Vậy xung đột luật và xung đột thẩm quyền trong Tư pháp quốc tế là gì? Hai hiện tượng này khác nhau như thế nào? Giải quyết hai vấn đề trên như thế nào? Để làm rõ những vấn đề trên Em xin chọn đề tài: “Phân biệt xung đột luật và xung đột về thẩm quyền trong tư pháp quốc tế? Cách thức giải quyết 2 hiện tượng này trong Tư pháp quốc tế? Cho ví dụ cụ thể?”
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Khái quát về xung đột luật và xung đột thẩm quyền trong tư pháp quốc tế 1
1 Khái quát về xung đột luật trong tư pháp quốc tế 1
1.1 Khái niệm xung đột luật trong tư pháp quốc tế 1
1.2 Nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật 2
2 Khái quát về xung đột thẩm quyền trong tư pháp quốc tế 5
2.1 Khái niệm xung đột thẩm quyền 5
2.2 Nguyên nhân của xung đột về thẩm quyền 5
II Phân biệt xung đột luật và xung đột thẩm quyền trong tư pháp quốc tế 6
III Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền trong tư pháp quốc tế 8
1 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật 8
1.1 Phương pháp thực chất 8
1.2 Phương pháp xung đột 11
2 Phương pháp giải quyết xung đột về thẩm quyền trong tư pháp quốc tế 12
2.1 Xây dựng các quy phạm thực chất xác định thẩm quyền xét xử 13 2.2 Vận dụng các quy phạm xung đột về thẩm quyền được ghi nhận trong văn bản pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế có liên quan 15
3 So sánh cách thức giải quyết xung đột luật và xung đột thẩm quyền 16
3.1 Những điểm tương đồng trong cách thức giải quyết xung đột luật và xung đột thẩm quyền 16
Trang 23.2 Những điểm khác biệt trong cách thức giải quyết xung đột luật và xung đột thẩm quyền 16
C KẾT LUẬN 18 Danh mục tài liệu tham khảo: 19
A MỞ ĐẦU
Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, mối quan hệ giữacác quốc gia với nhau trên trường quốc tế cũng ngày càng pháttriển trên tất cả các lĩnh vực Kéo theo đó là sự phát triển củacác quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển
và mở rộng, những quan hệ đó thuộc đối tượng điều chỉnh của
Tư pháp quốc tế Vì vậy nghiên cứu tư pháp quốc tế trong thờibuổi hiện nay có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn Khi nghiêncứu tư pháp quốc tế chúng ta thấy có hai hiện tượng đó là vấn
đề xung đột luật và xung đột thẩm quyền trong Tư pháp quốc
tế
Vậy xung đột luật và xung đột thẩm quyền trong Tư phápquốc tế là gì? Hai hiện tượng này khác nhau như thế nào? Giảiquyết hai vấn đề trên như thế nào? Để làm rõ những vấn đề
trên Em xin chọn đề tài: “Phân biệt xung đột luật và xung đột
về thẩm quyền trong tư pháp quốc tế? Cách thức giải quyết 2 hiện tượng này trong Tư pháp quốc tế? Cho ví dụ cụ thể?” làm
đề tài cho bài tiểu luận của mình
Trang 3Mỗi một quốc gia trên thế giới lại có cho riêng mình một hệthống pháp luật Tuy nhiên hệ thống pháp luật của các quốc gialại có những sự khác nhau thậm chí là trái ngược nhau.
Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống phápluật đồng thời có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ phápluật này hay một quan hệ pháp luật khác Vấn đề cần giải quyết
là chọn một trong các hệ thống pháp luật để áp dụng giải quyếtcác quan hệ pháp luật trên
Có thể hiểu rằng: “Xung đột pháp luật là hiện tượng mà hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau đều
có thể điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài (quan hệ tư pháp quốc tế)”.1
Ví dụ: một công ty ở nước A và một công ty ở nước B, kýkết với nhau một hợp đồng mua bán hàng hóa, tuy nhiên trênđường vận chuyển hàng hóa từ A sang B thì phải đi qua nước C,không khi hàng hóa vận chuyển qua C thì phát sinh sự kiện gây
ra thiệt hại Lúc này vấn đề bồi thường thiệt hại chịu sự điềuchỉnh của pháp luật cả ba nước A,B,C
1.2 Nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật
Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc
tế, nó xuất phát do hai nhóm nguyên nhân:
Thứ nhất, Nguyên nhân khách quan
Một trong những nguyên nhân khách quan đó là do phápluật các nước có sự khác nhau Pháp luật do nhà nước xây dựngnên, phù hợp với các điều kiện chính trị, xã hội… của nướcmình Vì vậy, có rất nhiều yếu tố làm cho pháp luật của cácnước trên thế giới không giống nhau, đó có thể là:
Do nguyên nhân chính trị, kinh tế, xã hội: Các quốc gia đềutồn tại dựa trên một nền tảng kinh tế nhất định với một chế độ
Trang 4sở hữu tương ứng Mà chế độ sở hữu là một bộ phận của cơ sở
hạ tầng, có mối quan hệ biện chứng với kiến trúc thượng tầngtrong đó pháp luật là một cấu thành quan trọng Vì vậy, dựatrên một chế độ sở hữu nhất định thì pháp luật cũng được hìnhthành để phản ứng một cách phù hợp và tương xứng
Sự khác nhau giữa hệ thống pháp luật các nước còn có thể
từ các nguyên nhân khác như tập quán, truyền thống, tínngưỡng, tôn giáo, bởi cách giải thích pháp luật khác nhau, ápdụng pháp luật khác nhau và hơn nữa là trình độ phát triển ởcác nước là không đồng đều…
Do sự khác biệt giữa các nước về kinh tế, chính trị, xã hội:Theo quan điểm của triết học Mác – Lenin, giữa cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau Cơ
sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượngtầng có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng Do đó, đối với mỗiquốc gia sự phát triển kinh tế là khác nhau chính vì vậy dẫn đếncác yếu tố về hệ thống pháp luật, chính trị là khác nhau; cácnước đều có những quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạođức, tôn giáo… là khác nhau do đó cũng có sự khác biệt trong
sự vận động của nền kinh tế Nếu nền kinh tế phát triển kéotheo cả một hệ thống pháp luật được xây dựng hoàn thiện, pháttriển và ngược lại nếu nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển thì hệthống pháp luật cũng có những yếu kém, hạn chế nhất định sựdung hòa trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan
hệ tư pháp quốc tế có thể được giải quyết nếu các nước có sựphát triển tương đương về mặt kinh tế, xã hội Chính những sựkhác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội đã tạo ra một rào cảntrong việc áp dụng pháp luật để giải quyết chung một vấn đềphát sinh giữa các nước
4
Trang 5Một nguyên nhân khách quan nữa đó là do quan hệ tưpháp quốc tế luôn có yếu tố nước ngoài Các quan hệ mà tưpháp quốc tế điều chỉnh là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của tư phápquốc tế Chính yếu tố nước ngoài đã làm cho các quan hệ nàyliên quan tới ít nhất là hai quốc gia, hai hệ thống pháp luật màquốc gia dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng với nhau Các
hệ thống pháp luật là bình đẳng với nhau nên các hệ thốngpháp luật đó đều có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan
hệ, một quan hệ trong tư pháp quốc tế tương ứng và hầu hếtcác quốc gia đều chấp nhận việc có thể áp dụng pháp luật nướcngoài để điều chỉnh lực này Quyết định sử dụng hệ thống phápluật nào chính là vấn đề cần giải quyết Khoa học tư pháp quốc
tế gọi đó là hiện tượng xung đột pháp luật
Thứ hai, nguyên nhân chủ quan.
Nguyên nhân chủ quan là do có sự thừa nhận khả năng áp
dụng pháp luật nước ngoài của nhà nước Thực tế có nhữngquan hệ pháp luật nảy sinh, mặc dù hệ thống pháp luật của cácnước là khác nhau, cũng có sự xuất hiện của yếu tố nước ngoàitức là thỏa mãn hai điều kiện của nguyên nhân khách quan nóitrên, nhưng vẫn không có xung đột pháp luật Đó là những quan
hệ trong lĩnh vực công như hình sự, hành chính, dù có yếu tốnước ngoài nhưng không xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật
Sỡ dĩ như vậy do đây là những quan hệ trong lĩnh vực công, việc
áp dụng pháp luật nước ngoài có thể gây mất ổn định của anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, có thể đánh mất đi nhữnggiá trị cốt lõi, nền tảng của chính mình Nói một cách khác, nếuthừa nhận có xung đột pháp luật trong lĩnh vực công thì đồngnghĩa với việc có thể chấp nhận pháp luật nước ngoài, và điều
Trang 6đó là một điều hết sức lý và không thực tiễn không chỉ đối vớiViệt Nam mà với tất cả các nước.
Trong khi đó, các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu
tố nước ngoài sẽ phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật Dobản chất của các quan hệ này là quan hệ dân sự, các quan hệđời thường diễn ra hằng ngày giữa người dân với nhau, họ là cácchủ thể ngang quyền và bình đẳng với nhau Chính yếu tố bìnhđẳng trong quan hệ này là cơ sở để có thể đặt ra vấn đề bìnhđẳng trong luật pháp giữa các nước và khi quan hệ liên quanđến nhiều quốc gia thì nhiều hệ thống pháp luật tương ứng sẽ
có thể được cân nhắc áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ thểđang xem xét, tức là có xung đột pháp luật Nói cách khác, dođặc trưng của quan hệ dân sự không nghiêm trọng mà các quốcgia đều thừa nhận khả năng có thể áp dụng pháp luật nướcngoài với những điều kiện nhất định Đây là điều kiện cần và đủ
để hiện tượng xung đột pháp luật tồn tại trong các quan hệ tưpháp quốc tế
Như vậy, lý do khách quan là tiền đề quan trọng để xuấthiện hiện tượng xung đột pháp luật, lý do chủ quan là lý doquyết định có tồn tại quan hệ xung đột pháp luật hay không.Nếu lý do khách quan được đáp ứng, quan hệ lại rơi vào nhómđược nhà nước thừa nhận có thể áp dụng pháp luật nước ngoàithì xung đột pháp luật nảy sinh quan hệ thuộc đối tượng điềuchỉnh của tư pháp quốc tế Nếu lý do khách quan thỏa mãnnhưng lại không có sự đồng ý cho áp dụng pháp luật nước ngoàitrong loại quan hệ đó thì hiện tượng xung đột pháp luật cũngkhông thể nảy sinh như các quan hệ trong lĩnh vực luật công cóyếu tố nước ngoài
6
Trang 7Ví dụ: Ông A là công dân Việt Nam sinh sống tại thành
phố B của Đức từ năm 1995 Đến năm 2015 ông K bị chết độtngột và có để lại một số tài sản bao gồm: 1 ngôi nhà ở thànhphố H của Việt Nam, 1 ngôi nhà tại thành phố B của Đức và một
số tiền tại ngân hàng ở Đức Như vậy trong trường hợp này hệthống pháp luật của hai nước là Việt Nam và Đức đều có thểđược áp dụng để giải quyết quan hệ này do nội dung quan hệđều có mối quan hệ với hai nước Việt Nam và Đức Vậy phápluật nước nào sẽ được áp dụng để tòa án giải quyết vụ việcnày? Hiện tượng này được gọi là xung đột pháp luật
2 Khái quát về xung đột thẩm quyền trong tư pháp quốc tế
2.1 Khái niệm xung đột thẩm quyền
Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là việc xácđịnh thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong việc giải quyết cáccác vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Đây là giai đoạn khởiđiểm của tố tụng dân sự quốc tế Khi một vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài phát sinh, vấn đề pháp lý đầu tiên đặt ra là cầnxác định vụ việc đó thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gianào Do tính chất của một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
có liên quan đến nhiều bên, nên một việc có thể thuộc thẩmquyền giải quyết của nhiều cơ quan tư pháp của nhiều nước.Vấn đề này được gọi là xung đột về thẩm quyền Để xác địnhthẩm quyền tài phán của quốc gia trong vụ việc dân sụ có yếu
tố nước ngoài, trước hết cần giải quyết vấn đề xung đột vềthẩm quyền xét xử
“Xung đột thẩm quyền (hay còn gọi là xung đột về tài phán) là trường hợp trong một vụ việc dân sụ có yếu tố nước
Trang 8ngoài , cơ quan tài phán của hai hay nhiều nước đều có thể có thẩm quyền giải quyết” 2
2.2 Nguyên nhân của xung đột về thẩm quyền
Xung đột về thẩm quyền là một hiện tượng của tư phápquốc tế, nó xuất phát từ một số những nguyên nhân đó là:
Thứ nhất, do chủ quyền quốc gia đối với quyền tài phán.
Mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật, Cơ quan tư phápriêng để giải quyết các vụ việc dân sự có tính chất quốc tế.Chính vì mỗi quốc gia có quyền tài phán của riêng mình, bêncạnh đó mỗi quốc gia khác nhau lại có hệ thống pháp luật khácnhau quy định về thẩm quyền của các cơ quan tư pháp trongviệc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã dẫntới việc một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài lại thuộc thẩmquyền giải quyết của nhiều cơ quan tư pháp của nhiều quốc gia,điều đó tạo ra hiện tượng xung đột về thẩm quyền
Thứ hai, không có quy trình thủ tục tố tụng dân sự quốc
tế Hiện nay, vẫn chưa có một quy định nào mang tính quốc tếquy định về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự quốc tế làm cơ sở
để áp dụng chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới Cácquốc gia vẫn chỉ dựa vào các quy định của pháp luật nội địa củanước mình, mà pháp luật của các quốc gia lại quy định khácnhau về thẩm quyền trong tố tụng dân sự quốc tế Điều này đãdẫn đến hiện tượng xung đột về thẩm quyền
Thứ ba, do nguyên tắc mở rộng thẩm quyền theo các dấu
hiệu chung giống nhau Trong việc xác định thẩm quyền củamình trong tố tụng dân sự quốc tế, các quốc gia thường dựa vàomột một số dấu hiệu nhất định như là quốc tịch, nơi cư trú, nơi
có tài sản… việc các quốc gia có những điểm tương đồng trong
2 Trường đại học Luật Hà Nội “Giáo trình tư pháp quốc tế” Nxb Tư Pháp 2017 Tr167
8
Trang 9việc xác định thẩm quyền của mình cũng dẫn tới việc một vụviệc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều quốc gia.
II Phân biệt xung đột luật và xung đột thẩm quyền trong
tư pháp quốc tế.
Xung đột Luật và xung đột thẩm quyền đều là những hiệntượng trong tư pháp quốc tế, tuy nhiên hai vấn đề này lại cónhững điểm khác nhau, cụ thể đó là:
Xung đột thẩm quyền(hay còn gọi là xung đột
về tài phán) là trườnghợp trong một vụ việcdân sự có yếu tố nướcngoài , cơ quan tài pháncủa hai hay nhiều nướcđều có thể có thẩmquyền giải quyết
Về bản
chất
Bản chất của xung độtluật là phải tìm ra được
hệ thống pháp luật ápdụng cho một quan hệquốc tế cụ thể phát sinhtrong lĩnh vực dân sự,kinh tế, hôn nhân – giađình, lao động…Nghĩa làphải xác định các quyphạm luật thực chất cụthể được áp dụng để điềuchỉnh quan hệ đó Xung
Bản chất của xung độtthẩm quyền xét xử dân
sự quốc tế là vấn đềchọn các quy phạm xácđịnh thẩm quyền xét xửdân sự quốc tế các vụviệc tư pháp quốc tế cụthể, để làm rõ Tòa ánnước nào có thẩm quyềnthực tế giải quyết thựcchất vụ việc tư phápquốc tế cụ thể đã phát
Trang 10đột luật mang tính kháchquan, dù muốn haykhông muốn thì xung độtluật vẫn tồn tại.
và sự tham gia của các
hệ thống pháp luật chỉcần dừng ở mức khảnăng Nghĩa là khi xảy raxung đột luật mà đã giảiquyết bằng cách chọnđược một hệ thống phápluật điều chỉnh tình tiết
cụ thể thì những hệthống pháp luật kháckhông điều chỉnh thêm
về tình tiết đó nữa, haynói cách khác sự điềuchỉnh của một hệ thốngpháp luật là duy nhất đốivới một tình tiết cụ thể
Xung đột thẩm quyền lạiluôn có sự xuất hiện của
ít nhất hai cơ quan tưpháp của hai quốc giakhác nhau và khôngchắc chắn xác định đượcthẩm quyền giải quyết
vụ việc thuộc duy nhấtmột cơ quan của quốcgia nào Các cơ quan tưpháp có quyền xét xửtheo thẩm quyền củamình và không loại trừthẩm quyền xét xử củacác cơ quan tư pháp củaquốc gia khác Điều nàychính là nguyên nhândẫn đến hiện tượng song
Xung đột thẩm quyền chỉphát sinh trong quan hệdân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoàithuộc thẩm quyền xét xửcủa Tòa án
Về giải Phương pháp giải quyết Phương pháp giải quyết
10
Trang 11quyết xung đột luật bao gồm:
Phương pháp xung đột vàphương pháp thực chất
xung đột thẩm quyền, đó
là xây dựng các quyphạm thực chất, xácđịnh cụ thể thẩm quyềnxét xử dân sự quốc tếhoặc bằng cách vậndụng các quy phạmxung đột về thẩm quyềnđược ghi nhận trong vănbản pháp luật quốc giahoặc điều ước quốc tế
III Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền trong tư pháp quốc tế
1 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật
Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật là cách thứcgiải quyết vấn đề khi có tình huống hai hay nhiều hệ thốngpháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng đểđiều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế Căn cứ vào các quyđịnh của pháp luật cũng như thực tiễn thì xung đột pháp luật sẽđược giải quyết bằng các phương pháp sau đây:
1.1 Phương pháp thực chất
Phương pháp thực chất là phương pháp sử dụng các quyphạm thực chất, trực tiếp điều chỉnh quan hệ mà không quamột khâu trung gian nào
Quy phạm thực chất là loại quy phạm pháp luật quy định
cụ thể các cách thức ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệ,hay quy phạm này quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bêntham gia quan hệ, trực tiếp điều chỉnh quan hệ, trực tiếp tácđộng tới quan hệ, quy phạm này trả lời cho câu hỏi quan hệ này
Trang 12được giải quyết cụ thể như thế nào Khi có quy phạm thực chấtthì quan hệ có thể được giải quyết mà không cần dẫn chiếu đếnpháp luật của bất kì quốc gia nào nên có thể giải quyết nhanhchóng, kịp thời lại đơn giản hơn, tránh được những khó khăn khigiải quyết tranh chấp Quy phạm thực chất gồm có hai loại:
Thứ nhất, quy phạm thực chất thống nhất Đây là loại quy
phạm thực chất nằm trong các điều ước quốc tế xuất phát từviệc các quan hệ quốc tế là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoài, nên các quan hệ này luôn có sự liên quanđến hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Mà bản thânnội tại các hệ thống pháp luật luôn tồn tại sẵn các yếu tố tạonên sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật với nhau Vì vậy
để giải quyết các quan hệ phức tạp này bằng một loại quyphạm quy định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên thamgiai quan hệ, vẫn đảm bảo được sự chấp nhận của hai haynhiều hệ thống pháp luật thì các quốc quốc gia đã đàm phán,thương lượng với nhau để xây dựng các Điều ước quốc tế chứacác quy phạm để diều chỉnh một mối quan hệ trong một lĩnhvực nào đó trong cuộc sống và được tất cả các quốc gia thamgia Điều ước đó tuân thủ, những quy phạm được chứa đựngtrong các Điều ước đó chính là các quy phạm thực chất thốngnhất
Ví dụ: Các quy định trong công ước Pari 1883 về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp (Điều 5quinquies: Kiểu dáng công nghiệpphải được bảo hộ tại tất cả các nước thành viên của Liên minh);Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóaquốc tế (Ðiều 34: Nếu người bán phải có nghĩa vụ phải giao cácchứng từ liên quan đến hàng hoá thì họ phải thi hành nghĩa vụnày đúng thời hạn, đúng địa điểm và đúng hình thức như quy
12
Trang 13định trong hợp đồng Trong trường hợp người bán giao chứng từtrước kỳ hạn, thì họ có thể, trước khi hết thời hạn quy định sẽgiao chứng từ, loại bỏ bất kỳ điểm nào không phù hợp với chứng
từ với điều kiện là việc làm này không gây cho người mua mộttrở ngại hay phí tổn vô lý nào Tuy nhiên, người mua vẫn cóquyền đòi người bán bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ướcnày”
Khi có các quy phạm thực chất thống nhất thì các cơ quangiải quyết cũng như các bên tham giai quan hệ có thể căn cứvào đó để giải quyết vấn đề một cách trực tiếp, mà không cầnphải xem xét đến các cách giải quyết khác
Ví dụ: Trong một lần tham gia hội chợ quốc tế để quảng
bá sản phẩm giày da của công ty mình, công ty A có quốc tịchViệt Nam đã nhận được lời chào hàng muốn mua một lô giày từcông ty B có quốc tịch Mỹ Sau nhiều lần gặp gỡ cũng như gọiđiện thương lượng, hai bên đã thống nhất được nội dung củahợp đồng và công ty A sẽ giao hàng vào ngày mà hai bên đãthỏa thuận Vấn đề đặt ra ở đây là theo pháp luật Mỹ thì hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế không nhất thiết phải lậpthành văn bản Tuy nhiên theo pháp luật Việt Nam thì hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế bắt buộc phải được lập thành vănbản, nếu chiếu theo quy định này thì hợp đồng giữa công ty A
và công ty B sẽ bị vô hiệu Để giải quyết vấn đề này thì hai bênthỏa thuận sẽ sử dụng các quy định của Công ước Vienna 1980của Liên hơp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế (CISSG), theo
đó Điều 11 CISSG quy định “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân