hình thành nếp sống và thói quen hành xử tôn trọng pháp luật. Nhưng thực tế cho thấy, văn hóa ứng xử với pháp luật trong xã hội ta hiện nay còn nhiều tiêu cực, biểu hiện từ các hành vi ứng xử với pháp luật của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày cho đến trình độ vận dụng công cụ pháp luật của Nhà nước trong quản lí xã hội cũng như việc thực thi pháp luật trong thực tế… Hệ quả là, thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật, lách luật, lối ứng xử tùy tiện với pháp luật… đang tồn tại và biểu hiện rất phổ biến, không chỉ với dân thường mà ngay cả đối với những cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền; thậm chí, cả với những người đang nắm giữ cán cân công lý của xã hội. Theo đó là sự gia tăng đến mức báo động các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Những biểu hiện xuống cấp và suy thoái đạo đức, đặc biệt là “ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” đang là nỗi bất bình của toàn xã hội. Thực trạng ấy đang từng ngày làm ô nhiễm bầu không khí tinh thần của xã hội, làm suy giảm đáng kể lòng tin của người dân đối với tính nghiêm minhhình thành nếp sống và thói quen hành xử tôn trọng pháp luật. Nhưng thực tế cho thấy, văn hóa ứng xử với pháp luật trong xã hội ta hiện nay còn nhiều tiêu cực, biểu hiện từ các hành vi ứng xử với pháp luật của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày cho đến trình độ vận dụng công cụ pháp luật của Nhà nước trong quản lí xã hội cũng như việc thực thi pháp luật trong thực tế… Hệ quả là, thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật, lách luật, lối ứng xử tùy tiện với pháp luật… đang tồn tại và biểu hiện rất phổ biến, không chỉ với dân thường mà ngay cả đối với những cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền; thậm chí, cả với những người đang nắm giữ cán cân công lý của xã hội. Theo đó là sự gia tăng đến mức báo động các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Những biểu hiện xuống cấp và suy thoái đạo đức, đặc biệt là “ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” đang là nỗi bất bình của toàn xã hội. Thực trạng ấy đang từng ngày làm ô nhiễm bầu không khí tinh thần của xã hội, làm suy giảm đáng kể lòng tin của người dân đối với tính nghiêm minhhình thành nếp sống và thói quen hành xử tôn trọng pháp luật. Nhưng thực tế cho thấy, văn hóa ứng xử với pháp luật trong xã hội ta hiện nay còn nhiều tiêu cực, biểu hiện từ các hành vi ứng xử với pháp luật của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày cho đến trình độ vận dụng công cụ pháp luật của Nhà nước trong quản lí xã hội cũng như việc thực thi pháp luật trong thực tế… Hệ quả là, thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật, lách luật, lối ứng xử tùy tiện với pháp luật… đang tồn tại và biểu hiện rất phổ biến, không chỉ với dân thường mà ngay cả đối với những cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền; thậm chí, cả với những người đang nắm giữ cán cân công lý của xã hội. Theo đó là sự gia tăng đến mức báo động các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Những biểu hiện xuống cấp và suy thoái đạo đức, đặc biệt là “ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” đang là nỗi bất bình của toàn xã hội. Thực trạng ấy đang từng ngày làm ô nhiễm bầu không khí tinh thần của xã hội, làm suy giảm đáng kể lòng tin của người dân đối với tính nghiêm minh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
= = =
VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Chủ nhiệm đề tài: TS LÊ THỊ HỒNG VÂN
TP HCM - 2010
Trang 2MỤC LỤ
YPHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 8
4 Mục tiêu của đề tài 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Dự kiến sản phẩm nghiên cứu của đề tài và khả năng ứng dụng 10
7 Cấu trúc của công trình nghiên cứu 11
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VĂN HÓA – VĂN HÓA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 12 1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa pháp luật 12
1.1.1 Giới thuyết về khái niệm về văn hóa 12
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa 12
1.1.1.2 Đặc trưng và biểu hiện của văn hóa 15
1.1.1.3 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển 18
1.1.2 Giới thuyết về văn hóa pháp luật 19
1.1.2.1 Khái niệm văn hóa pháp luật 19
1.1.2.2 Biểu hiện của văn hóa pháp luật 22
1.2 Thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay 24
1.2.1 Ý thức và hành vi ứng xử không thượng tôn pháp luật 26
1.2.1.1 Vi phạm trong lĩnh vực giao thông 26
1.2.1.2 Vi phạm trong quản lý xây dựng 31
1.2.1.3 Vi phạm trong bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm 34
1.2.1.4 Sự gia tăng các hành vi bạo lực và ứng xử “luật rừng” 41
1.2.2 Tính hiệu lực của các thiết chế thực thi pháp luật và văn bản pháp luật 50
1.2.2.1 Thực trạng chất lượng của bộ máy công quyền 50
1.2.2.2 Thực trạng về chất lượng xét xử của tòa án 60
1.2.2.3 Thực trạng về chất lượng văn bản pháp luật 71
1.3 Đánh giá chung về thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay 84
Trang 31.3.1.Thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay - bức tranh xám màu.84
1.3.2 Các nguyên nhân trực tiếp 85
CHƯƠNG 2: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐẾN VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 88
2.1 Sự tác động của văn hóa nông nghiệp lúa nước 90
2.1.1 Tính cộng đồng 90
2.1.2 Lối ứng xử trọng tình nhẹ lý 95
2.1.3 Lối sống trọng lệ hơn luật và ứng xử “phép vua thua lệ làng” 98
2.1.4 Tư duy tiểu nông tùy tiện, chủ quan, cảm tính 105
2.2 Sự tác động của tư tưởng Nho giáo ………… 108
2.2.1 Nho giáo và tư tưởng trong đạo lý hơn pháp lý 108
2.2.2 Nho giáo và truyền thống “vô tụng” 110
2.3 Phật giáo với tư tưởng hiếu hòa, nhân ái, vị tha 117
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO VĂN HÓA PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 121
3.1 Các giải pháp nền tảng có tính chiến lược 117
3.1.1 Thanh lọc, tẩy trừ những tiêu cực, lạc hậu của văn hóa truyền thống 122
3.1.1.1 Thay đổi tư duy tiểu nông tùy tiện, chủ quan, cảm tính 122
3.1.1.2 Thay đổi thói quen ứng xử của văn hóa làng 122
3.1.2 Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại 125
3.1.2.1 Tạo điều kiện cho sự phát triển ý thức về quyền cá nhân 125
3.1.2.2 Xây dựng ý thức và thói quen sử dụng pháp luật 126
3.2 Các giải pháp cụ thể và cấp bách 127
3.2.1 Xử lý nghiêm minh, triệt để và kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật 127
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật 128
3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực ngành Luật vừa hồng vừa chuyên…….…… 130
3.2.4 Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân…… ….……… 131
KẾT LUẬN……….……….… 132
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đặt chúng ta trước nhiều mục tiêu và nhiệm vụquan trọng, cấp bách, trong đó có mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, lấy pháp luật làmnền tảng điều tiết các hành vi cá nhân và các quan hệ xã hội, hướng đến một xã hội công bằng,dân chủ, văn minh Vì vậy, những năm gần đây, Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc hoànthiện hệ thống pháp luật, cùng với việc tuyên truyền, phổ biến để pháp luật đi vào đời sống,nhằm từng bước hình thành nếp sống và thói quen hành xử tôn trọng pháp luật
Nhưng thực tế cho thấy, văn hóa ứng xử với pháp luật trong xã hội ta hiện nay còn nhiều tiêucực, biểu hiện từ các hành vi ứng xử với pháp luật của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngàycho đến trình độ vận dụng công cụ pháp luật của Nhà nước trong quản lí xã hội cũng như việcthực thi pháp luật trong thực tế… Hệ quả là, thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thườngpháp luật, lách luật, lối ứng xử tùy tiện với pháp luật… đang tồn tại và biểu hiện rất phổ biến,không chỉ với dân thường mà ngay cả đối với những cán bộ, công chức trong các cơ quan côngquyền; thậm chí, cả với những người đang nắm giữ cán cân công lý của xã hội Theo đó là sựgia tăng đến mức báo động các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật
Những biểu hiện xuống cấp và suy thoái đạo đức, đặc biệt là “ở một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” đang là nỗi bất bình của toàn xã hội.Thực trạng ấy đang từng ngày làm ô nhiễm bầu không khí tinh thần của xã hội, làm suy giảmđáng kể lòng tin của người dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, dẫn đến coi thường kỉcương phép nước Đó cũng chính là những biểu hiện của một đời sống văn hóa pháp luật khônglành mạnh, một thái độ ứng xử văn hóa không thượng tôn pháp luật
1.2 Trong bối cảnh xã hội mà sự vi phạm pháp luật trở nên phổ biến và đáng báo động nhưhiện nay, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền càng đặt ra cấp bách và khẩnthiết hơn bao giờ hết Trong nhiều bước đi và giải pháp có tính chiến lược và đồng bộ, cần phảicoi việc xây dựng một nền văn hóa pháp luật tích cực, lành mạnh như một nhiệm vụ có tính nềntảng cần được đưa lên vị trí ưu tiên trong chiến lược phát triển
Văn hóa pháp luật vừa là một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa xã hội, nhưng cũng đồng thời
là sản phẩm của văn hóa xã hội, chịu sự tác động của các yếu tố xã hội như phương thức sảnxuất, các hệ tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán… Sự hình thành văn hóapháp luật của một quốc gia, do vậy, không thể không bị chi phối bởi những đặc trưng văn hóatruyền thống Nói cách khác, quá trình hình thành nên một nền văn hoá pháp luật cũng như thái
độ của con người trong việc sử dụng pháp luật đều có thể tìm thấy nguyên nhân sâu xa trong tậpquán sản xuất, nếp sống và những thói quen sinh hoạt…
Trang 5Việt Nam là một quốc gia đã có lịch sử cả ngàn năm tồn tại và phát triển trên nền tảng củaphương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước tiểu nông và tư tưởng Nho giáo, nơi mà các chuẩnmực điều chỉnh hành vi của xã hội dựa trên cơ sở của luật tục hơn là luật pháp, đạo lý hơn làpháp lý, nay chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường Đâychính là một lực cản rất lớn trong quá trình hội nhập, phát triển kinh tế và cao hơn là xây dựngmột nhà nước pháp quyền Bởi vậy, việc nhận diện văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay nếukhông chỉ ra được những căn nguyên sâu xa từ nền tảng văn hóa truyền thống đứng sau nhữnghiện tượng tiêu cực trong những hành vi ứng xử với pháp luật thì khó có thể tìm ra những giảipháp có tính chiến lược để xây dựng một nền văn hóa pháp luật Việt Nam tích cực, lành mạnh,tạo nền tảng để thực hiện thành công công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiệnnay
1.3 Nếu văn hóa được coi là nền tảng, là nội lực của sự phát triển thì văn hóa pháp luật lànền tảng, là nội lực để thực hiện thành công công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền tronggiai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu hóa ở nước ta hiện nay Để mụctiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta được thực hiện thành công, việc xây dựng, tạo lậpmột nền tảng văn hóa pháp luật lành mạnh và tích cực đang được đặt ra như một nhiệm vụ cấpthiết Một trong những giải pháp có tính nền tảng để thực hiện mục tiêu đó, theo chúng tôi, phảibắt đầu từ việc giáo dục, trang bị những kiến thức về văn hóa ứng xử với pháp luật, trước hếtcho chính những người hoạt động trong ngành pháp luật, bởi họ không chỉ có vai trò làm gương,đại diện cho văn hóa ứng xử tích cực đối với pháp luật, mà quan trọng hơn, họ còn có sứ mệnh
“hướng đạo” trong việc xây dựng một nền văn hóa pháp luật lành mạnh, tích cực trong điều kiện
và hoàn cảnh của nước ta hiện nay Bởi vậy, trong nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo của trường Đạihọc Luật, cùng với việc truyền thụ kiến thức pháp lý, không nên, và không thể coi nhẹ việc giáodục tình cảm, đạo lý và thái độ ứng xử nhân văn ngay trong môi trường điều chỉnh của phápluật, bởi lẽ, việc nắm vững và áp dụng đúng các điều luật không hoàn toàn đồng nghĩa với việchành xử một cách có văn hóa với pháp luật
Với tất cả những lý do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục đích trước hết, và trựctiếp nhất, là trang bị cho sinh viên ngành Luật những kiến thức về văn hóa ứng xử với pháp luật,giúp họ ý thức được mối quan hệ bản chất giữa văn hóa với pháp luật và lý giải được thực trạngvăn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay từ những căn nguyên sâu xa của nền tảng văn hóa truyềnthống Trên cơ sở đó để khi ra trường họ biết cách hành xử có văn hóa trong nghề nghiệp, có ýthức và trách nhiệm trong việc xây dựng một xã hội có nền văn hóa pháp luật tích cực, lànhmạnh để hội nhập và phát triển
2 Lịch sử vấn đề
Trang 6Những năm gần đây, khi nhân loại ngày càng ý thức sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa với
tư cách là nền tảng của sự phát triển thì các nghiên cứu về văn hóa đang trở thành một vấn đềđược quan tâm đặc biệt Trong xu thế chung ấy, ở nước ta, trong hơn một thập niên trở lại đây,việc nghiên cứu văn hóa đã không chỉ dừng lại ở những nghiên cứu cơ bản như: bản chất củavăn hóa, cấu trúc, vai trò và chức năng của văn hóa, tác động của văn hóa đối với các lĩnh vựccủa đời sống xã hội… mà đang có xu hướng ngày càng đi vào chuyên sâu, gắn với các lĩnh vựcứng dụng thực tiễn như: văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa du lịch,
văn hóa kinh doanh… Trong đó, văn hóa pháp luật cũng là một lĩnh vực nghiên cứu có ý nghĩa
thực tiễn cao, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Cho đến nay, đã có khá nhiều
hội thảo và công trình nghiên cứu về văn hóa pháp luật đã được thực hiện và công bố như: Xây
dựng ý thức và lối sống theo pháp luật [69]; Văn hóa pháp luật [15]; Văn hóa tư pháp [70]; Văn hóa pháp lý với sự nghiệp đổi mới ở nước ta [20]; Xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh văn hóa Việt Nam [54]; Văn hóa pháp lý Việt Nam [65] Ngoài ra còn có những bài
báo, những cuốn sách chuyên khảo, những hội thảo khoa học dù không trực tiếp đặt vấn đềnghiên cứu văn hóa pháp luật như một đối tượng khảo sát độc lập nhưng cũng đã đề cập đếnnhững khía cạnh, đưa ra những cứ liệu đánh giá về thực trạng của đời sống pháp luật ở nước tahiện nay như: vấn đề thực thi pháp luật, hiệu quả của pháp luật, vấn đề giáo dục ý thức tuân thủpháp luật,…
Các nghiên cứu trên đây, ở những mức độ khác nhau đã hướng sự quan tâm vào các vấnđề:
1 Chỉ ra thực trạng và lý giải nguyên nhân trực tiếp tạo nên thái độ ứng xử với pháp luậttrong xã hội ta hiện nay
2 Phân tích vai trò của việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật trong công cuộc xây dựngnhà nước pháp quyền
3 Đề xuất các giải pháp để xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật ở nước ta hiện nay.Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu trên đây chưa có công trình nào khảo sát cụthể về thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay dựa trên tư liệu là các bài báo được đăngtải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong khoảng thời gian 3 năm lại nay Cũng chưa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu và lý giải nguyên nhân của thực trạng văn hóa pháp luật ViệtNam hiện nay từ sự chi phối của văn hóa truyền thốngnhư một đối tượng nghiên cứu độc lập Bởi vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm những vấn đề nghiên cứu mà những người
đi trước còn bỏ ngỏ, đó là:
- Khảo sát để nhận diện thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay dựatrên các cứ liệu là những bài báo được đăng tải trên các phương tiện thông tin báo chí (những tờbáo có uy tín) trong khoảng 3 năm gần đây
Trang 7- Nghiên cứu sự tác động, chi phối của các đặc trưng văn hóa truyền thống đến văn hóapháp luật ở Việt Nam hiện nay.
3 Đối tượng và phạm vinghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: nhận diện thực trạng tiêu cực trong văn hóa pháp luật ở
Việt Nam hiện nay và lý giải nguyên nhân từ sự chi phối của văn hóa truyền thống
- Giới hạn phạm vi khảo sát thực trạng là những bài báo được đăng tải trên các tờ báo có
uy tín viết về những biểu hiện tiêu cực trong văn hóa ứng xử với pháp luậttrong thời gian 4năm trở lại đây
4 Nhiệm vụ của đề tài
4.1 Chỉ ra và phân tích thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay
4.2 Lý giải nguyên nhân từ sự chi phối của nền tảng văn hóa truyền thống
4.3 Từ góc nhìn văn hóa để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa pháp luật trong côngcuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sauđây:
5.1.Phương pháp thống kê, phân loại:
Để nhận diện thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay, chúng tôi đã sử dụng phươngpháp khảo sát, thống kê, phân loại trên nguồn cứ liệu là các bài báođược đăng tải trên các tờ báo
in và báo điện tử có uy tín trong khoảng 3 năm lại nay Trong số gần 400 bài báoliên quan đếnvăn hóa ứng xử với pháp luật đã được sưu tầm, thống kê, chúng tôi đã lựa chọn hơn 200 bài đểkhảo sát và phân loại theo các lĩnh vực là những điểm nóng gây nhiều bức xúc trong dư luận, đólà:
a) Hành vi ứng xử với pháp luật: vi phạm trong lĩnh vực giao thông; trong quản lý xâydựng; bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm; bạo lực và “luật rừng” (ở cả hai phía:người dân và công chức trong các cơ quan công quyền)
b) Hệ thống pháp luật và các thiết chế pháp luật: hệ thốngvăn bản pháp luật; chất lượngnguồn nhân lực của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật; tính hiệu lực của các thiết chếpháp luật
5.2 Phương pháp đồng đại: được sử dụng để phân tích, lý giải các nguyên nhân xã hội đang chi
phối đến văn hóa ứng xử với pháp luật của xã hội ta hiện nay
5.3 Phương pháp lịch đại: được sử dụng để nghiên cứu sự chi phối của các đặc trưng văn hóa
truyền thống đến văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay
5.4 Phương pháp phân tích, so sánh: được dùng để mổ xẻ, soi xét các nguyên nhân trực tiếp và
gián tiếp chi phối đến các hành vi pháp luật từ nhiều phía, nhiều chiều
Trang 85.5 Phương pháp hệ thống: được sử dụng để liên kết, xâu chuỗi các yếu tố trong sự chi phối,
liên đới lẫn nhau trong cả hai tương quan đồng đại và lịch đại
6 Dự kiến sản phẩm nghiên cứu của đề tài và khả năng ứng dụng
6.1 Đối với nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành Luật: sản phẩm nghiên cứu sau khi nghiệm thu đề
nghị được chỉnh lý, bổ sung thành một chương trong nội dung môn Đại cương văn hóa ViệtNam để giảng dạy cho sinh viên hệ đào tạo cử nhân Luật Qua đó để:
6.1.1 Tạo sự gắn kết giữa một môn học thuộc khối kiến thức cơ sở ngành với kiến thức
chuyên ngành Luật, để việc giảng dạy môn Đại cương Văn hóa Việt Nam thể hiện đặc thù riêng
của trường Luật, qua đó nhằm nâng cao tính ứng dụng thực tiễn của môn học
6.1.2 Bổ sung thêm những kiến thức về văn hóa pháp luật – một mảng kiến thức rất cầnthiết trong việc hành nghề Luật, nhưng hiện chưa được giảng dạy trong chương trình đào tạo cửnhân Luật, cụ thể là:
- Trang bị cho sinh viên những tri thức về văn hóa ứng xử với pháp luật cũng như ý thứcmột cách sâu sắc về vai trò của văn hóa pháp luật trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ởnước ta hiện nay
- Nhận diện được thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay và lý giải được nhữngcăn nguyên của thực trạng ấy từ sự chi phối của các đặc trưng văn hóa truyền thống, qua đónhằm gắn kết những tri thức cơ sở ngành với các tri thức chuyên ngành, giúp sinh viên biết vậndụng những kiến thức về văn hóa Việt Nam vào việc lý giải những vấn đề trong thực tiễn ứng
xử với pháp luật
- Việc bổ sung những kiến thức về văn hóa pháp luật nhằm góp phần nâng cao chấtlượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Luật một cách toàn diện, vừa “hồng”, vừa “chuyên”,bởi những tri thức chuyên sâu về pháp luật không đồng nghĩa với chất lượng văn hóa trong thái
độ ứng xử với pháp luật Việc giáo dục văn hóa ứng xử với pháp luật cho sinh viên Luật, vì vậy,trước hết để nâng cao chất lượng văn hóa trong hành xử pháp lý cho những người hành nghềluật, để họ góp phần tích cực vào việc xây dựng một xã hội có nền văn hóa pháp luật cao, khôngchỉ bằng chính những hành vi mẫu mực của chính mình để “hướng đạo”, nêu gương, mà quantrọng hơn, họ còn có khả năng phổ biến, giáo dục văn hóa pháp luật cho nhiều người khác
6.2 Đối với thực tiễn pháp luật:
Đề tài sau khi hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chịu trách nhiệm soạnthảo, ban hành các văn bản pháp luật và thực thi pháp luật cũng như những ai quan tâm tìmhiểu về mối quan hệ giữa văn hóa với pháp luật và thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Namhiện nay
7 Cấu trúc của công trình nghiên cứu:
Trang 9Cấu trúc của công trình nghiên cứu gồm phần mở đầu, phần kết luận và phần nội dung gồm 3chương:
Chương 1: Khái niệm văn hóa pháp luật và thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay Chương 2: Sự tác động của văn hóa truyền thống đến văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay Chương 3: Các giải pháp để nâng cao văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay.
Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA PHÁP LUẬT
VÀ THỰC TRẠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật là một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa dân tộc, vì vậy để
hiểu văn hóa pháp luật trước hết không thể không bắt đầu từ việc giới thuyết khái niệm văn hóa
với vai trò là công cụ lý thuyết nền tảng
1.1.1 Giới thuyết về khái niệm văn hóa
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là gì? Đó là một câu hỏi mà nhân loại đã tốn không ít giấy mực với hàng trăm câu
trả lời từ những góc nhìn, những cách tiếp cận khác nhau Định nghĩa đầu tiên về văn hóa gắnliền với tên tuổi của nhà nhân chủng học nổi tiếng người Anh - Edward Burnett Tylor (1832-
1917) Trong công trình nghiên cứu Văn hóa nguyên thủy (1871), ông viết: “Văn hóa hay văn
minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [21, 13].
Định nghĩa này của E.B.Tylor vẫn thường được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giớidẫn ra như một mẫu mực có tính kinh điển, trong đó quan niệm văn hóa bao gồm một tổng thểnhững thành quả sáng tạo của con người
Sau công trình nghiên cứu của E.B.Tylor, việc nghiên cứu văn hóa đã được triển khai và mởrộng theo nhiều hướng khác nhau, cùng với đó là sự ra đời của rất nhiều định nghĩa văn hóa từ
những góc độ tiếp cận khác nhau Trong cuốn Văn hóa: tổng thuật có phê phán các quan điểm
và định nghĩa, hai nhà văn hóa người Mỹ là A.L.Kroeber và Cluc Khohn đã thống kê được, tính
đến năm 1952, trên các sách báo phương Tây đã có khoảng 150 định nghĩa về văn hóa Còn theonhà nghiên cứu Phan Ngọc, đến năm 1994, trên thế giới đã có trên 400 định nghĩa về văn hóa
Ở Việt Nam hiện cũng đã và đang tồn tại nhiều định nghĩa văn hóa, trong đó có thể nêu một
số định nghĩa tiêu biểu:
- Trong công trình nghiên cứu Việt Nam văn hóa sử cương xuất bản lần đầu tiên vào năm
1938, học giả Đào Duy Anh quan niệm: “Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các
phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt” [1,
13]
- Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt
Trang 11ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39, 431].
- Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [59, 10].
Số lượng phong phú các định nghĩa về văn hóa đã phản ánh những góc độ tiếp cận khácnhau, đồng thời cũng cho thấy tính chất phức tạp của vấn đề Tuy nhiên, phần đông các quanniệm đều thống nhất khi cho rằng, văn hóa là sản phẩm tất yếu của xã hội, được hình thànhtrong hành trình sống của mỗi cộng đồng, khi nó là hệ quả của sự tương tác giữa con người vớimôi trường tự nhiên và xã hội, được kết tinh và hiện diện trong mọi hành vi sáng tạo của conngười, được biểu hiện qua tất cả những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người làm ra,từcông cụ sản xuất và các vật dụng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày cho đến các sản phẩm nghệthuật; từ tri thức khoa học cho đến kinh nghiệm sống… Không chỉ hiện diện trong các sản phẩmvật chất và tinh thần do con người làm ra, văn hóa đồng thời lại cũng được hàm chứa ngay trongcái phương thức mà con người tạo ra các sản phẩm đó Văn hóa cũng là một thành tố có mặttrong các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, dù đó là quan hệ kinh tế hay tôngiáo, quan hệ pháp luật hay các quan hệ đời thường… Văn hóa cũng đồng thời là bản thân cácnăng lực cấu thành nhân cách con người, từ trí tuệ đến đạo đức; từ tâm hồn đến tình cảm; từ ýchí đến các năng lực sáng tạo…, tất cả đã hình thành nên lối sống, thói quen, phong tục tậpquán, cách tư duy, ứng xử, qua đó phản ánh kiểu sống, lối suy nghĩ, cách hành xử của con ngườitrong một môi trường sinh thái - nhân văn cụ thể, làm nên diện mạo riêng của mỗi cộng đồng Như vậy, văn hóa phản ánh phương thức sống của một cộng đồng, được hình thành như là
hệ quả tất yếu của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Tổng hợp tất
cả những phương diện trên,văn hóa bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống con người,biểu hiện ở kiểu sống, “kiểu nhân vi”, ở phương thức sinh hoạt của con người, làm nên nhữngnét riêng tiêu biểu và có tính bền vững, tất cả đều góp phần làm nên đặc trưng riêng của một dântộc, tạo ra sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác
Khi văn hóa là một hiện tượng phổ quát của nhân sinh, là cái “vô sở bất tại” (không đâu
không có), khi nó liên quan đến tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống con người, được biểu hiện vôcùng phong phú và đa dạng, từ vật chất đến tinh thần, từ vật thể đến phi vật thể, từ hữu hình đến
vô hình thì mọi góc độ tiếp cận đều khó có thể bao quát hết được phạm vi của nó, cả về phươngdiện định tính lẫn định lượng Và cũng do mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có sự hiệndiện của văn hóa nên gần đây người ta đã quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu và nhận diện vănhóa theo các lĩnh vực chuyên ngành như: văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa kinh
Trang 12doanh, văn hóa ẩm thực, văn hóa du lịch, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa giao tiếp, văn hóa giaothông, văn hóa pháp luật, …
Không thể phủ nhận được rằng, trong di sản văn hóa của một dân tộc / cộng đồng bao giờcũng kết tinh những giá trị tinh hoa đóng vai trò là nền tảng, cốt lõi, làm điểm tựa để nuôi dưỡng
và bảo tồn sức sống của một dân tộc, bởi con người ở đâu và bao giờ, trong hành trình sống củamình cũng luôn hướng đến những giá trị tích cực, cũng luôn khát khao vươn tới chân – thiện –
mỹ Nhưng mặt khác cũng cần thấy rằng, nếu như văn hóa là một kiểu ứng xử đặc trưng của mộtcộng đồng trước những thách thức khác nhau của những điều kiện tự nhiên và xã hội, thì sự ứng
xử có thể thế này hoặc thế kia, có mặt tốt cũng có mặt xấu, có tích cực và cũng có tiêu cực, nhất
là khi những điều kiện tự nhiên và xã hội không phù hợp hay đối lập với các nhu cầu và lợi íchcủa con người Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong diện mạo văn hóa của mỗi cộng đồng khôngchỉ gồm những mặt tích cực, giá trị mà còn có những nhược điểm, hạn chế Thêm vào đó, cáiđược coi là có giá trị văn hóa cũng không phải là những giá trị hằng hữu, bất biến, mà còn đượcxem xét tùy thuộc vào các góc nhìn và các tiêu chí đánh giá khác nhau Xét từ phương diệnđồng đại, cùng một đặc trưng văn hóa nhưng có thể có giá trị xét trên tiêu chí này mà lại không
có giá trị, thậm chí phản giá trị xét từ góc nhìn khác Ví dụ, tính cộng đồng có giá trị khi nó tạonên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lối sống sẻ chia, đùm bọc – một truyền thống tốtđẹp của dân tộc ta, nhưng xét trên phương diện bảo vệ quyền cá nhân hay quan hệ với pháp luậtthì đây lại là nguyên nhân tạo nên nhiều hạn chế và những ứng xử tiêu cực Xét trên phươngdiện lịch đại, các thước đo giá trị cũng không phải bất biến, vĩnh cửu, bởi vậy, một đặc trưngvăn hóa nào đó ở giai đoạn này thì có giá trị tích cực nhưng ở giai đoạn khác thì lại trở thànhphản giá trị, thành lực cản khi nó không còn phù hợp để thích nghi trong bối cảnh mới
Bởi vậy, việc nghiên cứu, nhận diện văn hóa của một dân tộc cần có một cái nhìn toàn diện
và biện chứng, trong đó không chỉ hướng đến việc khẳng định những mặt tích cực, giá trị màcòn cần phải nhận diện cả những nhược điểm, những tiêu cực, hạn chế khi nó cũng là một phầntất yếu trong hành trang tinh thần của một dân tộc
1.1.1.2 Đặc trưng và biểu hiện của văn hóa
Là một hình thái ý thức xã hội, văn hóa cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, đều là sảnphẩm của một thực tiễn xã hội cụ thể, và đến lượt mình, nó lại phản ánh, tác động trở lại thựctiễn xã hội ấy Tuy nhiên, trong tương quan với các hình thái ý thức xã hội khác, văn hóa là mộthình thái ý thức xã hội đặc biệt Tính chất đặc biệt ấy được xác định bởi ba đặc trưng tiêu biểu:
tính đa diện và tổng hợp, tính hệ thống, tính truyền thống.
Trước hết, văn hóa là một hình thái ý thức xã hội có tính đa diện và tổng hợp,bởi nó thẩm
thấu và hiện diện trong mọi hoạt động sống của con người Văn hóa do không tồn tại như mộtlĩnh vực độc lập, không có giá trị tự thân, nên cũng chính vì vậy mà nó hiện diện khắp nơi,
Trang 13không đâu không có, thẩm thấu vào tất cả mọi phương diện của đời sống xã hội Văn hóa do đó
là một khái niệm có tính tổng hợp - đó là dấu ấn về lối sống của một cộng đồng in dấu lên mọihoạt động vật chất (cách thức lao động sản xuất, ăn, mặc, ở, đi lại), mọi mặt sinh hoạt tinh thần(nhận thức, tư tưởng, tôn giáo, phong tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, nghệ thuật, giao tiếp ứng xử, lễhội…), mọi quan hệ gia đình, xã hội (được qui chế thành đạo đức, nghi lễ, pháp luật…) Tổng
hợp tất cả những điều đó mới làm nên cái diện mạo riêng trong mô thức ứng xử, trong phương
thức sống của một cộng đồng, khiến cho cộng đồng này không giống với các cộng đồng khác.
Do tính đa diện và tổng hợp, văn hóa như một bầu khí quyển bao trùm lên cuộc sống của chúng
ta, khiến cho - một cách tự nhiên và tất yếu, mọi người đều không thể sống ngoài “bầu khíquyển văn hóa” ấy
Tính đa diện cũng chi phối đến một đặc trưng khác của văn hóa, đó là tính hệ thống Văn hóa
do nhiều thành tố hợp thành, nhưng giữa các thành tố trong cấu trúc của một nền văn hóa khôngtồn tại như là những đơn vị rời rạc, riêng lẻ, độc lập, mà giữa chúng có các mối liên hệ nhiềumặt, nhiều chiều, đan cài, móc xích, qui định và thẩm thấu vào nhau tạo thành hệ thống, trong
đó yếu tố này là nguyên nhân và hệ quả của những yếu tố khác Do đó,trong thực tế, không thểtách bạch các thành tố của hệ thống văn hóa vì chúng tồn tại trong sự gắn bó hữu cơ, lồng vàonhau như tâm hồn và thể xác, làm thành diện mạo của một nền văn hóa với một tổng thể các sảnphẩm vật chất và tinh thần
Vì văn hóa có tính hệ thống nên khi khảo sát một hiện tượng văn hóa, không thể không đặthiện tượng ấy trong tính hệ thống, trong sự chi phối, ràng buộc lẫn nhau giữa nhiều yếu tố làmnên hệ thống trong các tương quan đồng đại
Cùng với tính hệ thống, một trong những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa là tính truyền
thống Nếu văn minh là sản phẩm có tính thời đoạn thì văn hóa là sản phẩm của tính quá trình,
được tích lũy qua nhiều thế hệ, được kế thừa và trao truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau Bởivậy văn hóa là di sản tinh thần tồn tại ổn định và có sức sống lâu bền, thẩm thấu trong chiều sâutâm thức của cộng đồng để trở thành hành trang tinh thần mà mỗi cộng đồng mang theo khibước từ thời đại này sang thời đại khác Truyền thống của văn hóa của một dân tộc được biểuhiện qua các di sản văn hóa, bao gồm hai bộ phận, đó là di sản vật thể (hữu hình) như: đền,chùa, lăng tẩm, nhà cửa, công cụ sản xuất, vật dụng… và các di sản văn hóa phi vật thể tồn tạidưới dạng tinh thần, ẩn trong chiều sâu tâm thức cộng đồng, đó là những kinh nghiệm tập thểđược lưu truyền trong qua không gian và thời gian, được đúc kết thành mô thức ứng xử xã hội,biểu hiện thông qua ngôn ngữ, lối sống, ẩm thực, phong tục, tập quán, nghi lễ, pháp luật, nghệthuật, … tạo thành nếp sống chung của cộng đồng Chính mô thức ứng xử đảm bảo cho cácthành viên trong cộng đồng có sự gắn kết với nhau, tạo nên một nếp sống chung ổn định và bềnvững
Trang 14Về biểu hiện của văn hóa, nhà nghiên cứu Phạm Đức Dương đã đưa ra quan niệm về một sơ
đồ cấu trúc hai tầng bậc: cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu Cấu trúc bề mặt gồm hệ thống kýhiệu biểu thị và hệ thống ký hiệu biểu tượng, đó là biến số, yếu tố động của văn hóa; còn cấutrúc chiều sâu là cái phần chìm, khó nhìn thấy, nó nằm trong tâm thức của con người, là yếu tốtĩnh của văn hóa, được kết tinh và tồn tại trong tiềm thức của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng
trong suốt hành trình sống Giải thích về mối quan hệ giữa hai tầng cấu trúc này, ông nói: “Cấu
trúc chiều sâu là cái kết tinh, lắng đọng nằm ẩn dưới cơ tầng đóng vai trò định hướng, điều chỉnh mọi sự biến đổi trên cấu trúc bề mặt, quy định bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng và nhân cách của mỗi cá nhân, định hình nền văn hóa của mỗi dân tộc trong không gian và thời gian [14; 221] Cấu trúc chiều sâu của văn hóa đó là ý thức, là các năng lực tinh thần của con
người bao gồm tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, kinh nghiệm sống và thói quen, phongtục, tập quán… được hình thành trong một môi trường sinh thái và nhân văn cụ thể C ấu trúcchiều sâu của văn hóa ẩn chứa trong ý thức, tiềm thức của con người, tuy không dễ nhận ra, vàlại càng khó khăn hơn để có thể mô tả, nhận diện, nhưng đó là nền tảng để hình thành nên cácquy tắc hướng dẫn tư duy, điều chỉnh hành vi ứng xử và phương thức hành động, cũng như sựlựa chọn các thang bậc giá trị trong xã hội và chi phối mọi hoạt động thực tiễn của con người.Chính cái cấu trúc chiều sâu khiến cho “văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả”
Bởi vậy, để nhận diện một hiện tượng văn hóa, không thể giản đơn chỉ dừng lại ở việc mô tả,
liệt kê các hiện tượng ở cấp độ bề mặt, tức không chỉ trả lời câu hỏi “cái gì?”, “như thế nào?”,
mà quan trọng hơn là phải trả lời được câu hỏi “tại sao lại như thế?”, tức là phải chỉ ra được cáicấu trúc chiều sâu, phải lý giải được những căn nguyên sâu xa từ trong ý thức, tiềm thức chiphối các hiện tượng bề mặt ấy
1.1.1.3 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển
Trong nỗ lực tìm kiếm động lực của sự phát triển bền vững, văn hoá hiện đang là vấn đềđược đặc biệt quan tâm trong việc hoạch định chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, bởi conngười là nhân tố quyết định sự phát triển, nhưng con người trước hết là một thực thể văn hóa.Nền tảng của sự tăng trưởng bền vững ở ngay trong tiềm lực con người, ở năng lực trí tuệ vàkhả năng sáng tạo của con người, ở trong đạo đức và động cơ hành động của con người, tức là ởtrong văn hóa Nói đến con người là nói đến văn hóa; văn hóa là nơi thể hiện sức mạnh bản chấtcủa con người, là công cụ điều chỉnh một cách tự nhiên nhất, trên phạm vi rộng lớn nhất, tinh tếnhưng cũng mạnh mẽ nhất đối với nhận thức, hành động và cách ứng xử của con người Một khinhân cách văn hóa là nội lực của con người, nó “thấm sâu vào tất cả mọi lĩnh vực hoạt động củacon người”, “xuyên suốt cơ thể xã hội”, thì triết lý của sự phát triển tất yếu phải được xây dựngtrên nền tảng văn hóa Điều này đã được thể hiện trong Nghị quyết của UNESCO về phát triển:
“Khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trị đạo đức
Trang 15và văn hóa, qui định sự nảy nở và phẩm giá của con người trong xã hội Nếu như con người lànguồn lực của phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân lại vừa là người được hưởng, thìcon người phải được coi chủ yếu như là sự biện minh và là mục đích của sự phát triển”, bởi vì
“kinh nghiệm của hai thập kỉ vừa qua cho thấy rằng, trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình
độ phát triển kinh tế nào, hoặc xu hướng chính trị và kinh tế nào, văn hóa và phát triển là haimặt gắn liền với nhau” Chính vì lẽ đó, năm 1988 UNESCO đã phát động “Thập kỉ thế giới pháttriển văn hóa” và đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của các quốc gia trên thế giới
Ở Việt Nam, trong suốt tiến trình cách mạng, đặc biệt là từ khi đất nước bước vào công cuộcđổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu hóa, Đảng ta luôn ý thứcsâu sắc về vai trò của văn hóa trong sự phát triển của xã hội Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trong đó khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xãhội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [39, 55] Cùng vớiviệc nhấn mạnh vai trò đặc biệt của văn hóa, Nghị quyết còn đề ra phương châm phải gắn kếtnhững vấn đề văn hóa với những vấn đề kinh tế - xã hội: “Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặtchẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật
kỉ cương… biến thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển” [27] Vấn đề càng trởnên cấp bách hơn trong giai đoạn hiện nay, trước một thực tế đáng lo ngại đã và đang diễn ra, đó
là trong khi mức sống, thu nhập quốc dân ngày càng được cải thiện thì đạo đức xã hội lại đangxuống cấp ở mức đáng báo động, lối sống chạy theo đồng tiền đang chi phối và làm khuynh đảonhiều giá trị, các tệ nạn xã hội đang gia tăng ngày càng phức tạp hơn… Đó là những biểu hiệnđáng báo động của tình trạng mất cân đối giữa văn hóa và phát triển Bởi vậy, hơn lúc nào hết,trong bối cảnh Việt Nam ở giai đoạn quá độ hiện nay, nhân tố văn hóa cần phải được coi là nềntảng, là nội lực của sự phát triển
1.1.2 Giới thuyết về văn hóa pháp luật
1.1.2.1 Khái niệm văn hóa pháp luật
Nếu văn hóa là một phạm trù xã hội để chỉ phương thức sống đặc trưng của một cộng đồng,biểu hiện thông qua sự ứng xử giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, thì văn hoápháp luật thuộc về lĩnh vực ứng xử xã hội, đó là tổng thể các hành vi thể hiện sự ứng xử của conngười trong môi trường điều chỉnh của pháp luật, là sự hiện thực hóa năng lực tinh thần và ýthức của con người trong các hoạt động pháp luật Do đó, văn hóa pháp luật là một lĩnh vực biểuhiện của văn hóa – văn hóa xứng xử với pháp luật
Nếu như các đặc trưng văn hoá của một cộng đồng xuất hiện cùng với sự hình thành tổ chức
xã hội từ buổi sơ khai, thì văn hoá pháp luật hình thành muộn hơn, khi các qui tắc ứng xử củacon người được đặt trong sự kiểm soát của pháp luật Nếu văn hóa là một khái niệm đa diện và
Trang 16mơ hồ, thì văn hóa pháp luật với tư cách là một lĩnh vực biểu hiện đặc thù của văn hóa nên cũng
là một khái niệm rất khó minh định Bởi vậy, hiện nay trong khoa học pháp lý cũng như trong
lĩnh vực nghiên cứu văn hóa chuyên ngành chưa có một quan niệm thật thống nhất về văn hóa
pháp luật
Trước hết, về thuật ngữ, hiện nay ở Việt Nam người ta đang dùng hai thuật ngữ: văn hóa
pháp luật và văn hóa pháp lý Các tác giả như Lê Đức Tiết [65] Trần Ngọc Đường [20], Lê
Vương Long [37] dùng thuật ngữ văn hóa pháp lý Còn các tác giả Lê Minh Tâm, Nguyễn Thanh Thập, Vũ Thị Kim Dung [15, 134], Phạm Duy Nghĩa [47] thì dùng thuật ngữ văn hóa
pháp luật Vậy nên dùng thuật ngữ nào thì hợp lý hơn?
Trong Từ điển tiếng Việt, từ pháp lý có nghĩa là: “lý luận, nguyên lý về pháp luật”; còn pháp
luật là “những qui phạm hành vi do nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội” Như vậy, thuật ngữ pháp lý thiên
về phương diện lý thuyết, là những nguyên lý, nguyên tắc có tính phương pháp luận soi rọi và
chi phối mọi hoạt động pháp luật cụ thể Còn thuật ngữ pháp luật thiên về chỉ thực tiễn xã hội
của đời sống pháp luật, đó là sự hiện thực hóa những tư tưởng, quan điểm, nguyên lý, nguyêntắc của pháp luật thông qua việc xây dựng và thực thi pháp luật của nhà nước cũng như các hành
vi, lối sống và ứng xử của xã hội trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật Bởi vậy, theo chúng
tôi, dùng thuật ngữ văn hóa pháp luật hợp lý hơn, khi nó bao quát được thực tiễn xã hội của đời
sống pháp luật với tất cả những biểu hiện phong phú và đa dạng của nó, và hiển nhiên, đằng sauthực tiễn xã hội của pháp luật là sự chi phối của những tư tưởng, quan điểm, nguyên lý, nguyêntắc của pháp luật
Về khái niệm văn hóa pháp luật, trong công trình nghiên cứu Văn hóa pháp luật và phát
triển văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả Nguyễn Thanh Thập [15, 47] và Vũ Thị
Kim Dung [15, 134] đã đưa ra các định nghĩa như sau: “Văn hóa pháp luật là những giá trị
nhân đạo, tiến bộ, tích cực của pháp luật trong xã hội, được thể hiện thông qua các bộ luật, các điều luật Đồng thời các giá trị đó còn được thể hiện trong các hoạt động pháp luật, thẩm thấu vào nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ” Còn tác giả Lê Minh Tâm [15] thì cho rằng: “Văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm hệ thống qui phạm pháp luật được ban hành trong các thời kì lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật…” [15, 147].
Như vậy, với các định nghĩa trên đây, khái niệm văn hóa pháp luật chỉ được hiểu đồng nghĩa
với những mặt tích cực của đời sống pháp luật, theo đó, văn hóa pháp luật chỉ có được trong mộtmôi trường pháp luật tiến bộ, lành mạnh và giàu tính nhân văn, trong đó pháp luật vừa có sức
Trang 17mạnh và tính hiệu lực cao, đồng thời cũng là một chuẩn mực ứng xử được tuân thủ một cách tựnhiên, tự nguyện.
Tuy nhiên, nếu quan niệm văn hóa là tất cả những gì thuộc về phương thức sống của mộtcộng đồng, với tất cả những ưu điểm và nhược điểm như là hệ quả tất yếu của sự thích nghi vàứng phó với các điều kiện tự nhiên và xã hội, thì văn hóa pháp luật cũng được hình thành và tồntại một cách khách quan và tất yếu trong những môi trường xã hội được điều chỉnh bởi các quiphạm pháp luật Trong môi trường điều chỉnh của pháp luật, hành vi pháp luật là hành động có ýthức của con người, đó có thể là hành vi hợp pháp, tức phù hợp qui phạm pháp luật, nhưng cũng
có thể là hành vi bất hợp pháp, tức là trái với qui định của pháp luật Dù hợp pháp hay khônghợp pháp, tích cực hay tiêu cực, nhưng khi nó được thực hiện thường xuyên, phổ biến đến mứcnhư một thói quen tự nhiên, tất yếu thì khi đó nó đã trở thành một ứng xử “văn hóa” Do vậy,theo chúng tôi, cũng như văn hoá nói chung, khái niệm văn hóa pháp luật cần được hiểu khôngđồng nghĩa với những hành vi ứng xử tích cực với pháp luật mà còn bao hàm cả những hành viứng xử tiêu cực của cá nhân/cộng đồng trong những môi trường điều chỉnh của pháp luật
Tóm lại, văn hóa pháp luật là sự ứng xử của con người trong môi trường những điều chỉnh
của pháp luật, bao gồm tri thức, tư tưởng, quan điểm, thái độ, kinh nghiệm và thói quen, được tích lũy trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, được biểu hiện qua văn bản pháp luật,
hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật và hành vi ứng xử với pháp luật
Vì văn hóa pháp luật là một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa xã hội,do đó, việcnghiên cứu văn hóa pháp luật của một quốc gia ở một giai đoạn cụ thể đòi hỏi chúng ta phải đặt
nó trong mối tương quan và sự liên hệ với các lĩnh vực khác của văn hóa nói chung cũng nhưvới mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
1.1.2.2 Biểu hiện của văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật là một thành tố, một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện đặc thù của văn hóa
xã hội, đó là lĩnh vực ứng xử với pháp luật, bởi vậy nó cũng mang những đặc trưng chung củavăn hóa Tuy nhiên, nói đến văn hóa là nói đến sự tự do, tự nguyện, là thói quen trong sự lựachọn hành vi, trong khi đó thì pháp luật lại là công cụ điều chỉnh xã hội có tính áp đặt, cưỡngbức Bởi vậy, nếu pháp luật được thực hiện dựa trên sự cưỡng bức thì nó chưa trở thành hành vimang tính văn hóa Nói cách khác, các hành vi ứng xử với pháp luật (dù tích cực hay tiêu cực)chỉ trở thành cái văn hóa khi người ta thực hiện các hành vi ấy trên tinh thần tự do, như một thóiquen tự nhiên và tất yếu Theo đó, một xã hội có nền văn hóa pháp luật cao là một xã hội màtrong đó các qui phạm pháp luật được đối xử như là chuẩn mực của đạo đức và lương tâm, tức
là khi pháp luật không còn là một công cụ cưỡng bức mà được thực thi một cách tự nhiên, tựnguyện
Trang 18Xét về mặt kết cấu, văn hóa pháp luật là bộ phận cấu thành của một nền văn hóa nói chung.
Nếu các đặc trưng văn hóa của một dân tộc được biểu hiện qua các sản phẩm vật chất, các sản
phẩm tinh thần, các thói quen trong lối sống và hành vi ứng xử, thì cũng có thể nhận diện văn
hóa pháp luật qua các phương diện biểu hiện như: ý thức pháp luật, hệ thống và các thiết chếpháp luật, lối sống và hành vi ứng xử với pháp luật
a) Ý thức pháp luật (luật trong suy nghĩ và thái độ): “Là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có; thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức
và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội” [16, 421] Ý thức pháp luật phản
ánh:
- Trình độ hiểu biết về pháp luật, đó là các tri thức, tư tưởng, quan điểm về pháp luật, là trình
độ nhận thức và mức độ am hiểu pháp luật của các tầng lớp nhân dân, kể cả bộ phận cán bộcông chức trong các cơ quan có chức năng trực tiếp áp dụng, thi hành và bảo vệ pháp luật
- Thái độ đối với pháp luật: đó là tâm lý, tình cảm, niềm tin, ý thức tôn trọng và tự giác chấp
hành hay coi thường pháp luật; thái độ lạc quan / bi quan, hy vọng / thất vọng, quan tâm / thờ ơ,nhiệt tình / lãnh đạm đối với pháp luật Một xã hội có văn hóa pháp luật cao khi các thành viên
xã hội có trình độ hiểu biết về pháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật, có thái độ tích cực phảnứng, lên án những hành vi vi phạm pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, bởi vậy nó chịu sự qui định của tồn tại xãhội, là sản phẩm và cũng là sự phản ánh những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Tuy nhiên, ýthức pháp luật cũng như ý thức xã hội nói chung, thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội Bằng chứng
là, khi tồn tại xã hội đã thay đổi nhưng ý thức xã hội nói chung và ý thức pháp luật nói riêng vẫncòn tồn tại dai dẳng như là những tàn dư của quá khứ được kế thừa trong hiện tại Do đó ý thứcpháp luật (đặc biệt là tâm lý pháp luật) là lĩnh vực mà ở đó truyền thống và các thói quen có mộtvai trò chi phối không nhỏ
b) Hành vi ứng xử với pháp luật (luật trong hành xử thực tế): là những phản ứng, cách ứng
xử được biểu hiện ra bên ngoài của con người trong các mối quan hệ mà pháp luật điều chỉnh.Hành vi pháp luật được biểu hiện dưới hai dạng: hành vi hợp pháp (phù hợp với qui định củapháp luật) và hành vi không hợp pháp (vi phạm pháp luật, bất chấp pháp luật, lách luật…) Hành
vi ứng xử với pháp luật là sự biểu hiện ý thức pháp luật (thái độ, tình cảm, niềm tin) của mỗi cánhân/ cộng đồng trong môi trường điều chỉnh của pháp luật
c) Văn bản pháp luật và hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật: bao gồm hệ thống văn bản
pháp luật (luật trên giấy) và hệ thống tổ chức và hoạt động của các thiết chế lập pháp, hànhpháp, tư pháp , đó cũng là các phương diện hiện thực hóa của ý thức pháp luật Trong đó, hệ
Trang 19thống văn bản pháp luật vừa là sản phẩm, vừa là cơ sở để các thiết chế thực thi pháp luật có thểhoạt động; đến lượt mình, các thiết chế thực thi pháp luật lại là công cụ để hiện thực hóa các vănbản pháp luật Theo đó, tính hiệu quả của hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật vừa là thước
đo chất lượng của văn bản pháp luật, lại vừa thể hiện khả năng, trình độ vận dụng kiến thức vàcông cụ pháp luật của nhà nước trong việc quản lý xã hội
Như vậy, để nhận diện một nền văn hóa pháp luật cần có một cái nhìn tổng hợp và bao quát
từ tất cả các phương diện trên đây, bởi trong thực tế, ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật vàhành vi pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại, là tiền đề và hệ quả của nhau Ý thức phápluật có vai trò chỉ đạo việc xây dựng chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật của nhà nướccũng như việc thực hiện hành vi pháp luật của cá nhân Ngược lại, chính sách và hệ thống phápluật có vai trò định hướng cho việc giáo dục ý thức pháp luật và hành vi pháp luật Đến lượtmình, ý thức pháp luật và hành vi pháp luật lại tác động trở lại quá trình phát triển và hoàn thiệnchính sách và hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật Như thế, ý thức pháp luật và hành vipháp luật vừa là thước đo, vừa là bằng chứng thể hiện hiệu quả xã hội của một chính sách phápluật và hệ thống pháp luật
1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa với pháp luật
Trong cuộc sống, cả văn hóa và pháp luật đều có chức năng điều chỉnh hành vi của conngười, bởi vì, mọi tổ chức xã hội đều chỉ có thể duy trì được sự tồn tại trên cơ sở của sự thỏathuận giữa các thành viên trong cộng đồng Sự thỏa thuận này được thể hiện dưới hai hình thức:
luật thành văn - đó là luật pháp, và luật bất thành văn – đó là các qui tắc cộng đồng biểu hiện
dưới dạng phong tục, tập quán, lối sống, thói quen…, được mọi người tuân thủ một cách tự giácđến mức tự nhiên, thậm chí như là vô thức - đó là văn hóa Trong mối quan hệ này, “văn hóa cómột ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật Văn hóa chính là cuộc sống, do đó, việcxây dựng pháp luật, theo lẽ tự nhiên, phải dựa trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luậtphải có khả năng biến thành văn hóa để điều chỉnh cuộc sống” [2] Chính vì vậy, kinh nghiệmvăn hóa là nền tảng quan trọng nhất để xây dựng pháp luật
Đồng thời, cũng chính trong lĩnh vực hoạt động pháp luật, văn hóa có khả năng hiện thựchóa những năng lực nhân tính, phát huy vai trò và tăng cường hiệu quả của pháp luật trong xãhội Đến lượt mình, tính hiệu quả của pháp luật trong xã hội là chỉ số, là thước đo chất lượngChân – Thiện – Mỹ của một nền văn hóa Do đó, để hiểu pháp luật chúng ta phải hiểu thực tiễn
xã hội của pháp luật Hiểu thực tiễn xã hội của pháp luật cũng tức là chúng ta phải hiểu văn hoáchung của xã hội nơi có sự tồn tại của pháp luật
1.2 Thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay
Trong tiến trình hội nhập và phát triển, Việt Nam đang nỗ lực để thực hiện các mục tiêu kinh
tế - xã hội nhằm hiện đại hóa đất nước, trong đó xây dựng nhà nước pháp quyền được xác định
Trang 20là một mục tiêu quan trọng Nhưng một thực trạng đáng báo động là văn hóa pháp luật ViệtNam hiện nay đang bộc lộ nhiều tiêu cực Cách hành xử không thượng tôn pháp luật đang diễn
ra hàng ngày, ở mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng,dưới nhiều hình thức biểu hiện đa dạng vàphức tạp Tình trạng này không chỉ diễn ra đối với một bộ phận không nhỏ người dân, mà cả các
cơ quan công quyền, trong đó các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luậtcũng không phải là ngoại
lệ Đây chính là một lực cản rất lớn trong việc thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nhànước pháp quyền Trong bối cảnh ấy, việc chỉ ra thực trạng văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay
để từ đó tìm ra nguyên nhân và các giải pháp khắc phục trở thành một yêu cầu cần thiết và cấpbách
Để nhận diện thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay, trong phạm vi hạn chế của đềtài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, chúng tôi không có điều kiện về thời gian và kinh phí để thựchiện sự khảo sát bằng phương pháp điều tra xã hội học trên các nhóm đối tượng, mà chỉ căn cứtrên cứ liệu là những thông tin được đăng tải trên báo chí, bởi với hàng trăm tờ báo được xuấtbản hàng ngày, kể cả báo in và báo điện tử, thì đây là một kênh thông tin phong phú, đa diện,phản ánh nhanh nhạy và kịp thời mọi diễn biến của đời sống hàng ngày Khảo sát qua công cụtìm kiếm Google cũng cho thấy các cụm từ liên quan đến thái độ và hành vi ứng xử với phápluật xuất hiện với một số lượng rất lớn trên các phương tiện thông tin báo chí Điển hình là cáccụm từ như: “không tuân thủ pháp luật” (97.100 lượt); “coi thường pháp luật” (1.280.000 lượt);
“vi phạm pháp luật” (23.500 lượt); “nhờn luật” (19.600 lượt); “thách thức pháp luật” (204.000lượt); “luật rừng” (142.000 lượt); “lách luật” (187.000 lượt); “phép vua thua lệ làng” (169.000lượt); “chạy án” (184.000 lượt), “nạn mãi lộ” (41.000 lượt)… Dù những con số này, do sự trùnglặp có thể là nhiều lần nên không thể là căn cứ để có thể đưa ra những kết luận chính xác, song
dù có trừ đi một số phần trăm đáng kể do sự trùng lặp thì cũng không thể không coi đây lànhững “con số biết nói” về một thực trạng đáng báo động trong thái độ và hành vi ứng xử vớipháp luật Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan, khoa học và sự tin cậy của thông tin, chúngtôi đã lựa chọn các bài báo tiêu biểu để khảo sát, dựa trên các tiêu chí sau đây:
a) Những bài báo được đăng tải trên những tờ báo lớn, có uy tín trong công luận như: Pháp
luật Việt Nam, Pháp luật TP HCM, Đời sống & Pháp luật, Vietnamnet, Dân trí, Lao động, Người lao động, Đại đoàn kết, Tuổi trẻ, Tiền phong, Thanh niên, VN Express, Sài Gòn tiếp thị, Doanh nhân Sài Gòn, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Nhà báo & Công luận, Gia đình & Xã hội,…
b) Về thời gian: lựa chọn những bài báo phản ánh những sự việc xẩy ra trong thời giankhoảng ba năm gần đây, đặc biệt ưu tiên hơn cho những bài báo phản ánh những sự việc cònnóng hổi tính thời sự
Trang 21c) Về nội dung: lựa chọn những bài báo phản ánh trực tiếp về thực trạng tiêu cực của vănhóa pháp luật biểu hiện qua hai phương diện chủ yếu: 1) Ý thức và hành vi ứng xử với phápluật; 2) Hệ thống và các thiết chế thực thi pháp luật.
d) Về tính chất của sự việc: lựa chọn những bài báo phản ánh những sự việc nổi cộm đượcnhiều người quan tâm, gây nhiều phản ứng và bức xúc trong dư luận xã hội
Với các tiêu chí trên, trong số cả hàng trăm bài báo đề cập đến những vấn đề liên quan,chúng tôi đã lựa chọn gần 200 bài báo làm cứ liệu để khảo sát nhằm đem lại một cái nhìn từ cậncảnh đến bao quátvềmặt trái của thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay
Sau đây là phần nhận diện thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay quaviệc tổng thuật các bài báo:
1.2.1 Ý thức và hành vi ứng xử không thượng tôn pháp luật
Để nhận diện ý thức và hành vi pháp luật với tư cách là các lĩnh vực biểu hiện trực tiếp củavăn hóa ứng xử với pháp luật, chúng tôi khảo sát vấn đề đối với cả hai đối tượng: người dân –đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật và các cơ quan công quyền – đối tượng chịu tráchnhiệm thực thi pháp luật Các cứ liệu khảo sát cho thấy, thực trạng về các hành vi ứng xử khôngtôn trọng pháp luật ở nước ta hiện nay đang diễn ra ở mức độ trầm trọng đáng báo động Tronggần 100 bài báo được khảo sát, có thể thấy các cụm từ như: “không tuân thủ pháp luật”, “viphạm pháp luật”, “coi thường pháp luật”, “nhờn luật”, “thách thức pháp luật”, “xử kiểu luậtrừng”… xuất hiện với một tần suất rất cao để chỉ các hành vi ứng xử không thượng tôn phápluật diễn ra ở cả hai phía – người dân và các cơ quan công quyền Những hành vi nàyđã và đangdiễn ra ở mọi nơi mọi lúc, mọi việc, nhưng tiêu biểu và điển hình nhất là trong các lĩnh vực nhưgiao thông, quản lý xây dựng, ô nhiễm môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, các hành vibạo lực và ứng xử “luật rừng”…
1.2.1.1.Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông
Nếu như ở các nước văn minh, các hành vi tham gia giao thông nhất nhất đều tuyệt đối tuânthủ pháp luật, thì ở nước ta hiện nay, văn hóa giao thông đang ở trong tình trạng hỗn độn đếnmức khó kiểm soát, biểu hiện rõ qua việc gia tăng các vụ tai nạn giao thông hàng năm cũng nhưcác hành vi vi phạm luật giao thông đã trở nên phổ biến đến mức trở thành bình thường Trong
bài báoÝ thức chấp hành luật giao thông kém do đâu? tác giả Bùi Văn Kiên đã chứng minh bằng những con số cụ thể về sự gia tăng của tai nạn giao thông ở nước ta: “Theo Ủy ban An
toàn giao thông quốc gia, tai nạn giao thông trong 10 năm qua liên tục gia tăng Nếu như năm
1990, số người bị chết vì tai nạn giao thông là 2.368 người thì đến những năm 1995 - 1996 là 6.000 người và đến năm 2002, con số này đã lên đến 12.989 (và 30.772 người bị thương) Tương tự, 6 tháng đầu năm nay cả nước đã có 6.300 người chết vì tai nạn giao thông - tăng 371 người (5,9%) so với cùng kỳ năm ngoái (và làm bị thương 714 người) Như vậy, bình quân mỗi
Trang 22ngày cả nước có 35 người chết và 48 người bị thương vì tai nạn giao thông - hơn cả số người bị chết vì căn bệnh thế kỷ HIV Cũng theo Ủy ban ATGT quốc gia, 83,8% số vụ tai nạn do người tham gia giao thông gây ra, trong đó: có 36% chạy quá tốc độ quy định; 17,2% tránh, vượt sai quy định; 13,9% thiếu chú ý quan sát; 6,8% do không đi đúng phần đường; 6,8% sau rượu bia điều khiển phương tiện và 3,1% do đi bộ qua đường không chú ý quan sát” Từ đó tác giả bài
báo bức xúc: “Công sức, tiền bạc đã được đổ nhiều cho những công việc được coi là cần thiết,
từ làm luật, tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức tự giác trong ứng xử, đến mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng hoàn thiện bộ máy kiểm soát, trấn áp, răn đe… Nhưng rồi giao thông công cộng vẫn mang bộ mặt nhếch nhác, hỗn độn và chứa đầy bất trắc, rủi ro (theo Việt báo).
Về tình hình vi phạm luật giao thông, theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Xây dựng ý thức
thị dân ở TP.HCM trong tiến trình phát triển đô thị văn minh, hiện đại”, (do TS Nguyễn Hữu
Nguyên Viện Nghiên cứu phát triển làm chủ nhiệm, công bố năm 2009) cho thấy:
- Các hành vi vi phạm Luật giao thông phổ biến là: vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, chạy quátốc độ, không có bằng lái xe, không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định
- Về nguyên nhân vi phạm Luật giao thông: có 400 người được hỏi câu này và các lý do chủyếu được đưa ra là:
1) Vì không thấy công an canh gác (71,8%);
2) Làm theo người khác (55%);
3) Vì vội công việc (54,3%);
4) Vì không bị phạt (28%);
5) Vì luật không nghiêm (27,8%);
6) Vì không biết Luật giao thông (23%);
7) Lý do khác (6,5%)
Như vậy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến vi phạm luật giao thông là do không thấy công ancanh gác (chiếm 71,8% số người được hỏi) Nhưng điều đáng ngại hơn cả, theo nhóm nghiêncứu, có đến 70% số trường hợp bị xử phạt do vi phạm Luật giao thông rơi vào độ tuổi 20-30.Điều này đã cho phép nhóm nghiên cứu kết luận rằng, giới trẻ là đối tượng vi phạm luật giaothông phổ biến nhất, trong khi đây lại cũng chính là đối tượng có hiểu biết về Luật giao thông.Tuy nhiên, TS Nguyễn Hữu Nguyên bày tỏ: “Điều chúng tôi lo lắng hơn thế nữa là tình trạng
cố tình vi phạm Luật giao thông ở nhóm người mặc nhiên buộc họ phải hiểu biết về luật lệ vàquy tắc ứng xử khi lái xe Vi phạm Luật giao thông ở tài xế taxi, xe buýt khá phổ biến, trong khiđây là nhóm người mà nghề nghiệp của họ buộc phải hiểu biết về Luật giao thông” Nhómnghiên cứu cho biết, qua phỏng vấn 30 tài xế taxi thuộc các hãng có thương hiệu, có đến 25 tài
xế trả lời từng vi phạm Luật giao thông, như quay đầu xe, rẽ vào đường cấm khi không thấycảnh sát giao thông Hậu quả sau đó là gây ra những vụ kẹt xe
Trang 23- Về câu hỏi: Vì sao có nạn kẹt xe ở thành phố? Có 400 người được hỏi, ngoài các lý do
khách quan về đường sá, đèn tín hiệu thì 62% trong số này nói nguyên nhân chủ quan là do cónhiều người chen lấn, vi phạm Luật giao thông Còn đối với thái độ ứng xử khi xảy ra tình trạngkẹt xe, gần một nửa số người được hỏi trả lời là họ tìm mọi cách len lách khỏi nơi kẹt xe Đócũng là nguyên nhân trực tiếp khiến nạn kẹt xe càng trầm trọng hơn, khimọi người tự bao vâylẫn nhau đến mức không còn lối thoát…
- Về thái độ đối với các hành vi vi phạm Luật giao thông, nhóm nghiên cứu cho biết: chưađầy 11% trong số người được hỏi phản đối các hành vi vi phạm Luật giao thông, song mức độphản ứng cũng chỉ dừng ở mức nói vài câu phàn nàn “đi đứng thế à”, “không có mắt à” Nhómnghiên cứu giải thích là do tâm lý ngại rắc rối, sợ chuốc lấy phiền phức, thậm chí sợ bị đánh khibuông lời nhắc nhở, lên án những hành vi vi phạm giao thông Trong khi đó số liệu điều tracũng cho biết, có gần 30% số người trả lời mặc kệ trước những hành vi vi phạm của nhữngngười xung quanh Điều đó cho thấy, những hành vi vi phạm Luật giao thông ở nước ta hiện nay
dù rất phổ biến nhưng vẫn chưa bị cộng đồng lên án đúng mức, thậm chí làm ngơ, coi như việckhông liên quan đến mình
Những kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây chỉ được thực hiện với đối tượng người thamgia giao thông Vậy phải chăng tình trạng ứng xử tiêu cực, coi thường, vi phạm pháp luậtgiaothông ở nước ta hiện nay chỉ xảy ra ởđối tượng người tham gia giao thông, tức là từ phía ngườidân – đối tượng chấp hành, còn chủ thể chịu trách nhiệm thực thi pháp luật thì vô can?
Trong số các bài báo mà chúng tôi khảo sát, có một tỉ lệ không ít những bài báo phản ánh vềthực trạng một bộ phận người nắm quyền lực công, có vai trò cầm cân nảy mực trong việc thựcthi pháp luật trong giao thông (trực tiếp là cảnh sát giao thông) lại chưa hề gương mẫu trongviệc chấp hành luật, thậm chí còn góp phần làm cho luật giao thông bị vô hiệu hóa Bằng chứng
là nạn “mãi lộ” của cảnh sát giao thông được coi như là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, bởi
nó đã trở thành một căn “bệnh nghề nghiệp” mãn tính, gây bức xúc trong dư luận xã hội đã hàng
chục năm mà vẫn chưa được giải quyết triệt để Loạt bài “Mãi lộ ở cửa ngõ TPHCM” trên báo
Người Lao động ra ngày 8 và 9-12-2009 đã nhận được nhiều tiếng nói đồng tình, cộng hưởng
của công luận Bạn đọc Bùi Văn Phước viết:
“Nạn mãi lộ đã diễn ra từ lâu, cứ có tiền là được bỏ qua các lỗi vi phạm Đây là một trong
những nguyên nhân chính khiến người ta xem thường luật giao thông, chạy xe quá tải, phóng nhanh, vượt ẩu, lấn tuyến… gây bao cái chết thương tâm cho người khác…Lâu nay, khi nhân dân và báo chí phản ánh, lãnh đạo ngành công an đều nói rằng sẽ kiểm tra và xử lý nghiêm minh Tuy nhiên, nhìn từ thực tế cuộc sống thấy rằng tệ nạn này ngày càng trở nên công khai trắng trợn Như vậy, việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền chưa đủ nghiêm khắc, nên vẫn có người tìm mọi cách để nhận mãi lộ”
Trang 24Bạn đọc Lê Đức Minh (Biên Hòa, Đồng Nai) cũng đồng tình khi cho rằng, “việc xử lý của
cơ quan có thẩm quyền chưa đủ nghiêm khắc, nên vẫn có người tìm mọi cách để nhận mãi lộ Trong việc xử lý nạn mãi lộ, nếu người chỉ huy và ngành công an làm kiên quyết sẽ được nhân dân ủng hộ Làm được như vậy, xã hội vừa trong sạch và nhiều cán bộ công an cũng không sa vào tha hóa, biến chất”
Cũng trong bài báo này, là nạn nhân của tệ nạn mãi lộ, bạn đọc Lâm Hải (công ty Vận tải ô
tô số 2) bày tỏ sự bức xúc:
“Chúng tôi là những tài xế xe tải thuộc công ty Vận tải ô tô số 2 (TPHCM) Nạn CSGT “làm
luật” dọc đường lâu nay luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong giới lái xe Có không ít CSGT dồn ép, kiếm cớ để buộc tài xế chung tiền hối lộ Anh em chúng tôi rất hoan nghênh các phóng viên báo Người Lao động đã đưa lên mặt báo những vụ mãi lộ có địa chỉ, thời gian rõ ràng, cụ thể Tuy nhiên, trước nay cũng đã có nhiều trường hợp tài xế và nhân dân tố cáo CSGT nhận hối lộ, nhưng việc xử lý không đi đến đâu khiến cho tệ nạn này vẫn ngang nhiên tồn tại”
Từ đó bạn đọc này khẩn thiết yêu cầu “xin đừng dung túng”, vì rằng “công việc tiếp theo
không chỉ là giải quyết riêng những vụ việc vừa bị tố giác, mà chúng tôi mong muốn ngành công an hãy làm kiên quyết để dẹp bỏ những “con sâu” Nếu như ngành công an xử nghiêm minh, công khai hình thức kỷ luật đối với những viên cảnh sát vi phạm, dân chúng sẽ rất hoan nghênh và tin tưởng Khi CSGT nói không với việc nhận hối lộ thì anh em tài xế cũng không dám dùng tiền để khỏa lấp các lỗi vi phạm”.
Các bài báo của các tác giả Bùi Văn Kiên (Ý thức chấp hành luật giao thông kém do đâu? (Tiền phong); TS Nguyễn Ngọc Điện (Bắt đầu từ nhà chức trách công,Sài Gòn Tiếp thị, thứ sáu, 04/09/2009);TS Nguyễn Hữu Nguyên (Văn hóa giao thông nhìn từ hai phía,báo Pháp luật
TP HCM, 26/3/2010)… đều phản ánh thực trạng về việc hành xử không thượng tôn pháp luật
từ phía người thực thi pháp luật trong lĩnh vực giao thông và đều cùng quan điểm khi cho rằng,một khi người thực thi thiếu văn hóa (giao thông) thì làm sao đòi hỏi người chấp hành có được.Một khi người thực thi pháp luật giao thông mà lại không tôn trọng luật giao thông, thì tất yếutrong xã hội sẽ vẫn còn phổ biến niềm tin… vào tính không hữu hiệu của luật Đó là nguyênnhân quan trọng góp phần tạo cho người dân thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thườngpháp luật Chính việc hành xử không thượng tôn pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nướctrong việc kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm làm cho người dân mất lòng tin vào sự nghiêmminh của pháp luật
Từ đó, các bài báo này đều khẳng định, cần phải coi văn hóa thực thi quan trọng hơn văn
hóa chấp hành vì nó có vai trò định hướng, làm gương Trong điều kiện chính người được giao
nhiệm vụ thực thi pháp luật lại cũng là người tìm cách vô hiệu hoá luật thì việc người dân khôngtuân thủ luật là lẽ hiển nhiên Bởi vậy, muốn pháp luật được tôn trọng một cách phổ biến, nghĩa
Trang 25là bằng ý thức công dân tự giác, thì trước hết nhà chức trách công phải nêu gương Nếu nhữngngười thay mặt chính quyền thi hành công vụ không gương mẫu, tất cả những hành vi như nhậnmãi lộ, nhận tiền mặt không xé biên lai, bán bằng lái xe, thông kiểm cả các xe cũ nát sẽ gópphần làm cho các giá trị của văn hóa giao thông bị giảm sút nghiêm trọng.Từ quan niệm đó, TSNguyễn Hữu Nguyênkhẳng định: “Chỉ cần những gì đang có được thực thi nghiêm, đúng mức thì trật tự, ý thức của người tham gia giao thông sẽ có một bức tranh khác với hiện tại” (QuốcThanh, Tuổi trẻ, Thứ ba, 13/10/2009).
1.2.1.2.Vi phạm pháp luật trong quản lý xây dựng
Vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý xây dựng những năm gần đây cũng là mộtđiểm nóng, gây bức xúc dư luận bởi thái độ, hành vi coi thường pháp luật, thách thức pháp luật,
vô hiệu hóa pháp luật đang diễn ra rất phổ biến, xét từ cả hai phía, đối tượng vi phạm và các cơquan quản lý, xử lý vi phạm Hàng trăm bài báo và các ý kiến phản hồi được đăng tải trên cácphương tiện thông tin đại chúng thời gian gần đây đã bày tỏ sự bức xúc, bất bình của dư luận xãhội trước tình hình các công trình xây dựng trái phép đua nhau mọc lên theo công thức “giấyphép nói một đằng, thực tế diễn ra một nẻo” mà vẫn ngang nhiên tồn tại như một thách thức đốivới luật pháp, với công luận
Trong loạt bài viết về chủ đề này (Thách thức luật pháp; Không thể chần chừ trong xử
lý;“Lờn thuốc”vì xử phạt không nghiêm…), PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện phản ánh thực trạng
phổ biến về hành vi thách thức luật pháp này:
“Chỉ được phép xây một căn nhà khiêm tốn nhưng lại cho ra đời cả một khối kiến trúc
hoành tráng Xã hội đã quen chứng kiến điều này, nhất là tại các đô thị lớn Hiện tượng xây cất nhà không phép hoặc to hơn nhiều so với giấy phép có dấu hiệu tràn lan, đến nỗi người ta phải
tự hỏi liệu trong lĩnh vực quản lý xây dựng dân dụng có tồn tại một quy tắc không thành văn, một thứ tục lệ theo đó giấy phép xây dựng bằng văn bản chỉ đơn giản là một thủ tục, nghi thức, chứ không phải là khung pháp lý giới hạn một cách nghiêm ngặt quyền xây dựng của chủ thể sống trong không gian chung Chỉ có thể nói rằng xây dựng không đúng theo giấy phép thật sự
là một vụ vi phạm pháp luật, đặc biệt là vi phạm trật tự công Không thể nói rằng những người được giao trách nhiệm quản lý nhà nước về xây dựng không hay biết gì về sự tồn tại của những bất động sản không hợp lệ ấy Theo lý lẽ thường tình, nhà xây dựng không phép tồn tại cũng có nghĩa rằng pháp luật xây dựng đã không được thực thi nghiêm chỉnh, nếu không muốn nói rằng
nó đã bị coi thường”
Ở một bài báo khác, tác giả tiếp tục bày tỏ sự bức xúc:
“Hơn 20 tòa nhà mọc lên ngay giữa trung tâm thành phố (HCM) được xác định là đối tượng
của quyết định dỡ bỏ đối với phần xây dựng sai phép Mệnh lệnh đã được đưa ra và tống đạt từ lâu đến những người có trách nhiệm thi hành, nhưng đến nay hầu hết công trình vẫn giữ
Trang 26nguyên hiện trạng như một thách thức ngang bướng đối với công luận Nói khác đi, người ta chỉ
có thể giữ lại những phần nhà xây dựng ngoài giấy phép đã được cấp trước đó bằng cách vô hiệu hóa các quy tắc pháp lý liên quan Việc duy trì các công trình ấy hàm ý có một thông điệp
đã được gửi đến toàn xã hội, theo đó luật pháp không được áp dụng, đúng hơn bị gạt ra một bên trong các trường hợp cụ thể này Dứt khoát không thể hình dung một thông điệp như thế có thể lưu hành một cách công nhiên trong điều kiện xã hội được coi là có tổ chức” (Không thể chần chừ trong xử lý, Tuổi trẻ, 04/12/2010).
Đặc biệt, vụ vi phạm ở công trình xây dựng cao ốc Pacific ở ngay giữa trung tâm quận 1,
TP HCM là một trường hợp điển hình khiến dư luận đặc biệt quan tâm Cụm từ “cao ốcPacific” được tìm thấy trên Google với 79.100 lượt từ và hàng trăm bài viết bày tỏ sự bức xúccủa dư luận về sự ngang nhiên coi thường pháp luật của chủ đầu tư và đơn vị thi công, giám sát,khi họ không những xây sai giấy phép mà còn phớt lờ những khiếu nại, cảnh báo về sự cố củacác công trình lân cận Tuy nhiên, sự thách thức dư luận và sự vô hiệu hóa luật pháp có lẽ đượcđẩy lên đến đỉnh điểm khi vụ việc kéo dài đã hơn hai năm qua, sau nhiều lần xử lý ầu ơ, lấy lệ,tới nay các tầng hầm đào sai phép vẫn chưa được lấp, thế mà văn bản mới đây của UBND TP lạiquyết định “tha” cho các tầng hầm đã đào sai phép Không những thế, để hợp thức hóa vi phạmnày, chủ đầu tư lại còn được sở Xây dựng cấp phép xây dựng mới với quy mô 22 tầng (tăng 2tầng so với giấy phép ban đầu) và có tới 5,5 tầng hầm Bởi vậy, điều làm dư luận bức xúc hơn cảchính là ở cách hành xử của các cơ quan có trách nhiệm trong việc xử lý vụ việc Hàng loạt bàiviết được đăng tải trên các trang báo mà ngay các nhan đề cũng đã thể hiện sự phản ứng gay gắt
của dư luận: Cao ốc Pacific: Phớt lờ tất cả, xử lý ầu ơ; “Lờn thuốc” vì xử phạt không nghiêm;
"Tha" cho tầng hầm cao ốc Pacific: Cao ốc khác xây lố tầng hầm cũng phải "tha"; Kêu gào đòi lấp 2,5 tầng hầm cao ốc Pacific mới là trái luật; Đừng để luật nước thua kẻ vi phạm; Pháp luật đã quy định "giết" thì phải "giết", sao lại "tha"?; Xin đừng ngụy biện; "Tha" như thế khác nào khuyến khích vi phạm?; Cao ốc Pacific: 2,5 tầng hầm xây lố được tha; Cao ốc Pacific: vì sao xây sai phép lại được tồn tại?
Chưa nguôi bức xúc trước thực trạng có quá nhiều sai phạm trong việc xây nhà trái phépchưa được xử lý nghiêm minh thì hiện nay người dân TP HCM lại đang được thử thách lòngkiên nhẫn trước thái độ đùn đẩy, không chịu trách nhiệm của các đơn vị liên quan về tình trạngxuất hiện hàng loạt “hố tử thần” gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thôngngay giữa trung tâm thành phố Theo báo cáo của Giám đốc sở GTVT TP.HCM Trần QuangPhượng thì từ khi “hố tử thần” đầu tiên xuất hiện (tháng 7.2010) đến nay, TP.HCM đã có 57 “hố
từ thần” Trong đó, 36 vụ sụp lún tại các vị trí không do công trình thi công và 21 vụ xảy ra
trong quá trình thi công Hàng loạt bài báo với những câu hỏi đầy bức xúc như:“Hố tử thần” tại
TP.HCM: Nại đủ lý do chối trách nhiệm? Né trách nhiệm“hố tử thần”; Đùn đẩy trách
Trang 27nhiệm“hố tử thần”(Huy Thịnh, Tiền phong, 8/11/2010);“Hố tử thần”và“hố trách nhiệm”(Hạ
Nguyên, Dân trí, 29/10/2010);“Hố tử thần”ở TPHCM: Cần xử lý hình sự? Mặc dù câu chuyện
“hố tử thần” trở thành đề tài “nóng” trên bàn nghị sự trong buổi chất vấn tại kỳ họp thứ 19
HĐND TP HCM khóa VII vào sáng 9.12, nhưng câu hỏi “Hố tử thần ở TP HCM - ai chịu
trách nhiệm?”thì vẫn còn còn bỏ ngỏ, bởi “quả bóng trách nhiệm” vẫn đang được đá qua lại mà
chưa hạ hồi phân giải
Trong bài “Hố tử thần” và “hố trách nhiệm”, tác giả Hạ Nguyên (Dân trí) khẳng định:
“Theo tần suất xuất hiện ngày càng cao của “hố tử thần” trên địa bàn TP.HCM, “hố trách
nhiệm” càng lộ rõ khi chưa có đơn vị nào đứng ra nhận trách nhiệm Khi bị truy vấn thì các đơn vị liên quan đổ lỗi cho nhau Song song với việc “hố tử thần” xuất hiện ngày càng nhiều là
Theo ông Lê Hiếu Đằng - nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQVN TP.HCM, tồn tại tìnhtrạng trên là do sai phạm không được xử lý nghiêm theo nguyên tắc, bao che cho nhau, không aitruy cứu trách nhiệm, vì vậy, cần phải kiên quyết áp dụng các biện pháp chế tài mạnh tay (cáchchức, xử lý hình sự) những cá nhân của đơn vị thiếu trách nhiệm thì mới hy vọng chấm dứtnhững “hố tử thần” Còn luật sư Thái Văn Chung, văn phòng Đoàn Luật sư TP.HCM thì chorằng, đơn vị từ nhà thầu phải chịu trách nhiệm khi thi công dự án, xảy ra tai nạn Ngoài ra cơquan quản lý phải chịu trách nhiệm khi công trình đã bàn giao mà xảy ra tai nạn Luật sư Chung
lý giải, do các biện pháp chế tài chưa đủ nặng khiến các đơn vị thi công vẫn “vô tư” vi phạm,pháp luật chưa được thực thi nghiêm minh khiến nhà thầu “nhờn luật” nên vẫn tiếp tục làm
1.2.1.3.Vi phạm trong bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm
Đây là một lĩnh vực mà ảnh hưởng của nó tác động trực tiếp đến sức khỏe và môi trườngsống của mỗi người dân, mỗi gia đình cũng như của cả cộng đồng Nhưng cũng ở đây, sự viphạm pháp luật đang diễn ra một cách phổ biến, ngang nhiên, khi có vô số doanh nghiệp gây ônhiễm môi trường đang tồn tại trên thực tế, nhưng lại vẫn không tồn tại đối với pháp luật Có thể
dễ dàng nhận thấy, vài ba năm gần đây, hầu như không ngày nào trên các phương tiện thông tinđại chúng lại không đưa tin về những vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường Từ các khu côngnghiệp đến các nhà máy, xí nghiệp sản xuấtlớn, nhỏ ở hầu hết các địa phương, ở những mức độ
Trang 28khác nhau đều thi nhau chôn trộm chất thải, xả chất thải gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai,không khí…Các hành vi vi phạm pháp luật này thường diễn ra trong thời gian dài từ năm nàyqua năm khác mà chính quyền các địa phương chẳng mấy để tâm đến, kể cả khi có đơn thưkhiếu nại cũng như sự phản ứng của những nạn nhân khốn khổ trong vùng Khi vụ việc bị pháthiện thì việc xử lý thường rất nương nhẹ, chế tài xử phạt cũng rất “dễ chịu” Cách xử lý theokiểu “giơ cao đánh khẽ”, thậm chí “giơ” không cao và “đánh” còn rất khẽ khiến cho hành vi viphạm không bị ngăn chặn mà cứ thế tiếp diễn, pháp luật mất hết tính răn đe Và khi pháp luật đãmất hết tính răn đe, vi phạm pháp luật về môi trường đã và đang xảy ra tràn lan, ngoài tầm kiểmsoát của các cơ quan chức năng.
Đặc biệt, vụ Vedan là một điển hình về tình trạng đùn đấy, đá qua đá lại “quả bóng tráchnhiệm” giữa các cơ quan chức năng Dư luận bất bình và phẫn nộ, vì hành vi vi phạm pháp luậtcủa Vedan là vô cùng nghiêm trọng nhưng đã tồn tại tới 14 năm mới bị phát hiện Tuy nhiên,điều đáng nói hơn là, khi hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng này được phơi bày trước côngluận, khi hậu quả mà nó gây ra cho môi trường sống và mưu sinh của người dân ở ba tỉnh thành(TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa) là vô cùng nặng nề, thì việc xử lý hành vi vi phạm và việc truycứu trách nhiệm của cơ quan quản lý để xảy ra sai phạm lại cũng gây bức xúc cho dư luậnkhông kém Trong suốt hai năm trời (2008 – 2010), báo chí đã tốn rất nhiều giấy mực để phảnánh sự bức xúc, phẫn nộ của dư luận về thái độ thờ ơ, vô cảm, cũng như cách hành xử đùn đẩytrách nhiệm của các cơ quan quản lý từ địa phương đến trung ương trong việc xử lý vi phạm
Trong bài: “Xử lý vụ Vedan “giết” sông Thị Vải; "Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay", tác giả
Hồng Lê Thọ viết:
“Với tang chứng, vật chứng rành rành thì việc niêm phong những hệ thống xả nước thải
độc hại là đương nhiên, không cho chúng tiếp tục gây hại là điều phải làm thế mà sau gần một tháng vẫn loay hoay trong biện pháp "trừng phạt", điều bắt buộc nhà máy tạm dừng sản xuất không thể thực hiện được Khi bộ Tài nguyên Môi trường "đề nghị" tỉnh Đồng Nai ra quyết định buộc Vedan phải ngừng sản xuất thì bị Đồng Nai từ chối, cho rằng chưa đủ thủ tục pháp lý hay
Bộ phải trực tiếp ra lệnh chứ không thuộc về trách nhiệm của Đồng Nai vì người quyết định xử phạt là Bộ TN-MT(!)…Trái banh "pháp lý" qua lại giữa hai đơn vị quản lý ngành (Bộ TN-MT) và hành chính (tỉnh Đồng Nai) còn kéo dài đến bao giờ khi nước thải ô nhiễm vẫn tuồn ra!” (Hồng
Lê Thọ, Sức khỏe và đời sống, 3/11/2008)
Những bài báo với các tiêu đề như: “Sông Thị Vải "bệnh" nặng nhiều năm, dân kêu cứu vô
vọng!”; “Độc giả phẫn nộ với Vedan và thanh tra môi trường”; “Làm gì với Vedan?”; “Vedan
và căn bệnh thường ngày của các cơ quan nhà nước”; “Vụ Vedan: Trách nhiệm của cơ quan quản lý tới đâu?”… đã xuất hiện rất thường xuyên và trở thành điểm nóng trên các trang báo
Trang 29trong một thời gian dài Tác giả Đinh Thế Hưng trong bài “Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự
và Vedan” viết:
… “Trong vụ Vedan, vai trò của cơ quan chức năng dường như mờ nhạt Mờ nhạt trong
việc phát hiện chậm trễ, trong việc xử lý vi phạm và trong việc không hoàn thành nhiệm vụ đặt
ra luật lệ để giải quyết Pháp luật, cụ thể là luật tố tụng dân sự đã quy định rõ trách nhiệm khởi kiện của cơ quan nhà nước Thế nhưng, không có cơ quan nào dũng cảm đứng ra đảm nhiệm việc này bởi lẽ ai cũng nghĩ "chắc nó trừ mình ra”.Ủy ban nhân dân tỉnh, sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đồng Nai có sự dè dặt đầy khôn ngoan khi không đứng ra khởi kiện Họ là những người cấp phép hoạt động, kiểm tra, giám sát, xử phạt hành chính Vedan sau đó lại là người đứng ra khởi kiện dân sự đối với Vedan Có cái gì đó không ổn ở đây, nhất là khi sở này thay vì đàng hoàng khởi kiện thì họ lại vận động nông dân chấp nhận bồi thường, lấy "dĩ hòa vi quý” làm trọng Quan còn ngại ra tòa thì dân nói "vô phúc đáo tụng đình" là điều dễ hiểu Khi công quyền không nhiệt tình thì người dân buộc phải tự đi tìm công lý Quá trình đi tìm công lý cho
vụ Vedan đáng lẽ ra cơ quan nhà nước phải là người tiên phong nhưng thực tế họ lại chỉ vào cuộc khi người dân đã làm quyết liệt và cơ quan nhà nước lúc này vào cuộc với vai trò là người
cổ vũ” (Vietnamnet, 18/09/2010).
Qua những thông tin mà báo chí và các phương tiện thông tin đã phản ánh, có thểnói,Vedan chỉ là một vụ việc điển hình trong hàng trăm những vụ vi phạm luật bảo vệ môitrường đã và đang ngang nhiên tồn tại và thách thức dư luận và pháp luật hiện nay
Cùng với tình trạng báo động đỏ về ô nhiễm môi trường, nỗi lo an toàn vệ sinh thựcphẩm (ATVSTP) cũng là chuyện “biết rồi, khổ lắm” nhưng vẫn phải “nói mãi” khi các hành vi
vi phạm pháp luật VSATTP đang ngày càng diễn ra phổ biến hơn, mức độ ngày càng trầm trọnghơn, theo đó là sự gia tăng số vụ ngộ độc thực phẩm hàng năm, gây tác hại nghiêm trọng đếnsức khỏe người dân, thách thức dư luận và pháp luật từ năm này qua năm khác Từ chuyện nướctương, nước mắm, hàn the, thịt thối, mỡ bẩn, dư lượng thuốc trừ sâu trong rau quả cho đếntình trạng tẩm ướp đủ loại hóa chất, phẩm màu công nghiệp vào thực phẩm,… Rồi ngộ độc tậpthể xảy ra như cơm bữa, có vụ nghiêm trọng đến hàng trăm người
Trong bài báo “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm: chưa yên tâm”, tác giả
Trần Toàn cho biết:
“Theo đánh giá của HĐND TP.HCM, thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm ở TP vào
mùa giáp tết là rất đáng lo ngại Các vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra ở tất cả các khâu, trong tất cả công đoạn của quy trình chế biến sản xuất Bác sĩ Trần Văn Ký, hội Khoa học kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam cảnh báo: Nhiều cơ sở sản xuất thực phẩm
có quy mô vừa và nhỏ dùng thịt, cá hư, chất lượng kém như để sản xuất giò, chả hay để chế biến suất ăn công nghiệp Có cơ sở dùng cả axít HCl và xút công nghiệp trong công nghệ sản xuất
Trang 30nước tương, nhưng chưa có ai bị xử lý Thậm chí trong sản xuất bánh mì, bánh bông lan, bánh ngọt… người ta dùng cả các hoá chất tạo xốp, tạo nở trong chế biến cao su Đây chính là nguồn gốc của ngộ độc thực phẩm mãn tính và hậu quả là người tiêu dùng sẽ bị ung thư, bệnh mãn tính về sau mà chưa có số liệu nào thống kê được Riêng việc kinh doanh thực phẩm tại hàng chục ngàn quán ăn, nhà hàng đều chung một “mẫu số”: không tuân thủ các quy định về VSATTP Trong khi đó việc quản lý chồng chéo giữa các bộ ngành khiến cho việc kiểm soát ATVSTP càng siết càng lỏng Ngay cả việc kiểm tra, giám sát, xử phạt nghiêm các sai phạm,
có thái độ xử lý với chính quyền địa phương không làm tốt trách nhiệm, đình chỉ, thu hồi giấy phép của các cơ sở vi phạm cũng chỉ là "rung chuông" Nhiều ý kiến đánh giá, thực trạng ATVSTP tại các thành phố lớn như của Hà Nội, TP.HCM đang xấu đi Nhiều vụ ATVSTP được "khui" ra nhưng hầu như chưa có vụ nào xử lý hình sự Ngay cả việc kiểm tra, giám sát, xử phạt nghiêm các sai phạm, có thái độ xử lý với chính quyền địa phương không làm tốt trách nhiệm, đình chỉ, thu hồi giấy phép của các cơ sở vi phạm cũng hô hào suông!”.
Trong bài: “Quốc hội giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm: Người ít, tiền thiếu, trách
nhiệm cha chung”, tác giả Lê Kiên cho biết, vệ sinh an toàn thực phẩm với những gam màu
loang lổ lo âu đã được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội trong cả ngày làm việc hôm 10-6-2010
và đã tường thuật lại cuộc truy vấn đầy bức xúc của các vị đại biểu về vấn đề này Đại biểuNguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) nói rằng: “Biết ăn gì, uống gì để tránh ngộ độc?” là câu hỏi
mà không ít người thốt lên như thế khi hàng ngày liên tục nghe các tin như sữa nhiễm độc, chả,giò có hàn the, thịt, cá ướp phân u-rê, rượu pha thuốc sâu, rau, củ, quả sử dụng thuốc trừ sâu,thuốc kích thích, nước đóng chai nhiễm vi sinh v.v vẫn bày bán khắp nơi “Đây cũng là câuhỏi mà cử tri đặt ra với đại biểu Quốc hội” - bà Bé cho biết, và truy vấn các cơ quan chức năng:
“Cử tri đặt ra câu hỏi các thực phẩm vi phạm VSATTP vẫn được bày bán khắp nơi, vậy trách
nhiệm của cơ quan quản lý ở đâu trong khi quản lý lĩnh vực này có tới năm bộ liên quan? Có nghĩa là một con gà, một mâm cơm của người dân có tới năm bộ chức năng quản lý Một công việc mà nhiều chủ thể quản lý sẽ dễ dẫn đến đùn đẩy, giống như câu nói dân gian là “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa” Việc thực phẩm không đảm bảo chất lượng mà vẫn nhập khẩu, ai chịu trách nhiệm thì bộ này đùn đẩy bộ kia, cuối cùng cũng không rõ trách nhiệm của ai”.
Trên báo Nông nghiệp Việt Nam (ngày 24/11/2009), với bài báo nhan đề “Doanh nghiệp
bất chính "lờn" thuốc, người dân lãnh đủ”, tác giả Đức Cường viết:
“…Thực tế này đã được minh chứng qua hàng loạt vụ sai phạm liên quan đến thịt “bẩn” nhập khẩu vào Việt Nam thời gian qua Ngay trong thời điểm dư luận đang vô cùng bức xúc về chuyện thịt nhiễm khuẩn, người ta vẫn thấy hàng trăm tấn thịt gây hại “vô tư” hành quân ra thị trường như trêu ngươi, chọc tức dư luận.
Trang 31Chưa bao giờ vấn đề mất VSATTP tại nước ta lại “nóng” như hiện nay khi một thực tế
“bi đát” về nguồn thực phẩm mà hàng chục triệu người dân Việt Nam đang ăn hàng ngày bị phát hiện quá nhiều chất độc Đã có một thời gian rất dài, chỉ vì lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp
đã nhập về Việt Nam hàng vạn tấn thịt “trời ơi” hết “đát”, mốc rêu và bốc mùi (sau đó được xử
lý hóa chất) để đầu độc người tiêu dùng Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng trong suốt nhiều năm trời, người dân Việt Nam bị lừa dối, bị xâm hại sức khỏe nghiêm trọng mà không hề hay biết Vụ việc chỉ bắt đầu bị phanh phui khi cơ quan chức năng kiểm tra lô hàng cánh gà nhập khẩu của công ty Trúc Đen và phát hiện công ty này đang “phù phép” để tung 13,5 tấn gà nhiễm khuẩn ra thị trường Tại thời điểm kiểm tra đã có gần một nửa lô hàng cánh gà đông lạnh nhập khẩu từng xác định bị nhiễm khuẩn e.coli và coliform được mang ra bán cho người tiêu dùng Sau vụ Trúc Đen, cơ quan chức năng tiếp tục phát hiện thêm 3 lô hàng tổng cộng 101 thùng bím dê phế thải với trọng lượng trên 1,5 tấn được khuyến cáo “không sử dụng cho người” nhập về bán cho người tiêu dùng Việt Nam.
Tuy nhiên, phải đến khi vị “đại gia” nhập khẩu thịt đông lạnh lớn nhất nhì Việt Nam là Công ty Vinafood bị phát hiện đang "biến hóa" hàng trăm tấn thịt heo, xúc xích hết “đát” trong kho lạnh, đặc biệt là phát hiện “động trời”: hồ sơ gốc nhập khẩu thịt bên Mỹ và Canada không ghi hạn sử dụng, người tiêu dùng mới té ngửa rằng từ bao lâu nay niềm tin đã bị đặt nhầm chỗ Trong suốt nhiều tháng ròng rã (từ tháng 7 trở lại đây), hàng chục doanh nghiệp “đen” bị phanh phui cách làm ăn chụp giật, vô đạo đức, kiếm tiền bất chính trên sức khỏe người tiêu dùng Một khối lượng thịt nhiễm khuẩn rất lớn lên đến 342 tấn (chỉ là phần nổi của tảng băng chìm) theo đó cũng bị tạm giữ trong “chiến dịch” muộn màng này.
Điều đáng nói là, sau khi lượng thịt “bẩn” khổng lồ trên bị “bắt tận tay, day tận mặt”, không hiểu sao cơ quan chức năng cứ dây dưa xử lý mãi không xong Sự chậm trễ đó đã tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp tự tung tự tác mang hàng “bẩn” bán tứ tán ra thị trường Thông thường, khi doanh nghiệp phạm luật như vậy, cơ quan chức năng phải có biện pháp xử
lý thật nghiêm khắc để răn đe Tuy nhiên, chưa một doanh nghiệp nào bị xử nặng, chưa một doanh nghiệp nào bị khởi tố xử lý hình sự Tất cả đều chỉ dừng ở mức xử phạt hình chính một số tiền nho nhỏ, “khuyến mãi” thêm vài câu nhắc nhở rồi…huề cả làng!” (Đức Cường, báo Nông
nghiệp, 24/11/2009)
Đây là tâm trạng âu lo, bức xúc của người dân khi phải là nạn nhân của tệ nạn làm ăn,kinh doanh gian dối, vô đạo đức, bất chấp pháp luật đang hoành hành trong xã hội hiện nay:
“Hãy làm nhà tiêu dùng thông thái”, lời cảnh báo này nay trở thành như một khẩu hiệu
dường như đã lỗi thời, bởi dù có muốn và cố gắng “thông thái” cũng không thể thực hiện được Đủ các hình thức gian dối, lừa đảo diễn ra ngày càng tinh vi hơn, khiến khó có người tiêu dùng nào đủ khả năng phòng tránh được tất cả.
Trang 32Không khó để kể: đổ xăng bị đong thiếu đã đành nhưng không thể nào biết được chất lượng xăng ra sao; mua thịt cá thì không rõ có bị ướp hóa chất, có dư lượng kháng sinh, có chất tăng trọng; mua rau thì gần như “nhắm mắt đưa chân” bởi khó tránh khỏi có dư lượng thuốc trừ sâu, phân hóa học; ngay cả mua kẹo đậu phộng hay kẹo hạt điều thì gần như luôn bị
“làm mặt” với những hạt to, mẩy nằm bên trên, còn bên dưới toàn hạt lép Những mối lo đó hầu như người tiêu dùng nào cũng phải đối mặt và gần như không sao tránh khỏi, đành phó mặc cho sự may rủi mà thôi.
Không thể nói là các cơ quan chức năng đã bỏ mặc người tiêu dùng đối phó với các hình thức gian dối, bắt chẹt, lừa gạt của người bán, người cung cấp dịch vụ, nhưng hình như các cơ quan này tỏ ra bất lực trước các thủ đoạn gian dối ngày một tinh vi hơn của một bộ phận người bán hàng Các lý do đưa ra cũng khá “khách quan”, như lực lượng quá mỏng, phương tiện thiếu thốn, các biện pháp chế tài thiếu sức răn đe
Chính vì vậy, các mối lo của người tiêu dùng gần như vẫn còn đó, thậm chí ngày càng trầm trọng hơn, thiệt hại ngày càng lớn hơn”.
Từ thực trạng ấy, tác giả bài báo kiến nghị:“Nếu chỉ kêu gọi suông về đạo đức, lương
tâm của người bán hàng gần như không có tác dụng, nhất là khi đạo đức xã hội đang có biểu hiện xuống cấp Do đó, pháp luật cần có các hình thức xử phạt đủ mạnh để răn đe, ngăn chặn tình trạng này Chẳng hạn, cần có quy định phạt tiền gấp nhiều lần số tiền gian lận chứng minh được (như tình trạng các cây xăng đong thiếu), rút giấy phép kinh doanh vĩnh viễn, đến mức nào đó phải truy cứu trách nhiệm hình sự Đồng thời, cần phát huy hơn nữa vai trò của các hội bảo vệ người tiêu dùng, nhất là khi Luật bảo vệ người tiêu dùng có hiệu lực ” (Trúc Giang, Người tiêu dùng có quá nhiều mối lo, Tuổi trẻ, 20/12/2010).
Cùng với những bức xúc trên đây, hàng loạt các bài báo như: “An toàn vệ sinh thực
phẩm: thực tế đáng sợ”; “Cao điểm vệ sinh an toàn thực phẩm: Đừng chỉ đánh trống, bỏ dùi!”;
“Lại chuyện an toàn thực phẩm”;“Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm: chưa yên tâm”; “Quốc hội giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm: Người ít, tiền thiếu, trách nhiệm cha chung”; “Xử lý vi phạm an toàn thực phẩm: Có chế tài nhưng không "dám" phạt?”… xuất hiện
thường xuyên trên báo chí đã cho chúng ta thấy thực trạng tình hình vi phạm pháp luật vệ sinh
an toàn thực phẩm hiện đang vượt ra ngoài tầm kiểm soát của pháp luật, khi các đối tượng vàhành vi vi phạm đang ngày càng gia tăng, còn các cơ quan quản lí thì lại đang ngày càng chứng
tỏ sự lúng túng và bất lực Hậu quả là người dân phải tập sống chung với tiêu cực và các hành vi
vi phạm pháp luật khi nó đang xảy ra hàng ngày, vô cùng phổ biến, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnhvực và ngày càng trầm trọng hơn, tần suất tin tức về tiêu cực xuất hiện trên các phương tiệnthông tin đại chúng cũng ngày càng cao hơn, gây tâm lý hoang mang lo ngại và bất an trongcộng đồng
Trang 331.2.1.4 Sự gia tăng các hành vi bạo lực và ứng xử “luật rừng”
Cùng với thực trạng đáng báo động về sự gia tăng các hành vi vi phạm pháp luật, gây nhiềubức xúc và bất bình trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội thì hiện nay, qua các phương tiệnthông tin đại chúng, không khó để nhận thấynhững hành vi bạo lực và kiểu ứng xử “luật rừng”đang ngày một gia tăng đến mức báo động, cả về tính chất nghiêm trọng cũng như quy mô, sốlượng Đó là minh chứng rõ nhất cho tình trạng pháp luật đang bị vô hiệu hóa Càng lúc, xã hộicàng phải chứng kiến nhiều hành vi bạo lực mới với mức độ ngày càng nghiêm trọng, nào làchuyện truy sát trên đường Láng-Hòa Lạc, chuyện bắn nhau trên đại lộ Đông-Tây, là sự nở rộcủa dịch vụ thu hồi nợ kiểu “xã hội đen”, cho đến thực trạng gia tăng bạo lực học đường,… chothấy việc giải quyết bất đồng, tranh chấp bằng bạo lực ngày càng tăng về độ công khai cũng nhưmức độ dã man, nguy hiểm và tính phổ biến
Thử làm một phép thống trên kê mục Pháp luật của báo Người Lao động từ ngày 01 tới
24-9-2010, tức là chỉ mới hơn 3 tuần đầu của tháng, kết quả cho thấy: có 210 bản tin phạm pháphình sự, trong số đó đáng lưu tâm nhất là có tới 69 tin liên quan tới án mạng (dưới các hình thứcmưu sát, cố sát, ngộ sát…), tức là chiếm gần 33% tổng số tin Có lẽ các báo khác cũng loan tảimột lượng tin có tỷ lệ tương tự (ngoại trừ loại báo CAND và báo Pháp luật có thể có tỷ lệ caohơn)
Còn khi vào công cụ tìm kiếm Google , kết quả cho biết, cụm từ “chống người thi hành
công vụ” có 259.000 kết quả; cụm từ “xử luật rừng” có 18.300 kết quả Tất nhiên là trong số đó
có nhiều kết quả trùng lặp, nhưng dù vậy thì những con số đó cũng phản ánh một thực trạng khóchối cãi là các hành vi ứng xử không theo chuẩn mực pháp luật đang tồn tại vô cùng phổ biếntrong xã hội ta
Hàng ngày trên các đài, báo chúng ta vẫn đối mặt thường xuyên với những câu chuyện vi
phạm pháp luật và giải quyết các mối quan hệ bằng luật “rừng” như: “Đòi nợ bằng luật rừng”;
“Để dẹp bỏ luật rừng”; “Luật rừng còn tồn tại dài dài”; “Hành xử theo kiểu luật rừng”; “Dùng
“luật rừng” thay luật tòa”; “Hình như đã hình thành "luật rừng" trong một bộ phận học sinh”;
“Qua các vụ nữ sinh đánh nhau: "Luật rừng" đang thâm nhập vào trường học?”…
Đặc biệt là các hành vi bạo lực hành hạ trẻ em đang diễn ra ngày càng phổ biến và trầmtrọng hơn mà dường như đa phần vẫn ngoài tầm kiểm soát của pháp luật Điển hình làvụ việc
em Bình bị chủ quán phở nơi em làm thuê ngay giữa thủ đô Hà Nội hành hạ với những cực hìnhtàn bạo trong suốt 10 năm trời mới bị phát hiện và xử lí Tương tự, gần đây hơn là vụ bé HàoAnh ở Cà Mau cũng bị chủ hành hạ suốt 2 năm trời với những ngón đòn tàn khốc, dã man nhưthời trung cổ: dùng búa, cây dầm bơi xuồng đánh vào đầu, đập vào lưng, ngực và tay chân; dùngkìm nhổ răng; tạt nước sôi vào người; lấy bàn ủi nóng chà vào lưng, mặt; dùng đũa sắt nungnóng đỏ đâm vào chân, lăn vào hai tay; buộc dây vào cổ nạn nhân lôi đi; bắt uống nước tiểu
Trang 34khiến em bị mất 66,83% sức khỏe Mặc dù kẻ gây tội ác trong hai vụ hành hạ trẻ em điển hìnhnày đã bị pháp luật trừng trị, nhưng vẫn còn đó những câu hỏi làm nhức nhối những người cólương tâm: liệu rồi còn bao nhiêu em Bình hay cháu Hào Anh vẫn đang hàng ngày bị hành hạ cả
về thể xác lẫn tinh thần mà pháp luật vẫn chưa với tay đến được?
Tuy nhiên, có lẽ điều làm công luận bức xúc và thất vọng và mất niềm tin hơn cả là khi phảichứng kiến cách hành xử rất “xã hội đen” của những người mà chức trách của họ là nắm giữ cáncân công lí để đảm bảo trật tự và công bằng cho xã hội Đó là thực trạng về các hành vi ứng xửkiểu “luật rừng” của những người nhân danh các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật
Sau đây là một số vụ việc điển hình được phản ánh trên báo chí:
“Đánh ghen, bà chánh án TAND tỉnh “đại náo” quán karaoke”:
Chồng bỏ nhiệm sở đi nhậu và hát karaoke trong giờ hành chính, vợ cũng gác việc cơ quan đến tìm và hành hung nhân viên phục vụ của quán đến mức phải đi cấp cứu.
Hai ngày nay, người dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xôn xao về “kỳ án đánh ghen”
mà đôi vợ chồng trong cuộc là bà Nguyễn Lê Lan, đương kim Chánh án TAND tỉnh, và ông Trần Phụng, Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy
Trận ẩu đả xảy ra ngay trong giờ làm việc tại quán karaoke Hưng Phát trên đường Phú Riềng
Đỏ, xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài
Thứ bảy, 29/3/ 2008)
Bài báo “Công lý và các quan toà” của nhà báo Huy Đức lại viết về câu chuyện Chánh án
toà án nhân dân huyện Phú Ninh, Quảng Nam, đã từng dùng câu liêm để giật đổ một bức tườngnhà đang xây của ông Phạm Nhi hàng xóm Khi ông Nhi chạy ra ngăn cản, ông Bằng đã kẹp cổông Nhi, còn vợ ông Bằng thì nắm tóc và dùng dép đánh ông Nhi vào mặt Và tác giả bình luận:
“Chưa nói về mặt pháp luật, một thường dân biết xấu hổ cũng sẽ không dùng “luật rừng” như
cách mà bà Lan và ông Bằng đã dùng Quan toà là những con người đòi hỏi phải có cả năng lực và phẩm giá Làm sao thuyết phục là công lý đã được phán quyết, khi những người đưa ra những phán quyết ấy không đáng tin cậy cả về năng lực lẫn đạo đức cá nhân” (Huy Đức, Công
lý và các quan toà, Sài Gòn Tiếp thị Online, 14/01/2009)
Trang 35Còn bài báo“Khi chuẩn mực ứng xử không phải là luật” (Thời báo Kinh tế Sài gòn
06/5/2007) thì viêt về câu chuyện bà trung tá công an ở Hà Nội, bị mua chuộc nên đã chỉ huyđộng một băng nhóm xã hội đen đập phá nhà một người dân thường, vốn là hàng xóm với ngườimua chuộc công an và đang có tranh chấp về ranh giới đất với người này Như vậy, ở ngay giữathủ đô Hà Nội, một người đại diện cho pháp luật đã đặt quyền lực cá nhân lên trên pháp luật, đã
sử dụng một thứ bạo lực phi pháp để giải quyết vấn đề xung đột lợi ích Với hành vi này, tác giả
bài báo bình luận: “bà trung tá công an đã loại bỏ pháp luật một cách có ý thức: đối với bà ấy,
chuẩn mực là cách xử sự của người có nhiều tiền và có thế lực; công lý nằm trong tay người đó.
Tổ chức cho một người thiết lập “công lý tư nhân”, bà trung tá lạnh lùng phủ nhận nền công lý
do Nhà nước đại diện”
Đặc biệt, có thể nhận thấy trong thời gian gần đây, thông tin về các vụ công an sử dụng bạolực với dân cũng đang xuất hiện ngày càng nhiều trên mặt báo, gây bất bình, phẫn nộ trong xãhội Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch vừa qua đã lên tiếng báo động về tìnhtrạng nhiều người dân bị tử vong khi bị công an bắt giữ Trong thông cáo, tổ chức này đưa ra 19
vụ bạo hành của công an, gây thiệt mạng 15 người Tất cả những vụ này đều được loan báo trêncác cơ quan truyền thông Nhà nước trong 12 tháng qua
Việc công an có những hành vi thô bạo và sử dụng bạo lực với người dân chỉ vì những lỗinhỏ trong vi phạm giao thông đã xảy ra khá phổ biến Hành vi vi phạm luật giao thông thực rakhông đến mức phải can thiệp bằng bạo lực, nhưng công an đã lạm dụng bạo lực, coi thườngmạng sống của người dân, gây nên những thương tật hoặc thậm chí những cái chết oan uổng
Dư luận vẫn chưa quên vụ một thanh niên tên Nguyễn Văn Khương ở tỉnh Bắc Giang chở bạngái đi mua đồ ăn, vì không đội mũ bảo hiểm nên bị công an bắt phải về đồn làm việc và đánhđập đến tử vong chỉ sau đó hơn nửa tiếng Bức xúc trước cái chết oan uổng của người thân, giađình anh Khương đã đưa thi thể anh lên UBND tỉnh Bắc Giang yêu cầu làm rõ nguyên nhân cáichết và hàng ngàn người dân đã đi theo dài hàng cây số, biến vụ việc thành một cuộc bạo động,giật đổ cả cánh cổng trụ sở UBND tỉnh Bắc Giang Trong tháng 8 vừa qua, ở Thái Nguyên, nữsinh viên tên Hoàng Thị Trà được bạn trai chở đi chơi bằng xe máy, cũng không đội mũ bảohiểm nên bị hai công an mặc thường phục đuổi theo và bắn nhiều phát vào đùi phải nhập viện.Cùng với những vụ nổi “đình đám” gây xôn xao dư luận ấy, xin dẫn ra đây một số vụ việckhác được đăng tải trên các báo cũng khiến dư luận bức xúc không kém:
- “Phó trưởng Công an xã "làm việc" với dân bằng đấm”:
…Khi triệu tập dân lên trụ sở, chưa tìm hiểu rõ ràng vấn đề, ông Hoàng Thanh Hùng, Phó trưởng Công an xã Minh Sơn (Đô Lương - Nghệ An) đã giơ nắm đấm nhằm mặt người dân "làm việc" Vụ việc đã gây bất bình với nhiều người dân”(xaluan.com, 18/12/2008).
- “Điều chuyển công tác khác đối với một trung tá CSGT”:
Trang 36Báo Lao Động số ra ngày 2.2.2010, đưa tin: “Bị CSGT dừng xe, một cô gái gãy răng”, phản ánh: Sáng 1.2, chị Đỗ Thị Hoa (sinh năm 1990, ở huyện An Dương, TP.Hải Phòng) đi xe máy đến khu vực ngõ Nam Phát I thì có 2 CSGT ra hiệu lệnh dừng xe Cho rằng CSGT ra hiệu lệnh dừng xe với người bên cạnh nên chị Hoa vẫn lái xe chạy tiếp, thì bị một CSGT chặn lại, dùng gậy điều khiển giao thông đập vào mặt, làm chị bị gãy răng
- “Làm rõ vụ một công an đánh người”:
TT - Nhiều bạn đọc báo tin: “Ngày 18-12- 2010 tại trụ sở Công an P.Đông Hải, TP Phan Rang - Tháp Chàm (Ninh Thuận) một công an đã đánh một phụ nữ ngất xỉu, phải đi cấp cứu”.
- “Công an đánh dân: Hệ quả của việc bao che có hệ thống”:
… Không thể tượng tượng nổi là những người sinh ra để bảo vệ dân mà có những hành vi côn đồ và coi thường pháp luật đến như vậy Qua những vụ việc gần đây tôi cảm tưởng rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ công an luôn tự cho mình cái quyền hành xử theo lối xã hội đen Đây là hệ quả của việc ngành công an luôn cố tình bao che và xử lý không nghiêm các cán bộ
vi phạm (Tuổi trẻ, 12/9/2007).
- “Dân "tố" công an hành hung người phải nhập viện”:
- Bác sỹ Nguyễn Ngọc Vân (Trưởng khoa Hồi sức cấp cứu, bệnh viện Đa khoa Hợp lực –
Thanh Hóa) cho biết, khoảng hơn 18h ngày 6/11, bệnh nhân Lưu Đình Tăng (20 tuổi, thôn Đông Khê, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa) được 2 cán bộ Công an huyện Hoằng Hóa đưa đến trong tình trạng bất tỉnh (08/11/2010).
Có lẽ cũng không cần bình luận gì nhiều về những sự việc trên đây, bởi tự nó đã có thể nóilên những gì cần nói Tuy nhiên, một suy luận giản đơn mà ai cũng có thể tự rút ra, đó là, ngaynhững người hiểu rất rõ pháp luật, hơn nữa lại đang nắm giữ vai trò thực thi pháp luật mà lạihành xử bất chấp pháp luật như vậy thì việc tồn tại phổ biến của “luật rừng” thay luật pháp nhưnhững câu chuyện được kể sau đây cũng là điều dễ hiểu
Về thực trạng cách hành xử theo “luật rừng” đang tồn tại phổ biến như một vấn nạn nhức
nhối trong xã hội hiện nay, trong bài báo Dẹp bỏ“luật rừng”, trên báo Tuổi trẻ, 12/6/ 2007), GS
Tương Lai đã bày tỏ thái độ bức xúc:
“… Thật đáng xấu hổ, đáng phẫn nộ vì trong khi đang hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh chúng ta vẫn đang phải chứng kiến quá nhiều những hiện tượng "đầu gấu" nơi bến xe, bãi chợ, nơi sinh hoạt công cộng, chốn đường xa, khuất nẻo, nơi mà những ứng xử
"mạnh được yếu thua", nơi luật rừng thắng thế Pháp luật đã trừng trị nhiều tên đầu gấu, tòa án cũng đã đưa ra xử, tội danh "đầu gấu" đã từng được tranh tụng, và bị can đã vào tù Nhưng liệu
có phải vì sức răn đe chưa đủ mạnh hay là vẫn còn những thế lực "bảo kê" với khá nhiều lý do phức tạp khó nói hết, nên nạn đầu gấu vẫn là nỗi ám ảnh trong đời sống xã hội? Đó là nỗi ám ảnh về thiếu an toàn khi đi vào những nơi, sinh hoạt ở những chỗ, những địa bàn mà đầu gấu
Trang 37có khả năng chiếm lĩnh Những địa bàn ấy, oái oăm thay có khi nằm ngay ở những nơi không thiếu những sức mạnh để trấn áp và loại bỏ nếu người ta muốn, như người dân lương thiện muốn.
Thì ra, tuy cả rừng luật đã và đang được tiếp tục xây dựng và ban hành, nhưng nhiều khi, nhiều chỗ vẫn bị luật rừng qua mặt”
Trong bài báo“Ứng xử theo luật rừng” tác giả Lê Thanh Phong, (Báo Lao động, 10/04/2009)
Chuyện thứ hai cũng xảy ra ngày 3.4, một nhóm phóng viên phát hiện nhiều nữ nhân viên massage bị giam lỏng ở khách sạn Ngân Hà, tỉnh Hà Tĩnh Nhờ sự đeo bám và thông tin của các anh, cơ quan chức năng vào cuộc và giải thoát cho 7 nữ nạn nhân Sau đó, nhóm phóng viên trở lại để làm rõ thêm vụ việc thì bị giám đốc khách sạn tịch thu giấy giới thiệu, máy ảnh, mắng chửi và gọi nhân viên đến với ý định sẵn sàng hành hung phóng viên
Chuyện thứ ba, Phòng Văn hoá - Thông tin của huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An tự đưa ra "luật báo chí" riêng, đó là các cơ quan, người dân trên địa bàn huyện, thị trấn không cần làm việc với phóng viên nếu như phóng viên không có giấy giới thiệu của Phòng VHTT…
Bọn lâm tặc phá rừng thuê người hành hung nhà báo Hành vi này vi phạm pháp luật, nhưng nó xuất phát từ một nhóm côn đồ Đã dám phá rừng thì họ dám xử theo "luật rừng", điều
đó không có gì phải ngạc nhiên Một giám đốc khách sạn là một chủ doanh nghiệp, có nhận thức pháp luật và ít nhiều hiểu biết văn hoá ứng xử, nhưng vì tức giận nhất thời, đã có hành động cũng khá "luật rừng" với các nhà báo Hành vi đó thật đáng ngạc nhiên và khó chấp nhận đối với một doanh nhân.
Nhưng kinh ngạc hơn là một ông trưởng phòng VHTT của một huyện lại dám cả gan soạn ra "luật báo chí" riêng để ứng xử với báo chí Quy định bất chấp pháp luật của ông trưởng phòng cũng là một loại "luật rừng" Có thể ông không cố tình vi phạm Luật Báo chí, nhưng điều này cho thấy trình độ cán bộ cơ sở còn rất hạn chế Với báo chí mà còn như vậy, khó có thể tin tưởng ông trưởng phòng ứng xử đúng luật với người dân”.
Trang 38Tác giả Nguyễn Quang A thì phản ánh về tình trạng dịch vụ thu hồi nợ kiểu “xã hội đen”đang tồn tại phổ biến hiện nay:
Những thông tin công an triệt phá các công ty thu hồi nợ sử dụng những biện pháp “luật rừng”, “dao búa” để cưỡng chế thu hồi nợ làm dư luận nóng lên (xem loạt bài “Dịch vụ thu nợ kiểu xã hội đen”, Tuổi trẻ, 12 và 13/6/2007).
Riêng ở Hà Nội có hơn 100 công ty dịch vụ thu hồi nợ được đăng ký, trong số đó một số công ty hoạt động theo kiểu xã hội đen và đã bị công an khởi tố Dư luận bức xúc với cách hành xử theo
“luật rừng”, nhưng làm thế nào để dẹp bỏ “luật rừng”? (Nguyễn Quang A, Để dẹp bỏ “luật rừng”,Việt Báo, 15/6/ 2007).
Truy tìm nguyên nhân của thực trạng gia tăng các loại tội phạm và ứng xử kiểu “luậtrừng”, TS Nguyễn Ngọc Điện chỉ ra nguyên nhân từ sự bất lực của bộ máy thực thi pháp luật vàcho rằng đây là một thách thức đối với quyền lực công Câu hỏi mà ông đặt ra cũng đồng thời là
câu trả lời: có phải “Xã hội có tổ chức đang bị thử thách?
“Bắt được người trộm chó, thay vì giải giao cho nhà chức trách, người dân chủ động giữ lại kẻ trộm và phương tiện hành sự, rồi tổ chức tiêu diệt cả hai với sự trợ lực của những công
cụ trừng phạt sẵn có, như gậy gộc, xăng dầu, rơm rạ ”.
Được hỏi tại sao lại làm như vậy trong điều kiện có cả một hệ thống pháp lý và bộ máycông lực đang vận hành, những người trong cuộc trả lời với ý đại loại: bức xúc do thấy việc xử
lý theo pháp luật của nhà chức trách đối với kẻ xấu, kẻ ác quá hời hợt và không đủ sức răn đe,người ta phải tự đặt và áp dụng cách xử lý mạnh hơn để thay thế, hòng đòi lại sự công bằng đã
bị đánh cắp Trên tất cả, muốn có được ý thức tôn trọng pháp luật phổ biến, một trong nhữngđiều kiện cốt yếu đối với trật tự xã hội bền vững, thì bản thân hệ thống chuẩn mực ứng xử vàcác thiết chế nắm giữ công lực phải tạo được sự tin tưởng như là chỗ dựa vững chắc của mỗingười, mỗi chủ thể trong quá trình giao tiếp xã hội Ở các nước tiên tiến, công dân được giáodục từ tấm bé để có được ý thức coi luật pháp, chuẩn mực khách quan là căn cứ xác lập cácquan hệ giữa người và người; coi quyền lực công là người tổ chức cuộc sống trong không gianchung, đặc biệt là trong trường hợp cần giải quyết mâu thuẫn, khủng khoảng dập tắt xung đột
giữa người và người (Xã hội có tổ chức đang bị thử thách? Vietnamnet, 09/9/2010)
Cùng quan điểm, tác giả Lê Minh Tiến trong bài “Con người hung dữ hay xã hội bất minh?”
khi truy tìm căn nguyên do đâu mà tệ nạn bạo lực phát triển đã chỉ ra nguyên nhân từ sự mấtlòng tin vào tính hiệu lực của pháp luật Tác giả bài báo cho rằng:
“…Lòng tin bị giảm sút có thể xuất phát từ sự chậm trễ của cơ quan hữu trách trong việc
can thiệp giải quyết các tranh chấp, sự thiên vị trong việc áp dụng luật lệ, sự làm ngơ trước những nguy cơ đã được cảnh báo.Và khi người ta đã không có niềm tin dựa vào pháp luật thì theo họ, tự giải quyết bằng bạo lực sẽ trở thành cách thức hữu hiệu nhất để giải quyết tranh
Trang 39chấp, để giành lại phần thắng hay sự công bằng một cách nhanh chóng Bạo lực có đất phát triển sẽ kéo theo sự phát triển các băng nhóm đâm thuê chém mướn, các đường dây buôn bán
vũ khí… Thiết nghĩ, nếu bộ máy tư pháp và hành pháp ở các cấp chính quyền cơ sở tỏ rõ sự hiệu quả, nhanh nhạy và công minh trong việc điều hành giải quyết các vụ tranh chấp sẽ góp phần quan trọng giảm bớt tệ nạn sử dụng vũ lực trong xã hội” (Lê Minh Tiến,Thời báo kinh tế
Sài Gòn, 28/3/2010)
Tác giả Nguyên Nhung trong bài Bước hụt trong văn hóa ứng xử thì nhìn nguyên nhân của
tình trạng gia tăng bạo lực và ứng xử “luật rừng” từ cả hai phía, chính quyền và công dân, và
cho rằng, do “công dân Việt Nam chưa làm quen với tinh thần thượng tôn pháp luật Và cơ
quan công quyền cũng chưa gánh đủ cái gánh nặng mà người dân giao phó”.
Thực trạng gia tăng các hành vi bạo lực và ứng xử kiểu “luật rừng” như đã chỉ ra trên đây là
sự cảnh báo về vai trò của pháp luật và ý nghĩa của việc tạo ra một môi trường pháp lý nghiêmminh làm điểm tựa căn bản cho sự vận hành guồng máy xã hội là quan trọng và bức thiết đếnnhường nào trong bối cảnh hiện nay
1.2.2 Tính hiệu lực của các thiết chế thực thi pháp luật và chất lượng văn bản pháp luật
Một hệ thống pháp luật chỉ có thể được vận hành dựa trên hệ thống văn bản pháp luật và cácthiết chế thực thi pháp luật Các thiết chế thực thi pháp luật là một hệ thống bao gồm:
a) Các cơ quan nhà nước được giao những quyền hạn và trách nhiệm thực hiện các chứcnăng soạn thảo, phê chuẩn, ban hành pháp luật
b) Các hoạt động đưa pháp luật vào thực tiễn đời sống, bao gồm việc thực thi pháp luật củacác cơ quan hành pháp
c) Các hoạt động của cơ quan tư pháp trong vai trò xét xử các hành vi vi phạm pháp luật,đảm bảo cho việc thực thi pháp luật được nghiêm minh
Các thiết chế pháp luật được xây dựng dựa trên các qui định của pháp luật, chịu sự chi phốicủa pháp luật, là công cụ quan trọng để bảo vệ pháp luật nhưng đồng thời cũng góp phần rấtquan trọng trong việc xây dựng các giá trị văn hóa pháp luật và hiện thực hóa những giá trị ấytrong đời sống
1.2.2.1 Thực trạng chất lượng của bộ máy công quyền
Có thể nói, mỗi mắt xích trong bộ máy nhà nước đều hết sức quan trọng để một xã hội pháttriển ổn định, hài hòa, lành mạnh và tích cực Tuy nhiên, trong nhiều mắt xích mà mỗi khâu đều
có vai trò quan trọng trong vị thế của nó thì hệ thống và các thiết chế thực thi pháp luật có một
vị trí đặc biệt quan trọng, bởi kinh tế không thể phát triển, chính trị không thể ổn định và nềntảng đạo đức xã hội không thể duy trì nếu công lý không được thực thi Nhưng công lý lạikhông tồn tại trong những thuyết lý chung chung, mơ hồ mà nó được thiết lập bắt đầu từ niềmtin của dân chúng vào những con người cụ thể trong vai trò đại diện cho công lý Nói cách khác,
Trang 40công lý không tồn tại ở những xã hội và từ những con người không đem lại niềm tin cho côngchúng Bởi vậy, có thể nói, nền văn hóa pháp luật của một quốc gia không chỉ biểu hiện, mà cònphụ thuộc vào tính hiệu lực của các thiết chế thực thi pháp luật, trong đó trước hết bắt đầu từchất lượng của bộ máy công quyền với nguồn lực con người là nhân tố quyết định Để tạo dựngđược niềm tin của nhân dân vào pháp luật và thể chế nhà nước, bộ máy công quyền trước hếtphải minh bạch, với nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp và tinhthần trách nhiệm cao trong công việc Tuy nhiên, gần đây niềm tin của nhân dân vào bộ máycông quyền đang ngày càng suy giảm trước những hiện tượng tiêu cực đang diễn ra phổ biến,trở thành “quốc nạn” ở các cơ quan công quyền hiện nay như chạy chức, chạy quyền, thamnhũng, hối lộ, lạm dụng quyền lực để nhũng nhiễu, gây khó khăn, tác hại nhiều mặt đến đờisống xã hội
Kết quả ban đầu của cuộc khảo sát trực tuyến về cải cách hành chính do UNDP phối hợpvới Vietnamnet thực hiện gần đây cho thấy, gần 70% người dân khi được hỏi đã trả lời rằng họ
phải đưa thêm tiền mới giải quyết được công việc liên quan đến thủ tục hành chính (Cứ “lót
tay” việc mới “chạy”,Vietnamnet, 14/10/2010).
Ông Nguyễn Mạnh Quyền, đại diện Uỷ ban Pháp luật Quốc hội đã nhận xét rằng: “Côngchức nhận tiền dễ dàng, nhận nhiều thấy quen, không có thì thấy thiếu” Còn nguyên Bộ trưởng
Tư pháp Nguyễn Đình Lộc trong ý kiến phát biểu tại Quốc hội ngày 3/11/2006 đã cảnh báo thựctrạng: "Người dân đang xem tiêu cực trong lực lượng cảnh sát giao thông như điều đương nhiên.Với ngành tòa án hiện tượng "chạy án" đã không còn là chuyện hiếm Người dân phải tập chungsống với tiêu cực" Từ thực trạng ấy ông đề nghị Quốc hội phải có biện pháp chấn chỉnh tìnhtrạng tha hóa trong của một bộ phận cán bộ, công chức Ông nói: "Tôi cảm nhận đã đến lúcQuốc hội phải đặt lên bàn nghị sự này, không thể tránh, phải nhìn thẳng sự thật" Cũng trên diễnđàn Quốc hội, đại biểu Trần Đình Long thẳng thắn nhìn nhận: "Vi phạm pháp luật ngày càngtăng, nhất là tham nhũng Loại hình tội phạm này đang trở nên phổ biến, diễn ra liên tục trongnhiều năm" Theo ông Long, nguyên nhân của tình trạng báo động trên là bởi "đang diễn ra hiệntượng tha hóa trong một bộ phận công chức"
Đơn cử như trong lĩnh vực quản lí đất đai – một trong những lĩnh vực đang nảy sinh nhiều tệ
nạn tiêu cực hiện nay, nhà báo Đào Tuấn trên Blog Tuanddk cho biết: “62% hộ phải chi, cao
nhất là 80 triệu đồng, để được giải quyết nhanh hồ sơ đất 30,7% thừa nhận “phải bồi dưỡng” cho cán bộ 33% doanh nghiệp nói phải có “quà lót tay” hoặc “chi phí không chính thức” Nhưng quan trọng nhất là hai con số: 24,4% cán bộ địa chính thừa nhận có nhận môi giới, từ một số việc cho tới “dịch vụ trọn gói” 12% cán bộ thừa nhận “bắt tay” với trung gian và 25% trung gian cho biết có “hợp tác với cán bộ”.