1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HỌC HÒA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TIÊN HOÀNG, VIỆT TRÌ, PHÚ THỌ

87 148 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, hội chứng rối loạn phổ tự kỷ(HCRLPTK) đang là một vấn đề nóng trong xã hội và đang đƣợc xem là một trong các dạng rối loạn tâm thần ở trẻ em kể từ khi đƣợc mô tả và nghiên cứu làn đầu tiên vào năm 1943 bởi Leo Canner. Hội chứng này làm cho trẻ em ít có khả năng hòa nhập cộng đồng, ảnh hƣởng cả về mặt thể chất và tinh thần tới sự phát triển của trẻ. Ở Việt Nam số trẻ mắc HCRLPTK ngày càng đƣợc phát hiện nhiều hơn đặc biệt ở những nơi đô thị lớn nhƣ Hà Nội. Theo thống kê của nghành giáo dục thành phố Hà Nội thì HCTK chiếm tỷ lệ cao nhất trong các dạng khuyết tật khác trong trƣờng học (30%). Lĩnh vực giáo dục trẻ em mắc HCTK đang đƣợc quan tâm không chỉ các bậc cha mẹ, các giáo viên mà cả các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học, tâm lý học và CTXH nhằm xây dựng những giải pháp hỗ trợ trẻ trong học tập và hòa nhập mộ cách hiệu quả. Học sinh mắc HCTK ở tiểu học thƣờng là những trẻ tự kỷ dạng nhẹ, tức là có những nét tự kỷ hoặc những trẻ đã đƣợc can thiệp sớm ở lứa tuổi mầm non đƣợc khắc phục những khó khăn của HCTK nên đƣợc đi học trong lớp hòa nhập. Đây là dạng khuyết tật chƣa có nhiều ngƣời biết đến nên chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Những học sinh này chƣa có sự quan tâm đãi ngộ nào về chính sách giáo dục vì chúng đƣợc xem nhƣ những đứa trẻ bình thƣờng. Các em chƣa đƣợc hƣởng phƣơng pháp giáo dục phù hợp do các giáo viên tiểu học chƣa thực sự nắm rõ về dạng trẻ này và thiếu các kiến thức về dạy hòa nhập. Bên cạnh đó, những học sinh mắc HCTK này còn gặp nhiều khó khăn do HCTK mang lại, đó là các vấn đề trong giao tiếp, học hỏi kỹ năng sống, sự kỳ thị của thày cô bạn bè, chƣa có chƣơng trình học dành riêng cho trẻ tự kỷ… Xuất phát từ lý luận thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài:” Hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trƣờn tiểu học Đinh Tiên Hoàng” trên đị a bàn thành phố Việt Trì cho khóa luận tốt nghi ệp của mình.

Trang 1

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HỌC HÕA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TIÊN HOÀNG, VIỆT TRÌ, PHÖ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Nghành: Công tác xã hội

Phú Thọ,2019

Trang 2

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HỌC HÕA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TIÊN HOÀNG, VIỆT TRÌ, PHÖ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Nghành: Công tác xã hội

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Lê Thị Xuân Thu

Phú Thọ,2019

Trang 3

3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

* TS Lê Thị Xuân Thu – cô giáo hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và

động viên em hoàn thành khóa luận này

* Ban lãnh đạo nhà trường, Ban chủ nhiệm, các Thầy, cô giáo khoa Chính trị và Tâm lý giáo dục, phòng đào tạo của trường đại học Hùng Vương

đã giúp đỡ và tạo mọi điêu kiện trong suốt thời gian em học và hoàn thiện khóa luận

* Ban lãnh đạo nhà trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, Trung tâm Hùng Vương… đã phối hợp, tham gia, tạo điều kiện hỗ trợ em trong quá trình triển khai

nghiên cứu đề tài

* Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh em, cùng em chia sẻ

những khó khăn, giúp đỡ và khích lệ em trong quá trình thực hiện khóa luận

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

4 MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khóa luận 8

2.1 Nghiên cứu ngoài nước 8

2.2 Nghiên cứu trong nước 9

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu 11

4.1 Đối tượng 11

4.2 Khách thể 11

4.3 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Giả thiết nghiên cứu 11

6.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 12

6.1 Cách tiếp cận 12

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 12

6.2.1 Phân tích tài liệu 12

6.2.2 Phương pháp quan sát 14

6.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm 14

6.2.4 Phương pháp chuyên gia 14

6.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 15

7 Ý Nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 15

7.1 Ý nghĩa thực tiễn 15

7.2 Ý nghĩa lý luận 16

8 Cấu trúc của khóa luận 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HỘI HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HỌC HÒA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TIÊN HOÀNG 17

1.1 Một số khái niệm cơ bản 17

1.1.1 Khái niệm hội chứng tự kỷ 17

1.1.2 Khái niệm giáo dục hòa nhập 18

1.1.3 Khái niệm giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ 18

1.1.4.Khái niệm liên quan đến mô hình giáo dục cho trẻ tự kỷ 19

Trang 5

5

1.1.4.1 Mô hình giáo dục chuyên biệt 19

1.1.4.2 Mô hình giáo dục hội nhập 19

1.1.5 Khái niệm công tác xã hội 20

1.1.6 Khái niệm nhân viên công tác xã hội 21

1.1.7 Vai trò của công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ 21

1.1.8 Khái niệm thích nghi 23

1.2 Một số vấn đề chung về trẻ tự kỷ 24

1.2.1 Một số đặc điểm của trẻ tự kỷ 24

1.3 Mô hình công tác xã hội trong trường học 29

1.3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng 31

1.4 Lý thuyết vận dụng trong đề tài khóa luận 32

1.4.1 Thuyết hệ thống 32

1.3.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái 32

1.3.3 Thuyết nhận thức hành vi 33

1.3.4 Thuyết nhu cầu 34

1.3.5 Lý thuyết về quyền trẻ em 36

1.3.5.1 Văn kiện quốc tế 36

1.3.5.2 Văn kiện cơ sở pháp lý tại Việt Nam 38

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2: 40

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ CHO TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HỌC HÒA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TIÊN HOÀNG 40

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 40

2.2 Thực trạng mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng 40

2.2.1 Mục đích 40

2.2.2 Thực trạng mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng 41

2.3 Đánh giá mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng 43

Trang 6

6 2.3.1 Đánh giá của phụ huynh về mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích

nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng……….37

2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng 45

Tiểu kết chương 2 47

CHƯƠNG 3: 48

BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ CHO TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HỌC HÒA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TIÊN HOÀNG 48

3.1 Biện pháp hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng 48

3.1.1 Biện pháp 1: Sử dụng mô hình không có sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội 48

3.1.2 Biện pháp 2: Sử dụng mô hình có sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội tại trường học 48

3.2 Hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng 49

3.2.1 Các hoạt động hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội tại trung tâm Hùng Vương 49

3.2.1.1.Giai đoạn đánh giá và lập kế hoạch cá nhân 50

3.2.1.3 Giai đoạn học hòa nhập 58

3.2.1.4 Giai đoạn đánh giá và điều chỉnh 63

Tiểu kết chương 3 67

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Khuyến nghị 69

2.2 Khuyến nghị đối với gia đình 69

2.3 Khuyến nghị với phòng Lao động thương binh – Xã hội 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

Giáo viên chủ nhiệm GVCN

Nhân viên công tác xã hội NVCTXH

Thân chủ TC

Hội chứng rối loạn phổ tự kỷ HCRLPTK

Trang 8

8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, hội chứng rối loạn phổ tự kỷ(HCRLPTK) đang là một vấn đề nóng trong xã hội và đang được xem là một trong các dạng rối loạn tâm thần ở trẻ

em kể từ khi được mô tả và nghiên cứu làn đầu tiên vào năm 1943 bởi Leo Canner Hội chứng này làm cho trẻ em ít có khả năng hòa nhập cộng đồng, ảnh hưởng cả về mặt thể chất và tinh thần tới sự phát triển của trẻ

Ở Việt Nam số trẻ mắc HCRLPTK ngày càng được phát hiện nhiều hơn đặc biệt ở những nơi đô thị lớn như Hà Nội Theo thống kê của nghành giáo dục thành phố Hà Nội thì HCTK chiếm tỷ lệ cao nhất trong các dạng khuyết tật khác trong trường học (30%) Lĩnh vực giáo dục trẻ em mắc HCTK đang được quan tâm không chỉ các bậc cha mẹ, các giáo viên mà cả các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học, tâm lý học và CTXH nhằm xây dựng những giải pháp hỗ trợ trẻ trong học tập và hòa nhập mộ cách hiệu quả

Học sinh mắc HCTK ở tiểu học thường là những trẻ tự kỷ dạng nhẹ, tức là có những nét tự kỷ hoặc những trẻ đã được can thiệp sớm ở lứa tuổi mầm non được khắc phục những khó khăn của HCTK nên được đi học trong lớp hòa nhập Đây là dạng khuyết tật chưa có nhiều người biết đến nên chưa được quan tâm đúng mức Những học sinh này chưa có sự quan tâm đãi ngộ nào về chính sách giáo dục vì chúng được xem như những đứa trẻ bình thường Các em chưa được hưởng phương pháp giáo dục phù hợp do các giáo viên tiểu học chưa thực sự nắm rõ về dạng trẻ này và thiếu các kiến thức về dạy hòa nhập Bên cạnh đó, những học sinh mắc HCTK này còn gặp nhiều khó khăn do HCTK mang lại, đó là các vấn đề trong giao tiếp, học hỏi kỹ năng sống, sự kỳ thị của thày cô bạn bè, chưa có chương trình học dành riêng cho trẻ tự kỷ…

Xuất phát từ lý luận thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài:” Hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trườn tiểu học Đinh Tiên Hoàng” trên địa bàn thành phố Việt Trì cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khóa luận

2.1 Nghiên cứu ngoài nước

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu,tôi đã tham khảo một số tài liệu liên quan sau:

Trang 9

9 Jean Macr Itard(1774-1838) đã tiếp nhận một cậu bé “hoang dã” tên là Victor Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức, cách ứng xử lạ với cuộc sống xã hội loài người Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và không có khả năng nhận thức như trẻ bình thường Ngày nay, người ta cho rằng Victor chính là TTK khác với những trẻ khác [3] (tr.56-58)

Thuật ngữ Tự kỷ(Autism) được bác sĩ tâm thần người Thụy Sỹ Engen Bleuler(1857-1940) đưa ra năm 1919 để mô tả giai đoạn bắt đầu của rối loạn thần kinh ở người lớn, đây là hiện tượng mất nhận thức thực tế của người bệnh khi cách

ly với đời sống thực tại hàng ngày và nhận thức của người bệnh có xu hướng không thống nhất với kinh nghiệm thông thường của họ [5] (tr.36)

Trong nghiên cứu phân tích hành vi (ABA) của L Lovass năm 1990 [9](tr.26) Ông đã đề cập đến nội dung chi tiết của phương pháp ABA hay còn gọi là phương pháp phân tích hành vi ứng dụng được sử dụng nhiều trong các hoạt động can thiệp trẻ tự kỷ Nghiên cứu của ông đã có đóng góp quan trọng phát triển công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ, nhiều nhà trị liệu sử dụng để giảng dạy Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy ABA cải thiện đáng kể tiến bộ của trẻ, đặc biệt là cải thiện kỹ năng ngôn ngữ, và khả năng nhận thức cho trẻ…

2.2 Nghiên cứu trong nước

CTXH tại Việt Nam đang ngày càng phát triển và khẳng định được vai trò vị trí của mình trong đời sống xã hội Tuy nhiên hiện nay số lượng các nghiên cứu trong nước về công tác xã hội vẫn còn hạn chế và chưa có nhiều số liệu tổng quát chính xác

Trong báo cáo khoa học tại hội thảo quốc gia đầu tiên về tự kỷ tháng 3/2013 tại Hà Nội, Nguyễn Thị Hoàng Yến- chủ đề tài tình hình trong sách giáo dục và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ Việt Nam chỉ ra rằng ở Việt Nam hiện nay chưa

có thống kê đáng tin cậy về tỉ lệ mắc tự kỷ và tỷ lệ lưu hành bệnh tự kỷ [10]

Trong công tác xây dựng hệ thống lý luận kết hợp thực tiễn đưa ra những dự báo về hòa nhập nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Yến – Chủ đề tài nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở nước ta hiện nay trong giai đoạn “2011-2020”, có vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thực hiện hỗ trợ trẻ tự kỷ ở nước ta Nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu tại các

Trang 10

10 thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thái Nguyên,Thái Bình, Đồng Nai với các nhiệm vụ nghiên cứu chính là xây dựng hệ thống lý luận, khảo sát thực trạng, Thái Bình Đồng Nai với các nhiệm vụ nghiên cứu chính là xây dựng hệ thống lý luận khảo sát thực trạng, đề xuất biện pháp thực hiện và dự báo

Từ các kết quả thu được đề xuất biện pháp thực hiện và dự báo từ các kết quả thu được đề tài đã đưa ra những dự báo có tính định hướng cho việc giải quyết vấn đề

về trẻ tự kỷ ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng như những nghiên cứu tiếp theo

Xã hội ngày càng phát triển kèm theo đó là nhu cầu chăm sóc sức khỏe, giáo dục ngày càng được quan tâm Một trong những nhóm đối tượng được hưởng lợi từ quá trình này chính là trẻ em Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng trở thành những nhóm đối tượng được quan tâm chăm sóc của Đảng, nhà nước thông qua các hệ thống chính sách và các nhà khoa học thông qua các nghiên cứu khoa học Hiện nay chủ đề về tự kỷ và trẻ tự kỷ đang được xã hội vô cùng quan tâm do mức độ phát hiện bệnh ở trẻ ngày càng nhiều những [15] ảnh hưởng của hội chứng với trẻ, gia đình và cả xã hội Có rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến trẻ tự kỷ

ở nhiều lĩnh vực khoa học mà đông đảo nhất là Tâm lý và Y tế Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu của khóa luận, tác giải đã lựa trọn một số công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu về trẻ tự kỷ và thực trạng hòa nhập của trẻ tự kỷ Hai công trình nghiên cứu có ảnh hướng đến góc nhìn của xã hội với hội chứng tự kỷ ở trẻ em phải

kể đến là “Nghiên cưu nhân thức của trẻ tư kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Ngô Xuân Điệp “Những khoảnh khắc lóe sáng trong tương tác mẹ con của trẻ có nét tự kỷ ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Đức[1] Hai công trình

đã góp phần rất lớn về mặt lý luận cũng như đề xuất các phương pháp trị liệu đối với các trẻ tự kỷ tại nước ta Trong các công trình nghiên cứu được công bố, các nhà tâm lý đã đề cập các hướng điều trị mới như: trị liệu bằng phân tâm học, hay áp dụng các phương pháp ABA, phương pháp PECS, Floor time, các trò chơi trị liệu… đều đã mang lại hiệu quả nhất định trong việc can thiệp cho trẻ tự kỷ Tuy nhiên phương pháp điều trị bằng “hành vi nhận thức” mà một vài công trình nghiên cứu gần đây trên thế giới đã chỉ rõ là phương pháp mang lại hiệu quả lớn nhất cho các trẻ tự kỷ Chính phương pháp can thiệp trị liệu bằng hành vi nhận thức luôn coi trọng đặc biệt tới hai rối loạn mang tính nền tảng của bệnh tự kỷ đó chính là “hành vi” và “nhận thức” của trẻ

Trang 11

11

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng các mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ đi học hòa nhập hiện nay Phương thức hoạt động mục tiêu, đội ngũ và kết quả của các mô hình đối với nhóm trẻ Từ đó, đối chứng với những đặc điểm của trẻ tự kỷ để hiểu được bản chất thật

sự những vấn đề mà các mô hình đang vướng mắc

Nghiên cứu kỳ vọng kết hợp được những ưu điểm của ngành công tác xã hội với mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả quá trình hòa nhập của trẻ Qua mô hình hỗ trợ hòa nhập của trẻ tự kỷ theo định hướng công tác xã hội sẽ càng khẳng định vai trò quan trọng của nhân viên công tác xã hội trong quá trình hỗ trợ trẻ

4 Đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Hoàn thiện mô hình hỗ trợ hòa nhập cho trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình

hòa nhập tại trường tiểu học theo hướng công tác xã hội

4.2 Khách thể

Hai trẻ mắc hội chứng tự kỷ của trung tâm HV đang theo học lớp 1C và 1D tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng là em Ngô Văn H và Nguyễn Văn B

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Địa điểm: Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng - Việt Trì

5 Giả thiết nghiên cứu

- Mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ theo hướng công tác xã hội tối ưu hóa được khả năng trợ giúp trẻ tự kỷ cũng như thỏa mãn được nhu cầu của gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình hòa nhập của trẻ tự kỷ Mô hình cũng cần tôn trọng những đặc điểm đa dạng của từng cá nhân thân chủ, đảm bảo được tính thân thiện và khả năng ứng dụng rộng rãi mô hình trong thực tế Ngoài ra mô hình còn nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội

- Khi thực hiện mô hình hỗ trợ hòa cho trẻ tự kỷ theo hướng công tác xã hội sẽ giải quyết được những vấn đề vẫn còn tồn tại hiện nay của các mô hình hỗ trợ khác như: nâng cao được khả năng tương tác giao tiếp xã hội cho trẻ trong môi trường học đường, giảm các hành vi gây rối, củng cố và phát triển các kỹ năng học đường, đạt hiệu quả trong tiếp thu các kiến thức văn hóa

Trang 12

12

- Mô hình hỗ trẻ theo hướng công tác xã hội cũng khẳng định vai trò quan trọng của nhân viên công tác xã hội Nhân viên công tác xã hội tham gia chính vào điều phối các hoạt động của trẻ: đánh giá – lên kế hoạch- hỗ trợ trong thực tế - giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động của trẻ…

6.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cách tiếp cận

Quan điểm giáo dục cho trẻ em cho rằng nền tảng phát triển nhân cách của trẻ được xây dựng trong hai môi trường chính là môi trường gia đình và môi trường trường học Với trẻ tự kỷ, việc giúp trẻ tiếp cận với một môi trường khác là rất khó - trẻ thường bó hẹp mình trong môi trường cá nhân mà quên lãng những môi trường hiện hữu xung quanh[2] Để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu một cách chân thực và chính xác nhất, chúng ta không thể áp dụng những ý kiến chủ quan mà phải tìm hiểu và nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đặt vấn đề nghiên cứu vào hoàn cảnh thực tế của xã hội, chấp nhận những ưu điểm và khuyết điểm đang còn tồn tại trong vấn đề hỗ trợ hòa nhập cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng Nói một cách khác, phải đặt trẻ vào những điều kiện củ thể, có như vậy mới biết chính xác nguyên nhân và có những giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác hòa nhập

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Đề tài được triển khai dựa trên các phương pháp: phân tích tài liệu,quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

6.2.1 Phân tích tài liệu

Công trình có sử dụng trích dẫn , tổng hợp các số liệu, thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau như:

- Các báo cáo: Báo cáo phân tích tình hình trẻ em Việt Nam 2010 của UNICEF, báo cáo số liệu trẻ em năm 2010 của Bộ Lao động – Thương Binh và

Xã hội, báo cáo của hội thảo “Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ” do thành phố Hà Nội kết hợp cùng Sở Giáo Dục thành phố tổ chức, Báo cáo của hội thảo “Chăm sóc

và giáo dục cho trẻ tự kỷ tại Việt Nam” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam kết hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và tổ chức Autism Speaks (Tự kỷ lên tiếng)

Trang 13

13

- Các công trình nghiên cứu về đề tài trẻ tự kỷ và hỗ trợ hòa nhập cho trẻ tự

kỷ như: Thực trạng hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại Việt Nam; Chăm sóc và giáo dục trẻ

tự kỷ tại Việt Nam; Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật; Tự kỷ lý luận và thực tiễn, hỗ trợ kiến thức chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ cho giáo viên, hỗ trợ kiến thức chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ cho phụ huynh…

- Các văn bản pháp luật liên quan đến người khuyết tật bình đẳng giáo dục: Luật và Nghị định về người khuyết tật, Luật giáo dục…

- Thông tin trên mạng truyền thông Internet:

Các websidewww.vientamly.com ; www.Hcm.edu.vn

Trang 14

14

6.2.2 Phương pháp quan sát

Đối tượng quan sát Nội dung quan sát

Nhóm trẻ tự kỷ - Trẻ phản ứng với việc thay đổi

môi trường sinh học bên ngoài: Không gian, thời gian , tiếng ồn ánh sáng

- Trẻ phản ứng với tương tác hữu cơ: Bạn bè, giáo viên, các kỹ năng quy tắc ứng xử

- Giao tiếp , kỹ năng tương tác hành

vi của trẻ Hoạt động tương tác từ các thành tố bên

ngoài

- Phản ứng của gia đình

- Phản ứng của giáo viên

- Phản ứng của bạn cùng lớp -Phản ứng của phụ huynh có con học cùng lớp

6.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Tổ chức 1 buổi thảo luận nhóm đa phương giữa gia đình trẻ tự kỷ đã đi học, gia đình trẻ tự kỷ tham gia nghiên cứu – giáo viên

Mục đích của thảo luận

- Tìm hiểu các vấn đề khó khăn khi trẻ tham gia hòa nhập, kinh nghiệm và cảm xúc, lo lắng của các bên

- Giải pháp của các bên, điều chỉnh thống nhất các giải pháp cho phù hợp vớihoàn cảnh thực tế

- Cam kết thống nhất hỗ trợ của các bên

6.2.4 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo, tư vấn về các khía cạnh liên quan đến trẻ tự kỷ, trong các hoạt hoạt động hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng

Trang 15

7 Ý Nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

7.1 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu mang đến ý nghĩa khoa học quan trọng đối với nghề công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội Đây là mô hình có sự tham gia của nhân viên CTXH trong lĩnh vực hòa nhập của trẻ tự kỷ.Toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn, số liệu, thông tin thu được qua nghiên cứu góp phần cung cấp thêm tài liệu, kiến thức cho những người quan tâm đến lĩnh vực chăm sóc, hỗ trợ kỹ năng sống, phục vụ nhu cầu cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng trong môi trường học đường còn rất nhiều hạn chế như hiện nay Kết quả nghiên cứu góp phần hình thành nên nhãn quan khoa học về hoạt động của các mô hình hỗ trợ, chăm sóc trẻ

em đang diễn ra hiện nay Vì trên thực tế vẫn còn những quan điểm hạn chế trong việc phủ nhận khả năng đến trường của trẻ tự kỷ, cho rằng trẻ đến trường chỉ để học văn hóa, mà vô tình xem nhẹ bản chất thật sự của việc học hòa nhập là xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh cho tất cả trẻ em Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình hòa nhập của

mô hình ở trường Đinh Tiên Hoàng Từ đó mở rộng và hoàn thiện quá trình hỗ trợ hoà nhập cho trẻ ở cả các mô hình khác Ý nghĩ thực tiễn của nghiên cứu không chỉ

có ảnh hưởng đến trẻ tự kỷ mà còn có phạm vi ảnh hưởng đến gia đình và nhà trường khi tiếp nhận trẻ đến hòa nhập Nghiên cứu kỳ vọng hoàn thiện được khung chuẩn các hoạt động trợ giúp mà nhân viên công tác xã hội cần và nên làm trong giai đoạn hỗ trợ trẻ tại trường cũng như trước khi đến trường Nội dung những hoạt động này sẽ được chi tiết theo các nhóm mục tiêu: Hỗ trợ tương tác xã hội, củng cố

và phát triển kỹ năng tiền tiểu học, giải quyết các vấn đề hành vi, văn hóa, xây dựng tínhtự lập cho trẻ trong môi trường hòa nhập tại trường

Trang 16

16

7.2 Ý nghĩa lý luận

Khóa luận nghiên cứu và làm sáng tỏ lý luận về mô hình hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá về các mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập

Có thể là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến lĩnh vực chăm soc sức khỏe tâm thần nói chung và công tác xã hội với người yếu thế nói riêng

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng

Chương 2: Thực trạng mô hình công tác xã hội hôc trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng

Chương 3: Biện pháp hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng

Trang 17

17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC

XÃ HỘI HỘI HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HỌC

HÕA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TIÊN HOÀNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm hội chứng tự kỷ

Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy lạp: Autism, nghĩa là tự động, tự thân trong tâm thần học được Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản của tâm thần phân liệt Triệu chứng tự kỷ là nét cơ bản của các triệu chứng âm tính trong tâm thần phân liệt Người bệnh mất đi phần lớn các chức năng giao tiếp và tương tác với môi trường xã hội Biểu hiện như thu kín vào bên trong, khó giao tiếp, khó tương tác

Chứng tự kỷ ở trẻ em được phát hiện và mô tả tại Mỹ, Úc bởi Leo Kanner (1943) và Hans Asperer (1944) dùng để một chứng bệnh (ngày nay gọi là rối loạn) biểu hiện bằng sự sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các phương diện:

- Chức năng tương tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng

- Chức năng ngôn ngữ phát triển chậm và lệch lạc bất thường

- Hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình lặp đi lặp lại

- Phát bệnh trước 36 tháng tuổi [4,tr.13]

Theo khái niệm của tổ chức Liên Hợp Quốc: “Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời Tự kỷ là do rối loạn của

hê thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt đông của não bộ Tự kỷ có thể xảy ra ở bất kỳ

cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hôị Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội , khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại.”[6, tr.33-35]

Tại Việt Nam, các nhà khoa học đưa ra định nghĩa về tự kỷ như sau: “Tự Kỷ

là thuật ngữ dùng để chỉ những cá nhân có vấn đề trong tương tác xã hội, về giao tiếp và có những mối quan tâm, những hoạt động lặp lại, dập khuôn thời kỳ đến 36 tháng tuổi”, đồng thời bà cũng nhắc đến ba tiêu chí để chuẩn đoán rối loạn tự kỷ: Giảm khả năng định tính trong tương tác xã hội, giảm khả năng định tính trong giao tiếp, những kiểu hành vi, những mối quan tâm và hoạt động lập đi lặp lại hoặc dập khuôn”

Trang 18

18

1.1.2 Khái niệm giáo dục hòa nhập

Thuật ngữ giáo dục hòa nhập được xuất phát từ Canađa và được hiểu là những trẻ ngoại lệ được hòa nhập

Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục mọi trẻ em trong đó trẻ khuyết tật được học cùng trẻ bình thường trong trường bình thường

Bản chất của giáo dục hòa nhập: Mọi trẻ em đều được học trong môi trường giáo dục mà trong đó trẻ có điều kiện và cơ hội để lĩnh hội tri thức mới theo nhu cầu

và khả năng của mình Để có một môi trường học tập như vậy cho mọi trẻ em, giáo dục hòa nhập cần đề cập đến những nội dung cơ bản sau đây:

- Trẻ được học theo một trương trình phổ thông

- Tùy theo năng lực và nhu cầu của từng trẻ giáo viên có trách nhiệm điều chỉnh nội dung dạy học cho phù hợp

- Đổi mới phương pháp dạy và học Đặc biệt giáo viên cần biết cách điều chỉnh những hoạt động học tập sao cho mọi trẻ đều có những điều kiện thuận lợi và

cơ hội để lĩnh hội những kiến thức mới

- Môi trường giáo dục phù hợp với mọi đối tượng

1.1.3 Khái niệm giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ

Giáo dục hòa nhập (GDHN, Inclusive education) hình thức giáo dục trẻ có

nhu cầu đặc biệt trong môi trường giáo dục phổ thông cùng trẻ bình thường theo chương trình chung được điều chỉnh đảm bảo điều kiện cần thiết để phát triển tốt nhất khả năng của trẻ GDHN dựa trên quan điểm giáo dục cho mọi trẻ em, không tính đến nguồn gốc, xã hội, dân tộc, kinh tế và mức độ khuyết tật GDHN thừa nhận

sự khác biệt giữa các trẻ em [30] Có thể kết hợp sự khác biệt đó để tạo ra môi trường nhà trường tốt hơn cho tất cả mọi người Điều này một mặt khẳng định sự khác biệt giữa các cá nhân, mặt khác công nhận tính đa dạng, phong phú của trẻ Vì vậy chương trình dạy học và giáo dục cần được điều chỉnh phù hợp với mọi khả năng và nhu cầu của từng cá nhân trẻ Hòa nhập không có nghĩa là "xếp chỗ" cho trẻ khuyết tật trong trường lớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình

độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu giáo dục GDHN đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết

đó được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trinh, đồ dùng dạy học, công cụ hỗ trợ đặc biệt, kỹ năng giảng dạy đặc thù

Trang 19

19 Giáo dục hòa nhập cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ là hình thức giáo dục trong

đó, trẻ có rối loạn phổ tự kỷ học cùng lớp với trẻ bình thường Giáo dục hòa nhập được xem là mục tiêu cao nhất mà can thiệp cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ hướng tới

và cũng là hình thức giáo dục ưu việt nhất cho sự phát triển của đa số trẻ có rối loạn phổ tự kỷ

1.1.4.Khái niệm liên quan đến mô hình giáo dục cho trẻ tự kỷ

1.1.4.1 Mô hình giáo dục chuyên biệt

Mô hình giáo dục chuyên biệt là phương thức giáo dục tách biệt trẻ em có cùng dạng khuyết tật vào cơ sở giáo dục riêng theo các chương trình giáo dục riêng

Mô hình giáo dục chuyên biệt là mô hình ra đời sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật, bắt đầu được triển khai từ những năm đầu của thế kỷ XI ở các như Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một số nước Châu Âu.[30.tr13-15]

Mỗi một loại trẻ khuyết tật lại được chia làm nhiều loại khác nhau theo mức

độ, tương ứng với từng mức độ có thể có thể có các trường chuyên biệt khác nhau Trường dành riêng cho trẻ khiếm thính bao gồm trẻ điếc – câm, trẻ nghễnh ngãng…Trường dành riêng cho trẻ khiếm thị bao gồm trường cho trẻ mù, trường cho trẻ lòa… Trường dành riêng cho trẻ khuyết tật trí tuệ bao gồm trường cho thuộc loại nhẹ, vừa, nặng… Ngoài ra còn có những trường dành riêng cho trẻ đa tật (có từ hai khuyết điểm trở lên)… Ở đây trẻ được học chương trình riêng theo những phương pháp riêng, tách biệt với hệ thống giáo dục quốc dân

1.1.4.2 Mô hình giáo dục hội nhập

Giáo dục hội nhập là phương thức giáo dục trẻ khuyết tật trong lớp chuyên biệt được đặt trong các trường phổ thông bình thường Trong quá trình giáo dục, trẻ khuyết tật nào có đủ điều kiện sẽ được học chung một số môn hoặc tham gia một số hoạt động cùng trẻ bình thường

Giáo dục hội nhập: (GDHN integrated education) Hình thức giáo dục trẻ

có nhu cầu GDĐB , trong đó những trẻ này học tập chuyên biệt theo chương trình, nội dung riêng với thời lượng nhất định, thời gian còn lại tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt xã hội cùng các bạn bình thường và với cộng đồng Có 4 mức độ:

- Hội nhập thể chất : Trẻ bình thường và trẻ có nhu cầu GDĐB được giao lưu

và vui chơi với nhau ở một địa điểm, trong một thời gian nhất định

Trang 20

- Hội nhập hoàn toàn: Trẻ bình thường và trẻ có nhu cầu GDĐB được cùng học theo một chương trinh cứng bắt buộc [7]

1.1.5 Khái niệm công tác xã hội

* Khái niệm công tác xã hội theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW):

Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng

để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng

xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5) CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999: ).[31]

* Khái niệm công tác xã hội theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004): Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ

GIÚP Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn

* Khái niệm công tác xã hội theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH

góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.[31]

Trang 21

21

1.1.6 Khái niệm nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội (tiếng Anh là social worker) là những người hoạt động trong nhiều lĩnh vực, được đào tạo chính quy và cả bán chuyên nghiệp, được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH để trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn” (Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc

tế -IFSW)

- Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội (DuBois and Miley, 2005: 5) Trình độ tối thiểu quy định đối với nhân viên công tác xã hội ở những nước có nghề CTXH phát triển như ở Mỹ, Anh, Canađa, Australia, Philipine, v.v…là phải tốt nghiệp đại học Bên cạnh đó, để được hành nghề, nhân viên công tác xã hội cần đăng ký và ở một số nơi còn cần phải thi lấy bằng hành nghề CTXH rồi mới được hành nghề Những người tham gia hoạt động CTXH chưa có bằng quy chuẩn được gọi là nhân viên CTXH bán chuyên nghiệp (para-professional) hoặc là những cộng tác viên

1.1.7 Vai trò của công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ

Nâng cao nhận thức về chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ:

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ hiệu quả thì ngoài điều trị y tế, các dịch vụ công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc cũng rất quan trọng Đó là các dịch vụ tư vấn, trị liệu tâm lý, tham vấn, sử dụng ngôn ngữ trị liệu, tổ chức trò chơi mang tính chất hướng ngoại và trợ giúp khác tại

cộng đồng

Trong điều kiện tại Việt Nam hiện nay, các dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng đang trong quá trình phát triển nên công tác chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ cần thực hiện theo hướng kết hợp giữa cơ sở bảo trợ xã hội, gia đình

và cộng đồng Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án về an sinh xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ, đồng thời nâng cao nhận thức, trách nhiệm

Trang 22

22 của gia đình, cộng đồng trong việc phòng ngừa số trẻ mắc chứng tự kỷ, giúp các em sớm phục hồi chức năng và hòa nhập với gia đình và cộng đồng Cụ thể, trong thời gian tới, công tác chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ cần được thực hiện theo định hướng sau:

Nghiên cứu, đánh giá tổng thể về hiện trạng cung cấp dịch vụ và nhu cầu của trẻ tự kỷ Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật huy động sự tham gia đóng góp nguồn lực chăm sóc, trợ giúp, phục hồi chức năng đối với trẻ tự kỷ Trong đó, cần đưa tự kỉ vào danh mục các dạng khuyết tật để có căn cứ cho việc xây dựng chính sách xã hội; thúc đẩy nghiên cứu xây dựng chính sách đặc thù đối với trẻ tự

kỉ và gia đình, trong đó ưu tiên bốn chính sách là bảo trợ xã hội, hỗ trợ giáo dục, chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và hỗ trợ các nhu cầu vui chơi giải trí Đồng thời, thúc đẩy nhanh việc xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác định mức độ khuyết tật với trẻ tự kỷ

Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị cho cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ; Đào tạo, tập huấn cho cán bộ, nhân viên và cộng tác viên chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ tại các trung tâm hoặc cơ sở bảo trợ xã hội; Hỗ trợ các cơ sở đào tạo xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo, tập huấn cho cán bộ, nhân viên chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ tại các trung tâm hoặc cơ sở bảo trợ xã hội; Tập huấn cho cán bộ, nhân viên công tác xã hội về kỹ năng, phương pháp chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ Truyền thông, nâng cao nhận thức về chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ tại cộng đồng

Vai trò công tác xã hội là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội Công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhóm đối tượng gặp vấn đề khó khăn trong xã hội,đặc biệt trong nhóm đó có trẻ tự kỷ Công tác xã hội có nhiều vai trò khác nhau chủ yếu thể hiện trong các vấn đề sau:

+ Củng cố an sinh xã hội thông qua việc cải thiện các vấn đề xã hội và tăng cường khả năng giải quyết vấn đề cho cá nhân và cộng đồng

Trang 23

23 + Trợ giúp cá nhân, nhóm và cộng đồng, cũng như môi trường xã hội rộng hơn giải quyết và đối với khó khăn trong cuộc sống

+ Kết nối con người với các nguồn lực và hệ thống dịch vụ xã hội, cũng như việc thúc đẩy các tổ chức xã hội cung cấp dịch vụ và nguồn lực cho con người hoạt động có hiệu quả và mang tính chất nhân văn

+ Thúc đẩy thực hiện và vận động chính sách hỗ trợ các nhóm yếu thế đẩy mạnh an sinh và công bằng xã hội

+ Tổ chức nghiên cứu các vấn đề xã hội nhằm cải thiện khung pháp lý và tăng cường dịch vụ đáp ứng phù hợp cho các nhóm đối tượng

+ Giáo dục cộng đồng nâng cao nhận thức và năng lực về giải quyết các vấn đề xã hội

Như vậy, công tác xã hội có rất nhiều vai trò khác nhau Vận dụng những vai trò đóvào đối tượng cụ thể là trẻ tự kỷ và áp dụng vào khóa luận này, vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ bị tự kỷ học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng có những vai trò cụ thể sau:

+ Vai trò người xử lý dữ liệu: Nhân viên công tác xã hội cần phải tìm hiểu những thông tin, dữ liệu về nhu cầu mà các bậc phụ huynh có con bị tự kỷ tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng, xem hiện nay học đang gặp những khó khăn vướng mắc gì hay có nhu cầu gì từ đó cùng họ lên kế hoạch trợ giúp để giúp họ giải quyết vấn đề

+ Vai trò tư vấn hỗ trợ cho cha mẹ có con bị tự kỷ: Công tác xã hội cung cấp các kỹ năng tập phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ, giúp các thành viên giải đáp được những khúc mắc, vấn đề mà họ đang gặp phải ví dụ như những vấn đề xung quanh trẻ tự kỷ, áp lực của phụ huynh khi con bị tự kỷ Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ giúp đỡ các bậc phụ huynh đánh giá, phân tích các vấn đề mà họ đang vướng mắc, giúp họ hiểu vấn đề sau đó lên kế hoạch giúp họ có khả năng tự giải quyết khó khăn

+ Vai trò kết nối nguồn lực: Công tác xã hội là trung gian tìm kiếm kết nối các nguồn lực đễ hỗ trợ và giúp đỡ cho trẻ tự kỷ và gia đình Các nguồn lực này bao gồm cả nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài/ Từ đó giúp trẻ tự kỷ và gia đình có cuộc sống tốt hơn

1.1.8 Khái niệm thích nghi

Trong sinh học, một sự thích nghi, cũng được gọi là một đặc điểm thích nghi hoặc sự thích ứng, là một đặc điểm với vai trò chức năng hiện thời trong quá

Trang 24

24

nghi đóng góp vào khả năng, thể trạng và sự sống còn của các cá thể

Thích nghi là một kỹ năng sống quan trọng vì nếu kỹ năng giao tiếp là bước đầu để tiếp xúc với môi trường bên ngoài cùng với những con người khác với mình, thì thích nghi chính là bước tiếp theo để có thể hòa nhập hoặc phản ứng lại với môi trường bên ngoài Đứa trẻ nếu có kỹ năng giao tiếp tốt có thể đạt được những thành công với những người chung quanh trong việc tham gia vào các hoạt động cùng với

họ, là bố mẹ ông bà hay các bạn bè của chúng Thế nhưng nếu trẻ không có khả năng thích nghi thì cũng khó mà đạt được những kết quả tốt cho cuộc sống của mình

- Không thưa khi gọi tên

- Không nhìn mặt người đối thoại khi chơi, giao tiếp

- Tỏ ra không nghe thấy ai lúc đó (trẻ như không ở đó)

- Kháng cự lại sự vuốt ve, ôm ấp hoặc âu yếm

- Tỏ ra không biết đến tình cảm của người khác

- Có vẻ thích chơi một mình-co lại trong thế giới riêng của trẻ

* Khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ và giao tiếp

+ Nếu chưa biết nói: trẻ có khiếm khuyết trong việc sử dụng các kỹ năng giao tiếp không lời như:

- Không nhìn mặt người đối thoại khi giao tiếp

- Không hiểu và không sử dụng nét mặt, cử chỉ, tư thế cơ thể để giao tiếp

- Các âm thanh lời nói bất thường về cao độ hoặc cường độ

- Không biết yêu cầu, phản đối hoặc thể hiện các nhu cầu bản thân

- Không hoặc khó học các luật lệ về giao tiếp như: chào hỏi, xin đồ vật hoặc

“ạ”, “bai, bai”…

+ Nếu trẻ đã nói được:

Trang 25

25

- Trẻ học nói muộn hơn trẻ bình thường

- Mất khả năng nói được từ đơn hoặc cả câu sau khi đã biết nói

- Trẻ dùng phát ngôn không phù hợp với mục đích: đáng lẽ trả lời thì trẻ nhắc lại câu được hỏi, nói nhại, nói vọng,…Phát ngôn hoặc câu của trẻ có ngữ điệu đơn điệu, nghe véo von, thường có âm sắc cao hơn bình thường

- Nếu trẻ có ngôn ngữ khá hơn, có thể thấy chậm phát triển ngôn ngữ so với trẻ cùng độ tuổi Trẻ thường không hiểu câu hỏi, ngôn ngữ của trẻ đơn giản, hiếm dùng những khái niệm so sánh, tưởng tượng

* Các hành vi và các mối quan tâm bất thường

- Các hành vi hoặc cử động định hình, lặp đi lặp lại: trẻ như bị cuốn hút vào một cử chỉ, một hoạt động hoặc trò chơi nào đó hang giờ hoặc cả buổi Ví dụ: xoắn

cả buổi, vê vê ngón tay, vò giấy, quay bánh xe ô tô (đồ chơi)…

- Trẻ có thể thích duy nhất một đồ vật, hoặc chỉ chơi với một người nào đó trong gia đình…

- Trẻ có thể chỉ quan tâm vê, xoay một chi tiết của vật: bánh xe, ống khói, đồ chơi…

- Trẻ có thể có những phát ngôn hoặc phát ra âm thanh nào đó một cách định hình: tự phát, không có chủ ý và trong mọi tình huống…

- Trẻ có thể nhạy cảm với một số loại kích thích (khi bị vuốt ve, sờ chạm hoặc có ánh sáng, tiếng động…)

b Những rối loạn khác đi kèm với tự kỷ:

Rối loạn giác quan: Nếu nhận thức của trẻ đã khá, trẻ có thể học được từ những gì chúng nhìn thấy, cảm thấy hoặc nghe thấy Hoặc ngược lại nếu các thông tin từ giác quan bị sai lệch, những kinh nghiệm về thế giới có thể lẫn lộn Nhiều trẻ

tự kỷ có thể hòa nhập tốt hoặc thậm chí có nhạy cảm đau đối với một số âm thanh, loại vải, mùi vị Một số trẻ không chịu đựng nổi khi quần áo chạm vào da Một số

âm thanh ví dụ như: máy hút bụi, chuông điện thoại, sấm chớp, ngay cả tiếng song

vỗ vào bờ có thể khiến trẻ bịt tai và khóc thét lên Ở trẻ tự kỷ, não thường tỏ ra khó cân bằng các cảm giác cho tương xứng Một số trẻ tự kỷ không chú ý tới quá lạnh hoặc quá đau, chẳng hạn trẻ có thể tự đập đầu vào cạnh bàn làm lõm bên đầu nhưng không có cảm giác đau

Chậm phát triển trí tuệ: Khó khăn trong việc học và chức năng nhận thức kém là những đặc điểm phổ biến của trẻ chậm phát triển trí tuệ Những đứa trẻ này thường có trí nhớ kém, khó tập trung và học chậm hơn so với những đứa trẻ khác

Trang 26

26 Trí nhớ kém: Trẻ khuyết tật trí tuệ thường khó ghi nhớ thông tin như tên, số điện thoại và các chi tiết nhỏ Tùy theo mức độ chậm phát triển của trẻ mà khả năng ghi nhớ cũng bị ảnh hưởng theo Trẻ chậm phát triển trí tuệ có trí nhớ ngắn hạn và thường không nhớ được những sự kiện đơn giản đã xảy ra vài giây hoặc vài phút trước

Học chậm: Việc học các kỹ năng và kiến thức mới của trẻ chậm phát triển trí tuệ thường chậm hơn so với những đứa trẻ khỏe mạnh Trẻ cần đến sự trợ giúp của

bố mẹ để thực hiện các hoạt động hàng ngày Bố mẹ cần phải lặp lại các hướng dẫn nhiều lần, cho đến khi trẻ hiểu rõ

Không thể tập trung: Khả năng tập trung của trẻ chậm phát trí tuệ thường yếu

và không thể tập trung tối đa Do khả năng chú ý kém, trẻ không thể học cao hơn khi lớn lên

Thiếu hứng thú: Những trẻ chậm phát triển thường không có hứng thú trong việc giải quyết vấn đề Do thất bại nhiều lần, trẻ thường mất hy vọng và không thích tham gia vào các hoạt động xã hội…

1.2.1 Nguyên nhân của tự kỷ

Về dịch tễ học : Đa số các tác giả cho rằng tự kỷ là một rối loạn ít gặp

12/10.000 người (một phần nghìn) Tuy nhiên ở một số tác giả nghiên cứu trên một

số vùng dân cư có thể gặp tỷ lệ cao hơn 3,4/1000.[15]

Trẻ nam mắc chứng tự kỷ cao gấp 3 lần so với nữ

Về nguyên nhân của tự kỷ, đã có rất nhiều giả thuyết, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Những giả thuyết vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu,

và hiện tại, người ta coi như đó là những yếu tố thuận lợi của bệnh Trong bài viết này, tôi xin trình bày một số những giả thuyết đó

Nhóm giả thuyết về bất thường trong thai kỳ

Di truyền: Đa số các tác giả cho rằng tự kỷ là do nguyên nhân di truyền Tuy

nhiên, chưa tìm ra được gen hay tổ hợp gen nào gây ra hội chứng này.[15, tr.3-4]

Có thể đây là một gen tổ hợp, một biến dị gen hoặc tương tác gen nào đó, vì đại đa

số các trường hợp trẻ tự kỷ có bố mẹ hoàn toàn bình thường Một số hội chứng về

di truyển có liên quan tới chứng tự kỷ như hội chứng nhiễm sắc thể(NST) X đứt gãy, người ta cũng tìm thấy nhiều gen liên quan như các gen trên cặp NST số 2,7,16,và 19 Đột biến gen đi kèm với tự kỷ, đặc biệt của cặp nhiễm sắc thể 15…

Trang 27

27 Nghiên cứu trên các trường hợp sinh đôi hay di truyền phả hệ, người ta nhận thấy rằng có mối tương quan cao của kiểu hình tự kỷ (30%)

Những thiếu hụt về gen điều hòa các hoạt động của não bộ, nhất là các gen điều hòa cảm xúc và các mặt xã hội đã được đề cập tới ở một số nghiên cứu Các nhà khoa học tại Anh đã nghiên cứu dựa trên mẫu tế bào của 19 người tự kỷ và 17 người khỏe mạnh làm nhóm đối chứng, kết quả cho thấy 209 gen chịu trách nhiệm kết bạn, hòa đồng và giao tiếp bị bất hoạt trong khi 235 gen có liên quan đến miễn dịch và phản ứng kích thích lại hoạt động lại được phát huy

Bất thường về phía mẹ (các bệnh lý mẹ mắc phải trước hoặc trong thời kỳ

mang thai)

Môi trường trong thời kỳ mang thai (môi trường sống và các yếu tố dinh

dưỡng trong thai kỳ)

Mắc Virus Rubella: việc mắc rubella trong thai kỳ có tỷ lệ lớn phát sinh quái

thai Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa kháng thể của mẹ (IgG) và Protein não của thai nhi có thể làm cho não thai nhi kém phát triển, gây ra chứng tự kỷ Ngoài ra, mắc virus rubella trong thai kỳ còn tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tâm thần khác ở trẻ, đặc biệt là chứng tâm thần phân liệt

Bệnh lý tuyến giáp: sự thiếu hụt tyroxin của người mẹ trong tuần 8 – 12 của

kỳ thai nghén được công nhận là sản sinh ra những thay đổi trong não thai nhi dẫn tới tự kỷ Sự thiếu hụt tyroxin có thể là nguyên nhân gây bởi thiếu I ốt trong bữa ăn hoặc người mẹ đã phẫu thuật tuyến giáp

Bệnh đái tháo đường: Bệnh đái tháo đường của bà mẹ trong suốt thời kỳ

thai nghén là nguy cơ quan trọng của tự kỷ; phương pháp phân tích tổng hợp 2009 thấy rằng đái tháo đường tăng gấp đôi nguy cơ bị tự kỷ

Thuốc sử dụng trong thai kỳ: việc điều trị các bệnh của người mẹ trước và

trong thai kỳ cũng có thể ảnh hưởng: thuốc an thần kinh, Acid Valproic, thuốc điều trị dạ dày, viêm khớp

Stress trong thời kỳ mang thai bao gồm những mâu thuẫn trong gia đình, việc biến động về tài chính và tình cảm trong quá trình mang thai, tiếng ồn, nhiệt độ… có thể ảnh hưởng tới quá trình phát triển của não bộ thai nhi, là tiền đề phát sinh tự kỷ

Trang 28

28 Nông thôn: khu vực tiếp xúc với thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ với nồng độ cao và liên tục có tỷ lệ cao gây ra những bất thường về gen, dễ phát sinh những đột biến gen

Acid folic: Các nhà khoa học đã khẳng định acid folic rất cần thiết cho sự cấu

tạo hệ thống thần kinh (bao gồm não bộ) của trẻ Tuy nhiên, lại có giải thuyết rằng việc có mặt của acid folic là nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ do sự chuyển đổi thông tin di truyền trong tế bào suốt chu kỳ (giá thuyết này chưa được kiểm chứng

và ít được các tác giả chấp thuận)

Rượu : chưa có nghiên cứu nào đủ bằng chứng xác minh mối liên hệ giữa

rượu (etanol) và chứng tự kỷ

Sóng siêu âm, sóng điện từ: không có một nghiên cứu nào nói lên sự tương

quan giữa sóng siêu âm và chứng tự kỷ Sóng siêu âm rất ít tác hại lên bào thai người

Nhóm giả thuyết về bất thường của não

Bất thường cấu trúc não

Dựa trên các công cụ chẩn đoán hình ảnh(X-quang sọ, siêu âm qua thóp, chụp MRI, CT scanner), các tác giả đã đưa ra một số nhận xét về chứng tự kỷ như sau:

Kích thước não bộ trong thời kỳ thai nghén và lúc mới đẻ: nghiên cứu trên các trẻ sơ sinh non tháng và có trọng lượng mới sinh thấp, những trẻ có khối lượng/kích thước não bộ bất thường dẫn tới nguy cơ cao gấp 3 lần so với trẻ nhẹ cân non tháng có khối lượng/kích thước não bình thường

Bất thường về các vùng của não, đặc biệt là vùng chịu trách nhiệm về cảm xúc và quan hệ xã hội Một số tác giả cho rằng vùng này nằm ở hai nhóm nơron hình quả hạch nằm sâu bên trong não (có thể đo bằng MRI)

Bất thường chức năng của não

Nhiều tác giả nhận thấy việc tăng cao nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh,

cụ thể là serotonin-một hóa chất có tác dụng chuyển tải các thông điệp của não

Các công bố mới nhất về chứng tự kỷ chỉ ra việc thiếu năng lượng của các tế bào não, đây là hệ quả của việc rối loạn chức năng ty lạp thể - đơn vị cung cấp năng lượng(ATP) cho não bộ Hiện tại, những nghiên cứu dựa trên giả thuyết này áp dụng trên điều trị trên động vật thực nghiệm đã cho những kết quả tốt Chất trung gian APT này có thể chữa triệu chứng tự kỷ ở các con vật thí nghiệm, thậm chí ngay

cả khi việc điều trị được bắt đầu sau khi triệu chứng bệnh đã bùng phát mạnh mẽ

Trang 29

29 Loại thuốc này phục hồi lại 17 loại triệu chứng bất thường, bao gồm việc bình thường hóa cấu trúc khớp thần kinh não, tín hiệu giữa các tế bào, hành vi xã hội, phối hợp hệ thần kinh vận động và bình thường hóa quá trình trao đổi chất của ty lạp thể Tuy nhiên, hiện tại thuốc này chưa được áp dụng trên người.[15]

1.3 Mô hình công tác xã hội trong trường học

1.3.1 Đặc điểm mô hình

Mô hình công tác xã hội trong trường học hay còn gọi là công tác xã hội học đường là một lĩnh vực trong công tác xã hội được thực hành trong trường học để giúp đỡ học sinh, giáo viên hay cán bộ quản lý nhà trường tăng cường hoặc phục hồi năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu trong dạy và học Công tác xã hội trong trường học

là một lĩnh vực được thực hành thông qua việc Nhân viên công tác xã hội vận dụng kiến thức, kĩ năng, nguyên tắc, phương pháp của chuyên biệt của ngành làm việc cụ thể với các đối tượng trong trường học

Như vậy, đối tượng được xác định cụ thể trong trường học là học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý trong nhà trường và phụ huynh học sinh Có thể thấy rằng các đối tượng trong trường học là khác nhau, mỗi thân chủ là một cá thể riêng biệt với những vấn đề khác nhau Chính vì vậy đòi hỏi Nhân viên công tác xã hội cần mềm dẻo, linh hoạt trong việc áp dụng các kiến thức, kĩ năng khi thực hiện hoạt động can thiệp và trợ giúp

Mục đích chính của việc trợ giúp là tăng cường hoặc phục hồi chức năng xã hội và tạo những điều kiện thích hợp trong việc dạy và học Như vậy, dù hoạt động trợ giúp của Nhân viên công tác xã hội đối với đối tượng nào thì cũng đi đến đích cuối cùng là tạo môi trường giáo dục thuận lợi nhất cho học sinh Cố nhiên có thể thấy rằng dù hoạt động trợ giúp đó là gì nhân viên công tác xã hội cũng cần kết nối các đối tượng kể trên để hỗ trợ nhau giải quyết những vấn đề liên quan trong trường học

1.3.2 Vai trò của hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng

Trong quá trình phát triển của CTXHTH trên thế giới và đặc biệt là trong các đại hội quốc tế lần thứ nhất vào năm 1999 và lần thứ hai vào năm 2003, vai trò của công tác xã hội học đường đã dần được củng cố và khẳng định, cụ thể là sự tác động

Trang 30

30 vào 4 đối tượng ở học đường là học sinh, phụ huynh, thầy cô giáo và các cán bộ quản lý giáo dục:

Với học sinh

- Giúp giải quyết những căng thẳng và khủng hoảng thần kinh

- Tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm trí

- Giúp học sinh khai thác và phát huy những điểm mạnh và thành công trong học tập

- Có được năng lực cá nhân và xã hội, cụ thể là giúp các em giảm những hành vi như: không hoàn thành việc học tập; hung hăng, gây gổ với bạn, không kiểm soát được mình; không có quan hệ với bạn đồng lứa và người lớn; bị lạm dụng thể chất; chán học; bị trầm cảm; có những dấu hiệu, hành vi tự tử

Với các bậc phụ huynh:

- Hỗ trợ tham gia một cách có hiệu quả vào giáo dục con cái

- Hiểu được những nhu cầu phát triển và giáo dục của trẻ

- Tiếp cận các nguồn lực của trường học và cộng đồng

- Hiểu các dịch vụ giáo dục đặc biệt

- Tăng cường kỹ năng làm cha mẹ

Với các thầy cô giáo:

- Giúp cho quá trình làm việc với phụ huynh của học sinh tiến hành hiệu quả

- Tìm hiểu những nguồn lực mới

- Tham gia vào tiến trình giáo dục, nhất là với các em cần sự giáo dục đặc biệt

- Hiểu hơn về gia đình, những yếu tố văn hoá và cộng đồng ảnh hưởng đến trẻ Với các nhà quản lý giáo dục:

- Hỗ trợ và tham gia vào việc xây dựng các chính sách và chương trình phòng ngừa

- Đảm bảo thực hiện đúng một số luật

Trên đây là các vai trò về việc hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ

tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, đồng thời nhấn mạnh đến đối tượng làm việc của nhân viên CTXHTH

Trang 31

đó, một số các hoạt động tập thể nhà trường tổ chức cũng có ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của trẻ tự kỷ, đặc biệt là giao tiếp với trẻ bình thường

Bên cạnh đó về cơ sở vật chất: Chưa có phòng làm việc, can thiệp riêng dành cho nhân viên công tác xã hội

* Các yếu tố từ gia đình

Ngoài các yếu tố từ phía nhà trường tác động trực tiếp đến quá trình hòa nhập của TTK trong trường học, các yếu tố gia đình cũng ảnh hưởng gián tiếp Đối với TTK, mối quan hệ giữa cha mẹ, anh chị em là cơ sở để trẻ xây dựng, thực hành

và phát triển các kỹ năng tương tác xã hội, bao gồm tương tác với bạn bè

* Yếu tố chính sách

Trước hết phải nói rằng, ở Việt Nam tuy đã có khung chính sách rất tiến bộ nhằm cung cấp các dịch vụ cho người khuyết tật nói chung Trong bối cảnh xã hội Việt Nam, do chưa có nhiều thông tin về hội chứng tự kỷ, nên có nhiều trẻ mắc hội chứng tự kỷ trong thời gian rất dài, nhưng không được phát hiện và can thiệp sớm Trong khi đó, phần lớn cán bộ nghành y tế, giáo dục hoặc cha mẹ trẻ còn thiếu những kiến thức chuyên môn để có thể phát hiện và chăm sóc trẻ một cách tốt nhất

* Yếu tố xã hội

Cùng với đó là nhận thức của cộng đồng xã hội trong công tác bảo vệ và đảm bảo quyền cho các em còn nhiều hạn chế, dẫn đến nhiều trẻ dù đã lớn nhưng không nói được, không hòa nhập được với môi trường xã hội, phải sống phụ thuộc vào gia đình, người thân Đây là một vấn đề xã hội rất đáng lưu tâm bởi không chỉ trẻ em

mà cả những người trưởng thành, cho đến nay vẫn chưa thể hòa nhập cộng đồng do những rào cảm/định kiến xã hội đối với họ

Trang 32

32 Tóm lại, kết quả nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố từ nhà trường và gia đình, chính sách, xã hội…có ảnh hưởng đến mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích

nghi với quá trình học hòa nhập tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng

1.4 Lý thuyết vận dụng trong đề tài khóa luận

1.4.1 Thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống ra đời từ năm 1940, do nhà sinh vật học Ludwig Von BertaLffy [16] phát hiện Để phản đối chủ nghĩa đơn giản hóa và việc cô lập hóa đối tượng của khoa học, ông đưa ra quan điểm rằng tất cả cơ quan đều là các hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn, và là phần tử của các hệ thống lớn hơn Từ một quan điểm trong nghành sinh học, ý tưởng về hệ thống đã có nhiều ảnh hưởng tới các nghành khoa học khác, kể cả công tác xã hội

Trọng tâm là hướng đến những cái “tổng thể” và nó mang tính “hoà nhập” trong công tác xã hội Pincus và Minahan áp dụng lý thuyết hệ thống vào thực hành công tác xã hội Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng, do đó công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống Ba hình thức hệ thống tổng quát đó là: Hệ thống chính thức, hệ thống phi chính thức và hệ thống xã hội

* Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè, người thân, cộng sự đồng nghiệp…

* Hệ thống chính thức: Các nhóm cộng đồng, các tổ chức công đoàn…

* Hệ thống xã hội: Bệnh viện, cơ quan, tổ chức đoàn thể nhà nước, nhà trường… Nhân viên xã hội cũng cần làm sáng tỏ mối qua hệ giữa vấn đề cá nhân và vấn đề cộng đồng:

- Giúp thân chủ sử dụng và phát huy tối đa khả năng của mình để giải quyết vấn đề

- Xây dựng mối quan hệ mới giữa thân chủ với các hệ thống trợ giúp trong

xã hội

- Tăng cường khả năng tương tác giữa thân chủ với các hệ thống

- Cung cấp các trợ giúp thực tế khác khi cần thiết

1.4.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái

- Lý thuyết hệ thống sinh thái ra đời từ những năm 1970 của thế kỷ trước, lý thuyết này giúp những người thực hành công tác xã hội phân tích thấu đáo sự tương

Trang 33

33 tác giữa thân chủ và hệ thống sinh thái - môi trường xã hội mà thân chủ đang sinh sống và mức độ ảnh hưởng như thế nào đến hành vi con người trong đời sống xã hội

- Mỗi cá nhân đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, họ chịu tác động của các yếu tố trong mội trường sống và hị cũng ảnh hưởng đến môi trường xung quanh họ Như vậy, mỗi cá nhân và các yếu tố liên hệ trực thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ

- Lý thuyết hệ thống sinh thái giúp nhân viên coong tác xã hội đứng trên lập trường, cảm xúc, tìm ra cách xử lý phù hợp, không nhìn theo một chiều mà phán xét cảm xúc đó, tìm hiểu nhiều yếu tố, nguyên nhân mà cảm xúc đó gây nên

- Nhân viên xã hội có thể biện hộ để giúp bảo vệ quyền lợi của thân chủ

- Giúp nhân viên xã hội nâng cao năng lực cho thân chủ

- Nhân viên công tác xã hội vẽ biểu đồ sinh thái cùng với thân chủ Khi tham gia thân chủ/ gia đình thân chủ hiểu và nhận thức rõ vấn đề mà trước đây họ có thể chưa để ý…

1.4.3 Thuyết nhận thức hành vi

Khái niệm về nhận thức: Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là

quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người,

nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể

Khái niệm về hành vi: hành vi là xử sự của con nguời trong 1 hoàn cảnh cụ

thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định

Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội

Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi

Mô hình: S -> C -> R -> B

Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi

Trang 34

34 Gỉai thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành

vi mới dẫn đến phản ứng R

Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm

Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành

vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương

tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy

méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại.(ví dụ, đứa trẻ suy nghĩ và chắc mẩm rằng mẹ mình không yêu thương mình bằng

em mình, từ đó đứa trẻ xa lánh mẹ và tỏ thái độ khó chịu với mẹ, không gần gũi…)

Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức

=> Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm

Như vậy, thuyết này mang tính nhân văn cao cả và đúng đắn khi đã đặt đúng trọng tâm vai trò của chủ thể con người trong hành vi của họ (khác với thuyết hành

vi coi trọng yếu tố tác nhân kích thích; thuyết học tập xã hội coi trọng yếu tố thói quen hay học tập)

1.3.4 Thuyết nhu cầu

- Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

- Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát

Trang 35

35 sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao

Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người

như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi

trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận):

Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự

lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau

Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng

giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng

là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách

phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

- Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp nhà tham vấn xác định được những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn

Trang 36

36 tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của thân chủ, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của thân chủ chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng

- Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, nhà tham vấn đã hiểu được con người

có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,… Do đó trong việc trợ giúp cho thân chủ nhà tham vấn không chỉ trợ giúp thân chủ thỏa mãn nhu cầu sinh lý cơ bản mà cao hơn nũa phải tập trung trợ giúp cho thân chủ nhằm giúp thân chủ thỏa mãn các nhau cầu tinh thần để sống lành mạnh hơn

- Nhà tham vấn sử dụng thuyết nhu cầu để giúp đỡ thân chủ thỏa mãn các nhu cầu của họ Điều này có nghĩa là nhà tham vấn làm việc với thân chủ để giúp họ xác định các hành động có thể thực hiện được để thay đổi tình huống và tập trung vào các vấn đề tình cảm có thể đang cản trở thân chủ trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ

- Trong một số trường hợp, thân chủ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, việc kết nối họ với các nguồn lực là hoàn toàn hợp lý nhưng đây là công việc của nghề công tác xã hội Còn nhà tham vấn tăng cường năng lực cho thân chủ bằng cách lắng nghe thân chủ, chú ý đến các nhu cầu tinh thần của thân chủ và giúp thân chủ hiểu được các tiềm năng của mình, sử dụng các tiềm năng đó để vượt lên nấc thang nhu cầu cao hơn

1.3.5 Quyền trẻ em

Cơ sở thực tiễn để tiến hành nghiên cứu này là việc thực hiện các cam kết quốc tế cũng như chính sách chế độ ưu đãi của Đảng và nhà nước ta đối với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng

1.3.5.1 Văn kiện quốc tế

Một loạt các văn kiện quốc tế được nhà nước ta cam kết thực hiện có liên quan đến người khuyết tật như : Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (2007) [8] quy định:

1 Quốc gia thành viên thừa nhận quyền được giáo dục của người khuyết tật Để hướng tới biến quyền này thành hiện thực, các quốc gia thành viên phải bảo đảm hệ thống giáo dục ở mọi cấp và học tập suốt đời cho người khuyết tật cùng với người không khuyết tật trên cơ cơ sở bình đẳng về cơ hội, sự giáo dục này có định hướng:

Trang 37

37

a Phát triển trọn vẹn năng lực tiềm tàng của con người, nhận thức về nhân cách và phẩm giá, củng cố sự tôn trọng quyền con người, các tự do cơ bản và tính đa dạng của loài người;

b Phát triển trọn vẹn tiềm năng về tính cách, tài năng, sáng tạo, cũng như những năng lực thể chất và tinh thần của người khuyết tật;

c Tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia hiệu quả vào xã hội tự do

2 Trong khi biến quyền này thành hiện thực, quốc gia thành viên phải bảo đảm:

a Người khuyết tật không bị loại khỏi hệ thống giáo dục phổ thông trên cơ sở sự khuyết tật, và trẻ em khuyết tật không bị loại khỏi giáo dục tiểu học bắt buộc, hoặc giáo dục trung học, trên cơ sở sự khuyết tật;

b Người khuyết tật có thể tiếp cận giáo dục tiểu học và trung học cơ sở có chất lượng tốt và miễn phí trên cơ sở bình đẳng với những học sinh khác trong cộng đồng mà họ sinh sống tạo điều kiện hợp lý cho người khuyết tật trên cơ sở nhu cầu

3 Các quốc gia thành viên tạo điều kiện cho người khuyết tật học tập những kỹ năng phát triển đời sống và xã hội để tạo thuận lợi cho họ tham gia giáo dục một cách trọn vẹn và bình đẳng, với tư cách thành viên của cộng đồng…”, điều 18 trong Công ước về quyền trẻ em [2] bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi trẻ em, tuyên bố SALAMANCA (1994):“Giáo dục là quyền của con người và những người khuyết tật cũng có quyền được học trong các môi trường phổ thông và các trường đó phải được thay đổi để tất cả trẻ em đều được học”, Tuyên ngôn thế giới về giáo dục cho mọi người (1990) [12] :“Các quốc gia phải quan tâm đến nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ em khuyết tật và tạo điều kiện bình đẳng trong giáo dục cho mọi trẻ khuyết tật như là một bộ phận thiết yếu của hệ thống giáo dục quốc dân”

Những văn bản này là tiền đề quan trọng cho việc định hướng và xây dựng các dự thảo luật cho người khuyết tật tại Việt Nam Không chỉ vậy, hành lang pháp

lý còn giúp bảo vệ quyền lợi cũng như xây dựng các dịch vụ tốt nhất có thể cho

Trang 38

38 người khuyết tật đặc biệt là trẻ khuyết tật tại các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt

Nam

1.3.5.2 Văn kiện cơ sở pháp lý tại Việt Nam

Việt Nam là quốc gia coi trọng việc đảm bảo quyền lợi toàn diện cho trẻ em trong đó có quyền được bình đẳng giáo dục Vì vậy, tại Việt Nam, hàng loạt các văn viện pháp luật quan trọng liên quan đến trẻ em, giáo dục đều có nhắc đến trẻ khuyết tật

cụ thể như: điều 59 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992) [12] có quy định “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hóa và học nghề phù

hợp”, điều 10 Luật Giáo dục (2005)[4]: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân

Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng.Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.”, điều 52 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) [7]“Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em

là nạn nhân của chất độc hoá học được gia đình, Nhà nước và xã hội giúp đỡ, chăm sóc, được tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; được nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành cho trẻ em khuyết tật, tàn tật; được giúp

đỡ học văn hoá, học nghề và tham gia hoạt động xã hội.”, Luật về người khuyết tật

2010 [8] , Quy định về Giáo dục hòa nhập dành cho người khuyết tật 2005 [11]: nêu rõ

vai trò, nhiệm vụ các hình thức cũng như yêu cầu của đối với các trường có lớp học hòa nhâp, giáo viên dạy trong lớp có trẻ khuyết tật Tuy nhiên, mức độ cập nhật đối với các văn bản pháp luật của Việt Nam là chưa cao Mặc dù xã hội đã công nhận đối tượng trẻ tự kỷ là một trong những đối tượng khuyết tật nghiêm trọng về trí tuệ và tương tác xã hội cần được quan tâm đặc biệt nhưng trong pháp luật hiện hành của Việt Nam hội chứng tự kỷ vẫn chưa được công nhận là một dạng khuyết tật mà mới chỉ được coi là một bệnh cần được chữa trị Đây là một trong các nguyên nhân khiến trẻ tự

kỷ chưa được hưởng quyền lợi cũng như sự hỗ trợ thích đáng Vì thiếu những chính sách cụ thể nên trẻ tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn khi tham gia hòa nhập và học tập

Trang 39

39

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1tác giả đã trình bày một số lý luận về trẻ tự kỷ và khái niệm trẻ tự kỷ, cũng như các nguyên nhân, hậu quả tác động đến trẻ tự kỷ cùng với đó chương này thể hiện rõ vai trò của mô hình công tác xã hội trong tiến trình hỗ trợ trẻ

tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng như :

Với học sinh

Giúp giải quyết những căng thẳng và khủng hoảng thần kinh; Tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm trí; Giúp học sinh khai thác và phát huy những điểm mạnh và thành công trong học tập; Có được năng lực cá nhân và xã hội…

Với các bậc phụ huynh

- Hỗ trợ tham gia một cách có hiệu quả vào giáo dục con cái Hiểu được những nhu cầu phát triển và giáo dục của trẻ; Tiếp cận các nguồn lực của trường học và cộng đồng; Hiểu các dịch vụ giáo dục đặc biệt; Tăng cường kỹ năng làm cha mẹ…

Với các thầy cô giáo

Giúp cho quá trình làm việc với phụ huynh của học sinh tiến hành hiệu quả; Tìm hiểu những nguồn lực mới…

Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu việc hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng

Trang 40

Với điều kiện cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh và đội ngũ cán bộ giáo viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, hết lòng vì học sinh thân yêu Tháng 8 năm 2004 nhà trường được vinh dự đón nhận bằng công nhận trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ I của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Đây chính là 1 bước ngoặt lớn, một dấu mốc quan trọng trên con đường xây dựng và phát triển của nhà trường

2.2 Thực trạng mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích nghi với quá trình học hòa nhập tại trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng

2.2.1 Mục đích

Mục đích của mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ nhóm trẻ tự kỷ là: Cung cấp một cầu nối quan trọng giữa nhóm trẻ tự kỷ với các nguồn lực: đó là nhân viên CTXH trong vai trò Giáo viên hướng dẫn – người trực tiếp theo sát và giúp đỡ mọi hoạt động của trẻ tại trường Nhân viên CTXH dùng những kiến thức, kinh nghiệm cũng như kỹ năng nghề để lên kế hoạch cũng như hỗ trợ nhóm trẻ tự kỷ phát huy năng lực cá nhân, xây dựng tính độc lập và tự tin cho nhóm trẻ khi các em tham gia vào hoạt động chung tại trường tiểu học Các em không chỉ đáp ứng được các yêu cầu bắt buộc của môi trường học đường mà còn dần hình thành sự tự tin , chủ động tham gia kết bạn, giao lưu cùng càng bạn trong lớp

Ngày đăng: 17/08/2019, 20:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Thị Thúy Hằng, Mô hình hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật hiện nay ở nước ta,Tạp chí Khoa học giáo dục số 42 – 3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật hiện nay ở nước ta
9. Hoàng Thị Phương(2003), Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi, Luận án tiến sĩ, Viện khoa hoc giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Nhà XB: Viện khoa hoc giáo dục
Năm: 2003
13. Viện khoa học giáo dục (2010), “Quản lý GDĐB ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý GDĐB ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp
Tác giả: Viện khoa học giáo dục
Năm: 2010
14. Viện khoa học giáo dục (2010), “Đánh giá học sinh khuyết tật trong lớp học hòa nhập tiểu học của Việt Nam hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá học sinh khuyết tật trong lớp học hòa nhập tiểu học của Việt Nam hiện nay
Tác giả: Viện khoa học giáo dục
Năm: 2010
17. Mary Jane Wessi and Sandra L.Harris (2001), Teaching social skill to young children with autism Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teaching social skill to young children with autism
Tác giả: Mary Jane Wessi, Sandra L. Harris
Năm: 2001
20. Kate C. Wilde “ Hỗ trợ trẻ tự kỷ” Thông tin cập nhật từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ trẻ tự kỷ
Tác giả: Kate C. Wilde
Nhà XB: Thông tin cập nhật từ Internet
1. Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật 2. Công ƣớc về quyền trẻ em Khác
4. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
5. Nguyễn Hồi Loan (2015), Hội chứng tự kỷ ở cộng đồng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 6. Luật Giáo dục Khác
10. Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm, Hoàng Thị Nho, Trần Thị Minh Thành(2006), Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, Nxb giáo dục Khác
11. Tuyên ngôn thế giới về giáo dục cho mọi người 12. Quy định giáo dục dành cho người khuyết tật Khác
15. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2012), Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản, Nxb Đại học sƣ phạmTiếng Anh Khác
16. Lý thuyết những hệ thống Chung – General Systems Theory, 1968, bắt nguồn từ Ross Ashby ( Giới thiệu tới Điều khiển học, 1956) Khác
18. Grill Richar , Felicity Armstrong (2008),Key issues for teaching assistans: working in denvers and inclusive classroom Khác
19. Jane Quires, Elizabeth Townly, Diane Bricker, Lawanda Potter (2009), AQS-3 user’s guide Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w