1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

AN TOÀN KHU (ATK) TRUNG ƯƠNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC PHÁP (1945 - 1954)

107 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 826,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng thời gian trên, nhằm bảo tồn lực lượng để kháng chiến lâu dài, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, các cơ quan lãnh đạo của các khu, các tỉnh được chuyển tới v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TS NGUYÊN XUÂN MINH

AN TOÀN KHU (ATK) TRUNG ƯƠNG

TRONG KHÁNG CHIẾN

CHỐNG THỰC PHÁP (1945 - 1954)

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược kéo dài 9 năm đã giành được thắng lợi to lớn, đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (71511954) và việc kí Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương

Thắng lợi của kháng chiến đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học về xây dựng, bảo vệ An toàn khu (ATK), nơi cư trú

và hoạt động của các cơ quan đầu não kháng chiến

An toàn khu (gọi tắt là ATK) Trung ương là một vùng an toàn, nằm sâu trong căn cứ địa Việt Bắc, chủ yếu thuộc địa phận Nam Chợ Đồn (Bắc Cạn), Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) Đó là nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Tổng tư lệnh - Tổng chỉ huy và Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm

1947 - 1954

An toàn khu Trung ương ở Việt Bắc có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp kháng chiến của dân tộc Nó là một trong những nhân tố có tính chất quyết định đối với thắng lợi của kháng chiến Nhưng cho đến nay, trong nhận thức của người dân Việt Nam, nói đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hầu như phần lớn chỉ biết đến Chiến khu Việt Bắc, ít người biết đến ATK Trung ương trong trong vùng đất nổi tiếng này

Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cán bộ, sinh viên bộ môn Khoa học Xã hội - Nhân văn nói chung và Khoa Lịch sử

nói riêng, chúng tôi xin được giới thiệu tập chuyên đề: An toàn khu (ATK)

Trung ương trong kháng chiến chống thực dân Pháp (]945 - 19S4)

Công trình đã được Hội đồng khoa học cấp Nhà nước nghiệm thu năm

1996 Mặc dù được Hội đồng đánh giá vào loại Tốt, nhưng trải qua hơn 10 năm, với những nguồn tư liệu mới, chắc chắn công trình này cồn có những hạn chế, thiếu sót Mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng của bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Trang 3

CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH AN TOÀN KHU TRUNG ƯƠNG TRONG CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC

I - VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA VIỆT BẮC TRONG LỊCH SỬ CHỐNG NGOẬI XÂM

1 Việt Bắc - một địa bàn chiến lược hiểm yếu

Việt Bắc là tên gọi một vùng lãnh thổ thuộc một phần thượng du và trung du Bắc Bộ; phía bắc và đông bắc giáp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh; phía nam giáp đồng bằng Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh thuộc Tây Bắc

Nằm kề sát đất nước Trung Quốc rộng lớn vốn có mối quan

hệ chặt chẽ với cách mạng Việt Nam từ nhiều năm trước, cùng chung một dải biên giới, với chiều dài 751km, đi qua địa phận 15 huyện, 97 xã (56.II), Việt Bắc có điều kiện thông thương quốc tế thuận lợi

Khu vực trung tâm của Việt Bắc gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang Khu vực ngoại vi gồm một số địa phương thuộc các tỉnh: Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Yên Bái và Bắc Giang Việt Bắc có diện tích

tự nhiên khoảng 32.991 km2 (gần 1110 diện tích cả nước) Rừng núi chiếm khoảng 90% diện tích của khu (127.7), chủ yếu ở các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Bắc Cạn và phần lớn các lỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, một phần phía bắc các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang

Rừng Việt Bắc có nhiều loại gỗ, tre, nứa, cây cối rậm rạp, xanh tết quanh năm

Núi đồi Việt Bắc trùng điệp, phần lớn là núi đá vôi, ở ba mặt: bắc, tây nam và đông đông nam là những dãy núi đá cao bao bọc, tạo thành một phòng tuyến thiên nhiên hùng vĩ

Trên các dãy núi đá có nhiều hang động Đó chính là nơi ẩn

Trang 4

nấp và cất giấu lương thực, thực phẩm khá an toàn của bà con các dân tộc trong vùng mỗi khi có giặc bên ngoài đến xâm lấn Hang Phượng Hoàng (Võ Nhai, Thái Nguyên) là một hang đá rộng lớn, đã từng là nơi diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt của 75 chiến sĩ tự vệ cùng với 1500 dân chúng chống địch khủng bố hồi tháng 11/1944 (83.63) Hang Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) là một hang kín đáo, bí mật, đã từng gắn bó với cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ai Quốc trong những ngày đầu mới về nước Các hang động ở Bắc Sơn (Lạng Sơn), hang Kéo Quảng (Nguyên Bình), động Bó Lình (Quảng Hoà, Cao Bằng) cũng đều gắn liền với phong trào cách mạng ở địa phương Quần thể hang động ở

Nà Pài (Xã Hằng Phúc, Chợ Đồn, Bắc Cạn) đã từng là nơi nhân dân công du kích xã cất giấu lương thực phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp trong những năm 1947 - 1954

Ven theo các chân núi là các thung lũng chạy dài, khá bằng phẳng, thuận lợi cho việc canh tác và xây dựng cơ quan công xưởng

Việt Bắc có nhiều sáng, suối, ao, hồ Các con sông lớn (sông Hồng, sông Đà, sông Lô ) đều phát nguyên từ Trung Quốc, xuyên qua Việt Bắc đổ vào đồng bằng Bắc Bộ, rồi chảy ra biển Một số con sông (Kỳ Cùng, Bằng Giang ) bắt nguồn từ địa phận Việt Bắc rồi chảy sang Trung Quốc Những đoạn sông chảy qua vùng thượng du thường có lòng hẹp nhiều ghềnh thác hiểm trở

và độ dốc khá lớn Vào mùa mưa, từ tháng 3 đến tháng 8, nước lũ dâng cao đột ngột, dòng sông chảy xiết, ảnh hưởng không tốt đến

cơ động lực lượng và giao thông vận tải Vào mùa khô, dòng sông cạn, thuyền bè khó đi lại

Việt Bắc thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 230C ở Vùng thấp, 200C đến 220C ở vùng Cao trung bình (từ 200 trên 500 mét) và dưới 200C ở vùng có độ cao từ 500 mét trở lên Hàng năm, từ tháng 1đến tháng 4, thường

có gió mùa đông bắc gây ra mưa phùn, sương mù dày đặc khắp núi rừng

Cùng với sông ngòi, khe suối, Việt Bắc có các đường bộ,

Trang 5

đường sắt được xây dựng từ thời thuộc Pháp Những con đường này phần lớn xuất phát từ Hà Nội, toả ra các hướng, đi qua các tỉnh trong khu Việt Bắc đốn tận biên giới Việt - Trung Quốc lộ

số 3, số 2, 13A, 1B, số 4 đều là những con đường huyết mạch nối liền Việt Bắc với Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ Những con đường này có bề mặt hẹp, hầu hết được rải đá, có nhiều đèo dốc quanh co khúc khuỷu Nhiều đoạn đường chạy ven theo các sườn núi cao, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là sông sâu vực thẳm

Ngoài các con đường lớn là hệ thống đường đất nhỏ, dường mòn ngang dọc, nối liền giữa các vùng trong khu với nhau, giữa khu với các vùng lân cận và giữa các địa phương hai bên biên giới Việt - Trung

Với hệ thống các đường thuỷ, bộ, địa hình đốc, núi rừng hiểm trở, việc giao thông - nhất là giao thông bằng phương tiện

cơ giới trên địa phận Việt Bắc gặp nhiều khó khăn, trở ngại Ngược lại, địa thế đó rất thuận lợi cho hoạt động cách mạng trong thời kỳ trứng nước, đặc biệt là cho việc thực hiện chiến tranh du kích Dựa vào địa hình phức tạp và hiểm trở của vùng Việt Bắc, phong trào cách mạng có thể dễ dàng gây dựng cơ sở, phát triển lực lượng, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn

có thể lui vào thố thủ, bảo toàn lực lượng

Việt Bắc cũng là một địa bàn rất cơ động về chiến lược Thông qua hệ thống các con đường mòn, đường nhỏ xuyên rừng,

từ Việt Bắc, phong trào cách mạng Việt

Nam có thể dễ dàng liên lạc với quốc tế, trước hết là với cách mạng Trung Quốc Từ Việt Bắc, phong trào cách mạng có thể mở rộng sang hướng Tây Bắc để liên lạc với cách mạng Lào

ớ hướng đông, Việt Bắc nối liền với rừng núi Quảng Ninh, Đông Triều, kéo dài xuống tận miền duyên hải Về phía nam, Việt Bắc

áp sát thủ đô Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ Vì thế, về mặt quân

sự mà xét, Việt Bắc là một nơi dụng binh lợi hại

Nằm ở vị trí trung tâm Việt Bắc là 4 huyện tiếp giáp nhau:

Trang 6

Định Hoá Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Cạn), Sơn Dương và Yên Sơn (Tuyên Quang)

Định Hoá là một huyện miền núi ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên; Phía bắc giáp huyện Chợ Đồn và Bạch Thông (Bắc Cạn); Phía nam giáp huyện Đại Từ (Thái Nguyên); phía dông giáp huyện Phú Lương ( Thái Nguyên); phía tây giáp huyện Sơn Dương và Yên Sơn ( Tuyên Quang)

Sông, suối ở Định Hoá tuy nhiều, nhưng đều nhỏ, không thuận lợi về giao thông Việc đi lại trong huyện chủ yếu thông qua các con đường mòn Sau khi chiếm đóng Định Hoá (năm 1889), nhằm phục vụ mục đích cai trị, đàn áp, bóc lột, thực dân pháp xây dựng con đường 38 chạy từ ki lô mét 31(quốc lộ 3) di Chợ Chu; rồi từ đày chúng mở đường nối liền Thành Cóc (Sơn Dương), đôn Nghĩa Tá (Chợ Đồn), đồn Quảng Nạp và Phú Mình (Đại Từ)

Địa thế hiểm trở, núi rừng bạt ngàn là một trong những yếu

tố đảm bảo cho Định Hoá trở thành địa điểm xây dựng ATK Trung ương, chủ yếu thuộc địa phận các xã: Phú Đình, Điềm Mặc, Thanh Định, Định Biên Bốn xã này đều cách xa trục đường giao thông chính Phía tây có dãy núi Hồng án ngữ, tạo nên bức trường thành kiên cố Nối liền các xã là những con đường mòn nhỏ hẹp, kín đáo Trong khu vực bốn xã có nhiều khe suối chảy qua, rất thuận lợi cho việc sinh hoạt và trồng trọt Xen

kẽ giữa các thôn, bản là những đồi cây rậm rạp, tạo thành bức màn phủ kín đường đi lối lại và nhà ở bên trong

Kề sát với khu vực bốn xã của Định Hoá, về phía tây, vượt qua dãy núi Hồng là huyện Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang)

và về phía bắc, vượt qua đỉnh đèo Xo là huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn)

Sơn Dương là một khu vực bán sơn địa, ở vào một vị trí thuận lợi Về phía đông, Sơn Dương giáp tỉnh Thái Nguyên, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ,phía nam giáp tỉnh Vĩnh Yên, phía bắc giáp huyện Yên Sơn Rừng núi Sơn Dương khá hiểm trở, phía

Trang 7

đông có dãy núi Hồng nối liền với dãy núi Tam Đảo, phía nam có dãy núi Lịch, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa huyện Lập Thạch ( Vĩnh Phú) và Sơn Dương; phía tây có sông Lô uốn khúc - một dòng sông đã đi vào lịch sử với những chiến công oai hùng

Vớt địa thế thuận lợi và có cơ sở quần chúng vững chắc từ trước, các xã: Tân Trào, Lương Thiện, Bình Yên, Minh Thanh (tức Minh Khai và Thanh La) thuộc Sơn Dương; Công Đã, Đạo Viện, Kim Quan, Hùng Lợi, Trung Sơn thuộc Yên Sơn; Vinh Quang, Xuân Quang thuộc Chiêm Hoá được Trung ương chọn làm An toàn khu trong những năm kháng chiến chống Pháp

Khu vực ba xã tây nam huyện Chợ Đồn: Thành Công, Thắng Lợi, Yên Thịnh là một vùng núi non trùng điệp Khu vực

ba xã trên, nay thuộc địa phận của bảy xã nối liền nhau: Bình Trung, Lương Bằng, Nghĩa Tá, Nam Bằng Lũng, Yên Thịnh, Yên Thượng và bản Ty Phía nam vùng này có đèo Xo (giáp huyện Định Hoá) là một dãy núi lớn kéo dài từ Bình Trung (Tức Thành Công) đến Lương Bằng, là ranh giới tự nhiên giữa Chợ Đồn với các huyện Yên Sơn, Chiêm Hoá ( Tuyên Quang) Trên dãy núi nổi lên ngọn núi Khau Nhót, Khau Ty, Khau Bươn

Ngọn Khau Nhót cao chừng 500 - 600 mét, nằm ở địa phận của Nghĩa Tá và Lương Bằng, tựa như bức trường thành Theo các con đường mòn, vượt Khau Bươn là sang địa phận Yên Sơn, Chiêm Hoá, Xen kẽ giữa các núi cao có nhiều khe sâu và thung lũng hẹp Đó cũng chính là những "cửa ngõ" thông thương giữa vùng Tây

Nam Chợ Đồn với vùng Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Định Hoá (Thái Nguyên)

Việt Bắc nói chung và khu vực 4 huyện: Định Hoá, Chợ Đồn, Sơn Dương, Yên Sơn nói riêng có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cấp tự túc Ruộng đất canh tác ở nơi này tuy không nhiều và không lốt như vùng đồng bằng, nhưng do mật độ dân cư thấp, nên bình quân diện tích chia cho đầu người ở đây nhiều hơn Hơn nữa,

Trang 8

ngoài ruộng vườn, Việt Bắc còn có nhiều đồng cỏ, nương rẫy có thể tận dụng để trồng lúa, ngô, khoai, sắn, các loại rau đậu, cây

ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm

Hệ thống sống suối ở Việt Bắc không những đảm bảo nhu cầu canh tác và sinh hoạt của con người, mà còn là nguồn cung cấp tự nhiên khá dồi dào về thuỷ sản

Thiên nhiên ưu đãi khu Việt Bắc, dành cho nơi đây một nguồn tài nguyên khá phong phú và toàn diện Ngoài đất và rừng, với nhiều loại lâm thổ sản có thể khai thác được như gỗ, tre, nứa, song, mây, nấm hương, mộc nhĩ và các loại chim muông, thú rừng, Việt Bắc còn dồi dào về khoáng sản và năng lượng

Việt Bắc nằm trong vùng kiến tạo Hecxini - Inđôxini bao quanh địa khối vòm sông Chảy Nhiều đường đứt gãy theo nhiều hướng là những nơi sinh khoáng quan trọng Quan trọng hơn là các đứt gãy phụ tạo nên nhiều loại khoáng sản liên quan đến các

đá xâm nhập Granitôit phổ biến trong khu, như các đứt gãy Lạng Sơn - Thái Nguyên, đứt gãy Hà Giang - Bắc Cạn, có các mỏ đá kim loại ở Chợ Điền, Chợ Đồn, Tuần Muội, mỏ kẽm ở Tràng

Đà, Lang Hit, mỏ thiếc ở Tĩnh Túc, mỏ Ăngtimoan ở Chiêm Hoá,

mỏ thuỷ ngân ở Hà Giang Mỏ Trầm tích cũng phong phú đáng chú ý nhất là mỏ sắt Thái Nguyên, quanh dấy có nhiều mỏ than (57.93) Mỏ vàng đều có rái rác ở nhiều nơi trong khu

Sẵn có nguồn của cải phong phú đó, Việt Bắc có khả năng đáp ứng một phần nhu cầu vật chất cho kháng chiến, đảm bảo

cho lực lượng kháng chiến có thể tồn tại và phát triển Đối với

nước ta, trong điều kiện chưa có kinh tế hàng hoá, giao thông khó khăn, lại bị đế quốc bao vây, phong tỏa, sự tồn tại nền kinh tế tự nhiên như ở Việt Bắc, trong chừng mực nhất định, có tác dụng tích cực đối với cuộc kháng chiến

2 Việt Bắc - một vùng đất kiên cường, bất khuất

Sinh sống ở vùng Việt Bắc có trên 1.200:000 dân (tính đến trước Cách mạng tháng Tám), thuộc khoảng 30 dân tộc anh em Mỗi dân tộc tuy có phong tục tập quán riêng, nhưng họ sống

Trang 9

không tách biệt: mà thường cư trú xen kẽ với nhau trong cùng một địa phương Điều này thể hiện tính cộng đồng, thống nhất

vốn có từ lâu đời giữa nhân dân các dân tộc Việt Bắc Đồng bào

các dân tộc Việt Bắc thực thà, chất phác, có quan hệ họ hàng, quan hệ thân tộc rất sâu sắc Trong nhiều dân tộc, người thủ lĩnh hoặc tộc trưởng, gia trưởng có uy quyền rất lớn Một số dân tộc ở Việt Bắc thường có phong tục kết nghĩa anh em (hất tồng, có nghĩa là kết nghĩa anh em, sống chết có nhau).Người dân Việt Bắc có tỉnh cảm chân thực Một khi đã tin yêu thì họ hết lòng, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn

Sống gần gũi với thiên nhiên, người dân Việt Bắc rất yêu thiên nhiên, nhưng chính họ là nạn nhân trực liếp của những tai hoạ khủng khiếp và thường xuyên do thiên nhiên gây ra Thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, mưa lũ cùng với thú dữ luôn luôn đe doạ đến cuộc sống và tính mạng của người dân miền núi

Nhân dân các dân tộc Việt Bắc còn phải thường xuyên chịu những hậu quả nặng nề do chiến tranh gây ra Xưa kia, Việt Bắc luôn luôn trở thành bãi chiến trường, nơi luôn phải đương đầu với cuộc tấn công xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc Có mỗi lần quân giặc tràn sang hoặc rút chạy, nhân dân các dân tộc Việt Bắc đều chịu bao tai hoạ khủng khiếp: chém giết, bắt bớ, cướp của, đốt phá

Từ giữa thế kỷ XVI, trong thời kỳ Trịnh - Mạc phân tranh, cuộc nội chiến ác liệt kéo dài trên nửa thế kỷ đã diễn ra giữa hai tập đoàn phong kiến thù địch đó Nhiều địa phương trong vùng Việt Bắc cũng trở thành bãi chiến trường Sách "Đại

Việt sử ký toàn thư" chép rằng: "Các xứ Kinh Bác, Thái Nguyên, Lạng Sơn can qua rất động" Nạn nhân trực tiếp của những cuộc chém giết ấy là nhân dân Các tập đoàn phong kiến

đã không từ một thủ đoạn nào để vơ vét nhân lực, vật lực của nhân dân để phục vụ cho cuộc tranh chấp quyền lực

Dưới chế độ thực dân phong kiến, nhân dân các dân tộc Việt Bắc hết sức cực khổ Ngoài những nỗi khổ của người dân nghèo

Trang 10

bị áp bức như ở nơi khác, đóng bào nơi đây phải chịu nhiều nỗi nhục riêng Họ phải sống trong tình trạng trình độ văn hoá, khoa học thấp kém, phong tục tập quán lạc hậu và nạn mê tín dị đoan còn rất nặng nề Lợi dụng tình hình này, bọn đế quốc và tay sai ở địa phương dùng cường quyền và thần quyền để cai trị, bóc lột nhân dân

Để dễ bề cai trị, thực dân Pháp ra sức thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc

Chúng xuyên tạc, xúi giục, kích động, gây nên sự hằn thù giữa anh tộc này với dân tộc khác Chúng còn dung túng cho bọn trộm cướp, thổ phỉ tự do hoành hành gây nên bao điều bất hạnh cho nhân dân Đồng bào các dân tộc ít người luôn sống trong nỗi

lo sợ bị hãm hại Bởi vậy, một số dân tộc không thể chịu đựng nổi sự chèn ép, áp bức, dã phải chuyển đến những vùng xa xôi, hẻo lánh để sinh sống

Không cam chịu cuộc đời nô lệ, nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh chống lại cường quyền và áp lực, chống lại các thế lực ngoại xâm

Tờ khi thực dân Pháp xâm lược, các dân tộc Việt Bắc đã đoàn kết cùng nhân dân cả nước liên lục tổ chức đấu tranh Tiêu biểu cho những phong trào đó là cuộc khởi nghĩa của Lương Tuấn Tú ở Cao Bằng (1886 - 1895), của Hoàng Đình Kinh ở Lạng Sơn ( 1886 - 1888), của đồng bào Tày Bắc Cạn do Phùng

Bá Chỉ lãnh đạo (1892 - 1896) và cuộc nổi dậy của đồng bào Mang ở Hà Giang dưới sự chỉ huy của Hà Quốc Trượng ( 1894 - 1896) Đó là không kể đến cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân do các đề, đốc, lãnh binh, thủ lĩnh lãnh đạo, nổ ra khắp vùng Việt Bắc Trong số này, nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa

Thám lãnh đạo kéo dài gần 30 năm (1884 - 1913 ) Do biết dựa vào địa thế hiểm trở của núi rừng Việt Bắc để đánh du kích, phạm vi hoạt động của nghĩa quân Yên Thế lan rộng trong nhiều tỉnh từ Bắc Giang qua Thái Nguyên, Phúc Yêu, Vĩnh Yên lên

Trang 11

Phú Thọ, Tuyên Quang

Trong những năm đầu thế kỷ 20, phong trào đấu tranh vũ trang ở Việt Bắc vẫn phát triển, (rong khi phong trào ở các tỉnh miền xuôi có phần tạm lắng và chuyển sang hình thức khác Năm

1900 nhân dân các dân tộc huyện Quảng Hoà, Hoà An (Cao Bằng) cùng với các sĩ phu yêu nước và hội Tam Điểm của Lưu S Đường đánh đồn Phía Mạ của Pháp ở Nước Hai (Hoà An, Cao Bằng)

Năm 1906 - 1907, Chúng A Dệt - người dân tộc Ngái ở Bằng Khẩu - đã cự tuyệt sự mua chuộc của giặc Pháp, kiên quyết lãnh đạo nhân dân địa phương đấu tranh chống Pháp trong gần 3

năm Năm 1911 - 1912, đồng bào Mông ở Mường Hưu, Mèo

Vạc nổi dậy hoạt động khắp vùng Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang

Cùng thời gian trên nghĩa quân Hoàng Hoa Thám mả rộng địa bàn hoạt động đến vùng Định Hoá Con em đồng bào các dân tộc trong vùng gia nhập nghĩa quân và chiến đấu dũng cảm Ngày 1/4/1912, một cuộc giao chiến ác liệt giữa nghĩa quân và quân pháp diễn ra trên đoạn đường từ Chợ Chu đi Quảng Nạp Tiếp

đó, ngày 13/9/1912 một toán quân Pháp đi càn đã bị nghĩa quân chặn đánh trên đoạn đường từ Chợ Chu đi Chợ Mới

Trong thời gian tiếp theo, các hoạt động chống Pháp ở Việt Bắc vẫn được duy trì Năm 1914, nhân dân Bắc Cạn do Đội Kỳ, Đội Thân và Lý Thảo Long lãnh đạo, nổi dậy đánh chiếm tỉnh lị; sau đó rút vào Lũng Vài để chiến đấu đến cùng với giặc Pháp Ngày 4/8/1916 nhân dân Phố Ngữ (Phú Tiến, Định Hoá) chiến đấu hỗ trợ cho cuộc nói dậy của một đoàn tù nhân bị quân Pháp

áp giải từ nhà lao Thái Nguyên đến nhà lao Chợ Chu (Định Hoá) nổi dậy phá ngục, cướp vũ khí diệt địch, đồng thời tấn công nhà Bưu điện,

Đầu năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, lạo nên bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phát triển của Cách mạng nước ta Phong trào cách mạng ở các vùng dân tộc thiểu số cũng bước vào

Trang 12

thời kỳ mới Một vài nơi ở Việt Bắc lần lượt xác dựng cơ sở Đảng (xem chú thích ở cuối phần phụ lục) và cơ sớ cách mạng Định Hoá (Thái Nguyên) và Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) là những ôm Phương sớm có đảng viên Cộng sản đến hoạt động.Cuối năm 1937, một cơ sở cách mạng ra đời ở Quán Vuông, gồm 7 người, do hai đảng viên (Vũ Hưng và Nguyên Đình Chiêm) lãnh đạo Bước sang năm 1938, cơ sở cách mạng lan sang Bảo Cường Từ Quán Vuông - Bảo Cường, đường dây liên lạc được nối liền với cơ sở La Bằng (Đại Từ)

Tại vùng Sơn Dương, Yên Sơn, ngay từ năm 1935, được sự lãnh đạo của cán bộ cách mạng, nông dân thôn Khe Thuyền (xã Văn Phú) tổ chức đấu tranh chống thuế Năm 1939 vì bị bắt phu làm đường từ xã Thái Bình đi Thành Cóc, đến Chợ Chu, nhân dân các xã Kim Lộng (nay là Tân Trào), Khuổi Phát, Khuổi Chao (Kim Quan) bản Pìlth, bản Pài áo Búc, Khuổi Mòn, Thác Ràng

tổ chức đấu tranh Cơ sở và phong trào cách mạng nhanh chóng lan rộng ra các xã thuộc Sơn Dương và Yên Sơn

Trong thời kỳ vận động Cách mạng tháng Tam ( 1939 - 1945), Việt Bắc là nơi xuất hiện những căn cứ địa đầu tiên, tạo thế đứng cho phong trào cả nước

Cuối năm 1940, căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai hình thành,

và nhanh chóng mở rộng ra các vùng xung quanh, thuộc địa phận các tỉnh tạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang

Đầu năm 1941, ngay sau khi về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Nguyễn ái Quốc đã chọn Cao Bằng làm nơi thí điểm xây dựng các tổ chức Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh Từ một khu vực nhỏ hẹp Nà Xác - Pác Bó - Lục Khu (Hà Quảng), mà trung tâm là Pác Bó, phạm vi căn cứ địa phát triển rộng ra cả các vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn Cuối năm

1943, thông qua những "con đường quần chúng", hai trung tâm căn cứ địa Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai được nối liền với nhau, tạo thành một khu liên hoàn vững chắc Cùng thời gian này, chiến khu Hoàng Hoa Thám ra đời, đánh dấu bước phát triển

Trang 13

mới của phong trào cách mạng ở Việt Bắc Vùng Đại Từ, Định Hoá, Sơn Dương trở thành trung tâm của phân khu B thuộc Chiến khu Hoàng Hoa Thám

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (913/1945), Việt Bắc là nơi

có phong trào phát triển mạnh nhất so với toàn quốc Tại đây, ngay từ những ngày đầu tháng 3, tháng 4 năm 1945, nhiều nơi đã xoá bỏ được chính quyền địch và thành lập chính quyền cách mạng

Ngày 14/3/1945, ủy ban Cách mạng lâm thời châu Sơn Dương thành lập, đánh dấu thắng lợi to lớn của phong trào cách mạng địa phương Sau một thời gian ngắn, chính quyền cách mạng lần lượt ra đời ở Chiêm Hoá, Yên Sơn

Tại Định Hoá, chinh quyền cách mạng cũng được thành lập

từ 28/3/1945

Do chịu ảnh hưởng của các trung tâm căn cứ địa cách mạng Cao - Bắc - Lạng, Bắc Sơn - Võ Nhai và Đại Từ - Đỉnh Hoá - Sơn Dương, phong trào cách mạng ở huyện Chợ Đồn, nhất khu vực phía tây nam, phát triển rất nhanh chóng và vững chắc

Cuối tháng 3/1945 nhân dân các xã trong huyện lần lượt nổi dậy xoá bỏ chính quyền địch và giành quyền làm chủ Đầu tháng 4!1945, Uỷ ban nhân dân lâm thời huyện Chợ Đồn thành lập và ngay sau đó lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống mới

Giữa tháng 4/1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đã

đề ra nhiệm vụ xây đựng Việt Bắc thành khu căn cứ địa kháng chiến kiểu mẫu để mở rộng chiến tranh du kích Ngày 4/6/1945 khu giải phóng chính thức ra đời, bao gồm sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang và một số vùng thuộc các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên Tân Trào (Sơn Dương,

Tuyên Quang) được chọn làm thủ đô khu giải phóng, trở thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước Chính từ nơi đây, Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc ( 14 - 1518/1945 ) và Quốc dân đại hội ( 16 - 17/8/1945) đã quyết định phát động tổng

Trang 14

khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc Cũng chính từ Tân Trào, ngày 16/8/1945, Giải phóng quân tiến về thị xã Thái Nguyên để mở đường về Hà Nội

Theo nghị quyết hội nghị cán bộ Việt Minh (6/1945), khu giải phóng Việt Bắc phải trở thành một khu căn cứ địa vững chắc

về mọi mặt : chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá để làm bàn đạp, giải phóng toàn quốc Trong khu giải phóng, mười chính sách của mặt trận Việt Minh được thực hiện

Chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất của bọn thực dân Pháp và tay sai phản động, các loại công điền, công thổ chia cho dân cày nghèo, vận động đồng bào khai khẩn ruộng hoang, phát triển sản xuất Một số nơi trong khu giải phóng còn tổ chức giúp nhau thóc giống, trâu cày Những nhà có nhiều ruộng đất san xẻ cho những gia đình thiếu ruộng để cùng sản xuất Chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh cũng hướng dẫn nhân dân cấy đúng kỹ thuật, đảm bảo đủ phân, nước để nâng cao sản lượng Trong khu giải phóng, mỗi châu, huyện đều thành lập một Ban giáo viên chính trị Ban này có nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương, chính sách của Uỷ ban chỉ huy khu giải phóng, của Mã trận Việt Milth, đồng thời đi xuống các xã mở các lớp huấn luyện ngắn ngày Mỗi xã có một nhà Hội đồng Cứu quốc Cứ 15 ngày một lần, dân chúng đều được nghe nói chuyện về tình hình nhiệm

vụ cách mạng hoặc bàn giao các công việc ở địa phương Khắp nơi trong khu giải phóng đều tràn ngập bầu không khí sinh hoạt chính trị sôi nổi Hoạt động tuyên truyền được đẩy mạnh Báo chí phát hành rộng rãi và trở thành một nhu cầu của nhân dân Châu nào cũng có một tờ báo địa phương Toàn khu có tờ "Nước Nam mới", "Quân giải phóng"; Cao - Bắc - Lạng có tờ "Việt Nam độc lập"

Sự nghiệp văn hoá, giáo dục được quan tâm Nhiều trường cấp I được mở hoặc phục hồi Riêng Chợ Đồn, nơi có phong trào giáo dục mạnh nhất lúc đó, mở 5 lớp học cho con em đang vào Dao ở vùng Cốc Phường, Nà Pa (Quảng Bạch), Kéo Màng (Bản Thi), Nà Đeng nghĩa Tá), Bản Ca (Bình Trung)

Trang 15

Để đáp ứng phèng trào giáo dục nhiều nơi trong khu giải phóng mờ các trường, lớp đào tạo giáo viên Trường sư phạm sơ cấp cứu quốc đảo thành lập ở Chiêm Hoá (Tuyên Quang), đào

tạo được 35 giáo viên; ở Chợ Đồn (Bắc Cạn) đào tạo được hơn

40 giáo viên Hầu hết các huyện phủ, châu đều có một đội văn nghệ ờ một số nơi như: Chiêm Hoá, Yên Sơn, Sơn Dương, Chợ Đồn các đội văn nghệ được trang bị các loại nhạc cụ Đội văn nghệ đi xuống các xã gày dựng phong trào và dạy các bài ca cách mạng cho nam nữ thanh niên (63, 65) Thông qua đó, thanh niên được hướng dần vào các hoạt động cách mạng Cuộc sống mới được nhen nhóm và phát triển nhanh chóng, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại ánh sáng cách mạng toả khắp vùng Việt Bắc và đem lại những đổi thay sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc Truyền thống đoàn kết, thuỷ chung, kiên cường bất khuất hình thành qua nhiều thế kỷ đấu tranh chống giặc ngoại xâm, càng được phát huy cao

cả nước Vùng đất 4 huyện có đầy đủ các yếu tố: địa lợi và nhân hoà, vừa nằm sâu trong khu căn cứ địa Việt Bắc, lại vừa có điều kiện thông thương với vùng trung du và đồng bâng Trung ương Đăng và Chính phủ đã phát hiện ra nơi đây có đủ những điều kiện cần thiết của một An toàn khu vững chắc của cơ quan đầu não kháng chiến

II SỰ RA ĐỜI CỦA AN TOÀN KHU TRUNG ƯƠNG TRONG CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC

Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (1419/1946) ký chưa ráo mực, thực dân Pháp đã ngang nhiên bội ước Chúng liên tiếp gây ra các vụ khiêu khích và xâm lược ngày càng trắng trợn Cùng với vụ đánh chiếm Hải Phòng (20/11/1946), quân

Trang 16

Pháp tấn công ta ở Lạng Sơn Với việc đánh chiếm hai cửa ngõ đường biển và đường bộ quan trọng này, thực dân Pháp đã thực

sự bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn đối với miền Bắc nước ta

Trước tình hình ấy, ngay từ tháng 10 - 1946, Hội nghị quân

sự toàn quốc của Đảng đã nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình, và mình cũng nhất định phải đánh Pháp" (134.64) Trung ương Đảng kêu gọi toàn dân "Sẵn sàng chiến đấu để tự vệ bất cứ lúc nào và chỗ nào"

Ban Thường vụ Trung ương Đảng tập trung chỉ đạo cả nước chuẩn bị bước vào chiến tranh

Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trong khi tiềm lực kinh tế quân sự còn nhỏ yếu, sức dự trữ kháng chiến rất mỏng manh Ngược lại, thực dân Pháp có một đội quân viễn chinh nhà nghề giầu kinh nghiệm đi xâm lược, được trang bị vũ khí hiện đại Nước Pháp là một cường quốc tư bản có nền công nghiệp phát triển, nên tiềm lực kinh tế và quân sự rất mạnh

Trong điều kiện đổ, muốn giành được thắng lợi, chúng ta không thể : "Đem toàn lực dốc vào một vài trận hòng phân thắng bại", mà phải có thời gian để chuyển hoá lực lượng Đánh lâu dài thì bên trong nhân dân đoàn kết, đồng lòng kháng chiến; bên ngoài, nhân dân thế giới càng hiểu rõ sự nghiệp chính nghĩa của

ta, càng ra sức ủng hộ ta Đánh lâu dài, chúng ta mới có điều kiện bồi dưỡng và phát triển lực lượng, chuyển thiếu thành đủ, chuyển yếu thành mạnh Ngược lại, địch đánh lâu dài thì mục đích chiến tranh phi nghĩa của chúng càng lộ rõ và do đó sẽ bị nhân dân Pháp và nhân dân thế giới lên án, lực lượng của chúng bị tiêu hao

và tiêu diệt, mệt mỏi, tử mạnh chuyển thành yếu, từ thắng chuyển thành bại

Đảng ta coi kháng chiến lâu dài là bí quyết của thắng lợi Điều kiện cơ bản để thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài

là phải bảo tồn và phát triển lực lượng kháng chiến, đồng thời phải xây dựng được nền kinh tế có khả năng tự túc, tự cấp Muốn

Trang 17

vậy, điều quan trọng là phải xây dựng được những khu căn cứ vững chắc, an toàn, không chỉ có địa hình thuận lợi, mà phải có

cơ sở và phong trào quần chúng vững mạnh

Lịch sử dân tộc và kinh nghiệm thành công của Cách mạng tháng Tám đã nót lên tầm quan trọng của căn cứ địa Các căn cứ địa lúc bấy giờ, nhất là khu giải phóng Việt Bắc, là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo, là chỗ dựa vững chắc để duy trì

và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, để giữ vững và mở rộng chiến tranh du kích cục bộ, thúc đẩy cao trào kháng Nhật cứu nước, góp phần quan trọng đưa cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đến thắng lợi hoàn toàn

Khi cả nước bước vào kháng chiến, vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Trong điều kiện ấy, không thể không nói đến vấn

đề căn cứ địa cách mạng, vấn đề hậu phương của chiến tranh cách mạng "Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng lực lượng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang cách mạng, trên ý nghĩa đó,

nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng" (47.l05)

Trong hoàn cảnh chiến tranh ngày càng lan rộng, hầu hết các thành phố, thị xã, các đường giao thông quan trọng đang lần lượt bị thực dân pháp chiếm đóng, thì vấn để giữ nông thôn, xây dựng những vùng đất tự do đối với kháng chiến lại càng trở nên cần thiết Trên những vùng đất tự do ấy, phải tạo dựng được những khu an toàn, chắc chắn và tiện lợi nhất cho việc đặt cơ quan đầu não để lãnh đạo mọi hoạt động kháng chiến - kiến quốc trong cả nước Điều này càng trở nên quan trọng khi mà kẻ thù đang có âm mưu và kế hoạch đánh úp cơ quan đầu não kháng chiến hòng nhaanh chóng kết thúc chiến tranh

Bởi vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, với tầm nhìn chiến lược sáng suốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân công Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa

Trang 18

Cuối tháng 10 năm 1946, Trưởng ban tài chính Trung ương Đảng Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc

để chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến Một số địa điểm thuộc huyện Định Hoá, Nam Chợ Đồn được chọn làm nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ trong trường hợp phải rời khỏi thủ đô Hà Nội

Tháng 11/1946, Trung ương Đảng quyết định thành lập dội công tác đặc biệt, do Trần Đăng Ninh phụ trách Đội gồm đại biểu các ngành quân sự, an ninh, chính quyền đoàn thể, chuyên

lo việc nghiên cứu di chuyển và chọn địa điểm an toàn đặt các cơ quan Trung ương Công việc chuẩn bị cho các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận rời khỏi thủ đô Hà Nội cũng được đẩy mạnh, nhất là từ sau vụ thực dân Pháp gây hấn ở Hải Phòng và Lạng Sơn

Giữa tháng 1211946, một số cán bộ trong Độ công tác đặc biệt lần lượt lên vùng Việt Bắc làm nhiệm vụ Sau một thời gian khảo sát thực tế, cân nhắc kỹ mọi mặt, Đội quyết định chọn địa phận các huyện: Định Hoá, Đại Từ, Võ Nhai, Phú Lương (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Cạn), Sơn Dương, Yêu Sơn, Chiến Hoá (Tuyên Quang), mà trung tâm là Định Hoá, Chợ Đồn, Sơn Dương, Yên Sơn, làm nơi xây dựng An toàn khu (ATK) của Trung ương

Cùng thời gian trên, các cơ quan Trung ương rời khỏi Hà Nội, chuyển dần về phía Tây Nam, thuộc địa phận các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây

Trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trụ sở làm việc tại các địa điểm: Vạn Phúc (Hà Đông), Viên Nội (Thanh Oai, Hà

Đông), Chùa Thầy, Cần Kiệm (Quốc Oai, Sơn Tây) Phần lớn các cơ quan, cơ sở hậu cần quân đội được chuyển ra vùng ven các thành phố, thị xã, rồi chuyển dần lên Việt Bắc

Ngày 26/12/1946, giữa lúc Hà Nội đang rực lửa chiến đấu, tại một địa điểm thuộc Hà Đông, Hội đồng Chính phủ họp phiên

Trang 19

mở rộng Sau khi nghe báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng, mọi người đều tán thành kháng chiến đến cùng để giành lại nền độc lập hoàn toàn cho dân tộc

"Trong một gian phòng kín, bốn bề im lặng, dưới ánh sáng nhỏ của ngọn đèn dầu, sau lời tuyên bố quyết chiến của Hồ Chủ tịch, tất cả nắm tay giơ lên, biểu dương tất cả ý chí của cả dân toạ, (51.5)

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi công tác ở Thanh Hoá (19/2/1947), Chính phủ ra quyết định chọn Việt Bắc làm chiến khu (51.40)

Hàng vạn trấn máy móc, nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm từ những vùng địch có thể đánh chiếm, được vận chuyển

về các khu vực an toàn Quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khổ khăn, gian khổ để hoàn thành việc di chuyển trước khi chiến

sự lan tới

Trong hoàn cảnh chiến tranh ngày càng lâu rộng và ác liệt,

để đảm bảo thực lực kháng chiến lâu dài, Trung ương đặc biệt coi trọng việc dự trữ gạo, muối là hai khu cần thiết yếu nhất

Nha tiếp tế (thuộc Bộ kinh tê) chuyên lo việc thu mua và dự trữ thóc gạo Bộ Tài chính đặt kho dự trữ thóc gạo ở nhiều địa phương Cục quân nhu cũng lập được hệ thống kho dự trữ ở các tỉnh: Hà Đông, Ninh Bình, Sơn Tây, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang

Cơ quan phân tán muối cũng được thành lập, trực thuộc Bộ Tài chính, có nhiệm vụ tổ chức vận chuyển muối thuế của Nhà nước và muối thu mua trên thị trường tự do về các địa điểm an toàn

Cùng thời gian trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Trưởng ban tài chính Nguyễn Lương Bằng chuyển gần hai vạn tấn muối từ kho Văn Lý (Nam Định) lên Việc Bắc và Tây Bắc trước khi địch đánh chiếm vùng duyên hải (59.68)

Công việc vận chuyển muối được tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ Đội vận chuyển muối được thành lập và khẩn trương nghiên cứu

Trang 20

chu đáo đường vận chuyển Từ ngày 25/12/1946, công việc vận chuyển muối bắt đầu được triển khai Từ Văn Lí, muối được chuyển ngược dòng sông Đáy vào Vân Đình lên Ba Thá, qua sông Bùi đến cầu ái Mỗ (Sơn Tây), rồi ngược dòng sông Hồng lên Phú Thọ, Tuyên Quang; và tiếp tục chuyên chở lên Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Cầu, Cao Bằng Riêng Cục quân nhu (Bộ Quốc phòng) cũng chuyển được trên 400 tấn muối, 2,5 triệu mét vải, 3000 bao tải bằng và nhiều tấn sợi lên căn cứ địa Việt Bắc (62.91)

Việc hoàn thành vận chuyển muối là một trong những thắng lợi quan trọng trong quá trình chuẩn bị xây dựng ATK Trung ương ở Việt Bắc Nó đảm bảo cung cấp đầy đủ muối ăn cho cán

bộ, bộ đội và nhân dân tại khu căn cứ ngay cả khi địch đánh chiếm miền duyên hải

Các máy móc, vật tư, các cơ quan y tế, giáo dục cũng được nhanh chóng chuyển lên căn cứ Một khối lượng lớn máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu thuộc các tỉnh Ninh Bình trở ra, được đưa về Phủ Lạng Thương, ứng Hoà và chuyển dần lên Việt Bắc theo các tuyến đường: Hoà Bình - Hưng Hoá - Tuyên Quang

- Chiêm Hoá; Phủ Lạng Thương lên Thái Nguyên - Chợ Chu - Chợ Đồn Trong đợt tổng di chuyển đầu tiên, ta đã đưa lên căn cứ địa Việt Bắc gần 40.000 tấn máy móc; nhờ vậy mà xây dựng được 57 cơ sở sản xuất khi toàn quốc bước vào kháng chiến Kho bạc từ gà Nội cũng được kịp thời chuyển ra Chi Nê, sau đó lên Đầm Hồng, Bản Thi (62.91)

Đầu năm 1947, đợt tổng di chuyển hoàn thành Háu hết các

cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, Quân đội, các

cơ quan kinh tế, văn hoá, giáo dục đều lần lượt rời khỏi Thủ đô lên Việt Bắc Đó đồng thời cũng là quá trình thực hiện kế hoạch nghi binh, đánh lạc hướng các mũi săn lùng của địch Trong lúc địch đang chú ý vào hướng Tây Nam Hà Nội thì cơ quan Trung ương Đảng và nhà nước bí mật "thiên đô" lên hướng tây Bắc (62 160) Nhờ vậy, từ cuối tháng 3, đầu tháng 4/1947, các cơ quan

Đảng, Nhà nước, Quân đội đã có mặt tại các địa điểm trong

Trang 21

khu căn cứ địa Việt Bắc và ATK

Cơ quan Trung ương Đảng và Tổng Bí thư Trường Chinh đóng ở Nà Mọn (Phú Đình, Định Hoá) Đồng Man (Tân Trào, Sơn Dương) Khuổi Linh (Nghĩa Tá, Chợ Đồn), Phụng Hiển (Điềm Mặc, Định Hoá)

Cơ quan của Chính Phủ và nơi làm việc của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng ở bản Vèn (Lương Bằng, Chợ Đồn), Thẩm Khảm, Thẩm Giặc (Phú Đình, Định Hoá), Làng Thía (Tân Trào, Sơn Dương)

Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy và địa điểm làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tại bản Nà Phày (Bình Trung, Chợ Đồn), xóm Đồng Chua (Thanh Định, Định Hoá), xóm Gốc Hồng (Quy Kì, Định Hoá), xóm Khẩu Háu, Khẩu Tràng (Điềm Mặc, Định Hoá), Bảo Biên (Bảo Linh, Định Hoá)

Bộ Tổng tham mưu đóng tại Tổng Quận, bản Tuấn (Khuất Ang, Chợ Đồn), Đồng Đau (Định Biên, Định Hoá), Phú Đình, Qui kì, Bình Yên, Quảng Nạp (Định Hoá), Tràng Xá (Võ Nhai) Xưởng quân giới được xây dựng ở khu vực xổm Hồng Hoàng (Trung Lương, Định Hoá), xóm Nong Nia (Định Biên Định Hoá) Du Nghệ (Đồng Thịnh, Định Hoá)

Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam ở hai khu vực: Tổng đài thu ở Khuổi Đó (Nghĩa Tá, Chợ Đồn) Tổng đài phát ở Nà Đàm (Lương Bằng, Chợ Đồn) ( thời gian trước năm 1949, Đài phát thanh đóng tại Puông, thuộc bản Pác Ngoi (Khang Ninh, Chợ Rã)

Các nhân sĩ, trí thức giầu lòng yêu nước cũng rời khỏi Thủ

đô, trèo đèo, lội suối lên Chiến khu tham gia kháng chiến

Chủ tịch Hồ chí Minh chuyển về phía Tây Nam Hà Nội từ những ngày đầu kháng chiến Mờ sáng 4/3/1947, Người rời Sơn Tây, qua bến Trung Hà sang đất Phú Thọ trên đường di chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc Cùng đi với Người, có tám cán bộ (l14.25) vừa làm cảnh vệ, vừa làm liên lạc và cấp dưỡng Đồ dùng của Người mang theo gồm có: chăn, màn, vài bộ quần áo,

Trang 22

đôi dép cao su, chiếc máy chữ và ít tài liệu, sách báo đựng trong chiếc túi nhỏ

Từ ngày 2/4 đến 19/5/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tại làng Xảo (xã Hợp Thành, Sơn Dương) Lúc đầu Người ở tạm trong nhà dân, sau ra ở trong một chiếc lán lợp mái lá, vách che liếp, do anh em phục vụ làm Trong khu vực lán, Người tăng gia, trồng bí đỏ (78.76) Tại đây, Người chủ trì cuộc Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng (từ ngày 3 đến 6/5) và sau đó là cuộc họp Hội đồng Chính phủ ( 15/5 ) bàn về vấn đề ngoại giao với Pháp và xác định quyết tâm đánh Pháp đến cùng

Từ ngày 20/05/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển về xã Điềm Mặc (Định Hoá) và ở đó cho đến 11/19/1947 Lán của Người được dựng ở khu đồi Khau Tý (thôn Nữ Tra) Từ dây, có con đường mòn đi Sơn Dương, xuống Đại Từ, lên Chợ Đồn, ra Phú Lương và nhiều đường tắt đi lại kín đảo, thuận tiện Chính tại nơi đây, Người viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", dùng làm tài liệu tu dưỡng tư tưởng đạo đức và tác phòng cho cán bộ, đảng viên

Để đảm bảo bí mật - một trong những nguyên tắc cao nhất trong thời kỳ kháng chiến - Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo cao cấp phải thường xuyên thay đổi địa điểm Chỉ trong vòng hơn một tháng, từ giữa tháng 11/1947 đến 29/11/1947, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã phải 4 lần chuyển nơi ở và nơi làm việc: Khuôn Tát (Phú Đình) từ ngày 20/11/1947 đến 28/11/1947; Khuôn Đào, Trung Yên (Sơn Dương) từ 29/11đến 3/12/1947; Khuất Tấu (Hùng Lợi, Yên Sơn) từ 4/12 đến 7/12/1947; Bản Ca (Bình Trung, Chợ Đồn) từ 10/12 đến 29/12/1947

Ngoài những địa điểm kể trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn ở

và làm việc tại Nà Lọm (Phú Đình, Định Hoá) Từ 7/3 đến 12/9/1948 và cuối 1951 - 1952; Lũng Tấu (Tân Trào, Sơn Dương) từ 12/9 đến 16/12/1948 và từ 10/1/1949 đến 6/4/1949 ; Trung Trực (Yên Sơn) từ 19/12/1948 đến 10/1/1949; Khau Lấu (Tân Trào, Sơn Dương) Từ 6/4 đến 12/5/1949 và từ 1/6 đến 16/10/1949; bản Pèo (Phú Đình, Định Hoá) từ 12/5 đến

Trang 23

l/6/1949;Hang Bòng (Tân Trào, Sơn Dương) từ 17110/1949 đến 119/1950, từ 10/10/1950 đến 4/2/1951và từ 20/2/1951đến 30/12/1952 Chỗ ở của Người thường là:

"Trên có núi, dưới có sông,

Có đất ta trong,

Có bãi ta vui,

Tiện đường sang:Bộ Tổng,

Thuận lối đến Trung ương,

Nhà thoáng, ráo, kín mái,

Gần dân, không gần đường".(l 14.27,28)

Vậy là từ mùa xuân 1947, trên vùng miền núi Việt Bắc đã hình thành An toàn khu (ATK) Trung ương, chủ yếu nằm trên địa bàn các huyện: Định Hoá (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Cạn), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) Trong những khu rừng xanh biếc, lẩn khuất giữa các bản làng miền núi, "có cả một bộ máy của một Nhà nước kháng chiến hoạt động Hàng ngày, hàng giờ, cái bộ máy ấy nhẫn nại vận hành với một niềm tin không lay chuyển vào thắng lợi cuối cùng" Đó chính là sức mạnh đem lại chiến thắng từng bước và sau 9 năm làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu

Cùng thời gian trên, nhằm bảo tồn lực lượng để kháng chiến lâu dài, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, các cơ quan lãnh đạo của các khu, các tỉnh được chuyển tới vùng an toàn nằm sâu trong các vùng tự do

Tại Hà Nội, khi địch bắt đầu thiết lập những phòng tuyến bảo vệ thành phố, để tạo ra hậu phương tại chỗ, bốn huyện: Thanh Trì, Thanh Oai, Hoài Đức, Đan

Phượng thuộc Hà Đông cắt về khu XI Khu XI chia ngoại thành làm ba quận: sáp nhập khu Lãng Bạc với khu Đại La thành quận IV; khu Mê Linh với khu Đề Thám thành quận VI; Khu Đống Đa là quận V Các cơ quan lãnh đạo của quận đều năm trên đất bốn huyện (75.261)

Trang 24

Tại Nghệ An, Tỉnh uỷ và Liên hiệp công đoàn huy động công nhân chuyển gần 2 vạn tấn máy móc, dụng cụ lên miền tây của tỉnh, lập các xưởng trong khu an toàn của các huyện Thanh Chương, Đô Lương, Nghĩa Đàn

Chiến khu D có Hố Ngãi Hoang trong khu rừng Tân Uyên, nơi đặt cơ quan lãnh đạo khu VII (38.26)

Như vậy, lừ ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, không chỉ

ở Việt Bắc, mà nhiều địa phương khác cũng đều xây dựng được các An toàn khu Đó là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi nhất nằm sâu trong vùng tự do để đặt các cơ quan lãnh đạo kháng chiến Việt Bắc là nơi đặt các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Chính phủ, Mặt trận và quân đội Bởi vậy, vùng này là An toàn khu Trung ương, là đầu não của cuộc kháng chiến Chính từ nơi đây, mọi chủ trương, nghị quyết được phát đi trong cả nước, chỉ đạo mọi mặt hoạt động của kháng chiến

Sự hình thành An toàn khu Trung ương ở Việt Bắc là một trong những bước chuẩn bị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đố toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cho đến ngày thắng lợi

Trang 25

Chương II XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ AN TOÀN LUẬT TRUNG

Trong thời kỳ đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, cũng như trong những tháng đầu toàn quốc kháng chiến, tại Việt Bắc nói chung và vùng An toàn khu nói riêng, công tác xây dựng Đảng chưa được tiến hành mạnh mẽ, đồng bộ

Yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đòi hỏi Đàng

ta phải : "mang toàn bộ tinh thần cách mạng mà khắc phục các khuyết điểm, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nội bộ, mở rộng hàng ngũ, chấn chỉnh cổng tác để lãnh đạo toàn dân hăng hái kháng chiến, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang" (133.72)

Vì vậy cùng với công tác giáo dục chính tư tư tưởng, nâng cao chất lượng đảng viên, việc phát triển tồ chức Đảng ở các cấp, các ngành cũng được quan tâm Ngày 28/7/1947, Ban Thường

vụ Trung ương Đảng ra bản chỉ thị về việc phát triển đảng viên

"Lớp tháng Tám" Hàng nghìn công nhân, nông dân, trí thức cách mạng và chiến sĩ lực lượng vũ trang ưu tú gia nhập Đảng

Tại các địa phương trong vùng An toàn khu sau khi có chỉ

thi về việc tổ chức "Lớp tháng Tám", đội ngũ đảng viên cũng tăng lên rất nhanh Riêng huyện Định Hoá, đến tháng 9/1947, số đảng viên đã tăng hơn 2 lần so với cuối năm 1946 (70.166) Huyện Chợ Đồn đến cuối tháng 3/1949 đã có 267 đàng viên, chiếm số đông nhất trong toàn tỉnh Bắc Cạn (7.2)

Trang 26

Tại Yên Sơn, năm 1947, tất cả 7 xã trong An toàn khu mới

có 1chi bộ ghép., đến năm 1948 được tách ra thành 3 chi bộ độc lập (73.37) ở Sơn Dương, cuối năm 1947 toàn Đảng bộ có 50 đảng viên sinh hoạt trong 6 chi bộ; đến tháng 5/1948 tăng lên 11chi bộ, với 90 đảng viên; và cuối năm này là 16 chi bộ với 320 đảng viên Việc bổ sung đội ngũ đảng viên có tác dụng phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đến tận cơ sở, thúc đẩy mọi hoạt động ở các địa phương trong vùng An toàn khu

Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác, công tác phát triển Đảng trong vùng An toàn thu đã bộc lộ một số hạn chế Do chưa quán triệt đầy đủ chủ trương của Trung ương Đảng, nhiều

cơ sở Đảng phát triển theo chỉ tiêu hình thức, chưa chú trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng, kiểm tra; nặng về số lượng mà không coi trọng đúng mục Chất lượng Điều này đã ảnh hưởng không tốt đến uy tín và năng lực chỉ đạo của cơ sở Đảng ở các địa phương

Nhằm khắc phục hạn chế trên, được Sự giúp đỡ của các cơ quan Trung ương đóng tại địa phương, trực tiếp là cán bộ biệt phái bên cạnh cấp uỷ, các cấp Đảng bộ mở hội nghị bàn về công tác phát triển Đảng Thông qua đó, các Đảng bộ đã có chủ trương đúng đắn, không chỉ coi trọng việc xây dựng cơ sở Đảng vững mạnh ở khu vực trung tâm, mà còn chú ý phát triển Đảng ở các khu vực ngoại vi An toàn khu, ở những nơi phong trào chưa mạnh, các vùng cao, vùng sâu

Trong công tác phát triển Đảng, các cấp uỷ Đảng quan tâm đến những quần chúng xuất thân từ thành phần cơ bản, có thành tích trong chiến đấu, sản xuất, biết kết hợp chặt chẽ việc phê bình, kiểm điểm, động viên khen thưởng với việc xử lý kỷ luật nghiêm túc dối với những đảng viên vi phạm khuyết điểm Riêng Đảng bộ Sơn

Dương, từ năm 1947 đến năm 1950, số đảng viên tăng từ

50 lên tới 1021người; những trong năm 1949 đã có 56 đảng viên

bị xử lý kỷ luật (72 31)

Trang 27

Công tác củng cố tổ chức trong các Đồng bộ cúng dược đẩy mạnh Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các Tỉnh uỷ, Ban chấp hành Đảng bộ các huyện trong vùng An toàn khu nhanh chóng kiện toàn các Ban Tuyên huấn, Đảng vụ; thành lập các Ban Thanh tra, Dân vận, Kinh tế - Tài chính Có nơi còn đề ra chỉ tiêu phấn đấu cho toàn Đảng bộ là mỗi xã phải xây dựng được một chi bộ, mỗi xóm có một tổ Đảng; phải củng cố các xã vững mạnh, thực sự trong sạch để xứng đáng là khu an toàn của cuộc kháng chiến

Sự nghiệp kháng chiến - kiến quốc càng phát triển thì yêu cầu chỉ đạo mọi mặt công tác ở địa phương ngày càng tăng lên

Để đáp ứng yêu cầu ấy, Đảng bộ trong vùng An toàn khu rất chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ thuộc dân tộc ít người Nhiều cán bộ được theo học các lớp chính trị, nghiệp vụ và văn hoá Chỉ tính riêng Đảng bộ Yên Sơn, trong năm 1950 đã mở 15 lớp bổ túc văn hoá cho 454 đảng viên, 21lớp

lý luận sơ giải cho 353 cán bộ, 38 đảng viên được cử đi học lớp đào tạo, bồi dưỡng chi uỷ viên do Huyện uỷ tổ chức (73.42) Tại Sơn Dương, trong tổng số 1021đảng viên (năm 1950), có 1004 người được tham gia các lớp huấn luyện, 675 người được theo học bổ túc văn hoá (72.31) Huyện Chợ Đồn tổ chức 5 giờ học chính trị và 2 giờ học văn hoá cho cán bộ, nhân viên các cơ quan

có trình độ văn hoá lớp 4; 2 giờ học chính trị và 5 giờ học văn hoá cho những cán bộ có trình do lớp 3 (12.5) Nhờ đó, trình độ

lý luận và phương pháp công tác của cán bộ cơ sở được nâng cao dần Số chi bộ đạt tiêu chuẩn "Chi bộ tự động" (xem chú thích cuối phần phụ lục) cũng tăng lên

Từ sau chiến thắng Biên giới thu - đông 1950, cục diện chiến tranh thay đổi có lợi cho ta Quân đội ta đã giành được quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính (Bắc Bộ) Biên giới Việt - Trung được khai thông Các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới ủng hộ mạnh mẽ cuộc kháng chiến của nhân dân ta Đó là những thuận lợi mới của cuộc kháng chiến

Trong bối cảnh lịch sử ấy, Đảng ta quyết định triệu tập Đại

Trang 28

hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai (2/1951) Đại hội Đảng được tổ chức tại xã Vĩnh Quang (Chiêm Hoá, Tuyên Quang), với sự tham gia của 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết Tỉnh uỷ Tuyên Quang và Huyện uỷ Chiêm Hoá đã trực tiếp chỉ đạo công tác bảo vệ và hậu cần trong suốt thời gian tổ chức Đại hội Đại hội Đảng lần thứ 11dã thông qua những quyết nghị quan trọng,

có tác dụng thúc đẩy sự nghiệp kháng chiến trong cả nước nhanh chóng đi tới thắng lợi

Tháng 3/1951, cũng tại Chiêm Hoá, đã diễn ra Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt và Hội nghị liên minh ba nước Đông Dương

Tất cả những sự kiện trên đều có ảnh hưởng trực tiếp dền hoạt động mọi mặt của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong ATK

Sau Đạt hội Đảng toàn quốc lần thứ hai, các Đồng bộ địa phương lần lượt tổ chức Đại hội các cấp, vạch rõ nhiệm vụ của địa phương trong sự nghiệp kháng chiến - kiến quốc nói chung và trong công tác xây dựng và bảo vệ ATK nói riêng Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng được tăng cường Ngoài các đợt sinh hoạt chính trị, các buổi học tập, thảo luận trong và ngoài Đảng nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho đảng viên và quần chúng, các cấp uỷ Đảng còn chăm lo xây dựng và phát huy vài trò, chức năng của Ban Thông tin - vãn hoá hoá ở địa phương Phần lớn các Ban Thông tin - văn hoá xã hội đều do đảng viên phụ trách Các buổi phát thanh lưu động, phát thanh buổi tối, các buổi nói chuyện về tình hình thời sự trong nước và thế giới thường xuyên được tổ chức, góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng và Chính phủ Thông qua các hình thức tuyên truyền, giáo dục, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc địa phương càng hiểu rõ hơn trách nhiệm và vinh dự của mình trong việc xây dựng và bảo vệ ATK kháng chiến

Để tạo ra cơ sở chính trị thực sự vững chắc ở địa phương, bảo đảm cho sự tồn tại của ATK, vấn đề củng cố, kiện toàn bộ

Trang 29

máy chính quyền và đoàn thể quần chúng trở thành một nhiệm vụ hàng đầu

Sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thực hiện chủ trương của Trung ương, các Đảng bộ đã lãnh đạo việc chuyển Uỷ ban báo vụ thành Uỷ ban kháng chiết đồng thời lập trung chỉ đạo củng cố và kiện toàn Uỷ ban hành chính các cáp Những cán bộ, Đảng viên có năng lực và phẩm chất, tư cách, được giao trọng trách trong bộ máy chính quyền

Cuối năm 1947, Đảng bộ các cấp trong ATK chú trọng chỉ đạo nhanh chóng việc hợp nhất Uỷ ban hành chính và Uỷ ban kháng chiến thành Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương được tổ chức đúng nhiệm kỳ, tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân các dân tộc Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền

và đoàn thể được quan tâm đúng mức Hàng năm cán bộ từ xã đến huyện, tỉnh đều được cử theo học các lớp huấn luyện do Tỉnh hoặc Liên khu mở

Trong quá trình xây dựng và phát triển cơ sở Đảng, củng cố

và kiện toàn bộ máy chính quyền, đoàn thể quần chúng các cấp, các địa phương trong ATK luôn lthận được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, Khu uỷ và sự giúp đỡ to lớn của các cơ quan Trung ương Việc dìu dắt Đảng bộ và chính quyền địa phương thuộc ATK được coi là một nhiệm vụ của các cơ quan Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh chì thị cho Ban căn cứ địa Trung ương cử cán bộ có năng lực, có trách nhiệm phối hợp với cấp uỷ địa phương giải quyết những công việc hàng ngày có liên quan đến

khu căn cứ Trung ương Động cũng chỉ thị cho các cơ quan, xí

nghiệp, các đơn vị bộ đội đóng quân ở xã nào, phải cử cán bộ giúp đỡ xã đổ xây dựng phong trào, củng cố cơ sở Một số cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng và Chính phủ, dù bận rộn công tác chuyên môn vẫn bố trí thời gian tham dự các cuộc hội nghị

xã bộ, huyện bộ ở địa phương, tham gia ý kiến giúp cho Đảng bộ

và chính quyền địa phương giải quyết được nhiều việc khó (51.361)

Trang 30

Trung ương Đảng thường xuyên có những chỉ thị kịp thời cho các cấp bộ Đảng và chính quyền về công tác dân vận trong căn cứ địa nói chung và ATK nói riêng: "Việt Minh, Liên Việt và các ngành nông, thanh, phụ phải có kế hoạch phối hợp với các cáp tỉnh (cỏ nhiều cơ quan đóng) một cách thiết thực" ( 108.9); phải "tăng thêm cán bộ, bố trí cán bộ, đào tạo cán bộ địa phương

và huấn luyện hội viên, phải tuyên truyền, giải thích chủ trương của đoàn thể và Chính phủ về việc xây dựng căn cứ địa để tránh quan niệm sai lầm của nhân dân khi thấy nhiều cơ quan tới đóng Giải thích cho nhân dân hiểu rõ mỗi khi có cơ quan tới đóng ở địa phương là một điều vinh dự và họ có nhiệm vụ giúp

đỡ " (l08.9)

Được sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan Trung ương, cùng với sự vững mạnh của bộ máy chính quyền, các tổ chức quần chúng phát triển nhanh chóng, ngày càng tập hợp đông đảo quần chúng tham gia vào các hoạt động kháng chiến Tính riêng huyện Sơn Dương trong năm 1948, số hội viên Cứu quốc trong thanh niên, phụ nữ, nông dân, đã lên tới gần một vạn người (72.32)

Bằng sự quan tâm giúp đỡ có hiệu quả, các cơ quan Trung ương đóng tại ATK thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy của các tổ chức Đảng, Chính quyền và đoàn thể quần chúng ở địa phương Mối quan hệ giữa các cơ quan Trung ương với đồng bào các dân tộc trong vùng ATK vì vậy ngày càng gắn bó

2 Kinh tế - xã hội

Trong hoàn cảnh bị địch bao vây, phong tỏa và tìm mọi cách ngăn chặn sự thông thường giữa Việt Bắc với các vùng tự do khác, vấn đề xây dựng kinh tế tự cấp tự túc trở thành một nội dung đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng ATK

Do đặc điểm của địa hình miền núi, ruộng đất canh tác ở các địa phương thuộc phạm vi ATK không nhiều, lại phân tán, manh mún và lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, cho nên sản lượng lương thực thường thấp kém Các trận mưa lũ trong năm 1947, 1950,

Trang 31

1953 ở một số vùng đã gây thiệt hại lớn đối với sản xuất Chỉ riêng trận lũ năm 1953 đã phá huỷ phần lớn hệ thống mương phai trong toàn huyện Định Hoá

Đập nước Tân Dương cũng bị phá huỷ gần như hoàn toàn Sau trận lũ là hạn hán kéo dài, làm cho hàng trăm mẫu lúa và hoa màu bị thất thu (70 142)

Sự thiệt hại do địch gây ra đối với nhiều địa phương trong vùng cũng rất lớn

Trong cuộc tấn công vào căn cứ địa Việt Bắc thu - đông

1947, giặc Pháp càn quét vào một số vùng thuộc khu vực ATK Hàng trăm mẫu lúa đang độ thu hoạch ở Bạch Thông, Định Hoá, Yên Sơn bị địch tàn phá rất nặng nề Trong những năm sau, giặc Pháp cho máy bay phá hoại hệ thống thuỷ nông, bắn giết trâu bò, càng làm cho sản xuất nông nghiệp ở đây gặp nhiều khó khăn Chỉ trong 5 tháng, từ cuối 1947 đến 1948 tình chung tỉnh Bắc Cạn và Thái Nguyên có 3997 con trâu, bò bị địch giết hại Riêng huyện Định Hoá, từ 1947 đến 1950, máy bay địch đã dội xuống 1723 quả bom từ 100 kg trở lên, 104 quả bom napan, làm chết 105 người, làm bị thương 88 người; 173 con trâu, 22 con ngựa, 336 con lợn, 1186 gà, vịt bị chết; cháy 426 nóc nhà, 56.34 1kg thóc, 114 bộ quần áo, 5 sào ruộng thành hố bom (13.1)

Trong điển kiện đó, các cấp Đảng bộ địa phương lãnh đạo nhân dân thực hiện chương trình "kinh tế tự túc" Các Ty canh nông, thuỷ nông củng cố tổ chức, hướng dẫn nhân dân khai hoang, phục hoá, đắp đập, làm thêm hệ thống mương phai Các

Ty tín dụng cho nông dân vay vốn để mua sắm nông cụ và trâu

bò, đẩy mạnh sản xuất

Nhận rõ vị trí của một khu vực có các cơ quan Trung ương đóng, các cấp Đảng bộ địa phương tập trung lãnh đạo nhân dân xây dựng một nền kinh tế kháng chiến theo hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, tăng cường giao lưu hàng hoá giữa các vùng trong khu căn cứ; đồng thời vận động nhân dân tiết kiệm tiêu dùng, bài trừ hàng hoá xa xỉ phẩm, ngăn ngừa và trừng

Trang 32

trị bọn buôn bán hàng ngoại quốc trái phép, góp phần bao vây kinh tế địch

Nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân, tạo điều kiện cho nông dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nhiều địa phương trong ATK tích cực thực hiện chính sách của Đảng và Chính phủ về ruộng đất ở Sơn Dương, ngay từ năm 1947,

những đồn điền ruộng đất hoang của bọn thống trị được đem chia cho dân cày, mỗi hộ từ 5 đến 8 sào Đến năm 1949, chính quyền huyện tịch thu các đồn điền Roađêba, Đĩa, Lè Thăng để cấp cho nông dân cày cấy Mức tô được giảm từ 20 - 30%

Ở một số nơi, Đảng bộ ra nghi quyết nêu rõ nhiệm vụ "giúp

đỡ các ban canh nông, các hội nông dân cứu quốc các cấp trong việc điều tra nông thôn và đặt chương trình kế hoạch tăng gia sản xuất ở địa phương (99.8)

Dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng và chính quyền, khắp các địa phương trong ATK đều đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự vệ các cơ quan, công xưởng tổ chúc giúp dân

"gặt nhanh, cất kỹ", hoặc canh gác bảo vệ cho nhân dân gặt hái Nhiều nơi xây dựng kế hoạch sản xuất - tiết kiệm đến từng gia đình Riêng huyện Chợ Đồn, đến năm 1952, kế hoạch gia đình đã đặt được trong 7 xã, với 1763 giá (!ìnb ( 11.6)

Mặc dù đã trở thành phong trào, nhưng vì kế hoạch đặt ra chưa sát thực, thiếu sự lãnh đạo cụ thể, chu đáo, nên kết quả tăng gia sản xuất còn thấp

Nhằm khắc phục tình trạng ấy, Trung ương Đảng chỉ thị cho các cấp, các ngành và các địa phương trong căn cứ địa Việt Bắc nói chung và ATK nói riêng vận động và khuyến khích mỗi nhà dân trồng một vườn rau gia đình, một vườn sắn kháng chiến (200 gốc), một vườn bông ái quốc (1sào), làm một chuồng trâu riêng

và một hố chứa phân, nuôi một đàn gà tiếp tế bộ đội; đồng thời

"tổ chức tổ đổi công, sửa đổi lối làm việc để thêm người, thêm

Trang 33

ngày, giờ tăng gia sản xuất" (29.1); đắp mương phai lấy nước vào ruộng để mở rộng diện tích cấy lúa chiêm

Chỉ thị của Trung ương còn nêu rõ "các đồng chí cán bộ và đồng chí trong chi bộ có trách nhiệm lãnh đạo việc tăng gia sản xuất, thực sự tham gia gây cho gia đình mình trở thành gương mẫu trong việc tăng gia sản xuất, phải đi sâu học hỏi và tìm hiểu

về nghề nông để biết cách chỉ dẫn cho dân chúng trồng trọt, chăn nuôi" (29.2)

Thực hiện chỉ thị của Trung ương, các cấp uỷ và chính quyền trong ATK cử những cán bộ, đảng viên có năng lực trực tiếp chỉ đạo phong trào tăng gia sản xuất ờ một số địa phương, Huyện uỷ chọn các xã có điều kiện để tập trung chỉ đạo và kịp thời rút kinh nghiệm các biện pháp kỹ thuật được phổ biến và áp dụng ngày càng rộng rãi Nhờ vậy, cùng với kết quả mở rộng diện tích canh tác và nâng cao sản lượng lương thực, hoa màu, các ngành chăn nuôi, tiểu thủ công ở các địa phương cũng có những bước phát triển

Với khẩu hiệu ngàn dân canh tác" từ những năm 1949, lc)50, các địa phương trong ATK tập trung sức lao động vào mặt trận sản xuất nông nghiệp Không kế diện tích do các cơ quan đơn vị bộ đội tăng gia tự túc, bà con nông dân huyện Định Hoá

đã cấy được 11901mẫu lúa, 2000 mẫu hoa màu các loại (70 147, 148) Riêng xã Bình Trung đã mở rộng diện tích gieo trồng gấp

10 lần năm trước, mỗi gia đình có một vườn rau (6.3) Cuối năm

1950, toàn huyện Định Hoá có trên 6650 con trâu, bò, 2000 con

dê và ngựa, 7000 con lợn và 44000 gà, vịt (70.152)

Tại Chợ Đồn, sản lượng lương thực trong 6 tháng đầu năm

1949 tăng 50 % so với cùng kỳ năm trước (71.73) Phong trào

"Vườn bông ái quốc", "Vườn sắn kháng chiến" sôi nổi khắp huyện Các nghề dệt vải, dệt chiếu bước đầu được đẩy mạnh Nghề làm chiếu ở Chợ Đồn có kĩ thuật tương đối cao: chiến trắng

và dệt đẹp như chiếu miền xuôi ( 14.6)

Ở Huyện Sơn Dương, khí thế lao động sản xuất ngày càng

Trang 34

sôi nổi và đem lại những hiệu quả đáng để Riêng vụ chiêm năm

1949, bà con nông dân đã cấy thêm được 213 mẫu, 120 mẫu ngô,

70 mẫu khoai Trong ba tháng đầu năm 1950, toàn huyên cấy được 1906 mẫu lúa chiêm, 138 mẫu ngô, 110 mẫu khoai (72.34)

Các giống lúa mới, như Nam Ninh, Ba giăng được phổ biến

rộng rãi, góp phần nâng cao sản lượng lương thực

Chính quyền và các đoàn thể các cấp trong ATK còn tích cực vận động bà con các dân tộc khai thác lâm thổ sản để trao đổi hàng hoá, hoặc bán cho mậu dịch quốc

doanh ở Định Hoá, đến năm 1953, giá trị lâm sản thu được

là 1694000 đồng (70 153) Tuy chưa phải là lớn, nhưng kết quả này vừa tăng thu nhập cho nhân dân, vừa góp phần bổ sung ngân sách cho địa phương

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân địa phương đẩy mạnh sản xuất, các cấp Đảng và chính quyền rất quan tâm vận động đồng bào các dân tộc Dao và Cao Lâu - Sán Chỉ bỏ cuộc sống du canh, du cư xuống ở vùng thấp định canh, định cư Được sự chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ và sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của chính quyền, đoàn thể và bà con các dân tộc vùng thấp, đồng bào các dân tộc vùng cao phấn khởi hưởng ứng cuộc vận động Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến, ở một số nơi, nhất là

ở Định Hoá, hầu hết các gia đình vùng cao đã chuyển xuống vùng thấp định cư làm ruộng Đời sống của đồng bào từng bước

ổn định Đây là thành công lớn của Đảng bộ vùng ATK trong việc tổ chức, lãnh đạo nhân dân địa Phương thực hiện đường lối xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá và chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ Kết quả này có tác dụng tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc trong vùng và phát huy tác dụng của ATK đối với địa phương

Cuộc kháng chiến ngày càng phát triển, nhu cầu cung cấp cho kháng chiến ngày càng tăng, những khó khăn mới lại đến vì

sự phong toả của địch và chính sách bao vây kinh tế ta Giá cả trong khu tăng vọt Sinh hoạt của cán bộ và nhân dân thay đổi hàng thần, hàng ngày Trong tháng 4, tháng 5/1950, giá gạo tăng

Trang 35

từ 3000 đồng một tạ lên 7 - 8000 đồng, rồi trong một tháng lên

10 000 đ, 14 000 đ một tạ (52.239) Riêng ở Chợ Chu (Định Hoá), "giá gạo lên tới 23 000 đồng một tạ, một quả chuối 15 đồng, giá các thực phẩm đều tăng lên vùn vụt" (52.255)

Trước tình hình trên, Chính phủ triệu tập Hội nghị các tỉnh Việt Bắc (14/6/1950) để đề ra các giải pháp khắc phục, trong đó chú trọng đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm chi tiêu, thực hiện kiểm soát giá cả và bao vây kinh tế của địch Ngày 14/7/1950, Hội đồng quốc phòng tối cao họp và thông qua một

số biện pháp cấp bách: phân tán cơ quan và người ở khu vực Việt Bắc, nhất là khu vực Thái Nguyên; bài trừ tệ đầu cơ, vận động tiết kiệm (52.254)

Trong các cơ quan, cán bộ và nhân viên "mỗi ngày ăn mót bữa cơm và hai bữa cháo: sáng và chiều, để đề phòng hụt gạo trong lúc giáp hạt; Chính phủ phải hô hào dân chúng tiết kiệm gạo, bớt số khẩu phần hàng ngày, lui số gạo về sau được chừng nào càng quí Đồng thời pha trộn màu, ngô, khoai để ăn kèm " (52.88)

Suốt những năm kháng chiến, trong vùng ATK, từ Chủ tịch nước đến nhân viên các cơ quan Đảng và Chính phủ đều thực hiện chế độ ăn cơm độn Bữa cơm của Chủ tịch nước "phần lớn đều là sắn cơ quan tăng gia, gạo chỉ loáng thoáng Thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối" Những khi có cuộc họp, khách ở lại ăn cơm, việc sát bắt thú trong rừng, hoặc câu cá ngoài suối không đạt kết quả, thì Chủ tịch nước tiếp "món đặc biệt đựng trong ống tre" Đó là thịt lợn thái nhỏ trộn với rất nhiều ớt và muối " Đây là thức ăn mà Chủ tịch nước "thường dùng trên đường đi công tác" (46.374)

Từ năm 1950, với chủ trương "Hoàn thành nhiệm vụ chuẩn

bị, chuyển mạnh sang tổng phản công việc phát triển sản xuất thực hành tiết kiệm trở thành một công tác quan trọng hàng đầu của các cấp.bộ Đảng và Chính quyền Tăng gia sản xuất tự túc trở thành một phong trào rộng lớn không những trong dân chúng

mà cả trong các cơ quan Trung ương đóng tại địa phương

Trang 36

Thực hiện chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng, tất

cả các cơ quan, bộ đội chính quyền, công xưởng trong và ngoài khu vực ATK, đóng ở nơi nào đều phải thực sự tham gia sản xuất

để thực hiện khẩu hiệu "tự cấp, tự túc" bằng cách mỗi ngày các nhân viên dành riêng hai giờ cho công việc trên" (29,1)

Trong các công xưởng, xí nghiệp, cán bộ và công nhân vượt qua mọi khó khăn, nêu cao tính thần tự lực, tự cường, sản xuất ra được nhiều sản phẩm những đầu máy xe lửa và ô tô được cải tạo thành các máy động lực chạy bằng củi và khí than trong các xí nghiệp quốc phòng và dân dụng Các máy móc và công cụ sản xuất được chế tạo hoàn toàn bằng gỗ Những lò đúc gang và rèn thép, những cơ sở khai thác và luyện chì, kẽm, thiếc, khai thác than đá và sản xuất diêm tiêu, lưu

huỳnh được thành lập ở nhiều nơi" (120.75) Đến năm

1950, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo đã tự chế tạo được máy in,

máy cưa và bắt đầu 'hử nấu thép (5 1 3 11) Các xưởng quân giới

đã tự chế tạo được nhiều loại vũ khí, đạn dược, cung cấp cho kháng chiến Cán bộ và công nhân nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ

đã vượt qua mọi khó khăn, vận chuyển trên hai ngàn tấn máy móc và vật liệu trên chặng đường dài 200 km từ Đáp Cầu đến Chợ Chu (Định Hoá) Ngày 19/8/1947, nhà máy trở lại hoạt động cung cấp đủ giấy cho các cơ quan ấn loát (122.155)

Sự phát triển sản xuất nông nghiệp và một số ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp quốc phòng, tuy mới là bước đầu, nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của ATK

Nó đảm bảo cho ATK có khả năng tự cấp tự túc không những trong thời kỳ đầu xây dựng ( 1947 - 1950), mà cả trong suốt cuộc kháng chiến Bộ mặt kinh tế - xã hội ở các địa phương trong vùng từng bước chuyển biến Đồng bào các dân tộc ngày càng gắn bó với cácth mạng, tích cực đóng góp phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến nói chung và xây dựng ATK nói riêng Ngay từ những ngày đạo toàn quốc kháng chiến, đồng bào các dân tộc đã bỏ ra hàng ngàn ngày công, đóng góp hàng vạn tre, hứa, lá để xây dựng nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung

Trang 37

ương, xây dựng kho tàng Nhiều gia đình nhường hẳn những ngôi nhà rộng rãi của mình dùng làm nơi ở cho cán bộ hoặc nơi chứa kho của Nhà nước trong suốt thời kỳ kháng chiến

Đảng bộ và các cấp chính quyền có nhiều biện pháp huy động lương thực, thực phẩm cung cấp cho các cơ quan và các đơn vị bộ đội đóng tại địa phương

Với 1 phong trào "Toàn dân đóng góp lương thực, thực phẩm", ngoài việc đóng thóc công lương, điền thổ, đồng bào các dân tộc còn vận động quyên góp, lập "Hũ gạo nuôi quân", bán

"Thóc khao quân" Tính riêng trong năm 1950, huyện Định Hoá huy động được 57.000 kg thóc, trong đó "Thóc khao quân" gần

7200 kg (70 137) Huyện Sơn Dương góp 92430 kg thóc quân lương, 171560 kg thóc thuế điền thổ và bán cho Nhà nước 112241kg lương thực (72.39) Trong đợt phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, không đầy một tuần lễ, huyện Yêu Sơn huy động được

300 con trâu, 500 xe đạp, xe bò, xe cải tiến (73.44)

Phong trào "Đỡ đầu địa phương quân" cũng được bà con các dân tộc hưởng ứng sôi nổi Nhiều nơi, nhân dân ủng hộ bộ đội ruộng đất, trâu bò để tăng gia tự túc, góp hàng trăm ngàn đồng để mua sắm vũ khí, trang bị Trong phong trào này, huyện Định Hoá ủng hộ bộ đội địa phương 52 mẫu ruộng, 2 con trâu và 38000 đồng Huyện Sơn Dương, trong ba tháng đầu năm 1952, ủng hộ

bộ đội, thương binh 819000 đồng Mỗi năm, bà con các dân tộc trong huyện còn đóng góp 6000 kg lương thực để nuôi bộ đội (72.39)

Ngoài phần của cải có thể đóng góp, nhân dân các dân tộc trong vùng ATK còn tích cực tham gia các đọt đi dân công phục

vụ tiền tuyến, làm đường, sửa đường

Tại Sơn Dương, toàn bộ số dân công của các xã thượng huyện được dành cho việc vận chuyển quan lương, xây dựng căn

cứ địa Các xã trung và hạ huyện được phân công phục vụ các chiến dịch Trong chiến dịch Biên giới thu - đông 1950, khoảng 50% số cán bộ của huyện được tập trung cho công tác huy động

Trang 38

dân công

Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ tuyến đường Bình Ca

- Thái Nguyên, Đăng Châu - Vĩnh Yên được san lấp, tu bổ đảm bảo cho giao thông thông suốt Đoạn đường dốc đỏ Đèo Khế bị địch thả bom phá hoại nhiều lần, nhưng do được giáo dục ý thức

về nhiệm vụ bảj vệ đường sá, nhân dân địa phương đã tự động nhiều lần tổ chức tu bổ, đảm bảo cho mạch máu giao thông hoạt động bình thường Tại Định Hoá, sau khi chiến dịch Việt Bắc kết thúc, vấn đề khôi phục mạng lưới giao thông' trở thành nhiệm vụ cấp bách để bảo đảm yêu cầu vận chuyển lương thực, thực phẩm, hàng hoá vào ATK và vận chuyển vũ khí, trang bị tờ hậu phương

ra mặt trận

Ngay từ đầu năm 1948, Huyện uỷ phát động chiến dịch toàn dân tham gia sửa chữa cầu đường Đông đảo cán bộ, nhân dân xung phong ra mặt trận, đào đắp hàng nghìn mét khối đất, đá, khai thác và vận chuyển hàng chục mét khối gỗ, hoàn thành việc sức chữa hơn 40 km đường (từ kho mét 31 - quốc lộ 3 đi Chợ Chu và từ Quán Vuông đi Phú Minh); sửa chữa và làm thêm 11cầu cống Nhân dân địa phương cũng làm mới 2 tìm đường rải

đá từ thị trấn Chợ Chu đi nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, không

kể hàng chục ki lô mét đường nhánh

Ngoài việc khẩn trương khôi phục mạng lưới giao thông, nhân dân địa phương còn góp công sức khai thác và vận chuyển nguyên vật liệu để xây dựng và sửa chữa nhà cửa, giúp các cơ quan nhanh chóng ổn định lại nơi ăn, ở và làm việc Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, cán bộ và nhân dân các dân tộc

trong vùng ATK đã không tiếc công sức của mình cho sự

nghiệp giải phóng đất nước Riêng trong năm 1950, nhân dân Định Hoá đóng góp 22000 rượt người sửa chữa cầu đường, phục

vụ căn cứ địa và vận tải vũ khí, lương thực thực phẩm ra tiền tuyến (70.133) Trong thời gian xây dựng địa điểm tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ li tại Vinh Quang (Chiêm Hoá), đồng bào địa phương đã góp 7000 công, đào đắp 300 m3 đất, đá, 10 00

cây mai, 10.000 cây nứa, 80.000 tàu lá cọ để làm hội trường và

Trang 39

nhà ở cho các dại 'biểu Năm 1953, ngoài 5951lượt dân công phục vụ tại địa phương, huyện Định Hoá còn huy động một lực lượng lớn, thành lập đoàn dân công hoả tuyến lên đường ra mặt trận Đoàn dân công này dã được Hội đồng cung cấp Trung ương tặng cờ danh dự và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba

Sự đóng góp xây dựng của nhân dân địa phương là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho ATK Trung ương tồn tại vững chắc trong những năm kháng chiến chống Pháp

3 Quân sự

Sự tồn tại vững chắc của ATK không thể tách rời quá trình xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân Ra đời trong điều kiện bị kẻ thù bao vây và.tìm mọi cách tấn công về quân sự, vấn đề tổ chức và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của việc xây dựng và bảo vệ ATK

Với quan điểm vũ trang toàn dân, ngoài việc xây dựng bộ đội chủ lực ngày càng vững mạnh, Đảng ta rất coi trọng việc xây dựng bộ đội địa phương và phát triển rộng rãi lực lượng dân quân

du kích

Bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân là lực lượng đông đảo có thể đánh địch, đối phó với địch bất cứ lúc nào, chỗ nào để bảo vệ căn cứ địa - hậu phương một cách có hiệu quả nhất Với mạng lưới rộng lớn, lại nắm vững tình hình và thông thạo địa hình địa phương, dân quân du kích có nhiều khả năng tốt nhất, nhanh nhất, cơ động nhất trong việc ngăn chặn và đánh bại mọi hoạt động phá hoại của bọn gián điệp, thổ phỉ, biệt kích và của địch

Nhận rõ trách nhiệm dối với việc xây dựng và bảo vệ ATK, được sự chỉ đạo của các chí lãnh đạo và chỉ huy, các tỉnh trong căn cứ địa Việt Bắc - nhất là Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang - đẩy mạnh công tác xây dựng, củng cố lực lượng vũ

Trang 40

trang

Ngay (ừ đầu kháng chiến toàn quốc, việc huấn luyện cán bộ quân sự địa phương đã được các cấp bộ Đảng quan tâm Riêng tại Bắc Cạn, từ cuối năm 1946, nhiều cán bộ được cử ới học quân

sự để về huấn luyện du kích xã Các khoa mục huấn luyện gồm

có các động tác cơ bản, bắn súng trường, ném lựu đạn Giữa năm

1947, phòng dân quân du kích cử một số cán bộ tác huấn lên Bắc Cạn để huấn luyện thêm về đánh mìn, địa lôi, bom ba càng, cá nhân và tiểu tổ tác chiến Mỗi huyện đều chia nhiều xã thành cụm, tập trung du kích để huấn luyện Cho đến đầu tháng 10/1947, tất cả du kích đều được kinh qua huấn luyện quân sự (129.19)

Ngày 25/10/1947 Tổng Tham mưu trưởng thay mặt Tổng chỉ huy quân đội Quốc gia và dân quân tự vệ Việt Nam ra chỉ thị gửi Uỷ ban kháng chiến tỉnh Bắc Cạn - nơi đang diễn ra cuộc chiến đấu chung cuộc tiến công của giặc Pháp vào căn cứ địa Việt Bắc Chỉ thị nêu rõ vấn đề củng cố dân quân du kích, mỗi châu tổ chức một đại đội thoát ly " để phối hợp thường trực với

bộ đội tác chiến"; đặt kế hoạch tiếp tế lương thực, đạn dược cho dân quân, củng cố dân quân thường và định rõ trách nhiệm canh gác, trừ gian, phá hoại giao thông, bảo vệ mùa màng (28.2) Tháng 211948, Bắc Cạn tổ chức Hội nghị dân quân du kích lần thứ nhất Hội nghị chủ trương củng cố, biên chế lại du kích xã cho phù hợp Với điều kiện địa lý, nâng cao chất lượng du kích tập trung ở các huyện, xây dựng đại đội chủ lực tỉnh, phát triển

du kích người Dao, người Mông, đề phòng biệt kích, thổ phỉ, bảo

vệ vùng hẻo lánh, kiện toàn các ban chỉ huy xã đội Hội nghị còn nhấn mạnh đến nhiệm vụ bảo vệ căn cứ địa, phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch trên đường số 3, tiễu phỉ ở Chợ Rã, sẵn sàng đánh tan các cuộc tấn công mới của địch

Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bắc Cạn (6/1948) nêu rõ chủ trương kết hợp việc xây dựng lực lượng du kích với việc kiện toàn bộ đội chính quy (Trung đoàn 72) Nhiệm vụ của tỉnh là triệt đường tiếp tế, tiếp viện của dịch, phá mọi âm mưu trong thu -

Ngày đăng: 18/08/2019, 21:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w