghề tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
- Trinh độ tay nghề của lao động ngư dân ven biển
Trình độ tay nghề của lao động ngư dân ven biển còn thấp"sẽ khó tìm
được việc làm Hiện nay, có rất nhiều ngành nghề mà ngư dân ven biển nói trên có thể phát triển để giải quyết việc làm, nhưng do thiếu trình độ tay nghề nên không thé tạo được việc làm mới dé tăng thu nhập Do đó, đòi hỏi
lao động của ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung phải có một trình
độ tay nghề nhất định, mới có thê tìm được việc làm én định và đó cũng là
điều kiện để xóa đói, giảm nghèo Đây là yêu cầu có tính cáp bách đối với
lao động nói chung và lao động của ngư dân ven biển nói riêng
-Thị trường lao động
Đó là ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động Thị trường lao động ở vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung có thế hiểu là một không
gian trao đổi, tiến tới thoả thuận giữa ngư dân có sức lao động và người
sử dụng sức lao động, đó là mối quan hệ xã hội giữa người lao động và người sử dụng lao động, thông qua đó người lao động có thể tìm được
việc làm để có thu nhập Người sử dụng lao động để có thể thuê bằng
cách trả công theo giá thoả thuận trong quá trình tiến hành khai thác,
nuôi trồng, chế biến hải sản Theo TLO, thị trường lao động là một loại
hình mà trong đó các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua một
quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động cũng như mức độ tiền công và tiền lương
1.3 Một số quan điểm cơ bản về vấn đề giải quyết lao động- việc làm của ngư dân ven biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung
Vấn đề giải quyết lao động, việc làm đối với ngư dân vén biển ở nước
ta nói chung, ngư dân ven biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung nói
Trang 18riêng, luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là nhân tố
đặc biệt có ý nghĩa quan trọng nhằm khai thác, sử dụng tiềm năng lao động một cách có hiệu quả, góp phần đắc lực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, trong quá trình thực hiện vấn đề lao động- việc
làm của ngư dân ven biến các tỉnh Duyên Hải miền Trung, cần phải
quán triệt các quan điểm cơ bản sau đây
Thứ nhất, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, vấn để con người
được đặt đúng vị trí trọng tâm của sự phát triển Mọi chính sách, biện pháp phát triển kinh tế- xã hội đều bắt nguồn tử con người, hướng vào mục tiêu phục vụ con người Do vậy, cần phải có quan điểm một cách toàn diện về vấn đề lao động- việc làm đối với vùng ngư dân nói trên
nhằm tạo mọi điều kiện, môi trường hết sức thuận lợi để mỗi lao động
đều có việc làm đấm bảo thu nhập, nâng cao mức sống Phải coi giải quyết vấn đề lao động việc làm của ngư dân ven biển là trách nhiệm của toàn Đẳng, toàn dân, của nha`nước,chính quyển địa phương, của các ngành các cấp Phải nhận thức rằng, giải quyết việc làm đối với lao động ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung là vấn để rất phức tạp, khó
khăn không những có ý nghĩa về mặt xã hội mà là vấn đề kinh tế, đời
sống, thể hiện bản chất chế độ là nền tảng cho sự phát triển bền vững Bởi vậy,giải quyết vấn dé lao động việc làm của ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế xã hội và gắn với các chương trình hành động cụ thể của mỗi địa phương, với mục tiêu cơ bản là, làm cho mỗi người lao động ở vùng này đều có việc làm ôn định Nếu mỗi lao động ở vùng ngư dân chưa có việc làm,
trước hết, bản thân người đó phải bằng mọi biện pháp để tạo ra việc làm,
không y lai,tréng chờ hoàn toàn vào nhà nước
Thứ bai, quan điểm giải quyết vấn đề lao động, việc làm của ngư
dân ven biển Duyên Hải miền Trung hiện nay là coi trọng yếu tố tự tạo
việc làm của mỗi người lao động, trong đó nhà nước có trách nhiệm tạo
lập điều kiện, môi trường thuận lợi (chính sách,pháp luật) để phát
huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong quá trình sư dụng có hiệu quả nguồn nhân lực ở trên địa bản Muốn vậy, phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhiều nghề mới trong lĩnh vực
đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản cũng như phát triển sản xuất
Trang 19nông nghiệp, dịch vụ để tạo ra nhiều việc làm cho người lao động ở vùng
ngư dân ven biển này Đồng thời, phải giải quyết tốt mối quan hệ có tính
biện chứng giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, tạo ra cơ cấu lao động
ngày càng phù hợp với cơ cấu kinh tế trong quá trình chuyển đổi
Thứ ba, cần phải có quan điểm toàn điện trong quyết lao động, việc
làm của ngư dân ven biển nói trên Đó không chỉ diễn ra ở khu vực kinh tế
tư nhân, cũng không phải chỉ giải quyết vấn đề này đối với lao động đánh ˆ bắt hải sản trên biển mà trong tất các thành phần kinh tế với các ngành
nghề, lĩnh vực khác nhau, với mục tiêu giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động ở vùng này Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để lao động của ngư dân có việc làm,hạn chế tình trạng thất nghiệp,đặc biệt là lao động nữ Đây là yêu cầu đòi hỏi các cấp, các ngành ở trên địa bàn cần phải có nhận thức quan tâm đúng mức trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng tay nghề, sử đụng lao động nhằm mang lại hiệu quả cao
Thứ tư, giải quyết vấn đề lao động việc làm ở vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung hiện nay và lâu dài phải gắn chặt với việc kiểm
soát mức tăng dân số, ổn định số lượng, nâng cao chất lượng lao động
Thực tế cho thấy, quá trình sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm cũng chính là quá trình tạo ra sự phù hợp giữa một bên là nguồn lao động thể hiện phần cung lao động, với một bên là người sử dụng nguồn
lao động giải quyết việc làm, thể hiện phần cầu lao động Vấn đề đặt ra ở
đây là, đồng thời với việc day mạnh các quá trình sử dụng nguồn lao
động nhằm tăng nhanh số chỗ làm việc Đã thực hiện quan điểm nay,
cần làm tốt các nội dung sau:
- Thực hiện kế hoạch hoá gia đình, hạ thấp tốc độ phát triển dân số ở
vùng ngư dân ven biên
- Cần phải đầu tư lớn hơn cho giáo dục, đào tạo phát triển nguôn lao
Trang 20mọi tiềm năng trong ngư dân (vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm làm ăn) Đồng thời cần phải có sự hỗ trợ về vốn và đào tạo tay nghề của nhà nước, các
tổ chức kinh tế- xã hội ở trong và ngoài nước, nhất là bà con Việt Kiểu, -
để tạo ra những cơ hội giải quyết việc làm cho người lao động trên cơ sổ phát triển các ngành nghề mới, các sản phẩm mới trong quá trình khai thác, nuôi trồng, chế biến, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ Điều này, đòi
hỏi cần phải có sự nỗ lực của chính quyền địa phương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ượng đặc biệt là các ngành chức năng để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong quá trình giải quyết vấn đề này
Thứ sáu, giải quyết việc làm cho người lao động ngư dân ven biển miền
Trung vừa là vấn đề cơ bản có tính chiến lược lâu dài, vừa là vấn đề có tính
cấp bách trước mắt Trong những năm tới, vấn để này phải trở thành nghị quyết của cấp uỷ và chính quyền địa phương nhằm thực hiện các biện pháp có tính khả thi tập trung giải quyết việc làm đặc biệt đối với lao động
nữ ở trên bờ Xoá bỏ thế độc canh nghề biển, giảm bớt sự phụ thuộc của
cộng đồng ngư dân ven biển vào nghề đánh bắt khai thác hải sản Đồng
thời, quá trình giải quyết vấn đề lao động, việc làm của ngư đân ven biển
phải gắn với khả năng tạo việc làm trong các lĩnh vực, các vùng thành thị cũng như các doanh nghiệp hoạt động trên vùng ven biển này
1.4 Kinh nghiệm của các nước về giải quyết lao động, việc
làm của ngư đân ven biển
Kinh nghiệm thực tiễn trong mấy chục năm qua cho thấy, vấn đề giải
quyết lao động, việc làm đối với ngư dân ven biển ở các nước trên thế giới
là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm nâng cao đời sống dân cư Vì vậy, trong những năm
gần đây, nhiều nước đã quan tâm đầu tư mở rộng, phát triển hệ thống
giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề từng bước giải quyết việc
làm cho lao động ngư dân ven biển
Ở Hàn Quốc trong những năm trước đây, qui mô gia đình ngư dan
ven biển có xu hướng tăng làm cho việc sử dụng lao động của ngư dân chưa thật hợp lý, dẫn đến quỹ thời gian nhàn rỗi của người lao động ở
khu vực nảy cũng tăng lên Để khắc phục tình trạng này, Hàn Quốc đã
có những biện pháp tạo việc làm cho ngư đân ven biển nhằm khắc phục
tình trạng thất nghiệp Ngoài việc áp dụng các chính sách tín dụng ưu
Trang 21đãi và quan tâm đến việc đào tao, béi dudng tay nghé mién phi, Chinh
phủ Hàn Quốc thực hiện chính sách đất đai, nhà cửa đối với ngư dân ven
biển một cách thoả đáng Do đó cuộc sống sinh hoạt, nhà cửa của người
dân vùng ngư ven biển ngày càng khá giả và khang trang
Ở Nhật Bản, tỷ lệ dân số của ngư dân ven biển ở độ tuổi 15-29 so với
dân số ở độ tuổi 30-64 được dự báo là giảm từ từ trong suốt thời kỳ 1990-
2020 Nói cách khác sẽ có sự lão hoá trong lực lượng lao động đánh bắt hải
sản trên biển Vì vậy, Nhật Bản đã có nhiều biện pháp thay đổi rất lớn
trong 3 thập niên qua về vấn đề giải quyết việc làm cho ngư đân ven biên
Trước đây, lao động chủ yếu tập trung đánh bắt ngoài khơi, hiện nay Nhật Bản cũng đã quan tâm giải quyết tạo việc làm cho lao động trên bờ như: phát triển hệ thống các nhà máy ven biển nhằm thu hút lao động trong nữ
ổ trên bờ Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách khuyến
khích ngư dân ven biến phát triển nghề nghiệp đánh cá, nuôi trồng thuỷ
sản, nhằm thu hút lao động, chống thất nghiệp Nhật Bản đã quyết định thực hiện chương trình việc làm mang tên “Chương trình cả nứơc làm
uiệc”” nhằm hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp của ngư dân ven biển xuống dưới 3%
trong suốt các năm còn lại của thập niên này Vì vậy đã có tác động giảm nhanh chóng tỷ lệ lao động thất nghiệp ở trên bồ ở vùng ngư dân
G Singapore, nhà nước đặc biệt quan tâm lao động của ngư dân ven biển, coi công việc đánh cá là ngành công nghiêp hiện đại, có năng suất
cao Nhìn chung, lao động của ngư dân ven biển đều đảm bảo việc làm
kể cả lao động ở trên bờ Mặt khác, Singapore đã có nhiều chính sách hỗ
trợ cho lao động ngư dân ven biển về nhiều mặt, đặc biệt là vấn để vay
vốn để đóng tàu, đổi mới phương tiện kỹ thuật đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản Nhờ vậy, năng suất lao động của ngư dân ven biến đạt khá cao, tỷ
lệ lao động thất nghiệp ở mức thấp
Ở Trung Quốc, lực lượng lao động khu vực ngư dân ven biển hiện nay
chiếm tỷ trọng rất lớn khoảng 3%, trong đó, lao động đánh cá biến có xu
thế đang tăng lên Song vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ trên
bờ còn là vấn đề rất nan giải, sức ép của xã hội rất gay gắt, luôn thu hút
sự quan tâm của chính phủ Trung Quốc Trước đây cũng như hiện nay, Trung Quốc luôn phải đối phó với sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động của vùng ngư dân ven biển, luôn đứng trước nguy cơ nạn thất
Trang 22nghiệp gia tăng ở cả nước nói chung va ving ven biển nói riêng Tuy nhiên, Trung Quốc đã áp dụng chính sách năng động trong quá trình khuyến khích ngư đân ven biển phát triển ngành nghề, nhờ vậy đã phân
nào hạn chế được tỷ lệ thất nghiệp Để giải quyết vấn đề lao động thất
nghiệp ở ven biển, Trung Quốc đã tăng các dự án đầu tư, tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động ngư đân ở khu vực này Năm 1996-
2003, Trung Quốc đã thu hút khoảng 0,6 triệu lao động ở vùng ven biển vào làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp ở trên địa bàn này
G Nga, trong những năm qua, chính phủ Nga đã thực hiện chương trình tạo việc làm cho ngư dân ven biển Chính phủ đã đầu tư hàng chục nghìn tỷ rúp trong những năm (1999- 2004) để thực hiện các biện pháp
tạo việc làm cho vùng ngư dân ven biển như: cung cấp thông tin việc làm, đào tạo và đào tạo lại, nhằm nâng cao trình độ tay nghề cho ngư dân ven biển Theo tính toán, việc thực hiện chương trình này sẽ cho
phép đảm bảo việc làm cho khoảng 1,ð triệu người lao động vùng ven
biển, không day họ vào đội quân thất nghiệp vốn đã đông đảo do những
khó khăn về kinh tế trong những năm vừa qua ở Nga Giải quyết việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp của ngư dân ven biển ở
Nga hiện nay là vấn đề đặc biệt khó khăn và có ý nghĩa quan trọng
6 Mỹ, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ven biển làm nghề đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản được chính Phủ Mỹ coi trọng Từ
1989 đến nay, chính phủ Mỹ đã có nhiều chính sách ưu đãi nhằm giải
quyết lao động việc làm cho người lao động vùng ven biển, đặc biệt là
việc đánh bắt hải sản Chính phủ đã có chính sách đầu tư, trợ giá các
sản phẩm đánh bắt hải sản đặc biệt là tôm để hỗ trợ cho lao động đánh bắt tôm của Mỹ được tổn tại tại phát triển Bởi vì, chi phí đánh bắt tôm ở
Mỹ so với các nước khá cao Vì vậy, Chính phủ Mỹ đã có nhiều biện pháp
tạo điều kiện cho ngành đánh bắt hải sản không bị thua lỗ nặng để tồn
tại và phát triển
1.5 Sự cần thiết khách quan phải giải quyết vấn đề lao động,
việc làm của ngư đân ven biển Duyên Hải miền Trung
Giải quyết lao động, việc làm của ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung hiện nay là vấn đề có tính tất yếu khách quan, cần phải được Nhà
Trang 23nước, chính quyền địa phương và ngư dân nhìn nhận, đánh giá đúng đắn để từ đó có sự quan tâm một cách đúng mức Coi đây là một yếu tố
đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở vùng này Điều đó, bắt nguồn từ các lý do sau:
- Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đã và đang đòi hỏi các thành phần kinh tế ở nước ta nói
chung, vùng ngư dân ngư dân ven biển Duyên Hải miễn Trung nói riêng
phải kịp thời đổi mới toàn diện về các lĩnh vực, trong đó, vấn đề lao
động, việc làm là một trong những nội dung cấp bách nhất
- Do thực trạng hiện nay việc sử dụng lao động và giải quyết việc làm
của lao động của ngư dân ven biên Duyên Hải miền Trung hiệu quả thấp, tỷ lệ lao động thất nghiệp tương đối cao, đặc biệt là lao động nữ ở
trên bờ Điều này được thé hiện trên các khía cạnh sau
+ Việc sử dụng nguồn lao động còn lãng phí, chưa tạo ra nhiều việc
làm cho lao động ở trên bờ Theo tài liệu điều tra cho biết, hiện nay lao động đánh bắt hải sản vẫn còn thiếu khoảng 10-12%, lao động ở trên bờ phần lớn thiếu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao, nhất là vùng
ngư dân ven biến ở các thành phố, thị xã, thị trấn Hơn 60% lao động nữ,
hàng năm có việc làm chỉ khoảng từ 2,ð đến 3 tháng, thời gian còn lại làm công tác nội trợ gia đình và trông chờ sản phẩm của người thân
đánh bắt ở ngoài khơi đưa về để đem bán Điều này,dẫn đến thu nhập
bình quân của lao động ngư dân ven biển nó trên còn thấp, nhìn chung,
đời sống của ngư dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn còn ở mức cao 12-15%
+ Thời gian nhàn rỗi đối với lao động đánh bắt hải sản (do trăng sáng
và biển động, không ra khơi được) bình quân mỗi năm khoảng 3 tháng
Họ đã sử dụng 1 tháng để tụ sửa lưới và bảo dưỡng thuyền ghe, còn lại 2
tháng không có việc làm, dẫn đến tình trạng cờ bạc và uống rượu thường
ngày xảy ra
- Nguồn lao động của ngư dân ven biển ngày càng phát triển với tỷ lệ
khá cao, do chưa thực hiện tốt kế hoach hoá gia đình trong khi đó yêu
cầu giải quyết việc làm cho người lao động ngày càng lớn Điều này, đòi hỏi lao động ở vùng ngư dân và chính quyền địa phương phải tìm mọi
biện pháp tạo việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động này Đây là
Trang 24vấn đề có tính khách quan, phù hợp với các quy luật lên quan đến vấn
đề lao động- việc làm và xã hội
- Do yêu cầu ngày càng đòi hỏi không ngừng nâng cao đời sống vật
chất, tỉnh thân của người lao động ở vùng ngư dân ven biển, từng bước giảm tỷ lệ hộ đói nghèo là mục tiêu cần phải phấn đấu đạt được Muốn
vậy, cần phải thực hiện tốt nhiều nội dung liên quan, trong đó, vấn để lao động, việc làm của ngư dân là vấn để có tính cấp thiết nhằm tao
động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế -xã hội ở vùng này
- Giải quyết tốt vấn dé lao động, việc làm của ngư dân, ven biển Duyên Hải mién Trung hiện nay cũng như lâu đài không chỉ nhằm khai thác về tài nguyên,tiềm năng lao động mà còn là điều kiện để giải quyết
vấn để tiến bộ và công bằng xã hội,đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH đối với
vung nay
- Qua trinh hinh thanh, phat trién thi trường lao động 6 nước ta nói chung,vùng ngư dân ven biển nói riêng và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đã và đang làm cho quá trình phân công lao động phát triển „
mạnh mẽ Điều đó đồi hỏi vùng ngư dân ven biển duyên hải miểnTrung này phải đổi mới từ nhận thức và hành động trong đó, quan tâm giải
quyết vấn đề lao động,việc làm của ngư đâ n nói trên là một nội dung
hết sức quan trọng
Từ những phân tích trên cho thấy, sự cần thiết phải giải quyết vấn
đề lao động, việc làm của ngư dân ven biến Duyên Hải miền Trung một cách có hiệu qủa Đây không chỉ đối với bản thân người lao động của
vùng ngư dân ven biển mà còn là trách nhiệm của Nhà nước, các cấp
chính quyén địa phương phải tìm mọi biện pháp để giải quyết vấn đề nói
trên
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG, VIỆC LAM CUA NGƯ DAN VEN BIEN DUYEN HAI MIEN TRUNG TRONG
5 NAM (2000-2004)
2.1 Một số đặc điềm vé tu nhién, kinh té - x4 héi co lién quan
dén giai quyét van dé lao déng viéc lam của ngư dân ven biên Duyén Hai mién Trung
Các tỉnh Duyên Hải miền Trung từ Quảng Binh đến Khánh Hoà có tổng diện tích 5.091.800 ha, trong đó đất nông nghiệp 747.100 ha, đất lâm nghiệp 2.094.700 ha, đất chuyên dùng 382.100 ha, đất ở 46.200 ha Đến hết năm 2003, dân số 9.428 500 người, trong đó nam 4.616.600
người, nữ 4.711.700 người, khu vực thành thị 2.563.900 người, nông
thôn 6.764.600 người Theo số liệu chưa đây đủ, dân số của vùng ngư
dân ven biển Duyên Hải miền Trung, đến nay khoảng gần 809 ngàn
người, chiếm 8,9% dân số trong vùng
Tháp dân số của vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung vào loại trẻ, số trẻ em dưới độ tuổi lao động chiếm khoảng 40% dân só, số lao động trẻ ở độ tuổi 16-35 chiếm 65% lao động của toàn vùng Đây là vùng
có nguồn lao động tiềm nang, ddi dào, nhất là lao động nữ Tốc độ gia tăng dân số của vùng này tương đối cao bình quân hàng năm 2,25% Đây
là mức tăng dân số cao so với vùng thành thị và đồng bằng
Vùng ngư dân ven biên Duyên Hải miền Trung bị ảnh hưởng về thời
tiết và khí hậu khá lớn, nơi đây thường gánh chịu hầu hết các áp thấp
nhiệt đới, các cơn bão, lũ, hạn hán và các thiên tai khác Nghề đánh bắt,
nuôi trồng, chế biến hải sản phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu từng mùa
trong năm và thường gặp nhiều rủi ro, mạo hiểm (đặc biệt đối với lao động
đánh bắt) ngư dân không chỉ dựa vào nghề hải sản mà còn kiêm thêm cả nghề nông và các nghề thủ công khác Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng Tài nguyên khoáng sản bao gồm dâu khí, các loại mỏ:
Trang 26than, sắt, tỉ tan, cao lanh, tài nguyên đất, tài nguyên cảnh quan, đặc biệt
là tài nguyên về hải sản Vùng biển các tỉnh Duyên Hải miền Trung từ
Quảng Bình đến Khánh Hoà có hơn 2.000 loại cá, phần lớn là cá tầng mặt
và tầng đáy, trong đó có khoảng 200 loại cá có giá trị kinh tế, sản lượng đánh bắt cao với 52 bãi cá lớn ở gần bờ và hơn 13 bãi cá lớn trên các gò nỗi
ngoài khơi Trữ lượng cá dao động từ 2.000.000- 2.500.000 tấn 'Tỷ trọng cá
nổi chiếm 18-20%, cá đáy chiếm 6-7% so với cả nước Nếu phân bổ theo độ
sâu thì trữ lượng cá tập trung ở độ sâu từ 0- ð0m Vùng biển này có từ 200-
280 loài tôm, chủ yếu là tôm sú và tôm he, tôm xám bạc mù và tôm hùm
với sản lượng khá cao, hàng năm có thể khai thác khoảng 0,8 triệu tấn hải sản Ngoài ra, vùng biển này có những hải sản khác có giá trị cao như: cua,
các động vật thân mềm (trên 1.800.000 loại trai, ngọc, hến biển, hầu, bào
ngư, mực, sò huyết, hải sâm và những động vật có giá trị về kinh tế như:
rùa biên, rắn biên, sứa
Thực vật biên (rong biển) ở vùng nói trên rất phong phú và đa dạng,
phân bố từ Quảng Bình vào đến Khánh Hoà với 650 loài khác nhau
Tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản khá lớn với khoảng 1,4 triệu ha mặt nước; 0,3 triệu ha đất ven biển có thê nuôi trồng nhiều loại thuỷ sản quý
hiếm, có giá trị kinh tế cao Đây là một nguồn tài nguyên quý giá cần được
đầu tư thâm canh và cải tạo giống dé đạt chất lượng và năng suất cao
Năm 2004, kinh tế các tỉnh ven biên miền Trung phát triển khá cao
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 10%, trong đó thành phố Đà
Nẵng 13,3%, Thừa Thiên-Huế 9,1%, Quảng Nam 11,5%, Phú Yên 11,2%, các tỉnh Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hoà đạt trên 10% Các ngành
nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, dịch vụ phát triển khá, tăng trưởng
cao Kim ngạch xuất khẩu tăng trên 20%, thành phố Đà Nẵng năm 2004
đạt giá trị xuất khẩu 400 triệu USD Thu ngân sách tăng khá, năm 2004
có 3 tỉnh thuộc Duyên Hải miền Trung đạt 1.000 tỷ đồng trở lên là
thành phố Đà Nẵng, Khánh Hoà, Thừa Thiên-Huế
‘Su hình thành hệ thống cảng biển cùng với các tuyến đường sông, đường bộ đã làm cho các tỉnh ven biển Duyên Hải miền Trung trở thành vùng trung chuyên hàng hoá XNK rất lớn của khu vực
Đời sống kinh tế của ngư dân ven biển ở các tỉnh Duyên Hải miền
Trung ngày càng được cải thiện nhiều so với những năm trước đây Song
Trang 27tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao, cụ thê: hộ đói 18%, hộ đủ ăn 19%, hộ khá giả
35%, hộ giàu 16% Nguồn lợi trên biển tuy đa dạng, nhưng trữ lượng còn
hạn chế do khai thác bừa bãi và chưa có các biện pháp hữu hiệu để bảo
vệ, duy trì và tái tạo nguồn lợi này
Trong quá trình thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH) nhất là CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn, các tỉnh ven
biển miền Trung đã đạt được những thành tựu đáng kế Giai đoạn 1996-
2000 tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân đạt 7,B%/năm Giai
đoạn 2001- 2004 đạt 8,ð% (cao hơn mức tăng ca nước 7,2%)
Trong số 250 xã ở vùng ven biển các tỉnh miền Trung đều có trường tiêu
học, 100% huyện đều có trường phổ thông trung học Sau hơn 20 năm đỗi mới, tình hình giáo dục - đào tạo ở vùng ngư dân các tỉnh ven biển đã được
cải thiện đáng kê Cơ sở trường, lớp, trang thiết bị, đồ dùng đạy và học ngày càng được đầu tư nâng cấp Sự đầu tư vốn của Nhà nước và các cấp chính quyển địa phương vào ngành giáo dục trong những năm gần đây được chú trọng nhiều hơn và có xu thế tăng lên Nhận thức của ngư dân về việc học tập của con em đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực Số trẻ em
đến tuổi tới trường so với trước đây nhìn chung có xu hướng tăng
Cơ cấu lao động vùng ngư dân ven biển các tỉnh miền Trung phụ thuộc nhiều vào tính chất và đặc điểm của biển Sự phân bố nguồn lợi trên biển thường không đồng đều, mức tập trung cao hơn ở các cửa sông,
các quần đảo và các giao điểm của hai dòng hải lưu Do đó, ngư dân sinh
sống tập trung ở các cửa sông, cửa lạch, đặc biệt có mật độ cáo hơn tại những nơi cửa sông, bến cá gắn liền với đô thị vì ở đó có thị trường tiêu thụ, có cơ sở chế biến và các dịch vụ thuận tiện cho nghề cá như cung cấp dầu, nước, đóng sửa tàu thuyền Một bộ phận không ít lao động ngư
dân kiêm nghề biển với nghề địch vụ buôn bán (số người này thường có công cụ nhỏ bé và giản đơn để đánh cá ven bờ)
Ngoài ra, có một bộ phận lớn ngư đân đi chuyên ngư trường theo mùa vụ (vụ bắc đi chuyển ra phía bắc, vụ nam di chuyên vào phía nam) Họ đưa thuyền đi đánh cá theo mùa, hết mùa lại về quê cũ Song cũng có một bộ phận ngư dân thay nhau bám trụ ở những ngư trường làm ăn thuận lợi quanh năm Số tàu thuyền di chuyển ngư trường có đến hàng ngàn chiếc,
công suất thấp nhất cũng là 22 mã lực, gồm những ngư dân có tay nghề giỏi
Trang 28Địa bàn cư trú của ngư đân ven biển có thể chia ra làm 4 khu vực:
khu vực cư dân sống đông đúc nhất là ở các cửa sông và bến cá cạnh đô thị; một bộ phận sống rải rác ở bãi ngang; một bộ phận du cư và bộ phận
đi chuyển ngư trường Một bộ phận nhỏ sống du cư trên các đầm phá,
sông rạch, phần lớn sinh sống trên thuyển Có một số sống trên cả
thuyền và nhà nhưng là những nhà chẻ lưu động trên các sông rạch
Nghề khai thác hải sản ở các tỉnh ven biển Duyên Hải miền Trung chủ yếu do lao động ngư dân cá thể và một số tổ hợp tác đảm nhiệm Lực
lượng lao động quốc doanh chiếm không quá 8%
Các nghề khai thác chính là nghề câu, nghề giã, lưới cản, lưới quét,
manh, vây Các nghề khác như rớ, lưới chuồn, lưới quay, lưới trũ chỉ
chiếm tỷ lệ nhỏ
Nghề nuôi trồng thủy sản của lao động ngư dân ven biển các tỉnh miền Trung được hình thành từ rất lâu đời, nhưng phần lớn là nhỏ lẻ, tự
cung, tự cấp là chính Tử năm 1986 nền kinh tế thị trường ổ nước ta
xuất hiện, nhu câu về hải đặc sản ngày càng tăng đã kích thích nghề nuôi trồng thuỷ hải sản phát triển Dân dần đã hình thành một bộ phận nông dân chuyển sang nuôi trồng trên cả ba vùng: nước mặn, nước lợ và : nước ngọt Số lao động nuôi trồng thuỷ sản (chuyên và không chuyên)
tăng lên rất nhanh, phát triển đa dạng, trong đó lao động nuôi tôm sú trên vùng nước lợ có số lượng lớn nhất
Trong nghề nuôi trồng hải sản, có hai bộ phận lao động tương đối
tách biệt: bộ phận nuôi và bộ phận dịch vụ hậu cần cho việc nuôi (dich
vụ kỹ thuật, giống, thức ăn và thiết bị nuôi) Ngoài số cán bộ khoa học-
kỹ thuật có trình độ đại học và trung cấp được đào tạo chính quy tại các trường đại học và trung học chuyên nghiệp nắm giữ các khâu kỹ thuật
chủ yếu về giống, hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, hầu hết những người lao động nuôi trồng thủy sản ở vùng này là ngư đân thuần tuý và cán bộ
nghỉ hưu chưa hiểu biết day đủ về kỹ thuật nuôi Do vậy, mặc đù phong ˆ trảo nuôi tôm phát triển, nhưng chưa thật vững chắc, hiệu quả nơi này, nơi khác có sự khác nhau, tình trạng dịch bệnh từ con giếng khá phể biến Việc chế biến thức ăn cũng chưa đấm bảo đủ các yếu tế vi lượng
cần thiết và cũng dễ gây bệnh từ thức ăn do trình độ công nghiệp chế biến thức ăn còn quá thô sơ và kém chất lượng Mặt khác, sự hiểu biết
Trang 29các yếu tố của quá trình nuôi: giống, thức ăn, môi trường và kỹ thuật
đều còn nhiều lỗ hỗng chưa khắc phục được những nhược điểm và chưa
có giải pháp tốt để chống dịch bệnh Cho tới nay, nghề nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh ven biển Duyên Hải miền Trung đã phát triển nhưng cơ chế và chính sách đối với nghề này vẫn chưa đồng bộ, còn nhiều hạn chế, Chế biến hải sản là nghề truyền thống đã có từ lâu trong ngư dân ven biển nói trên Vào cuối thế kỷ 18, nước mắm đã trở thành hàng hoá
lưu thông trong nước, xuất phát từ nơi cội nguồn của nghề cá Nha Trang
(Khánh Hòa), Nam Ô, Thọ Quang (Đà Nẵng), Triều Dương, Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Cảnh Dương, Lý Hòa (Quảng Bình) Lúc bấy giờ, ngoài số
lao động chính đánh bắt hải sản trên biển, còn hầu hết số lao động phụ trong gia đình làm nghề chế biến mắm cá Càng về sau, khi nhu cầu xã
hội tăng lên, sản phẩm được thương mại hoá xuất hiện, các chủ vựa và dau nau, kể mua người bán nguyên liệu và thành phẩm như được phân ` công thành những ê kíp chuyên nghiệp một cách tự nhiên Từ đó, đã có
sự phân hóa đội ngũ những người làm nghề chế biến hải sản, có người làm chủ, người làm thuê trên bờ dưới nước (chủ và bạn, thợ), đi từ bóc lột
công(ao động sống) đến bóc lột lợi nhuận (giá tri thang du) kha sớm trên thương trường
TY sau nim 1990, nền kinh tế nước ta mổ cửa, các loại hình sản xuất
bung ra, các đội tàu thuyền, các cơ sở nuôi trồng, chế biến hải sản tư nhân, tập thể đều tập trung phát triển trên các địa bản, mặc dù lúc này hay lúc khác, nơi này hay nơi khác sản xuất kinh doanh có thua lỗ, song
nhìn chung, đời sống của ngư dân tương đối én định Do tính chất đặc „
thù của ngành nghề liên quan đến hải sản, dẫn đến các vấn đề như văn
hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thé thao hoặc các hoạt động xã hội khác, đặc
biệt là chế độ sinh đẻ, đều không đạt được yêu cầu đề ra
Các hoạt động dịch vụ hậu cần cho nghề cá,trước đây phần lớn do các
doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm, nhất là những khâu dịch vụ thông thường và mang tính truyền thống chủ yếu đo ngư dân thực hiện và tiếp
tục phát triển Các lĩnh vực đó gồm: đóng và sửa tàu thuyển; cung cấp máy móc phụ tùng, ngư lưới cụ và thay thế sửa chữa; cung cấp nước, nước đá, nhiên liệu và các nhu yếu phẩm; cung cấp giống, thức ăn và kỹ
thuật trong nghề nuôi; thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thuỷ
Trang 30sản Đầu năm 1993, hầu hết các tỉnh ven biên miền Trung mới bắt đầu
thành lập các trung tâm khuyến ngư, ngân sách trợ giúp cho các trung
tâm khuyến ngư trong 10 năm (1993-2003) lên gần 24,5 tỷ đồng Tuy nhiên, số tiền chỉ ra vẫn chưa đáp ứng yêu cầu tiến hành các dịch vụ và
hỗ trợ cho lao động ngư dân ven biển Trong thời gian (1999- 2004) các tỉnh ven biển đã tổ chức khoảng 450 khóa huấn luyện (mỗi khoá từ 2-3
ngày) cho 810 cán bộ khuyến ngư và 1.000 thuyén trưởng tàu đánh cá và „ 2.900 lao động nuôi trồng thuỷ sản
Trình độ dân trí nói chung và trình độ của người lao động của ngư
dân ven biển Duyên Hải miền Trung nói riêng, nhìn chung còn thấp, có
nơi rất thấp, tỷ lệ người dân biết chữ chiếm khoảng 86,8% (riêng đối với
lao động ngư đân biết chữ chiếm tỷ lệ 88,9%) Số lao động chưa qua đào tạo ngày càng có xu hướng gia tăng
Lao động ở vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miễn Trung cần cù, tích cực, chịu khó, nhưng tính sáng tạo và tiếp thu khoa học,công nghệ trong lĩnh vực khai thác, chế biến hải sản còn nhiều hạn chế Lao động
nữ chiếm tỷ lệ đáng kế trong nguồn nhân luc (51%) va cũng là loại lao
động có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất (17%) Phần lớn lao động của của ngư ˆ dân ven biển các tỉnh nói trên có nghề đánh bắt hải sản truyền thống từ
2-3 đời Lao động nam vẫn là người kế thừa nghề nghiệp của ông cha để
lại Con em của người ngư dân thường đi theo "đấu chân" của ông cha về nghề nghiệp, phù hợp với vị trí tương lai của chúng trong lực lượng lao động Nguồn gốc gia đình là một trong những yếu tế quyết định tới sự hình thành và tác động đến vai trò của người lao động trong cộng đồng
ngư dân ở khu vực này
Ngân sách Nhà nước là một trong những nguồn vốn đầu tư chính cho các tỉnh ven biển Duyên Hải miền Trung Năm 2003-2004, các tỉnh ven
biển nhận được 65- 67% tổng chỉ ngân sách theo kế hoạch Đại bộ phận
các huyện ven biển của các tỉnh, thu ngân sách trên địa bàn chỉ đảm bảo được từ 42-48% tổng thu ngân sách trên địa bàn Trong số 34 huyện có biển trong các tỉnh chỉ có 6 huyện có nguồn thu đạt khá cao,đáp ứng được một số khoản tối thiểu,còn lại các huyện đều nhận trợ cấp của ngân
sách với tỷ lệ khá cao như các huyện ở Quảng bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi tỷ lệ này khoảng 50-56%
Trang 31Những năm qua, Nhà nước đã có chủ trương tăng chỉ ngân sách đối với vùng ven biển, bình quân 6%/năm Trong 5 năm (2000-2004) tổng
vốn đầu tư cho khu vực thuỷ sản là 3.829,4 tỷ đồng, bao gồm: đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Biểu 2: Vốn đầu tư cho lĩnh uực thuỷ sản Uuùng ven bién Duyên Hỏi
miền Trung _õ năm (2000- 2004)
Đầu tư trong nước
- Ngân sách nhà nước - 1274,5 28,9%
Đầu tư nước ngoài
ở vùng ven biển Duyên Hải miền Trung như hiện nay thì sau 10 năm nữa khả năng phát triển ngành này vẫn còn rất thấp
Biéu 3: Co cấu uốn đâu tư trên dia bèn các tỉnh duyên hải
ven biển bắc Duyên Hải miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên- Huế, Đà Nẵng) Nam Duyên Hải miền Trung (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà) chưa hợp lý, cơ cấu vốn ngân sách nhà nước có xu hướng tăng lên
Trang 32Cơ cấu vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng khu vực ven biển Duyên ˆ Hải miền Trung ngày càng phát triển, Hệ thống điện, đường, trường, trạm,
thông tin liên lạc đã có sự đối mới đáng kể Cơ sở cung cấp vật tư, nguyên nhiên liệu và thu mua sản phẩm bước đầu đã được hình thành đồng bộ, gắn khai thác với nuôi trồng và chế biến hải sản
Tuy vậy, tình trạng nghèo nản, thiếu thốn, xuống cấp về kết cấu hạ
tầng kỹ thuật, nhất là đường sá, nước sạch, hệ thống trường lớp, bàn ghé,
trang thiết bị giảng dạy và học tập cho con em ngư dân ven biển ở nhiều xã
vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhiều trường học xây dựng cách đây trên 20
năm,nay đang bị xuống cấp, nhiều xã mới chấm đứt được tình trạng học 3
ca Tình trạng học sinh bỏ học ở nhiều vùng ven biển đang có xu hướng gia
tăng, việc học tiếp lên các bậc học cao hơn (từ bậc phổ thông trung học trở lên) của học sinh vùng ven biển rất khó khăn, tình trạng thất học, mù chữ
và tái mù chữ ở mức độ tương đối cao
Đời sống vật chất và văn hóa tỉnh thần của ngư dân ven biển nhìn chung vẫn còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm 15% Phần lớn của ngư
dân ven biển vẫn chưa tiếp cận một cách đầy đủ các địch vụ xã hội như:
y tế, bảo hiểm xã hội và ý thức bảo vệ môi trường còn thấp
Việc khai thác đánh bắt hải sản vẫn còn xảy ra bừa bãi, nhất là khu vực ở gần bờ, tình trạng sử dụng phương tiện đánh bắt bằng lưới mắt nhỏ,
bằng các chất nỗ làm cho các loại sinh vật biển bị tiêu diệt, làm cạn kiệt
các loài hải sản quý hiếm, đến nay vẫn chưa được khắc phục
Lao động nuôi trồng thủy sản phần lớn phát triển theo hình thức tự phát, theo kiểu "phong trào" thiếu qui hoạch, nhất là việc nuôi tôm đã
phá vỡ môi trường sinh thái, làm cho nguồn nước ngầm bị cạn kiệt, các
chất thải không được xử lý, gây ô nhiễm môi trường
Khả năng tiếp cận với các dịch vụ thông tin về lao động- việc làm
của-ngư dân ven biển còn rất hạn chế, các nguồn thông tin thường tấn
mạn, thiếu kịp thời, nhiều khi không chính xác
Vùng ven biển các tỉnh ven biển Duyên Hải miền Trung có khoảng
70 cửa sông vừa và lớn, trong đó có 80% được ngư dân sử dụng làm bến
đỗ và trú ấn nhưng độ sâu của các cửa sông so với mực nước triều xuống
khó bảo đảm việc đưa thuyêển bè vào sâu trú ẩn Chỉ có 10 cửa sông có độ -
sâu từ 1,5 m - 3m Tại Quảng Bình chỉ có khoảng 200 thuyền neo lại khi biển động, cửa sông Hàn của Đà Nẵng có khoảng 300 -400 thuyền, Tại
Trang 33Quy Nhơn có thé đỗ được 400 tàu cỡ lớn Hệ thống cầu cảng, bến bãi vẫn
chưa đáp ứng được nhu cầu của thuyền bè ngư dân trú ấn khi gặp bão
Sự khác biệt về đặc điểm của lao động nam và lao động nữ gắn liền
với sự phân công lao động, quyền và nghĩa vụ của họ, mà biểu hiện của
sự phân công đó là nghề nghiệp Do tính chất đặc thù của các nghề trong lĩnh vực hải sản có ảnh hưởng đến cuộc sống, văn hoá, giáo dục, y tế cũng như chế độ sinh để của ngư dân ven biển Điều này cho thấy, điều kiện nghề nghiệp và khả năng tạo việc làm cho lao động ở vùng này không đơn giản chút nào Với tính chất công việc đòi hỏi nhiều sức lao
động cơ bắp, ngư dân ven biển có xu hướng sinh nhiều con va`mong muốn lớn nhất của họ là sinh nhiều con trai Hiện tượng để con sớm và
dày thường xuyên điễn ra trong cộng đồng ngư dân ven biễn
Biểu 4: Số con trung bình của hộ gia đình ngư dân uen biên các tinh
Duyên Hỏi miền Trung Đơn vị tính: người
Danh mục Trung bình số con Trung bình số con trai Thiên chúa giáo , 4,73 2,76
Không tôn giáo 4,25 2,44
(Số liệu điều tra ở các tinh ven bién miền Trung năm 2004)
Số con trung bình trong các hộ tôn giáo cao hơn so với hộ so với hộ không tôn giáo Do cơ cấu nghề nghiệp còn phụ thuộc vào nghề đánh bắt
hải sản, các gia đình đông con có lợi thế rất lớn, đó là có thể chung sức, chung tiền và lao động để sắm thuyền lớn đánh bắt xa bờ Rõ ràng quan
niệm về giá trị con người, đặc biệt giá trị con trai là một yếu tố thức đẩy mạnh mẽ các gia đình ngư đân để con trai Khi nào lao động đánh bắt hải sản vẫn còn dựa vào sức lao động cơ bắp là chủ yếu, thì việc sinh đẻ không theo kế hoạch và cân có con trai vẫn là niềm mong muốn của từng
hộ gia đình ngư dân
92.2 Thực trạng lao động, việc làm của ngư dân ven biến các tỉnh Duyên Hải miền Trung trong ð năm (2000-2004)
2.2.1 Một số đặc điểm vé lao déng, viéc lam ctia ngu dan ven bién
Nguén lao déng 6 ving ven bién Duyén Hải miền Trung nói chung, ngư dân nói riêng, rất đôi dào Số trẻ em dưới độ tuổi lao động chiếm
Trang 34khoảng 40% dân số toàn vùng, số lao động trẻ ở nhóm tuổi 16-35 chiếm khoảng 65% lực lượng lao động toàn vùng Đây là nguồn lao động tiềm năng cần khai thác
Tốc độ gia tăng nguồn lao động ở vùng ngư dân ven biên tương đối cao (2,18%) chủ yếu là đo tốc độ gia tang dan số trung bình hàng năm
của vùng ven biển lớn Lao động của ngư dân ven biên Duyên Hải miễn Trung chủ yếu là khai thác nguồn lợi hải sản ở trên biến, tồn tại từ đời này sang đời khác Đây là công việc không chỉ vất vả và nặng nhọc, mà đời hỏi thời gian lao động phải kéo dài, xa nhà và nhiều rủi ro, kế cả tài
sản và tính mạng Lao động nam phủ hợp với chức năng, đặc điểm, tính
chất của công việc này Chính nghề đánh bắt hải sản do lao động nam
thực hiện đã tạo ra thu nhập chủ yếu và tạo việc làm cho các lao động
khác Do đặc điểm công việc đánh bắt hải sản của lao động ngư dân, dẫn đến rnột thực tế mọi người đều thừa nhận là, nếu không có lao động nam thì không có cuộc sống trong cộng đồng dân cư ven biển Lao động nữ ở
vùng ngư dân này thường phụ thuộc rất lớn vào lao động nam Theo kết
quả điều tra về lao động nữ ở 6 tỉnh ven biển Duyên Hải miền Trung
năm 2004 cho thấy, lao động nữ làm công tác nội trợ trong gia đình cho
người thân ra khơi đánh bắt hải sản là chủ yếu, một bộ phận có tham gìa công việc nuôi trồng, chế biến hải sản cũng như các công việc xã hội,
nhưng chiếm tỷ lệ rất thấp Cụ thê là: khoảng 10% lao động nữ hỗ trợ
những công việc cần thiết cho lao động nam di bién, 25% ban san phẩm
hải sản do lao động nam đánh bat, 6% làm công việc nuôi trồng hải sản,
5% chế biến hải sản với quy mô gia đình Mặc dù nhận thức về lao động
nữ ở vùng ngư dân dẫn đần được thay đổi, tuy nhiên đưới góc độ giải
quyết việc làm cũng gặp rất nhiều khó khăn Đến nay, lực lượng lao động này đã tiếp cận với các dịch vu xã hội, bước đầu tham gia đóng góp một cách tương đối vào các công việc như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu ngành nghề để phù hợp với khả năng, đặc điểm của họ
Do đặc điểm của lao động ở vùng ngư đân ven biển, lao động nam
đảm nhận công việc nặng nhọc, vất vả, đầy rủi ro, đòi hỏi kinh nghiệm không chỉ trong lao động mà còn trong việc chống đỡ lại sự khắc nghiệt
của thời tiết biển Trong nghề nghiệp đánh bắt hải sản,người con trai thường đi theo cha ra biên khi tuổi chưa thành niên, vừa giúp cha, vừa học nghề Sau thời gian 5-6 năm lao động vất vã, có kinh nghiệm mới trổ
Trang 35thành lao động đánh bắt chính, hoặc đối với lao động nuôi trồng hải thuỷ
sản ở trên biển, trên bờ phải có kinh nghiệm tích luỷ từ đời này đời khác
mới mang lại hiệu quả :
Đối với lao động đánh bắt hải sản, tùy theo loại chài lưới, một đội
thuyền với loại tàu 22 -45 CV cần có 4-6 lao động, loại trên 45 CV cần có
7 đến 10 người Trên một đội thuyền, mỗi lao động đều có những nhiệm
vụ khác nhau trong quá trình đánh bắt Đây là một cách học nghề, quen
dần với sóng nước, cách đánh bắt hải sản trong mọi tình huống Những công việc ở trên thuyền, đòi hỏi lao động ở độ tuổi khác nhau và trong quá trình làm việc trên biên, mọi người học hỏi lẫn nhau, thường không
qua trường lớp đào tạo chính quy, mà chủ yếu lĩnh hội kiến thức kinh nghiệm nghề nghiệp ở ngay trong cuộc sống lao động trên biển, theo kiểu cha truyền con nối
Quá trình lao động đánh bắt hải sản được thể hiện như sau:
Biểu 6: Chu trình lao động đánh bắt hải sản của lao động ngư dân,
ao động nữ chuẩn bị cho lao động nam ra khơi
Giai đoạn 2: Đánh bắt trên biển dựa hoàn toàn vào lao động nam
Giai đoạn 3: Đưa sản phẩm đi tiêu thụ hoàn toàn vào lao động nữ
Giai đoạn 4: Tính toán các chi phí công lao động, tra no do ca lao
động nam và lao động nữ đảm nhiệm
Công việc đánh bắt hải sản trên biển là lao động nam, nuôi trồng,
chế biến thuỷ sản do lao động nam và nữ lao động nữ cùng phối hợp thực hiện, đem sản phẩm đi bán do lao động nữ đảm nhiệm Mặt khác, cũng
Trang 36phải coi ưu thế của lao động nam là tiêu chí để hình thành sự phân công
lao động, tạo ra việc làm cho lao động nữ, Đồng thời trong quá trình đánh bắt, nuôi trồng, chế biến có sự phối hợp giữa lao động nam và lao động nữ
Biểu 7: Phối hợp giữa lao động nam, nữ trong đánh bắt, nuôi
trong,ché bién hdi sdn
Céng doan Khong gian
Danh bat,nudi | Tiéu | Tinh | Chudn | Biển | Bồ
tréng,ché bién | thu | toán bi
địa bàn nói chung và cơ cấu trong các hộ gia đình, cơ cấu của các tổ chức - đánh bắt hải sản nói riêng Yếu tố lao động nam gắn liền với sự phân công lao động đối với lao động nữ Điều này đã quy định quyền và nghĩa
vụ của họ không chỉ trong gia đình, mà còn trong môi trường cộng đồng dân cư, không chỉ trong lĩnh vực thuỷ sản mà còn trong lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội Do tính chất của nghề nghiệp liên
quan đến biển dẫn đến trách nhiệm của lao động nam và lao động nữ ở
vùng ngư dân ven biển thường có quan hệ chặt với nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh Điều đó được thể hiện qua biểu sau:
Biểu 8: Trách nhiệm của lao động nam 0ò lao động nữ ngư dân ven
Thực tế cho thấy, tuổi tác, sức khoẻ đối với lao động ngư dân ven biển
ảnh hưởng đến việc bố trí lao động, giải quyết việc làm là không nhỏ Điều
Trang 37này lại càng có ý nghĩa khi chúng ta xem xét vấn đề lao động, việc làm của ngư dân ven biển không chỉ từ góc độ ngành nghề, mà còn từ góc độ lối sống truyền thống Qua khảo sát ở 5ð vùng ngư dân ven biên thuộc 6 tỉnh Duyên Hải miền Trung, có thê xác định tuôi trung bình của lao động nam bắt đầu bước vào nghề đánh bắt hải sản là 20 - 21 tuổi Đa số ngư đân ven biển cho rằng, không phải ai cũng đi biển được Công việc của người ngư dân nặng nhọc đồi hỏi phải có sức khỏe và một chút ít kinh nghiệm Nhưng một khi
một lao động của ngư dân đã có nhiều kinh nghiệm, làm ăn giỏi giang thì tuổi đã cao, sức lại yếu Lao động nam trên ð0 tuổi thi din dan khong di biển nữa Tuổi trên 50 đối với lao động biển có thê được coi là lứa tuổi nghỉ hưu, chỉ có một số trường hợp rất hạn hữu lao động biển có ở độ tuổi này
Điều đó cho thấy, đặc điểm lao động, việc làm của ngư đân ven biển
Duyên Hải miền Trung diễn ra rất phức tạp, mang nặng tính chất lao
động nam giới Trong điều kiện hiện nay, lao động của ngư dân chủ yếu bằng cơ bắp, do phương tiện đánh bắt, nuôi trồng hải sản ở trình độ còn
thấp Xét dưới góc độ giới, lao động nam phù hợp với công việc đánh bắt,
nuôi trồng hải sản ở trên biến, trên bờ (đặc biệt là đánh bắt hải sản) hơn
lao động nữ Rõ ràng, do đặc điểm của công việc, làm cho lao động nữ & vùng ngư dân ven biên Duyên Hải miền Trung khó giải quyết việc làm
Điều đó, đòi hỏi chính sách phát triển giới trong hệ thống chính sách phát triển nguồn lực cần được chú ý, nhằm khai thác được nguồn lao
động nữ vào tiến trình phát triển kinh tế xã hội ở vùng ngư dân nói trên 9.9.9 Những kết quả đạt được
Qua khảo sát vấn đề lao động việc làm ở vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung trong 5 năm (2000-2004) cho thấy, lao động ở
vùng này bao gồm: lao động đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản, dịch vụ
và sản xuất nông nghiệp đã có sự đổi mới đáng kế về số lượng, chất lượng,
cơ cấu Tỷ lệ lao động nam làm công việc đánh bắt hải sản là 83,1%, trong
khi đó lao động nữ chủ yếu tham gia vào những công việc nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ hải sản và nội trợ phục vụ cho cho người thân ra khơi đánh
bắt hải sản và sản xuất nông nghiệp, trồng hoa, rau xanh Chỉ khoảng 1,5
% lao động nữ tham gia vào việc khai thác đánh bắt hải sản như: câu tôm,
câu mực ở ven bờ, hầu như không có phụ nữ nào trở thành chủ thuyền với
Trang 38Tổng hợp báo cáo của các tỉnh ven biến duyên hải miền Trung 5 năm (2000-2004)
Tổng số lao động có việc làm ở vùng ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung năm 2004 so với năm 2000 tăng 3,4% Tuy nhiên, phân tích
cụ thể cho thấy, lao động đánh bắt tăng 5%, lao động chế biến hải sản
giảm 6,25%, lao động nuôi trồng thuỷ sản tăng 80%, lao động dịch vụ
tăng 13,6%, lao động nông nghiệp kết hợp dịch vụ giảm 12,8%
Lao động thuần nông có xu hướng giảm, đặc biệt đối với vùng ngư
dân ở địa bàn các thành phố, thị xã do bị giải toả để xây dựng cơ sở hạ
tầng, chỉnh Yrang đô thị, phải tái định cư ở nơi khác, nên không có đất sản xuất, dẫn đến thất nghiệp với tỷ lệ 10-12% (loại lao động này không thê ra khơi đánh hoặc nuôi trồng hải sản, chỉ sản xuất nông nghiệp và
dịch vụ) Lao động nông nghiệp kết hợp dịch vụ có xu hướng tăng (trong
đó chủ yếu là lao động làm dịch vụ tăng còn lao động thuần nông giảm)
Lao động dich vụ nói trên được tính bao gồm: lao động nữ phuc vụ cho
người thân ra khơi đánh bắt và bán sản phẩm hải sản khi họ ở biển trổ
về
Vấn đề lao động, việc làm của ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung trong 5 năm (2000-2004) thể hiện khá rõ nét Kết quả đạt được về
các mặt đó là: tăng về số lượng và chất lượng lao động, lực lượng cơ bản
nhất vẫn là lao động nam đánh bắt hải sản Vì thế, đối với công việc đánh bắt hải sản trên biến rất cần lao động nam "không có lao động nam
thì không thể nói đến lao động nghề biển, một lao động nam có vai trò
chủ chốt khi làm việc có thê kéo theo 3 - 4 lao động có công ăn việc làm"
Trang 39Theo số liệu khảo sát tình hình phát triển thuỷ sản trong giai đoạn 2000- 2004 ở vùng ngư dân ven biển duyên hải miềnTrung cho thấy, phương tiện về ngư cụ, tàu thuyền đánh bắt của lao động ngư đân ngày
càng được phát triển, tạo ra khả năng sử dụng lao động đánh bắt hải sản
ngoài khơi ngày càng tăng lên từ 2-3%/năm Lao động nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt nuôi tôm và các loại cá có giá trị cao đang có xu thế tăng lên
Đến nay, trên địa bàn ngư dân ven biển Duyên Hải miền Trung có 24.500
tau thuyền với tổng công suất khoảng 824.000CV trong đó có khoảng
4.000 tàu công suất hơn 4BCV/chiếc Phần lớn số tàu thuyền có công suất
dưới 45 CV/chiếc (chiếm khoảng 69%) tập trung khai thác vùng lộng gần
bờ, trong khi ngư trường vùng này có trữ lượng cá chỉ khoảng 30% vùng biển thuộc quyền khai thác của Việt Nam Mức độ đánh bắt hải sản của lao động ngư đân tập trung ở các vùng biển thuộc các tỉnh Bình Định,
Quảng Ngãi, Thừa Thiên -Huế có xu hướng cao hơn so với các tỉnh khác
trong vùng Một trong những vấn để quan trọng của hiện tượng này nằm trong sự khác biệt của quá trình phân hóa và tập trung sở hữu thuyền,
phương tiện sản xuất Tại các tỉnh nói trên, xuất hiện lực lượng lao động
làm ăn thành đạt, họ là những người sở hữu tàu thuyền lớn và thuê mướn
nhiều nhân công lao động Mặt khác, cũng có nhiều lao động ngư dân làm
ăn thua lỗ, sẵn sàng bán tàu, thuyền đi làm thuê Tuy nhiên tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, lao động ngư dân trong moi hoàn cảnh đều cố gắng mua sắm tàu thuyền đánh bắt hải sản Mặc di
tàu thuyền có công suất nhỏ và thiếu trang bị các phương tiện nhưng trong một chừng mực nhất định nào đó, số lao động này đã kiếm được
miếng ăn hàng ngày, bù đắp chỉ phí bỏ ra
Có thể khái quát thực trạng lao động, việc làm ở vùng ngư dân ven biến Duyên Hải miền Trung trong những năm (2000-2004) như sau:
- Lao động đánh bắt hải sản ở ngoài khơi và ven bờ đại bộ phận có việc làm và có thu nhập khá cao từ 2,5-3 triệu đồng/tháng
- Lao động nuôi trồng thuỷ sản ở trên biển và các ao hồ, nhìn chung
có việc làm, song thu nhập chưa thật ổn định (vì theo thời vụ) bình quân
từ 2 - 3,5 triệu đồng/tháng
- Lao động chế biến hải sản với số lượng khoảng 120 ngàn người, nhưng ổn định làm việc, theo hình thức tranh thủ mọi thời gian, chế biến theo mô hình gia đình, thu nhập từ 1,ð- 2 triệu đồng /tháng
Trang 40- Lao déng dich vu (ngoai dich vu cho người thân ra khơi đánh bắt hải sản) với số lượng thấp, không thường xuyên, thu nhập bình quân 1,3 triệu đồng/tháng chủ yếu là buôn bán lặt vặt ổ các chợ và các bãi bién
- Lao động nông nghiệp (chủ yếu đối với những hộ vừa làm biển vừa
làm nông) có xu thế giảm Thực trạng này do các nguyên nhân sau: điện
tích đất nông nghiệp chuyên sang nuôi trồng thuỷ sản; diện tích đất thiếu nước,phèn, mặn ngày càng tăng; diện tích đất sử dụng xây đựng
hệ thống kết cấu hạ tang
Ngoài ra, có khoảng 4 nghìn người con em ngư dân ven'bién dang làm việc trong các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đóng trên địa bàn
trong và ngoài các tỉnh duyên hải miềnTrung
Trong những năm qua, ngư dân ven biến các tỉnh nói trên đã tăng
cường đầu tư nhằm tạo công ăn việc làm trong quá trình phát triển
ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản Nhờ vậy, góp phần tạo ra
sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ngành nghề, sử dụng phương tiện tàu thuyền, khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản đã mang lại kết quả đáng kể Từng bước loại bỏ dân các phương tiện khai thác lạc
hậu, năng suất thấp, khắc phục tình trạng khai thác có tính chất sát hại
nguồn lợi thuỷ sản Tạo ra năng lực, trình độ lao động của ngư dân ngày càng phát triển, tăng nhanh sản lượng hải sản trong những điều kiện khó khăn của thời tiết vẫn đảm bảo tính bền vững và sự phát triển lực lượng lao động Đồng thời hình thành thể chế huy động nguồn vốn trong ngư dân để đóng mới tàu thuyền, phương tiện phục vụ sản xuất tạo
thêm nhiều việc làm, đặc biệt góp phần thay adi tập quán đánh bắt lạc
hậu của nhiều lao động ngư dân ven biển Những năm gần đây, chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước đã có sự đổi mới, thực sự
khuyến khích lao động ở vùng ngư dân phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản Do có những lợi thế về một số mặt đã thúc đẩy lao động của ngư dân ven biển từng bước phát huy thế mạnh của mình
Nhiều loại hải sản đã được nuôi trồng có hiệu quả, chủ yếu tập trung
vào các loại có giá trị kinh tế cao như: tôm su, him, cua bién, cd song,
cá hồng, sò huyết
Trong những năm 2000-2004, có hơn 30% các hộ ngư dân ven biển ở
khu vực này được vay vốn tín dụng để giải quyết việc làm, riêng năm