Trong những năm qua, chương trình bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp đã có nhiều lần chỉnh sửa theo hướng cập nhật những nội dung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nhà giáo; theo đó, tài liệu phục vụ cho bồi dưỡng, đào tạo cũng có nhiều đổi mới. Tài liệu “Tổ chức hoạt động giáo dục” này được biên soạn theo chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho nhà giáo dạy trình độ trung cấp, cao đẳng theo tiếp cận năng lực thực hiện. Nội dung của giáo trình được cấu trúc theo 03 bài học: Thiết kế hoạt động giáo dục, Tổ chức hoạt động giáo dục, Đánh giá hoạt động giáo dục.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, chương trình bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ sư phạm chonhà giáo giáo dục nghề nghiệp đã có nhiều lần chỉnh sửa theo hướng cập nhật những nộidung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nhà giáo; theo đó, tài liệu phục vụ cho bồidưỡng, đào tạo cũng có nhiều đổi mới Tài liệu “Tổ chức hoạt động giáo dục” này đượcbiên soạn theo chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho nhà giáo dạy trình độtrung cấp, cao đẳng theo tiếp cận năng lực thực hiện Nội dung của giáo trình được cấutrúc theo 03 bài học: Thiết kế hoạt động giáo dục, Tổ chức hoạt động giáo dục, Đánh giáhoạt động giáo dục
Mỗi bài học trong tài liệu là căn cứ quan trọng để tổ chức bồi dưỡng những kỹnăng tổ chức hoạt động giáo dục cho nhà giáo; qua đó, nhà giáo hình thành được những
kỹ năng cần thiết thuộc nhiệm vụ giáo dục người học Khi triển khai bồi dưỡng, mỗi kỹnăng được tổ chức dạy học thông qua hai phần: Phần thứ nhất, người học có được nhậnthức về những căn cứ liên quan đến hình thành kỹ năng; phần thứ hai, người học cóđược kỹ năng nhờ quá trình luyện tập gắn với công việc cụ thể thuộc nhiệm vụ tổ chứchoạt động giáo dục
Chúng tôi xin cảm ơn quý thầy cô giáo, các nhà khoa học đã quan tâm, đóng gópnhiều ý kiến qúy báu cho nhóm tác giả trong quá trình biên soạn tài liệu! Tuy nhiên,trong khuôn khổ thời gian có hạn, tài liệu có thể còn một số tồn tại, chúng tôi rất mongtiếp tục nhận được những góp ý của bạn đọc
Ban chủ nhiệm biên soạn chương trình và tài liệu Bồi dưỡng NVSP cho nhà giáo dạy trình độ trung cấp, cao đẳng
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
MỤC LỤC 2
BÀI 1: THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 3
1 Khái quát về quá trình giáo dục 3
1.1 Khái niệm về giáo dục và quá trình giáo dục 3
1.2 Mục đích giáo dục Việt Nam và mục tiêu giáo dục nghề nghiệp 9
1.3 Nguyên lý giáo dục 12
1.4 Đặc điểm đối tượng giáo dục và bản chất quá trình giáo dục 16
1.5 Các khâu của quá trình giáo dục 25
1.6 Nguyên tắc giáo dục 25
1.7 Nội dung giáo dục 30
2 Kế hoạch tổ chức và tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục 31
2.1 Khái niệm về kế hoạch tổ chức, tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục 31
2.2 Các bước và các yêu cầu đối với lập kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục 32
2.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục 34
3 Thực hành về lập kế hoạch tổ chức và xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục cụ thể 36
BÀI 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 37
1 Mục đích và ý nghĩa của tổ chức hoạt động giáo dục 37
1.1 Mục đích của tổ chức hoạt động giáo dục 37
1.2 Ý nghĩa của tổ chức hoạt động giáo dục 38
2 Phương pháp giáo dục 38
2.1 Khái niệm về phương pháp giáo dục 38
2.2 Hệ thống phương pháp giáo dục 39
3 Tập thể học sinh - sinh viên và giáo viên chủ nhiệm lớp - cố vấn học tập 45
3.1 Tập thể học sinh - sinh viên 45
3.2 Giáo viên chủ nhiệm lớp - cố vấn học tập 48
4 Tổ chức hoạt động giáo dục và minh chứng cho đánh giá 53
4.1 Các bước và yêu cầu đối với tổ chức hoạt động giáo dục 53
5 Xử lý tình huống sư phạm trong quá trình giáo dục 95
5.1 Khái niệm về tình huống sư phạm 95
5.2 Các bước và yêu cầu đối với xử lý tình huống sư phạm 97
6 Thực hành về tổ chức hoạt động giáo dục, xử lý tình huống sư phạm, thu thập minh chứng cho đánh giá hoạt động giáo dục 99
BÀI 3: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 99
1 Khái quát về đánh giá hoạt động giáo dục 100
1.1 Tầm quan trọng của đánh giá hoạt động giáo dục 100
1.2 Các bước tổ chức đánh giá hoạt động giáo dục 102
2 Kế hoạch và đánh giá hoạt động giáo dục 102
2.1 Kế hoạch đánh giá hoạt động giáo dục 102
2.2 Đánh giá hoạt động giáo dục 103
3 Thực hành về lập kế hoạch và tổ chức đánh giá hoạt động giáo dục 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 3BÀI 1: THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
* MỤC TIÊU
Học xong bài học này, người học có khả năng:
- Kiến thức: Phân tích được các nội dung cơ bản về quá trình giáo dục, kế hoạch
tổ chức và tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục
- Kỹ năng: Lập được kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục ở cơ sở giáo dục nghềnghiệp (trường trung cấp, cao đẳng) và xây dựng được tiêu chí đánh giá hoạt độnggiáo dục
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động phối hợp với đồng nghiệp hoặc cácbên có liên quan trong xây dựng kế hoạch tổ chức và tiêu chí đánh giá hoạt động giáodục phù hợp với mục tiêu giáo dục nghề nghiệp trình độ trung cấp, cao đẳng
* NỘI DUNG
1 Khái quát về quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục nói chung và quá trình giáo dục học sinh trung cấp, sinh viêncao đẳng nói riêng luôn chịu các tác động qua lại của nhiều bên liên quan, trong đógiáo dục của nhà trường giữ vai trò chủ đạo Trong suốt quá trình theo học, mỗi họcsinh trung cấp, sinh viên cao đẳng luôn chịu tác động của các lực lượng giáo dục ở giađình, trong nhà trường và ngoài xã hội Những nội dung sau đây chủ yếu đề cập về quátrình giáo dục của nhà trường với vai trò là những tác động giáo dục có tính chủ đạo
1.1 Khái niệm về giáo dục và quá trình giáo dục
1.1.1 Khái niệm giáo dục
Về bản chất: giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử
-xã hội mà thế hệ loài người đi trước để lại, từ đó mỗi cá nhân có được năng lực tự giáodục và có được kết quả giáo dục cho mình
- Về hoạt động: giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình
thành cho họ những phẩm chất và năng lực cần thiết
- Về phạm vi: khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau: 1) Ở cấp độ thứ nhất cấp độ rộng: giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của
các yếu tố chủ quan và khách quan, có ý thức và không ý thức của cuộc sống Đó là
quá trình xã hội hoá con người; 2) Ở cấp độ thứ hai: giáo dục được hiểu là hoạt động
có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục tác động có kế hoạch, có hệ
thống tới con người nhằm hình thành những phẩm chất nhân cách ở họ; 3) Ở cấp độ
thứ ba: giáo dục được hiểu là quá trình tác động có kế hoạch có nội dung và bằng
Trang 4phương pháp của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp họ nhậnthức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách Đó là quá trình sưphạm tổng thể Ở cấp độ này giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, nó bao gồm: quátrình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp.
Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta hiểu giáo dục làcho tất cả mọi người được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợpvới từng loại đối tượng, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, với các kiểu học tập
đa dạng và linh hoạt, thích ứng với mọi biến đổi; 4) Ở cấp độ thứ tư: giáo dục là quá
trình hình thành phẩm chất đạo đức cho đối tượng giáo dục thông qua việc tổ chứccuộc sống, hoạt động và giao lưu Ở cấp độ này khái niệm giáo dục được hiểu theonghĩa hẹp, nó ngang hàng với khái niệm dạy học
1.1.2 Chức năng của giáo dục
Giáo dục thực hiện ba chức năng: chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng chínhtrị - xã hội và chức năng tư tưởng - văn hoá Những chức năng này đã thể hiện vai tròcủa giáo dục đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội về mọi lĩnh vực
a) Chức năng kinh tế - sản xuất
Muốn có một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ với năng suất lao động ngày càngcao thì phải có đông đảo những người lao động có phẩm chất đạo đức, có tay nghề đểđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua giáo dục
Với chức năng kinh tế - sản xuất, giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, tức làlàm cho số người lao động thường xuyên tăng lên, trình độ tay nghề, trình độ văn hóađược nâng lên một cách có hệ thống
Giáo dục là một quá trình xã hội góp phần đắc lực vào việc đào tạo những conngười lao động mới, tiến bộ phục vụ cho phương thức sản xuất của xã hội Mặc dùgiáo dục không trực tiếp sản xuất nhưng đã tái sản xuất ra sức lao động xã hội của thế
hệ sau hơn thế hệ trước Tức là nó có tác dụng cải biến cái bản thể tự nhiên chung củacon người làm cho họ có kiến thức, kĩ năng kĩ xảo về một lĩnh vực lao động phù hợp,tạo ra một năng suất lao động cao, trực tiếp thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế
Chúng ta đang sống trong thời kì văn minh, hậu công nghiệp có sự phát triểnmạnh mẽ của công nghệ thông tin Thời điểm này đã đặt ra yêu cầu rất cao đối vớinguồn nhân lực lao động là phải có trình độ học vấn cao, kiến thức sâu sắc, có tay
Trang 5nghề vững vàng và cao hơn nữa là có tính năng động, sáng tạo, linh hoạt để thích nghi,đáp ứng được nhu cầu tiến trình phát triển của xã hội.
Để thực hiện tốt chức năng kinh tế - sản xuất, giáo dục phải tập trung những yêucầu cơ bản sau đây:
- Giáo dục phải gắn liền với thực tiễn xã hội, đáp ứng nguồn nhân lực theo yêucầu phát triển kinh tế - sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể;
- Xây dựng một hệ thống giáo dục quốc dân cân đối, đa dạng nhằm nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoahọc, công nghệ làm động lực trực tiếp thúc đẩy đất nước phát triển hoà nhập với cácnước văn minh trên thế giới;
- Không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục nhằmnâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cao và những phẩm chất cần thiết, đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại Đó làmột vấn đề đang đặt ra cho các quốc gia phải quan tâm giải quyết
b) Chức năng chính trị - xã hội
Trong một chế độ chính trị, bao giờ giai cấp cầm quyền cũng sử dụng giáo dụcnhư một công cụ để duy trì chế độ chính trị xã hội đó, tức là duy trì mục tiêu chính trịcho xã hội đó, giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội tức là tác động đến các bộ phậncủa xã hội bao gồm các giai cấp, tầng lớp, các nhóm xã hội, các mối quan hệ giữa các
bộ phận đó và những khác biệt giữa các giai cấp và bên trong các giai cấp, tầng lớp,các nhóm xã hội Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội nhằm góp phần biến đổi cấutrúc xã hội theo mục đích mong muốn Giáo dục xã hội chủ nghĩa góp phần làm cấutrúc xã hội trở nên thuần nhất, các tầng lớp xã hội xích lại gần nhau bằng cách nângcao trình độ văn hoá nhận thức cho toàn thể nhân dân lao động, tạo điều kiện thuận lợicho người dân lựa chọn nghề nghiệp, thay đổi các vị trí xã hội Còn giáo dục tư bảnchủ nghĩa lại có tác dụng tái tạo cấu trúc xã hội mang tính giai cấp, duy trì và gia tăngnhững sự khác biệt và đối lập giữa các giai cấp trong xã hội bằng cách thực hiện mộtchính sách giáo dục phân biệt bất bình đẳng
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đại diện cho quyền lực của dân, dodân, vì dân trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin đang quyết tâm xây dựng đất nước
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Giáo dục phảiphục vụ mục đích chính trị tốt đẹp và tư tưởng cao quý đó bằng toàn bộ hoạt động của
Trang 6mình thể hiện từ quan điểm, mục đích, nội dung, phương châm, phương pháp đến việc
tổ chức quản lý giáo dục sao cho các chủ trương đường lối chính trị của Đảng, phápluật của Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc đến mọi tầng lớp nhândân để biến thành hành động thực tiễn, nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh vàvững chắc
Giáo dục góp phần thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu xã hội như giáo dục dân
số và kế hoạch hoá gia đình góp phần thực hiện mục tiêu về phát triển dân số của xãhội; Giáo dục giới tính góp phần tiến tới sự bình đẳng nam, nữ ; Chính sách ưu tiêntheo vùng trong chế độ tuyển sinh hiện nay nhằm góp phần đảm bảo nguồn nhân lực
có trình độ cho các vùng ít có điều kiện phát triển kinh tế xã hội như các vùng sâu,vùng cao
c) Chức năng tư tưởng - văn hoá
Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của cácthế hệ, vì vậy thế giới ngày nay coi giáo dục là con đường cơ bản nhất để giữ gìn vàphát triển nền văn hoá nhân loại
Giáo dục có nhiệm vụ quan trọng xây dựng trình độ văn hoá cho toàn xã hội bằngcách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho thế hệ trẻ và mọingười dân trong xã hội Ngày nay, có một tiêu chí để đánh giá sự giàu mạnh của mộtquốc gia chính là trình độ dân trí cao Trình độ dân trí cao sẽ tiếp thu được các giá trịvăn hoá tốt đẹp, đấu tranh ngăn ngừa xoá bỏ những tư tưởng hành vi tiêu cực ảnhhưởng đến tất cả các hoạt động cần thiết trong đời sống xã hội như: xoá bỏ các phongtục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, antoàn giao thông đồng thời giáo dục cũng phải thoả mãn nhu cầu học tập suốt đời củamỗi công dân Do vậy, giáo dục còn là một phúc lợi cơ bản một cuộc sống tinh thầncủa mỗi thành viên trong xã hội Giáo dục làm cho xã hội văn minh và công bằng, giáodục có sứ mệnh giúp cho mọi người, không trừ một ai, được phát huy tất cả mọi tàinăng và mọi tiềm lực sáng tạo
Để thực hiện chức năng tư tưởng - văn hoá, giáo dục phải được quan tâm ngay từbậc học mầm non đến đại học và trên đại học, phải phát triển hợp lý các loại hình giáodục và phương thức đào tạo để mọi lứa tuổi được hưởng quyền lợi học tập, thoả mãnnhu cầu phát triển của mọi công dân, góp phần đắc lực vào sự nghiệp Công nghiệp
hóa, Hiện đại hóa đất nước
Trang 71.1.3 Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục Việt Nam
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng giáo dục nước ta trong thời gian qua,phân tích bối cảnh trong và ngoài nước, nhận định thời cơ và thách thức đối với giáodục trong thời kỳ mới, Đảng ta đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo thực tiễn giáo dục ViệtNam trong giai đoạn mới Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam(1992), Luật Giáo dục (2005) và chiến lược phát triển giáo dục đã thể hiện những quanđiểm chỉ đạo phát triển giáo dục nước ta như sau:
- Giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân
lực chất lượng cao, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh,bền vững
Quan điểm này được cụ thể hoá ở bốn nội dung sau:
Giáo dục đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế - văn hoá xã hội, giáo dục
và đào tạo đi trước một bước Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, đầu tư pháttriển phải tăng nhanh hơn chi cho tiêu dùng Huy động mọi nguồn lực để phát triểngiáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực)
Giáo dục là bộ phận quan trọng hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hộiđối với địa phương, từng khu vực và cả nước
Có chính sách ưu tiên cao nhất cho giáo dục như ưu tiên về đầu tư tiền, ưu đãi vềtiền lương, tăng ngân sách cho giáo dục
Xây dựng đường lối, chính sách cho sự phát triển giáo dục
- Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được
học hành Nhà nước và xã hội có cơ chế, chính sách giúp đỡ người nghèo học tập,khuyến khích những người học phát triển tài năng
Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ
và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân, đào tạo những người lao động có
kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phầnlàm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 8- Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ
khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; Đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình
độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; Mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chấtlượng và hiệu quả; Kết hợp giữa đào tạo và sử dụng Thực hiện nguyên lý học đi đôivới hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáodục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
- Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển giáo dục Đẩy mạnh
xã hội hoá, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triểngiáo dục
Xã hội hoá giáo dục là huy động các lực lượng, các nguồn lực của xã hội để pháttriển giáo dục; Đồng thời biến giáo dục thành quyền lợi và nghĩa vụ của mọi ngườidân, thành phúc lợi của toàn dân, thành dịch vụ cho mỗi cá nhân có nhu cầu và điềukiện, có cơ hội để học tập, phát triển; trên cơ sở đó xây dựng một xã hội học tập
- Khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực, tiếp tục đổi mới chất lượng
và hiệu quả giáo dục; phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chấn
hưng đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, sánh vai cùng các nướcphát triển trong khu vực trên thế giới
1.1.4 Quá trình giáo dục
a) Khái niệm quá trình giáo dục
Qúa trình giáo dục là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức giữa người có tác động giáo dục và người nhận tác động giáo dục, nhằm hình thành quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen phù hợp với chuẩn mực nhất định, làm phát triển nhân cách của người nhận tác động giáo dục theo mục đích giáo dục.
Có quá trình giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội Nhà trường giữ vai tròchính trong sự liên kết nhà trường - gia đình - xã hội để giáo dục người học, nhà giáo
là người được giao nhiệm vụ thường xuyên thực hiện tác động giáo dục có tính hệ
thống tới người học Những nội dung sau đây tập trung chủ yếu vào phân tích hoạt
động giáo dục của giáo viên tới người học
Trang 9b) Đặc điểm của quá trình giáo dục
- Là quá trình có mục đích diễn ra lâu dài
- Là quá trình diễn ra với sự tác động của nhiều yếu tố: các sự kiện, quan hệ kinh
tế, chính trị, xã hội, tư tưởng - văn hóa; phong tục, tập quán của địa phương
- Là quá trình cụ thể, có tính chất phức tạp nhưng có thể kiểm soát được
- Là quá trình thống nhất biện chứng với quá trình dạy học
- Là quá trình gắn liền với tự giáo dục của người được giáo dục
c) Các thành tố của quá trình giáo dục
Theo cách tiếp cận hệ thống, quá trình giáo dục là một hệ thống gồm trong nó cácthành tố cấu trúc như: mục đích giáo dục, nhiệm vụ giáo dục; nội dung và phươngpháp giáo dục; nhà giáo dục; người được giáo dục; kết quả giáo dục Mỗi thành tố cóchức năng riêng và có mối quan hệ biện chứng với nhau
Các thành tố của quá trình giáo dục nêu trên liên quan mật thiết, thống nhất biệnchứng và tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau Mặt khác, chúng lại có quan hệ và bị chiphối bởi môi trường kinh tế - văn hoá - khoa học - kỹ thuật và các quan hệ sản xuất.Sản phẩm của quá trình giáo dục là nhân cách người học được phát triển
1.2 Mục đích giáo dục Việt Nam và mục tiêu giáo dục nghề nghiệp
1.2.1 Mục đích giáo dục Việt Nam
bản sau đây:
- Giáo dục nhằm nâng cao dân trí
Nâng cao dân trí là điều kiện cho sự phát triển xã hội "Không có trình độ dân trí
cao, không có đội ngũ công nhân giỏi, không thể công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nước
ta sẽ tụt hậu ngày càng xa so với các nước" (Nghị quyết TW II, khoá VIII).
Giáo dục có mục đích nâng cao dân trí đồng nghĩa với việc nâng cao trình độ họcvấn cho nhân dân và hình thành nếp sống văn hoá cho cộng đồng xã hội Trình độ dântrí thể hiện ở trình độ văn hoá, đạo đức, thẩm mỹ, là kết quả tổng hợp của nhiều lực
Trang 10lượng giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) Thực hiện mục đích trên, giáo dục ViệtNam đã có bước phát triển mạnh mẽ Năm 2000 giáo dục Việt Nam đã được thế giớicông nhận hoàn thành xoá nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, 2010 phổ cậptrung học cơ sở Phấn đấu hoàn thành phổ cập trung học phổ thông vào năm 2020nhằm tạo điều kiện cho Việt Nam hoà nhập, giao lưu quốc tế, thực thi các chính sách,mục tiêu phát triển của xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Giáo dục nhằm đào tạo nhân lực
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao là một trong những nhiệm vụtrọng tâm của giáo dục Việt Nam đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và quốc tếthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chất lượng và hiệu quả lao động thờiđại cách mạng khoa học - công nghệ luôn phụ thuộc vào trình độ nguồn nhân lực đãđược đào tạo Giáo dục Việt Nam đang được điều chỉnh nhằm đáp ứng việc đào tạonguồn nhân lực trong giai đoạn mới, để họ có khả năng tiếp cận cái mới, năng độngsáng tạo trong sản xuất kỹ thuật, công nghệ, thích ứng với sự biến động và phát triểncủa nền kinh tế xã hội đang phát triển trong cơ chế mới
- Giáo dục nhằm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài
Nhân tài là nguyên khí của một quốc gia Giáo dục Việt Nam cần phát hiện, bồidưỡng và phát triển tối đa tiềm năng của những người có tài, để họ đóng góp nhiềunhất cả sức lực và trí tuệ cho sự phát triển của quốc gia hay toàn nhân loại Việc pháthiện, bồi dưỡng và phát triển nhân tài phải được tiến hành trên cơ sở phổ cập rộng rãi
để có thể sàng lọc, lựa chọn và phải có điều kiện cơ sở vật chất, kinh tế tài chính Việcphát hiện, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cũng cần phải đi đôi với việc thu hút, sửdụng họ một cách hợp lý
Kiến thức là hiểu biết về nội dung môn học cụ thể nào đó, được đo đạc, đánh giá
khách quan theo chất lượng và số lượng các tài liệu học tập mà người học đã tiếp thu
Kỹ năng là khả năng thực hiện thành công các loại công việc cụ thể trong một
thời gian nhất định dựa trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã có và được đánh giá
Trang 11bằng chính sản phẩm mà người học làm ra.
Thái độ là biểu hiện của ý thức trong mối quan hệ với bản thân, đối với xã hội và
với công việc Thái độ là phẩm chất của nhân cách được đánh giá qua hành vi của cuộcsống
c) Cấp độ chuyên biệt
Mục đích giáo dục được cụ thể hoá thành mục tiêu môn học, bài học
- Mục tiêu môn học: người học lĩnh hội được khối lượng tri thức và trên cơ sở đórèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ trên một lĩnh vực khoa học
- Mục tiêu bài học: xác định rõ những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà ngườihọc lĩnh hội được trong bài học Mục tiêu bài học cụ thể hoá chi tiết đơn vị kiến thứchay kỹ năng thực hành
d) Ý nghĩa của việc xác định mục đích giáo dục
Xác định mục đích giáo dục đúng đắn sẽ làm cho nền giáo dục phù hợp với nềnkinh tế, với yêu cầu của đời sống và sự phát triển của sản xuất, như vậy hiệu quả giáodục mới cao
Xác định mục đích giáo dục đúng đắn sẽ là cơ sở để xác định nội dung giáo dục,nội dung là phương tiện thực hiện mục đích giáo dục, nội dung là điều kiện để đảm bảomục đích đạt kết quả trong hiện thực Mục đích giáo dục quyết định phương pháp giáodục, hình thức tổ chức giáo dục, phương hướng của quá trình giáo dục Mục đích giáodục còn quy định tính chất và phong cách tác động qua lại giữa nhà giáo dục và đốitượng giáo dục Hiệu quả của quá trình giáo dục cao hay thấp tùy thuộc vào nhữngngười tham gia vào quá trình đó, đặc biệt là nhà giáo dục có ý thức được ý nghĩa xã hộicủa mục đích giáo dục và nhiệm vụ giáo dục hay không
Việc xác định mục đích giáo dục và ý thức được mục đích giáo dục là vấn đề rấtquan trọng đối với người làm công tác giáo dục Sự lượng hoá được mục tiêu nâng cao
ý thức được yêu cầu và tiêu chuẩn càng rõ, càng đầy đủ thì việc thực hiện mục tiêu vàđánh giá kết quả đào tạo (đầu ra) so với mục tiêu đào tạo đề ra càng có căn cứ chính xác.Đây là điều mà lâu nay chúng ta chưa đạt tới trong việc đánh giá chất lượng và hiệu quảđào tạo
1.2.2 Mục tiêu giáo dục nghề nghiệp
- “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
Trang 12tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lựccủa công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 2 -Luật giáo dục sửa đổi năm 2009).
- “Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất,kinh doanh và dịch vụ; có năng lực hành nghề tưng ứng với trình độ đào tạo; có đạođức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môitrường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng xuất, chấtlượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năngtìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn” (Điều 4 - Luật giáo dụcnghề nghiệp)
1.3 Nguyên lý giáo dục
1.3.1 Khái niệm về nguyên lý giáo dục
Nguyên lý là những luận điểm chung nhất có tính quy luật của một lý thuyếtkhoa học, có vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực đó Ví dụ như nguyên
lý vận hành hệ thống thiết bị, nguyên lý tổ chức xã hội, nguyên lý giáo dục Đó lànhững luận điểm chung có tính quy luật của lý thuyết cơ học, lý thuyết xã hội học hay
lý thuyết giáo dục học Để tổ chức công việc thực tế một cách thuận lợi và có hiệuquả, con người cần phải nắm vững các luận điểm chung có tính quy luật hay còn gọi lànắm vững nguyên lý
Nguyên lý giáo dục là những luận điểm chung nhất của lý thuyết giáo dục, có tính quy luật được khái quát trên căn cứ khoa học và thực tiễn giáo dục, có vai trò định hướng, chỉ đạo các hoạt động giáo dục trong nhà trường nhằm thực hiện mục đích giáo dục.
Nguyên lý có đặc điểm sau đây:
- Nguyên lý giáo dục là dạng tư tưởng: 1) Vạch chiều hướng vận động phát triển của
hệ thống giáo dục quốc dân; 2) Chỉ rõ phương thức đào tạo con người theo yêu cầu của xãhội; 3) Vạch chiều hướng hoàn thiện các hoạt động giáo dục của nhà trường;
- Nguyên lý giáo dục xuất phát từ thực tiễn giáo dục và là phương thức để thực thimục đích giáo dục;
- Nguyên lý giáo dục là một sự khái quát lý luận dựa trên cơ sở tổng kết kinhnghiệm thực tiễn giáo dục Việt Nam
Trang 131.3.2 Nguyên lý giáo dục Việt Nam
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà
trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (Điều 2 - Luật giáo dục) Đây
chính là luận điểm giáo dục quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, là kim chỉ namhướng dẫn toàn bộ hoạt động giáo dục trong nhà trường và ngoài xã hội Nội dung củanguyên lý này gồm bốn điểm quan trọng cần lưu ý:
- Học đi đôi với hành
Học đi đôi với hành là một tư tưởng giáo dục vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa
có tính khoa học vừa có tính thực tiễn Bản chất của tư tưởng này được thể hiện: 1)Mục đích giáo dục của mọi thời đại không chỉ là giúp người học chiếm lĩnh kiến thức
mà còn biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn hình thành kĩ năng, kĩ xảo hoạt động.Trong quá trình nhận thức của người người học, học là quá trình lĩnh hội tri thức, hành
là quá trình vận dụng tri thức để hình thành các kĩ năng lao động và hoạt động xã hội,tức là biến kiến thức đã tiếp thu được thành năng lực hoạt động của từng cá nhân; 2)Học và hành là hai mặt trong quá trình nhận thức của con người, luôn có mối quan hệbiện chứng Học và hành hỗ trợ cho nhau rất nhiều trong học tập Sự lĩnh hội tri thứcphải được gắn liền với sự vận dụng tri thức và kiểm tra tính chân lý của nó Trong quátrình học tập, sự hình thành kiến thức sẽ làm cơ sở lý thuyết, nền tảng vững chắc đểngười học vận dụng khi thực hành Đồng thời nếu biết vận dụng kiến thức đã học đểthực hành sẽ làm tăng hiệu quả nhận thức làm giảm lý thuyết "xuông" và khi đó thựchành không phải "mò mẫm" mà được dựa trên một cơ sở lý thuyết vững chắc Kết quảcủa quá trình học tập là kiến thức trở nên sâu sắc và kĩ năng trở nên sáng tạo và tinhthông Do vậy, muốn vận dụng tri thức phải dựa trên cơ sở thông hiểu tri thức Muốn
có kiến thức sâu sắc phải gắn với thực hành Học mà không hành thì chỉ là lý thuyếtxuông Hành mà không học thì hành không trôi chảy; 3) Trong học tập cần phải sửdụng nhiều mức độ thực hành và phải gắn với nội dung, mục tiêu đào tạo Thực hành
có thể tiến hành trong và ngoài trường với các mức độ khác nhau đều có thể làm tăngchất lượng và hiệu quả học tập của người học Học và hành nhằm mục đích xây dựngnhân cách toàn diện của người học, giáo dục và đào tạo con người có kiến thức sâusắc, năng động sáng tạo, có kĩ năng hành động
- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất
Trang 14Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất là luận điểm cơ bản của giáo dục ViệtNam nhằm: 1) Gắn lý thuyết với lao động sản xuất, gắn nội dung đào tạo yêu cầu cần
sử dụng nhân lực qua đào tạo; 2) Rèn luyện tư duy kĩ thuật và kĩ năng lao động, bồidưỡng ý thức và thói quen lao động kỉ luật và tác phong lao động công nghiệp; 3) Pháttriển hứng thú và tình cảm với lao động và với người lao động; 4) Thực hiện hài hoàgiữa lao động chân tay và lao động trí óc, phát triển tâm lý và thể chất của người học
- Lý luận gắn liền với thực tiễn
Là một yêu cầu quan trọng đối với quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trườngViệt Nam Chúng ta đều biết, nhà trường là một bộ phận của xã hội, giáo dục nhàtrường là một bộ phận của giáo dục xã hội, mục đích giáo dục nhà trường phục vụ cho
sự phát triển xã hội Nội dung giáo dục nhà trường phải phản ánh những gì đang diễnbiến trong thực tiễn xã hội
Khi giảng dạy lý luận, giáo viên thường xuyên liên hệ với thực tiễn sinh động củacuộc sống, với những diễn biến sôi động hàng ngày, hàng giờ trong nước và trên thếgiới, đây là những minh họa vô cùng quan trọng giúp cho người học nắm vững lý luận
và hiểu rõ thực tiễn Học tập có liên hệ với thực tiễn làm cho lý luận không còn khôkhan, khó tiếp thu mà trở nên sinh động và ngược lại, các sự kiện, hiện tượng thực tiễnđược phân tích, được soi sáng bằng những lí luận khoa học vững chắc
Như vậy, giáo dục lí luận gắn liền với thực tiễn cuộc sống, nội dung đào tạo trongnhà trường phản ánh những diễn biến của cuộc sống, từ đó làm tăng chất lượng và hiệuquả của quá trình đào tạo
- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Giáo dục là một quá trình có nhiều lực lượng tham gia, trong đó có ba lực lượngquan trọng nhất: gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội Ba lực lượng này đều cóchung một mục đích là hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ
Để tiến hành giáo dục có hiệu quả, các lực lượng giáo dục phải thống nhất vềmục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp Nhà trường là đơn vị xã hội có chứcnăng chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào đời sống xã hội Là nơi thực hiện chính sách xãhội hoá giáo dục, huy động mọi tiềm lực và lực lượng vào quá trình giáo dục thế hệ
trẻ Đảm bảo thống nhất các tác động của mọi lực lượng giáo dục "Giáo dục trong
nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết qủa không hoàn toàn" (Hồ Chí Minh)
Trang 15Gia đình là cơ sở đầu tiên xây dựng nền tảng nhân cách cho thế hệ trẻ, gia đình làmôi trường giáo dục thế hệ trẻ thường xuyên, nơi để các em rèn luyện, thể nghiệm hành
vi và những điều hiểu biết của mình Trong việc tổ chức kết hợp, giáo dục nhà trườnggiữ vai trò nòng cốt, chủ động, hướng dẫn về nội dung, phương pháp
Giáo dục xã hội còn bao hàm giáo dục của các đoàn thể như Đoàn thanh niên,Hội sinh viên là các tổ chức quần chúng có sự thống nhất, có tôn chỉ mục đích phùhợp với mục đích giáo dục Hoạt động của các đoàn thể phù hợp với đặc điểm tâmsinh lý lứa tuổi cho nên có tác động giáo dục rất lớn đối với thế hệ trẻ
Tuy nhiên quá trình giáo dục phải lấy nhà trường làm trung tâm Giáo dục nhàtrường có mục đích và nội dung giáo dục toàn diện, dựa trên các cơ sở khoa học vàthực tiễn, có kế hoạch với đầy đủ các phương tiện đóng vai trò chủ đạo trong toàn bộquá trình giáo dục
Tóm lại, mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình, với các tổ chức xã hội và các cơquan kinh tế, văn hoá đóng ở địa phương càng chặt chẽ, càng đem lại những thànhcông cho giáo dục, trong đó nhà trường phải chịu trách nhiệm chính trong sự phối hợpvới tất cả các lực lượng giáo dục
1.3.3 Phương hướng vận dụng nguyên lý giáo dục trong giáo dục nghề nghiệp
Cần xây dựng nội dung giáo dục - đào tạo theo yêu cầu sản xuất, gắn đào tạo với
sử dụng lao động Chú trọng xây dựng nội dung đào tạo theo mô đun kĩ năng hànhnghề với tỷ lệ hợp lý
Xây dựng chương trình đào tạo bậc cao theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiếntrong khu vực và trên thế giới, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ: thông tin, chế tạo máy,
tự động hoá và một số ngành phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Về phương pháp đào tạo: gắn lý thuyết với thực hành, chú trọng phương phápdạy thực hành, dạy học tích hợp Tổ chức hướng dẫn người học tham quan và thực tậptại cơ sở sản xuất
Nhà trường và cơ sở sản xuất cùng nhau xây dựng mục tiêu, nội dung chương trìnhcho các khoá học Nhà trường và cơ sở sản xuất cùng nhau tham gia vào quá trình đàotạo, người học vừa học ở trường vừa học tại cơ sở sản xuất Cơ sở sản xuất đóng gópkinh phí đào tạo cho trường và sử dụng người học tốt nghiệp của trường
Trang 161.4 Đặc điểm đối tượng giáo dục và bản chất quá trình giáo dục
1.4.1 Đặc điểm đối tượng giáo dục
Người học trình độ trung cấp và cao đẳng rất đa dạng Thứ nhất là học sinh trong
độ tuổi từ 15 đến 18, những học sinh này vừa học nghề vừa học văn hóa tương đươngvới trình độ trung học phổ thông Thứ hai là học sinh - sinh viên trong độ tuổi từ 18đến 23 Thứ ba là những người học tập để chuyển đổi nghề nghiệp, họ phần lớn có độtuổi lớn hơn 23 tuổi Tuy nhiên, số người học trong độ tuổi từ 15 đến 23 chiếm tỷ lệđại đa số Mọi tác động giáo dục cho đối tượng này cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng đểgiải quyết tối ưu mối quan hệ giữa đặc điểm của quá trình giáo dục và đặc điểm củalứa tuổi người học
1.4.1.1 Đặc điểm về quá trình giáo dục
* Quá trình giáo dục mang tính biện chứng và nhiều mâu thuẫn: Cũng giống như
các quá trình của các hiện tượng xã hội và tự nhiên khác, quá trình giáo dục chứa đựngnhiều mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, đồng thời nhờ sự giải quyết các mâu thuẫn đó
mà đối tượng hoạt động được phát triển Sự phát triển của đối tượng giáo dục cũng đi
từ sự tích luỹ dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, cũng có tuần tự và độtbiến Đặc biệt cần lưu ý là sự phát triển diễn ra không đồng đều, không giống nhau ởcác học sinh Những mâu thuẫn thường xẩy ra trong quá trình giáo dục là:
- Mâu thuẫn nảy sinh do sự phát triển không đồng đều của các quá trình tâm lý,của các phẩm chất cá nhân.Ví dụ mâu thuẫn giữa lý trí và tình cảm; mâu thuẫn giữayêu cầu, ước vọng của học sinh với khả năng, năng lực thực hiện ước vọng đó
- Mâu thuẫn giữa tính tích cực chủ đạo của nhà giáo dục với tính không tích cựcchủ động của học sinh
- Mâu thuẫn giữa những tác động tích cực, có kế hoạch của nhà giáo dục vớinhững tác động tiêu cực, tự phát của môi trường giáo dục
Nhiệm vụ của nhà giáo dục là phát hiện, phân tích những mâu thuẫn nảy sinhtrong quá trình giáo dục và tìm cách giải quyết những mâu thuẫn đó để quá trình giáodục có hiệu quả, đạt mục đích giáo dục
* Quá trình giáo dục là một hệ thống toàn vẹn
Nhân cách của con người là một thể thống nhất, toàn vẹn của hai mặt đức và tàicần được hình thành Song đối với từng đối tượng giáo dục cụ thể, trong những điềukiện, hoàn cảnh, thời điểm nhất định mà nhà giáo dục có thể tập trung hình thành một
Trang 17phẩm chất nào đó trước, tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục hình thành những phẩmchất tiếp theo, nhưng suốt trong cả quá trình giáo dục phải luôn luôn chú ý đến tínhtoàn vẹn của nhân cách
Giáo dục là một chỉnh thể trọn vẹn bao gồm các mặt, các khâu thống nhất biệnchứng với nhau Giáo dục đạt tới hiệu quả khi mỗi cá nhân vừa có ý thức đúng, lại cóhành vi đúng trong mọi tình huống của cuộc sống, bởi vì ý thức và hành vi là hai mặtsong song tồn tại trong mỗi phẩm chất đạo đức của con người
Để phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, trong quá trình giáo dục cần có
sự phối hợp thống nhất giữa các lực lượng giáo dục với nhau về mục đích, nội dung,phưong pháp tổ chức hoạt động giáo dục bởi vì quá trình giáo dục là hệ thống toàn vẹngồm nhiều nhân tố cấu thành
* Quá trình giáo dục là quá trình khó khăn phức tạp
Quá trình giáo dục diễn ra dưới tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố kháchquan và chủ quan bên trong và bên ngoài Đó là sự ảnh hưởng của các điều kiện kinh
tế - xã hội, tư tưởng, văn hoá, tâm lý, tập quán của xã hội, ảnh hưỏng của của các hoạtdộng giáo dục của nhà trường, gia đình, đoàn thể, các cơ quan văn hoá, giáo dục ngoàinhà trường, các phương tiện thông tin đại chúng, ảnh hưỏng của giáo viên, nhà giáodục, nhân viên tập thể, bạn bè, quy chế, hình thức tổ chức giáo dục trong nội bộ nhàtrường đến học sinh Như vậy, có bao nhiêu mối quan hệ trong xã hội và trong nhàtrường mà học sinh tham gia, có bao nhiêu lọai hình hoạt động trong quá trình sống,sinh hoạt của học sinh thì có bấy nhiêu tác động giáo dục đến học sinh
Vì vậy nhà giáo dục phải mất nhiều thời gian để xem xét, nghiên cứu những ảnhhưởng đó để phối hợp tổ chức và điều khiển hợp lý các tác động giáo dục trong vàngoài nhà trưòng
* Tính thường xuyên, liên tục của quá trình giáo dục
Để hình thành một phẩm chất tốt hoặc xoá bỏ một phẩm chất xấu cho người đượcgiáo dục không thể trong một sớm một chiều hay ngày một ngày hai có thể hình thànhđược phẩm chất đó mà phải có một quá trình tác động lâu dài, thường xuyên liên tục cómục đích, nội dung, kế hoạch rõ ràng Từ chỗ tác động lên mặt nhận thức để làm cho đốitượng hiểu đầy đủ, sâu sắc nội dung các giá trị, các chuẩn mực xã hội, hình thành niềmtin, tình cảm đạo đức đến chỗ rèn luyện các hành vi, thói quen đạo đức tương ứng Quátrình giáo dục phải từ chỗ giáo dục đến chỗ tự giáo dục Đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi
Trang 18nhà giáo dục phải có tính kiên trì, bền bỉ và phải thường xuyên tác động, nếu không cáchành vi vừa mới hình thành sẽ mất đi và phải giáo dục lại.
* Tính nhảy vọt (đột biến ) của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục sau một thời gian làm thay đổi dần về lượng đến một giai
đoạn nhất định sẽ có một sự biến đổi về chất Nếu đối tượng giáo dục gặp một sự kiện,một hoàn cảnh, một tình huống nào đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tâm lý,tình cảm của họ và khi đó nhà giáo dục có những tác động kịp thời, phù hợp thì đốitượng sẽ chuyển biến nhanh rõ rệt (nhảy vọt)
Từ đặc điểm này, nhà giáo dục cần phải tìm hiểu kỹ đối tượng giáo dục, nắm bắtnhững thay đổi trong đời sống, tâm lý, tình cảm của họ để có những biện pháp tácđộng phù hợp Để đạt mục đích giáo dục nào đó nhà giáo dục có thể tạo tình huốnggiáo dục Khi tạo tình huống giáo dục, nhà giáo dục cần chú ý kết quả có thể xảy ratheo hai hướng: Thứ nhất là hướng tích cực, nghĩa là kết quả đạt được như mong muốncủa nhà giáo dục Thứ hai là hướng tiêu cực, với hướng này nhà giáo dục cần dự kiếntrước các giải pháp để tránh hậu quả xấu xảy ra
1.4.1.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi giai đoạn 15 đến 18 tuổi
Giai đoạn lứa tuổi đầu thanh niên được xác định từ tuổi 15 đến 18
a) Điều kiện, hoàn cảnh phát triển của tuổi đầu thanh niên
- Sự phát triển thể chất: Giai đoạn này sự phát triển thể chất của con người đi vàohoàn chỉnh, thể hiện như: sự gia tăng chiều cao, cân nặng, sức bền, sự dẻo dai của cơbắp, sự trưởng thành về giới tính Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổiquan trọng do cấu trúc bên trong và các chức năng của não phát triển như người lớn
Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ não lại.Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho việc thực hiện các học tập phân tích, tổng hợp…trong quá trình học tập
- Hoàn cảnh xã hội: có sự thay đổi khi dần trở thành người lớn nhưng chưa thực
sự là người lớn Vai trò độc lập và mức độ trách nhiệm đối với gia đình ngày càng rõrệt, phải chịu một số trách nhiệm về tội hình sự trước những hành vi của mình Các emgia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tham gia công tác tập thể, công tác
xã hội một cách độc lập và trách nhiệm hơn
- Hoạt động của tuổi đầu thanh niên: Hoạt động học tập đòi hỏi cao hơn về sựđộc lập, năng động, đòi hỏi sự phát triển tư duy lý luận, hoạt động học tập Ý thức của
Trang 19các em đối với hoạt động được phát triển, học tập gắn với xu hướng học lên cao haychọn nghề, vào đời Bên cạnh đó, thanh niên còn tham gia các hoạt động nhóm xã hội,các hoạt động này cũng ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của các em.
Tuy nhiên, ở tuổi này thanh niên vẫn còn phụ thuộc nhiều vào người lớn như sựnuôi dạy, định hướng của gia đình hay học tập dưới sự tổ chức trực tiếp của thầy côgiáo trong nhà trường
b) Những đặc điểm tâm lý cơ bản của người học tuổi đầu thanh niên
* Đặc điểm về nhận thức, trí tuệ
- Sự phát triển các quá trình nhận thức cảm tính:
Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương và cácgiác quan, do có sự tích lũy kinh nghiệm sống và tri thức, do yêu cầu ngày càng caocủa hoạt động học tập, lao động xã hội mà nhận thức cảm tính của người học có nétmới về chất;
Cảm giác, tri giác đạt tới mức tinh nhạy của người lớn, có tính mục đích, tính hệthống trong học tập cũng như các hoạt động khác Sự nhạy cảm của óc quan sát giúpcho các em dễ phát hiện những đặc điểm của sự vật, hiện tượng
- Trí nhớ có chủ định chiếm ưu thế, năng lực chú ý có chủ định cũng phát triểntương ứng với yêu cầu của hoạt động học tập
- Sư phát triển của tư duy, tưởng tượng:
Ở giai đoạn này, người học đã có được những thao tác trí tuệ bậc cao như ngườilớn, đó là tư duy logic, tư duy chủ yếu dựa trên ngôn ngữ Các thao tác trí tuệ như:phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa phát triển mạnh giúp các
em lĩnh hội được những khái niệm phức tạp, trừu tượng của chương trình học Càngđến cuối giai đoạn này, trí tuệ của các em càng phát triển hoàn thiện, tạo điều kiện chokhả năng tư duy độc lập, sáng tạo để học lên cao hoặc học nghề
* Đặc điểm phát triển nhân cách: Nhân cách của tuổi đầu thanh nên có những
nét phát triển mới về chất so với giai đoạn trước đó
- Sự phát triển của tự ý thức:
Đến tuổi 15, 16 thì tự ý thức phát triển mạnh, biểu hiện như thanh niên tự nhậnthức được những đặc điểm, phẩm chất của mình, tự đánh giá về mình theo nhữngchuẩn mực xã hội về thể chất, tâm lý, đạo đức Ở tuổi này thường không hài lòng vềđặc điểm cơ thể (nghĩ mình quá thấp, gầy hay béo…), mong muốn có những nét đẹp
Trang 20về hình thể Bên cạnh đó là sự tự đánh giá về phẩm chất giới tính và cố gắng để trởthành người đàn ông hay thiếu nữ thực thụ theo chuẩn mực xã hội;
Các em cũng thường tự khám phá xem mình là người như thế nào bằng cách thửlàm những việc mới mẻ Đồng thời, các em cũng thường ngầm so sánh mình vớinhững người xung quanh, lắng nghe ý kiến của những người xung quanh về mình
- Sự hình thành thế giới quan: Ở tuổi đầu thanh niên, do tích lũy kinh nghiệm,kiến thức nên đã có khả năng đúc kết những suy nghĩ của mình trong việc nhìn nhận thếgiới Tuy nhiên, thế giới quan của các em chưa sâu sắc, chưa bền vững Gặp trường hợp,câu hỏi thực tế vượt quá khả năng thì các em thường hoang mang, lúng túng, thất vọng
- Sự phát triển của ý thức nghề nghiệp và chuẩn bị cho cuộc sống tương lai: Ởtuổi này các em có sự định hướng lựa chọn nghề nghiệp tương lai của bản thân Các
em chọn nghề vì hứng thú đối với nghề nghiệp nhất định nhưng cũng chịu ảnh hưởngbởi ý kiến của gia đình, bạn bè, dư luận xã hội về nghề nghiệp và có xu hướng đối vớinhững nghề dễ kiếm việc làm, thu nhập khá
- Đời sống xúc cảm, tình cảm:
Xúc cảm, tình cảm của người học đầu tuổi thanh niên rất phong phú, đa dạng, do
mở rộng phạm vi và chất lượng các mối quan hệ xã hội;
Tình bạn ở tuổi này có lý trí và bền vững hơn tuổi thiếu niên Việc chọn bạn thân
là nhu cầu tất yếu và được xem xét một cách có căn cứu về hứng thú, sự đồng cảm, lốisống, có tính lâu dài và giúp đỡ nhau lúc khó khăn;
Tình cảm đối với cha mẹ và người lớn ở thanh niên có biểu hiện tự lập, có nétđộc đáo của cái tôi tương đối tự do Các em thường cho rằng người lớn không đánh giánghiêm túc những suy nghĩ và sự trưởng thành của mình nên có xu hướng xa cáchngười lớn và tìm sự đồng cảm ở bạn bè cùng trang lứa;
Những tình cảm trí tuệ, thẩm mỹ ở tuổi đầu thanh niên cũng được hình thành mộtcách mạnh mẽ;
Ở tuổi này xuất hiện tình cảm đặc trưng là tình yêu nam - nữ, có những mối tìnhđầu lãng mạn Tuy nhiên những biểu hiện của loại tình cảm này không đồng đều, ở nữ
có sự bộc lộ sớm hơn nam và có một số em có sự bộc lộ mạnh mẽ nhưng ở những emkhác thì thờ ơ Do sự phát triển sinh lý đi trước còn sự trưởng thành về tâm lý, xã hội
và kinh nghiệm sống chậm hơn nên chưa đủ điều kiện để đi vào cuộc sống tình yêunam nữ bền vững, chắc chắn
Trang 211.4.1.3 Giai đoạn lứa tuổi từ 18 đến 25 tuổi
Từ 18 đến 25 tuổi được xác định là giai đoạn sau của tuổi thanh niên, đối với nhữngngười học ở trình độ cao đẳng, đại học người ta còn gọi là tuổi thanh niên sinh viên
a) Sự phát triển thể chất
Ở giai đoạn sau của tuổi thanh niên, thể chất và thần kinh của các em đã pháttriển tới mức hoàn thiện Các tố chất về thể lực như sức nhanh, mạnh, dẻo dai, linhhoạt cũng như sự hoàn thiện về thần kinh là tiền đề thuận lợi cho sự thành công trongcác hoạt động của thanh niên
b) Vai trò xã hội
Thanh niên giai đoạn này đã trở thành công dân thực sự với đầy đủ quyền vànghĩa vụ trước xã hội, trước pháp luật Xã hội coi họ là thành viên chính thức, mộtngười trưởng thành
Thanh niên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho đội ngũ lao độngnghề nghiệp trong xã hội Các tổ chức chính trị, xã hội, dòng họ, gia đình đều kỳ vọngnhiều đối với họ Vì vậy, vai trò, vị trí của thanh niên trong xã hội và gia đình rõ rệt.Tuy nhiên, thanh niên chưa tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất ra của cải vật chấtnên chưa hoàn toàn tự lập
c) Các hoạt động cơ bản
Hoạt động học tập vẫn chiếm vị trí quan trọng nhưng tính chất khác biệt so với họctập ở trung học cơ sở hay trung học phổ thông Đây là hoạt động học tập gắn liền với nghềnghiệp tương lai, là quá trình lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, phương thức hoạt động nghềnghiệp Hoạt động học tập đòi hỏi tính chủ động, tích cực cao của các em
Bên cạnh hoạt động học tập, thanh niên còn tham gia vào các hoạt động chính trị
- xã hội với tư cách đoàn viên, thành viên các tổ chức xã hội Đồng thời các em cũngtích cực tham gia các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao để thỏa mãn nhu cầu giaolưu và phát triển toàn diện bản thân của mình
- Các mối quan hệ giao lưu của thanh niên đa dạng, phong phú, đan xen nhaunhư quan hệ với bạn bè trong lớp, trong trường, các tổ chức, các nhóm xã hội trực tiếp
và gián tiếp Các mối quan hệ xã hội này có vị trí quan trọng trong sự phát triển đờisống tâm lý, nhân cách thanh niên
d) Những đặc điểm tâm lý cơ bản
* Sự phát triển nhận thức, trí tuệ
Trang 22Kế thừa sự phát triển trí tuệ của giai đoạn trước, cùng với hoạt động học tập đặctrưng của lứa tuổi thanh niên mà nhận thức, trí tuệ của các em có sự phát triển mạnh
mẽ Nhận thức cảm tính có sự chọn lọc, có mục đích Các thao tác trí tuệ đã phát triển
ở trình độ cao, đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt theo từng hoàn cảnh cóvấn đề Các em có sự lĩnh hội cái mới nhanh nhạy, sắc bén Đồng thời, các em thường
ít thỏa mãn những gì đã biết mà muốn đào sâu suy nghĩ để hiểu vấn đề sâu rộng hơn.Nhìn chung, nhận thức của thanh niên phát triển cả bề rộng và chiều sâu, trí tuệ sắcbén, linh hoạt là cơ sở thuận lợi cho hoạt động học nghề và các hoạt động khác
* Đặc điểm nhân cách
- Tự ý thức, tự giáo dục:
Tự ý thức có vai trò quan trọng để con người hiểu biết, đánh giá được chính mình
và trên cơ sở đó định hướng hành động theo chuẩn mực xã hội Tự ý thức ở thanh niênmang tính toàn diện và sâu sắc Biểu hiện cụ thể là các em không chỉ đánh giá hìnhảnh bản thân có tính hình thức bên ngoài mà còn đi sâu vào các phẩm chất, giá trị nhâncách Các em so sánh mình với các chuẩn mực xã hội, với những người xung quanh,
họ thường tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời câu hỏi: “Tôi là người như thế nào?”, “Tạisao?”… Các em tự ý thức về thái độ, hành vi của mình để chủ động hướng hoạt độngcủa mình đi theo những yêu cầu, đòi hỏi của tập thể, của xã hội hay nhóm bạn bè;
Tự ý thức, tự đánh giá bản thân của những thanh niên có kết quả học tập caothường mang tính tích cực, chủ động và chính xác hơn những em có học lực thấp.Những em học lực thấp thường đánh giá quá cao bản thân hay ngược lại là quá tự ti, biquan về mình Chính điều này cản trở các em phấn đấu vươn lên trong học tập và tựrèn luyện bản thân Vì vậy cần giúp các em tăng cường khả năng tự ý thức, tính tự tin,lòng tự trọng để các em hoàn thiện bản thân mình
- Định hướng giá trị:
Định hướng giá trị là những giá trị được chủ thể nhận thức, đánh giá cao, có ýnghĩa định hướng, điều khiển, điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủ thể nhằmvươn tới những giá trị đó
Ở tuổi thanh niên giai đoạn sau, định hướng giá trị của các em đã phát triển, có ýnghĩa tác động mạnh mẽ đến hoạt động, cuộc sống của các em Ví dụ: Phân tích kếtquả khảo sát sinh viên trong phạm vi một đề tài khoa học về định hướng giá trị củathanh niên hiện nay cho thấy định hướng giá trị nhân cách, định hướng giá trị nghề
Trang 23nghiệp của thanh niên.
* Kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp
Nét đặc trưng của lứa tuổi thanh niên là hình thành con đường sống Vì vậy khixét đến mặt xã hội trong đời sống tâm lí của thanh niên ta phải quan tâm đến “kếhoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp của thanh niên” Kế hoạch đường đờicũng chính là kế hoạch hoạt động của thanh niên và nó được bắt đầu bằng sự lựa chọnnghề nghiệp Họ củng cố thái độ tốt đối với nghề tương lai của họ, củng cố hứng thú,khuynh hướng và năng lực đối với nghề đã chọn; mong muốn hoàn thiện trình độnghiệp vụ sau khi tốt nghiệp
* Đời sống xúc cảm, tình cảm
Đây là độ tuổi phát triển sâu sắc các loại tình cảm cấp cao là tình cảm trí tuệ, tìnhcảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Đời sống tình cảm của thanh niên không chỉ phongphú mà còn có tình hệ thống, bền vững hơn nhiều so với giai đoạn trước
Hầu hết thanh niên có biểu hiện chăm chỉ, say mê với chuyên ngành mà mình lựachọn, mong muốn hiểu biết sâu rộng về nghề nghiệp tương lai cũng như hiểu biết vềnhững lĩnh vực mình yêu thích Chính tình cảm trí tuệ này thúc đẩy các em tích cựchọc tập để tích lũy kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp và cuộc sống
Bên cạnh đó, thanh niên yêu cái đẹp ở những hiện tượng tự nhiên, xã hội, thíchnhững hành vi, phong thái đạo đức cao đẹp Những điều họ yêu thích đều có thể lýgiải, phân tích một cách có cơ sở chứ không phải là cảm tính
Tình bạn cùng giới, khác giới cũng được phát triển theo chiều sâu Những tìnhbạn thân được thiết lập, duy trì và phát triển bền vững, cùng giúp đỡ nhau trong họctập và cuộc sống Tình bạn ở tuổi này làm phong phú tâm hồn, nhân cách ở các em.Tình yêu nam - nữ của tuổi thanh niên đạt đến hình thái chuẩn mực cùng vớinhững biểu hiện phong phú, đặc sắc của nó Đây là giai đoạn tình cảm đẹp, lãng mạn,đầy thi vị Tuy nhiên, nhiều em cũng gặp phải mâu thuẫn giữa đòi hỏi của tình yêu vớimôi trường, yêu cầu học tập, sự phụ thuộc kinh tế gia đình… Vì vậy, sự phát triển tìnhcảm này còn tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tùy thuộc vào quan niệm và kếhoạch đường đời của mỗi em
1.4.2 Bản chất quá trình giáo dục
a) Cơ sở xác định bản chất
- Quá trình giáo dục là quá trình hình thành một kiểu nhân cách trong xã hội
Trang 24- Quá trình giáo dục luôn có mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục,mối quan hệ sư phạm này có sự thống nhất giữa sự tác động giáo dục của nhà giáo dục và
sự tiếp nhận, tự điều chỉnh của người được giáo dục (cá nhân hoặc tập thể)
b) Bản chất của quá trình giáo dục
- Quá trình giáo dục là quá trình hình thành và phát triển bản chất người - xã hội.
Quá trình giáo dục là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, cùng với quátrình phát triển năng lực, mỗi cá nhân đều được phát triển những phẩm chất nhân cách
để trở thành một thành viên của xã hội Quá trình xã hội hóa cá nhân này được diễn rathường xuyên, liên tục cùng với sự phát triển về thể chất qua các giai đoạn lứa tuổi (từtuổi sơ sinh đến tuổi trưởng thành)
Thông qua các mối quan hệ (người - người), kinh nghiệm xã hội - lịch sử và
những định hướng của xã hội dần chuyển thành quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ
và thái độ bên trong của cá nhân (bản chất tâm lý người đã chứng minh cho luận điểm
này); sản phẩm của các mối quan hệ này tạo cơ sở cho mỗi cá nhân phù hợp (thíchứng) với các yêu cầu của xã hội Cũng chính trong các mối quan hệ, con người được
vận dụng, trải nghiệm những gì đã tích lũy được; qua đó, thái độ, hành vi, thói quen
được bộc lộ, được điều chỉnh cho phù hợp dần với chuẩn mực
Như vậy, những nét bản chất, kiểu nhân cách của cá nhân được hợp thành từ cácmối quan hệ có tính xã hội
- Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức hoạt động và giao lưu trong cuộc sống
Gia đình, nhà trường, xã hội cần tạo cơ hội cho người được giáo dục phát triểnnhân cách thông qua việc tổ chức cho họ tham gia vào các hoạt động: hoạt động vuichơi, học tập, lao động, thăm quan, thực tế, thực tập
Khi cá nhân tham gia vào hoạt động, trình độ nhận thức và năng lực hành độngvới đối tượng được phát triển; tạo lập được cho mình tinh thần yêu lao động và vượtkhó, ý thức trách nhiệm với công việc Trong quá trình hoạt động, giữa cá nhân với cánhân, cá nhân với nhóm - tập thể có sự giao lưu với nhau; qua đó, trao đổi kinhnghiệm, tư tưởng, văn hóa; tạo lập nên ở mỗi cá nhân thái độ hợp tác và trách nhiệm,tôn trọng bản thân và người khác, ý thức học hỏi và chia sẻ, và phát triển năng lực Những phân tích trên cho thấy, hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhấttrong cuộc sống của con người và cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và pháttriển nhân cách của cá nhân Thông qua hoạt động và giao lưu, cá nhân khẳng định được
Trang 25những quan hệ mới, biết loại bỏ những quan niệm, những biểu hiện tiêu cực, lạc hậu;hình thành khả năng tác động cải tạo, xây dựng xã hội, cải tạo hoặc thích ứng với môitrường tự nhiên, tích cực trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Tóm lại, quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu
cho người được giáo dục nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độđúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống
1.5 Các khâu của quá trình giáo dục
Giáo dục nếu xét với tư cách là một quá trình thì nó bao giờ cũng diễn ra trongmột khoảng thời gian tương đối lâu dài Nếu xét về mặt bản chất thì nó là một quátrình tác động nhằm biến đổi về mặt tâm lý và hành vi của người được giáo dục Tựuchung lại, quá trình giáo dục diễn ra theo ba khâu sau đây:
- Hình thành nhận thức và niềm tin
- Hình thành động cơ và tình cảm
- Tạo lập thói quen tốt và hành vi văn minh
1.6 Nguyên tắc giáo dục
1.6.1 Khái niệm về nguyên tắc giáo dục
Quá trình giáo dục là quá trình vận động phát triển có tính quy luật, khoa học vàtính nghệ thuật cao Hoạt động giáo dục muốn đạt được hiệu quả mong muốn đòi hỏinhà giáo dục không chỉ hiểu rõ các quy luật mà còn phải vận dụng những quy luật mộtcách linh hoạt, sáng tạo Các quy luật của quá trình giáo dục được thể hiện trongnhững luận điểm chung cơ bản mang tính chất chỉ đạo toàn bộ quá trình giáo dục đógọi là các nguyên tắc giáo dục
a) Định nghĩa
Nguyên tắc giáo dục được hiểu là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận giáo dục giữ vai trò chỉ đạo, hướng dẫn toàn bộ quá trình giáo dục nhằm thực hiện tối ưu mục đích và nhiệm vụ giáo dục
Trang 261.6.2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục
* Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích trong mọi hoạt động giáo dục
Mục đích giáo dục bao gồm mục đích trước mắt - tương lai gần, mục đích chiến lược Giáo dục là hiện tượng xã hội có tính đặc thù, quá trình giáo dục luôn chức đựngnhiều mâu thuẫn và đòi hỏi thời gian lâu dài, do đó nội dung, phương pháp và hìnhthức tổ chức giáo dục ở từng giai đoạn, thời điểm phải đạt được mục tiêu nhất định vàhướng tới mục đích
Mỗi tác động giáo dục không chỉ nhằm thực hiện mục đích trước mắt mà cònphải đảm bảo tính định hướng cho sự phát triển của người được giáo dục
Thực tiễn cho thấy, cả nhà giáo dục và người được giáo dục đều là thành viên của
xã hội, các mặt của xã hội vốn có sự vận động rất đa dạng, sự vận động của môitrường tự nhiên có chiều hướng phức tạp, hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho ngườihọc nghề luôn có những khó khăn nhất định Do đó, trước khi tiến hành một hoạt độnggiáo dục cụ thể đòi hỏi nhà giáo dục phải xác định rõ: Hoạt động này vì mục đích gì?Đem lại lợi ích gì trước mắt và lâu dài? Mục đích của hoạt động có hướng tới mụcđích tổng thể hay không? Trong khi thực hiện hoạt động giáo dục, phương thức tácđộng giáo dục có thể kiên định hoặc được điều chỉnh so với dự kiến để phù hợp với thựctiễn sinh động nhưng mục đích đã xác định cần được tôn trọng và phải nỗ lực để đạtđược Kết thúc hoạt động cần có sự đánh giá, rút kinh nghiệm
* Nguyên tắc thống nhất giữa giáo dục ý thức và giáo dục hành vi
Ý thức của mỗi cá nhân được hiểu là đời sống tinh thần ẩn chứa bên trong của cơthể sống, nó được ví như phần chìm của một tảng băng, người khác không trực tiếpquan sát được nếu nó không được biểu hiện ở sắc mặt, nét mặt, ánh mắt hay hành vi.Còn hành vi lại được ví như phần nổi của tảng băng và có thể quan sát trực tiếp được
Ở tuổi trưởng thành, ý thức của cá nhân có tính ổn định và bền vững Trong mộtbối cảnh cụ thể, hành vi của cá nhân có thể thống nhất với ý thức hoặc không thốngnhất Muốn giáo dục ý thức phải giáo dục thông qua hoạt động, nói cách khác là giáodục hành vi là con đường chính để giáo dục ý thức Do đó, giáo dục đạt hiệu quả caokhi mỗi cá nhân vừa có ý thức đúng, lại vừa có hành vi đúng trong mọi tình huống củacuộc sống
Để có nhận thức đúng, mỗi người học cần phải được tham gia vào các hoạt độngthực tiễn Giáo dục thông qua học tập trong nhà trường, thông qua lao động và hoạt
Trang 27động xã hội là nơi thử thách ý chí và hành vi của con người.
Những hành vi của nhà giáo phải có tính mẫu mực, tất cả những tác động giáodục đến hành vi của người học nghề cho dù ở các tình huống khác nhau nhưng phải cótính nhất quán và hướng tới mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp
* Nguyên tắc tôn trọng nhân cách kết hợp với yêu cầu cao
Mỗi con người bình thường là một chủ thể có ý thức, biết tôn trọng người khác
và muốn được người khác tôn trọng mình Nhà giáo phải biết đặc điểm tâm lý quantrọng này để giáo dục người học, sự tôn trọng không chỉ thể hiện trong giao tiếp xãgiao mà phải thể hiện trong từng hoạt động cụ thể
Để giáo dục con người, trước hết nhà giáo dục phải biết tôn trọng và có niềm tinđối với con người, biết đề cao phẩm giá của con người Phải biết nhìn nhận đúng nhữngnhược điểm cũng như những thành công dù là nhỏ nhất của họ, phải coi những thànhcông đó là có ích cho cá nhân và tập thể Từ đó, nhà giáo dục có động viên kịp thời và
đề cao những ưu điểm của họ, khích lệ họ có những thành công mới tốt hơn và khéo léochỉ ra những nhược điểm để họ chủ động phòng ngừa, khắc phục
Đồng thời với tôn trọng nhân cách là luôn có yêu cầu cao đối với họ và ngược lại,
dó đó tôn trọng cũng có nghĩa là đã yêu cầu cao Tôn trọng và yêu cầu cao ở người họcnghĩa là luôn đòi hỏi ở họ sự hoàn thiện trong nhận thức và hành vi sau tạo ra chấtlượng công việc tốt hơn hành vi trước
Tin tưởng giao việc vừa sức và tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao là phương thức chính để giáo dục người học trong giáo dục nghề nghiệp
* Nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động
Lao động là phương thức sống chân chính, là con đường hình thành và phát triểnnhân cách Vì vậy, giáo dục con người phải được thực hiện chính trong lao động và bằnglao động
Có lao động trí óc, lao động chân tay; lao động tự phục vụ bản thân, lao động tạo
ra của cải vật chất cho xã hội, lao động công ích
Thông qua lao động, người học có cơ hội áp dụng những hiểu biết, kĩ năng vào thựctiễn; đồng thời ý thức lao động của người học được phát triển và rèn luyện thói quen laođộng, say mê tìm hiểu thực tiễn lao động Ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, lao độngrèn cho người học tư duy và kĩ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp
Lao động giúp cho con người nhận ra giá trị cuộc sống, làm cho họ biết yêu
Trang 28thương, quý trọng lẫn nhau và quý trọng kết quả của lao động Lao động để cải tạo bảnthân, lao động là con đường dẫn tới hạnh phúc.
* Nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể
Tập thể là môi trường người học sống và học tập, là nơi họ giao lưu và tham giacác hoạt động cùng nhau Thông qua những mối quan hệ giao lưu và tham gia các hoạtđộng cùng nhau đó mà nhân cách mỗi cá nhân được hình thành và phát triển Vì vậygiáo dục con người cần phải được thực hiện trong môi trường tập thể và sử dụng tậpthể như một phương tiện tác động tích cực đến từng người học
Nguyên tắc này yêu cầu nhà giáo phải biết tổ chức, xây dựng và lãnh đạo tốt cáctập thể người học, làm cho mỗi tập thể là mỗi đơn vị vững mạnh, có tác dụng giáo dụcđến từng cá nhân và góp phần tạo nên xã hội tốt đẹp
Nhà giáo phải coi tập thể như một đối tượng để tác động giáo dục, làm cho tậpthể vững mạnh về mọi phương diện Phải sử dụng tập thể như một môi trường để rènluyện từng người học, sử dụng tập thể như một phương tiện tác động trở lại từng ngườihọc làm cho họ trở thành những con người có ích cho tập thể
Nhà giáo cần sử dụng biện pháp “tác động song song”: một mặt tác động đến tập thểhọc sinh – sinh viên để thông qua tập thể tác động đến từng cá nhân, mặt khác tác độngkhéo léo đến từng cá nhân
* Nguyên tắc phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của người học
Ở mỗi con người đều có mặt mạnh và mặt yếu, ưu và khuyết điểm, không thểhoàn thiện tuyệt đối Nhưng bản tính con người là ai cũng muốn được người khác tôntrọng và muốn mọi người nhìn thấy mặt mạnh của mình
Vì vậy, giáo dục cần phải thực hiện một nguyên tắc quan trọng là: hãy nói nhiều
ưu điểm của người khác, coi đó là phẩm chất chủ yếu, cơ bản nhất của mỗi con người;hãy giảm đến mức tối thiểu những lời nói động đến khuyết điểm, sai lầm của ngườikhác, đặc biệt là sai lầm trong quá khứ, sai lầm có tính chất nhất thời Lấy ưu điểm đểkhắc phục nhược điểm, tạo mọi cơ hội cần thiết để mặt mạnh có cơ hội biểu hiện thànhnhững hành vi tốt
Hãy nâng đỡ con người về mọi phương diện, kể cả lúc họ vấp phải khuyết điểm
Sự bao dung, độ lượng của các nhà sư phạm, của gia đình và của tập thể có thể cảmhoá con người, xoá bỏ đi khuyết điểm, thậm chí xoá bỏ đi cả tội lỗi, dẫn họ đi trên conđường mới, tới những thành công mới Tuy nhiên, những điều phân tích trên không
Trang 29đồng nghĩa với bao che khuyết điểm, thủ tiêu đấu tranh, từ bỏ vũ khí phê bình và tựphê bình hay ngược lại là thổi phồng thành tích, nếu làm như vậy dễ tạo cho họ có cơhội tự kiêu, tự phụ Điều ghi nhớ ở đây là sau phê bình, trách phạt khách quan, phải làlòng nhân đạo, sự bao dung, tình thân ái, vì sự tiến bộ của con người mà phát huy ưuđiểm, khắc phục nhược điểm.
* Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, kế thừa và liên tục của quá trình giáo dục
Giáo dục là một thể thống nhất và toàn vẹn Mỗi thành tựu giáo dục, mỗi phẩmchất nhân cách được hình thành là kết quả tổng hợp của toàn bộ những tác động củacác lực lượng giáo dục Mỗi thành tựu giáo dục đạt được hôm nay là kết quả của sự cốgắng liên tục từ những hoạt động trước đó Quá trình giáo dục là một hệ thống liên tục,
là những tác động tăng dần về số lượng và chất lượng, của những hình thức tổ chứcgiáo dục
Nhà giáo dục phải có kế hoạch giáo dục thống nhất từng bước tăng dần nhữngyêu cầu chung Giáo dục phải được tiến hành theo phương pháp củng cố thường xuyênnhững nhận thức, những tình cảm, những hành vi đã được xác lập Dựa vào kết quả đã
có để giáo dục những phẩm chất mới Phải làm chuyển biến những tác động giáo dụcthành ý thức và thói quen tự giáo dục Những kết quả giáo dục trong gia đình phảiđược tiếp nối bằng những tác động ở nhà trường và toàn xã hội
Sự tác động giáo dục có hệ thống, liên tục, kế thừa lẫn nhau là nguyên tắc giáo dụcquan trọng
* Nguyên tắc giáo dục phải chú ý đến các đặc điểm lứa tuổi, giới tính và các đặc điểm cá biệt khác của người học
Sự phát triển của cá nhân về tâm sinh lý đều diễn biến theo lứa tuổi với nhữngnét đặc trưng nhất định Mỗi lứa tuổi, do tham gia vào các hoạt động và mối quan hệ
xã hội khác nhau nên có những nét tính cách phổ biến và cũng có những nét đặc trưngnhất định Vì vậy, giáo dục phải phù hợp với yêu cầu, hứng thú tình cảm của từng độtuổi ấy Phải chú ý hướng dẫn các hoạt động chủ đạo theo lứa tuổi, để thông qua đó mà
có nội dung, phương pháp giáo dục cho phù hợp
Một vấn đề nữa cần xem xét là: nam và nữ có những chỉ số phát triển sinh họckhác nhau dẫn đến những đặc điểm giới tính ở nam và nữ cũng khác nhau Vì vậy màgiáo dục cũng phải phù hợp với đặc điểm giới tính Trong giáo dục, giới tính là mộttrong những giá trị cần giáo dục cho người học - sinh viên
Trang 30Mỗi con người có nét đặc thù trong tính cách, khí chất, có những vốn sống kinhnghiệm khác nhau, có đặc điểm giới tính khác nhau Giáo dục phải dựa vào kiến thức,kinh nghiệm cá nhân, dựa vào đặc điểm tâm lý của từng người để tác động nhằm pháttriển tất cả mọi năng lực của từng người Không có phương pháp giáo dục chung nào cóhiệu qủa đối với tất cả mọi đối tượng, mà nhà giáo phải luôn cần có sự chăm sóc và đối xử
cá biệt
* Nguyên tắc thống nhất các yêu cầu trong các lực lượng giáo dục
Gia đình, nhà trường và xã hội là đều có chung một mục đích là hình thành nhâncách toàn diện cho thế hệ trẻ Vì vậy, để tiến hành giáo dục, các lực lượng giáo dục phảithống nhất với nhau các yêu cầu chung về nội dung và phương pháp giáo dục Sự thốngnhất giữa các lực lượng giáo dục mới đem lại hiệu quả Ngược lại, giáo dục phân tán, giáodục không đồng bộ, giáo dục theo khuynh hướng khác nhau sẽ phá vỡ sự toàn vẹn thốngnhất của giáo dục, dẫn đến những hậu quả không thể lường trước được
Quá trình giáo dục xã hội phải lấy nhà trường làm trục chính Nhà trường phảichịu trách nhiệm phối hợp tất cả các lực lượng giáo dục Mối liên hệ giữa nhà trường
và gia đình phải là việc làm thường xuyên, trực tiếp hàng ngày Mối quan hệ với địaphương, với các tổ chức xã hội và các cơ quan kinh tế văn hoá đóng trên địa bàn cũngphải chặt chẽ và thường xuyên, liên tục Có như vậy mới đem lại thành công to lớn chogiáo dục
* Thực hiện các nguyên tắc trong giáo dục nghề nghiệp
Nguyên tắc giáo dục là một hệ thống với nhiều luận điểm quan trọng của lý luậngiáo dục Mỗi luận điểm dựa trên những căn cứ khoa học và thực tiễn sát đáng và nóchỉ dẫn từng mặt của hoạt động giáo dục Do vậy, đối với các nhà giáo dục cần phảinắm vững và vận dụng linh hoạt tất cả các nguyên tắc vào trong từng tình huống cụthể, phù hợp với từng đối tượng cụ thể Sự vận dụng linh hoạt, sự phối hợp nhịp nhàngcác nguyên tắc giáo dục cùng các phương pháp giáo dục sẽ cho ta kết quả mong muốn
1.7 Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục là một vấn đề lớn của lý luận giáo dục, nó được coi là hệ thốngnhững tri thức, những chuẩn mực đạo đức, những tình cảm, thói quen tốt và hành vi vănminh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cần hình thành cho người học
Nội dung giáo dục là thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, nó quy địnhtoàn bộ các hoạt động của giáo dục trong thực tiễn Nó mang tính toàn diện chịu sự
Trang 31quy định, chi phối, định hướng của mục đích giáo dục và là cơ sở để xác định cácphương pháp giáo dục
* Nội dung cơ bản của giáo dục trong nhà trường bao gồm:
- Giáo dục tri thức đạo đức và hành vi đạo đức
- Giáo dục ý thức và thái độ lao động
- Giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng
- Giáo dục văn hoá, thẩm mỹ
* Một số nội dung giáo dục mới: giáo dục môi trường, giáo dục giới tính và giáodục dân số, giáo dục giá trị và định hướng giá trị
2 Kế hoạch tổ chức và tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục
2.1 Khái niệm về kế hoạch tổ chức, tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục
2.1.1 Khái niệm về kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục
Kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục được hiểu là một văn bản có tính quy ướctrong một phạm vi nhân sự nhất định hoặc có tính pháp lý đối với một tập thể xác định
Kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục là căn cứ giúp các chủ thể của hoạt độnggiáo dục, các bên có liên quan và người có trách nhiệm quản lý căn cứ vào đó để quản
lý, để phối hợp tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục
Kế hoạch hoạt động giáo dục chính là một loại mô hình hoạt động giáo dục cótính dự kiến, không trái với các quy định có tính pháp lý và đạo lý Khi đã được người
có thẩm quyền phê duyệt, kế hoạch là căn cứ có tính pháp lý để đánh giá mức độ hoànthành nhiệm vụ của các tập thể, cá nhân thuộc phạm vi kế hoạch đã đề cập
2.1.2 Khái niệm tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục
- Đánh giá là quá trình, thu thập thông tin về hiện trạng chất lượng và hiệu quả,nguyên nhân và khả năng của người học
- Đánh giá gắn bó chặt chẽ với các mục tiêu giáo dục, chuẩn giáo dục
- Đánh giá tạo cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng,nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
- Hoạt động giáo dục là hoạt động đặc thù của con người, qua đó họ chia sẻ cảmxúc, thông tin, giúp nhau phát triển về phẩm chất và năng lực cần thiết cho hoạt độngsống, học tập, giao lưu, thích ứng với những vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy
- Tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục được hiểu là một công cụ đo lường hoạtđộng giáo dục, là căn cứ để nâng cao mức độ định lượng trong đánh giá hoạt động
Trang 322.2 Các bước và các yêu cầu đối với lập kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục
Lập kế hoạch là nền tảng vững chắc đảm bảo sự thành công của một hoạt động.Lập kế hoạch sẽ giúp cho nhà giáo dục xác định được phương hướng hoạt động trongtương lai, giảm sự tác động của những thay đổi từ ngoại cảnh, tránh được sự lãng phí
và dư thừa nguồn lực, thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra.Lập kế hoạch còn là việc làm tạo công cụ trong việc phối hợp với các bên liên quan vàhuy động được sự nỗ lực của họ, giảm được sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụcũng như khi thực hiện hoạt động Lập kế hoạch cần chú ý đến các bước và các yêucầu sau:
- Bước 1: Xác định đúng nhu cầu của người được giáo dục và các bên liên quan đến
tổ chức hoạt động giáo dục
Nếu hoạt động giáo dục đó xuất phát từ nhu cầu của người học thì phải tổng hợpnhững yêu cầu, mong muốn của người được giáo dục và giới hạn được về phạm vi chiphí, thời gian thực hiện, số người học tham gia, kỳ vọng của những học sinh - sinh viêntham gia và trách nhiệm của họ cũng như các bên liên; tránh tình trạng khi hoạt động diễn
ra không như mong muốn sẽ có thể xảy ra việc đổ lỗi, thoái thác trách nhiệm
Nếu hoạt động giáo dục đó xuất phát từ yêu cầu của Lãnh đạo hay thuộc kếhoạch của học kỳ, năm học, khóa học mà Nhà trường đã phê duyệt người lập kế hoạchphải hiểu rõ tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa của hoạt động, từ đó đề ra điểm cơ bản
để hoàn thành kế hoạch như nguồn lực tài chính cần có, thời gian bắt đầu và kết thúc,phạm vi tổ chức hoạt động và các nguồn lực có liên quan khác
- Bước 2: Đặt mục tiêu cho kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục
Đặt mục tiêu tổng quát cho kế hoạch là một bước cực kỳ quan trọng Dựa vàomục tiêu, người được giáo dục (đối tượng trung tâm của hoạt động) và Lãnh đạo nhàtrường sẽ thấy ngay kỳ kết quả dự kiến sẽ thu được cũng như dễ dàng đánh giá đượcmức độ thành công của kế hoạch Việc đặt mục tiêu giúp cho việc ước lượng tương đốichính xác khối lượng công việc phải thực hiện, thời gian cần có, tài chính cần có, trách
Trang 33nhiệm của các bên liên quan và các nguồn lực khác.
- Bước 3: Xác định đầu ra của kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục theo từnggiai đoạn
Từ mục tiêu tổng quát, người xây dựng kế hoạch phải định hình ra các mục tiêu
bộ phận gắn với từng giai đoạn cụ thể của kế hoạch Bước này cần ước tính cụ thể khốilượng công việc hoàn thành theo các mốc thời gian Nói cách khác là kết quả dự tínhcủa từng giai đoạn trong kế hoạch giúp người quản lý kế hoạch, người tổ chức hoạtđộng giáo dục và các bên liên quan liên tục cập nhật được được tiến độ thực hiện kếhoạch, đồng thời tiên liệu trước độ rủi ro đối với quá trình thực hiện từng giai đoạn của
kế hoạch
- Bước 4: Xây dựng tiến độ thực hiện các hoạt động trong kế hoạch
Dựa trên việc ước lượng kết quả đầu ra theo từng giai đoạn trong bước 3, từ đóxác định rõ chuỗi công việc cần phải làm Đối với mỗi nhiệm vụ, phải vạch rõ khoảngthời gian cần thiết, nguồn lực đi kèm và ai sẽ chịu trách nhiệm hoàn thành
Tiếp đến, xem xét đến sự phụ thuộc giữa các công việc hay nhiệm vụ giao cho cácthành viên được giao trách nhiệm Cần xác định những công việc nào được tiến hànhđồng thời, những công việc nào cần tiến hành nối tiếp; khi công việc nào kết thúc là lúccông việc khác sẽ bắt đầu nhằm điều chỉnh nhân lực và thời gian phù hợp
Bước này bạn cần gán các mốc thời hạn từ khi bắt đầu đến kết thúc mỗi giai đoạncủa kế hoạch, người thực hiện, khối lượng công việc để dễ dàng theo dõi, kiểm soát,điều chỉnh tránh sự gián đoạn khi các nhiệm vụ nối tiếp nhau
Gắn mốc quan trọng hoặc đặt thông báo (bằng một thiết bị nhắc việc đi kèm) chotừng thời hạn hoàn thành của kế hoạch Những chỉ dẫn rõ ràng sẽ dễ cho theo dõi vàgiúp cho người được giao nhiệm vụ được giao hoàn thành đúng thời gian, điều nàymang đến sự vui vẻ, tin tưởng cho các bên liên quan
- Bước 5: Dự kiến những mối nguy hiểm có thể có và mức độ rủi ro của kế hoạch
có thể gặp phải khi triển khai thực hiện
Thực tiễn cho thấy, phần lớn các kế hoạch khi triển khai thực hiện đều gặp phảinhững rủi ro nhất định Do đó, cần dự liệu trước các rủi ro có thể đến, đôi khi cónhững tình huống mà không ai có thể lường trước được, nên phải xem xét thật kỹ cácbước để có thể ngăn ngừa những rủi ro nhất định xảy ra hoặc hạn chế tối đa tác độngtiêu cực của chúng quá trình tổ chức hoạt động giáo dục
Trang 34Nếu lường được tối đa các rủi ro có thể cóvà xây dựng được một chiến lược quản
lý rủi ro thì kế hoạch sẽ có sai số nhỏ nhất
- Bước 6: Thống nhất nội dung dự thảo kế hoạch với các bên liên quan (ngườihọc và các lực lượng giáo dục, lực lượng phối hợp) và xin ý kiến phê duyệt của Lãnhđạo phụ trách
Trong bước này người lập kế hoạch cần chuẩn bị chu đáo về cách trình bày kếhoạch, bảo vệ được quan điểm trong kế hoặc những cũng cần biết lắng nghe những ýkiến góp ý có tính hợp lý để bản kế hoạch được hoàn hảo nhất có thể
Ngoài ra, cũng cần lưu ý thêm về việc thống nhất nhận định mức độ khả thi vềviệc có thể nhân rộng hoạt động giáo dục này cho các lớp khác hoặc khóa học khác.Điều này cũng góp phần tạo nên những thuận lợi nhất định trong việc thống nhất nộidung kế hoạch cũng như trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục
2.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục
Cùng với quá trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp, thái độ nghề nghiệp cho ngườihọc thông qua dạy học trên lớp, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với học sinhtrung cấp, sinh viên cao đẳng vốn rất phong phú, đa dạng Việc xây dựng tiêu chí đánhgiá cần phù hợp với từng loại hoạt động để làm căn cứ cho đánh giá, đồng thời cũng làđịnh hướng cho tổ chức các hoạt động giáo dục
Dưới đây là bảng tiêu chí (có tính chất tham khảo) đánh giá kết quả rèn luyện củasinh viên trường cao đẳng:
tối đa
Tự đánh giá
Lớp đánh giá
GV CN đánh giá
Ghi chú
Trang 35Nội dung đánh giá Điểm
tối đa
Tự đánh giá
Lớp đánh giá
GV CN đánh giá
Ghi chú
f Vắng học hoặc vào trễ ≥ 12 lần/ học kỳ hoặc có
3 Tính nghiêm túc trong thi cử: 5
b Trong học kỳ bị lập 1 biên bản khiển trách 3
c Trong học kỳ bị lập 1 biên bản cảnh cáo hoặc 2
d Trong học kỳ bị lập 1 biên bản đình chỉ thi hoặc
2 lần cảnh cáo hoặc 3 biên bản khiển trách 0
II Về ý thức chấp hành nội quy, quy chế 30
1 Thực hiện đóng học phí: 15
b Đóng đủ nhưng chậm trong vòng 1 tuần 12
c Đóng đủ nhưng chậm trong vòng 2 tuần 9
d Đóng đủ nhưng chậm trong vòng 3 tuần 6
e Đóng đủ nhưng chậm trong vòng 4 tuần 3
f Đóng đủ nhưng chậm trong vòng 5 tuần trở lên 0
2 Tham gia bảo vệ tài sản nhà trường, giữ gìn vệ
sinh môi trường sạch đẹp, không hút thuốc lá
trong trường, không bao che người vi phạm
III Về ý thức và kết quả tham gia các hoạt
động chính trị xã hội, văn hoá, văn nghệ, thể
thao, phòng chống TNXH
20
1 Tham gia các hoạt động VH-VN-TT 10
Nếu đạt giả thì: - Giải nhất cộng thêm 5
- Giải nhì cộng thêm 4
- Giải ba cộng thêm 3
- Giải KK cộng thêm 2
Trang 36Nội dung đánh giá Điểm
tối đa
Tự đánh giá
Lớp đánh giá
GV CN đánh giá
Ghi chú
e Tham gia đóng góp phục phụ theo quy định của
2 Tham gia công tác chính trị - xã hội 5
3 Tham gia công tác phòng chống tệ nạn xã hội 5
IV Về phẩm chất công dân và quan hệ cộng
1 Chấp hành tốt chính sách, pháp luật, quy định
2 Vi phạm khuyết điểm, không nộp bản nhận xét
V Kết quả về công tác phụ trách lớp, đoàn thể,
xã hội và các tổ chức khác trong trường 10
- Thực hành về lập kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục
- Thực hành về xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục
Trang 37BÀI 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
* MỤC TIÊU
Học xong bài học này, người học có khả năng:
- Kiến thức: Phân tích được mục đích và ý nghĩa của tổ chức hoạt động giáo dục,phương pháp giáo dục Trình bày được các nội dung cơ bản về tập thể người học vàgiáo viên chủ nhiệm lớp - cố vấn học tập; các bước và yêu cầu đối với tổ chức hoạtđộng giáo dục, xử lý tình huống sư phạm, phương pháp thu thập minh chứng cho đánhgiá hoạt động giáo dục
- Kỹ năng: Tổ chức được hoạt động giáo dục cho người học theo kế hoạch đã xâydựng, xử lý được tình huống sư phạm, thu thập được minh chứng cho đánh giá hoạtđộng giáo dục
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Thực hiện độc lập hoặc chủ động phối hợp vớiđồng nghiệp và các bên có liên quan trong thực hiện vai trò tổ chức hoạt động giáo chongười học đảm bảo tính giáo dục và an toàn
* NỘI DUNG
1 Mục đích và ý nghĩa của tổ chức hoạt động giáo dục
1.1 Mục đích của tổ chức hoạt động giáo dục
- Tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh - sinh viên học trung cấp, cao đẳng làmột trong những biện pháp cơ bản có tính cốt lõi về phương hướng triển khai thựchiện nguyên lý giáo dục trong thực tiễn giáo dục nghề nghiệp
- Cụ thể hóa điều lệ trường trung cấp, trường cao đẳng và chức năng, nhiệm vụcủa nhà trường vào đặc điểm cụ thể của quá trình giáo dục
- Tổ chức thực hiện đúng, đủ chương trình giáo dục, kế hoạch giáo dục
- Giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho người học không chỉthông qua các hoạt động dạy học ở trên lớp mà còn thông qua các hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp
- Quản lý giáo viên thực hiện đúng và có hiệu quả các nhiệm vụ giảng dạy vàgiáo dục người học và đổi mới hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục nghề nghiệp
- Tạo cơ hội để học tập, rèn luyện thông qua các hình thức tổ chức dạy học, giáodục khác nhau để phát triển thể chất, phẩm chất và năng lực nghề nghiệp, phát triển lýtưởng và động cơ lập thân lập nghiệp
Trang 381.2 Ý nghĩa của tổ chức hoạt động giáo dục
- Góp phần gắn kết tầm quan trọng của giáo dục đối với vận mệnh đất nước, đây
là ý nghĩa lớn lao và có tính chất xuyên suốt sự sự nghiệp giáo dục
- Tạo cho người học có cơ hội phát triển toàn diện và phát triển lợi thế của bảnthân, phát triển tập thể học sinh - sinh viên
- Gắn kết quá trình phát triển của người học với thực tiễn phát triển của xã hộinói chung và thực tiễn của sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nói riêng
- Tạo bước chuyển hợp lý để người học tiếp cận dần với thực tiễn phát triển của
xã hội; thực tiễn của sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Qua đó, giúp người học sẵn sàngtham gia ngay vào thị trường lao động sau khi tốt nghiệp với tư cách là một người laođộng qua đào tạo
- Các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động có nhiều cơ hội tìm hiểu về phẩm chất,năng lực nghề nghiệp của những lao động tiềm năng
- Nhà giáo dục, cơ sở giáo dục, các lực lượng giáo dục tiếp tục hoàn thiện mụctiêu và nội dung giáo dục, đổi mới phương pháp và hình thức giáo dục người học, đổimới quản lý và hoàn thiện biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp
2.1.2 Đặc điểm của phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục được tiến hành thông qua hoạt động của nhà giáo dục vàngười được giáo dục, trong đó những tác động của nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo,còn người được giáo dục hoạt động một cách tích cực, tự giác, tự giáo dục, tự vậnđộng nhằm hướng tới phát triển nhân cách chính bản thân mình
Phương pháp giáo dục được coi là cách thức, con đường tác động tương ứng vớitừng khâu của quá trình giáo dục và cũng có thể tác động vào tất cả các khâu của quátrình giáo dục
Phương pháp giáo dục được thực hiện phải phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể,từng tình huống cụ thể Mỗi cá nhân mỗi tình huống giáo dục khác nhau không thể cóphương pháp giáo dục chung hữu hiệu mà phải thực hiện bằng những phương pháp, biện
Trang 39pháp riêng cho mỗi một cá nhân, cho mỗi một tình huống giáo dục cụ thể
Phương pháp giáo dục thuyết phục thường dùng phương tiện để thực hiện làngôn ngữ nói, sách báo, khẩu hiệu, tranh ảnh mô hình và các phương tiện kĩ thuật hiệnđại khác
a) Phương pháp khuyên giải
Khuyên giải là phương pháp giáo dục trong đó nhà giáo dục gặp gỡ, trò chuyện
với đối tượng giáo dục, dùng lời nói để khuyên răn, giải thích, chứng minh cho họ
những điều hay lẽ phải, giúp họ hiểu rõ những khái niệm đạo đức, những nội dung quytắc chuẩn mực xã hội mà con người cần phải tuân theo
Giải thích thường được tiến hành trong trường hợp người được giáo dục khôngnhận thức được những điều cần phải làm và những việc cần phải tránh
Khuyên răn được tiến hành trong trường hợp người được giáo dục hiểu đúngnhưng cố tình làm sai, cố tình vi phạm nguyên tắc chuẩn mực xã hội
Khuyên giải bằng lý thuyết, bằng con đường tình cảm và bằng mối quan hệ tốtđẹp sẵn có giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục để cảm hoá họ, giúp họ nhận thứcđúng những giá trị đạo đức, điều chỉnh lại những nhận thức sai lầm, sửa chữa nhữnglệch lạc, từ đó hành động theo lẽ phải
Khuyên giải sẽ có hiệu quả khi nhà giáo dục hiểu rõ đối tượng giáo dục củamình, biết cách tiếp cận đối tượng, tế nhị dẫn dắt câu chuyện theo mục đích Điềuquan trọng hơn là bản thân nhà giáo dục phải là người gương mẫu, có uy tín đối vớingười học
b) Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại là một phương pháp giáo dục được thực hiện chủ yếu bằng cách traođổi ý kiến, quan điểm giữa nhà giáo dục với người học, giữa người học với nhau vềmột chủ đề nào đó thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống hàng ngày;
Trang 40giúp người học tìm ra lời giải đáp cho một tình huống khó xử, một sự kiện nào đó vừaxảy ra; từ đó khẳng định, hình thành một quan điểm phù hợp với chuẩn mực, xoá đimột nhận thức sai lầm Đàm thoại có thể diễn ra theo hai cách là đàm thoại tự nhiên vàđàm thoại theo chủ đề.
Đàm thoại tự nhiên là cuộc đàm thoại không tập trung vào một chủ đề nhất định.Trong cuộc đàm thoại này, các ý kiến thường bộc lộ trong những bối cảnh không đượcchuẩn bị trước, thường để xử lý các tình huống của cuộc sống hàng ngày hoặc tình huốngnghề nghiệp, có thể diễn ra ở trong hoặc ngoài giờ học
Đàm thoại theo chủ đề là loại đàm thoại được xoay quanh một chủ đề nhất định.Muốn đàm thoại có hiệu quả nhà giáo dục cần quan tâm đến nội dung chủ đề trao đổivới người học, cần chuẩn bị sẵn câu hỏi, các vấn đề, sự kiện để thông báo cho ngườihọc Chủ đề đàm thoại thường là những sự kiện mang nội dung chính trị, đạo đức, thẩm
mỹ, thể hiện các mặt khác nhau của đời sống xã hội, gắn liền với cuộc sống và hoạtđộng của người học Chủ đề đàm thoại còn phải mang tính thiết thực, tập trung vào cácvấn đề bức xúc trong cuộc sống hoặc trong hoạt động nghề nghiệp
Đàm thoại còn có thể diễn ra dưới hình thức giữa cá nhân với cá nhân, cũng cóthể diễn ra dưới hình thức tập thể
Ở hình thức cá nhân, nhà giáo dục đàm thoại riêng với từng người học để hiểu biếtsâu sắc về hoàn cảnh, cá tính, tâm tư, tình cảm và những điều thầm kín khó nói trước tậpthể của họ nhằm chia sẻ và giúp các em tháo gỡ những băn khoăn, thắc mắc
Đàm thoại tập thể được phát triển thành hai mức độ thảo luận và tranh luận.Thông qua thảo luận người học có thể giúp nhau đi sâu phân tích những khía cạnhkhác nhau của vấn đề từ đó các em có thái độ và niềm tin đúng đắn Mức độ cao củathảo luận là tranh luận Tranh luận dựa trên các ý kiến, các quan điểm khác nhau, cókhi đối lập nhau Trong tranh luận người học không chỉ phát biểu quan điểm của mình
mà còn phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu trong quan niệm và cách bảo vệ quanniệm, đưa ra các luận chứng để bác bỏ sai lầm và khẳng định chân lý
Trong đàm thoại tập thể, giáo viên có thể tham gia với tư cách là người dẫn dắt,gợi ý và định hướng Tuyệt đối không được vội vã phê phán, tán dương hoặc phủ nhậnnhững quan điểm sai lầm của người học, không buộc người học phải chấp nhận nhữngquan điểm của mình Những nhà giáo dục có kinh nghiệm thường biết chờ đợi, nhiệttình và chân thành, tạo điều kiện cho người học trình bày quan điểm và đưa ra cách lý