Đổi mới kiểm tra, đánh giá trong dạy và học ngoại ngữ theo hướng tiếp cận chuẩn quốc tế, tăng cường năng lực khảo thí quốc gia (Đề án NNQG, 2025) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục đại học nói riêng, giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, việc xây dựng một bài thi đánh giá năng lực tiếng Anh có chất lượng và đáp ứng chuẩn mực quốc tế là bước đi quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh không chuyên tại ĐHQGHCM.
Trang 1XÂY DỰNG ĐỀ THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TIẾNG ANH
'THƯƠNG HIỆU VIỆT' TIẾP CẬN CHUẨN MỰC QUỐC TẾ
Developing the ‘made – in – Vietnam’ English proficiency test approaching
international standards
ThS Nguyễn Thái Bình Long
TÓM TẮT: Đổi mới kiểm tra, đánh giá trong dạy và học ngoại ngữ theo hướng tiếp
cận chuẩn quốc tế, tăng cường năng lực khảo thí quốc gia (Đề án NNQG, 2025) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục đại học nói riêng, giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Vì vậy, việc xây dựng một bài thi đánh giá năng lực tiếng Anh có chất lượng và đáp ứng chuẩn mực quốc tế là bước đi quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh không chuyên tại ĐHQG-HCM.
ABSTRACT: Innovative testing and evaluation in teaching and learning foreign
languages approaching international standards, strengthening the national examination capacity (Project NNQG, 2025) is one of the key tasks contributing to improving the quality of teaching and learning English in the national education system (in general) and higher education in particular, enhancing the competitiveness
of human resources in the integration period, contributing to the construction and development of the country Therefore, the development of a qualitative English proficiency test is an important step in innovating and improving the quality of teaching and learning English to non-English majors at VNU-HCM.
Từ khóa: Xây dựng đề thi, đánh giá năng lực tiếng Anh, VNU-EPT, đổi mới đánh giá,
chuẩn mực quốc tế
Keywords: developing test, English proficiency test, VNU-EPT, Innovative testing,
international standards
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhằm thực hiện ‘đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong đào tạo ngoại ngữ;
‘nâng cao hiệu quả công tác khảo thí và kiểm định chất lượng đào tạo các môn ngoại ngữ;’ (Quyết định số 1400/QĐ-TTg, 2008) trong khuôn khổ mục tiêu của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020, từ năm 2011, ĐHQG-HCM đã chủ động cho triển khai nghiên cứu, so sánh và từng bước xây dựng các dữ liệu ngân hàng câu hỏi, phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá trình độ ngoại ngữ của người học và, nhằm chuẩn hóa việc đánh giá năng lực (ĐGNL) của người học theo khung CEFR qua bài thi với tên gọi VNU-EPT (Vietnam National University – HCM English Proficiency Test - Chứng chỉ tiếng Anh ĐHQG-HCM) và giao cho Trung tâm Khảo thí Tiếng Anh (TTKTTA) chủ trì thực hiện việc ĐGNL tiếng Anh của người học một cách độc lập trước hết trong toàn hệ thống ĐHQG-HCM và sau đó từng bước vươn ra trên toàn quốc gia và quốc tế
Bài thi góp phần định hình nên một Khung chương trình giảng dạy chuẩn mực và chất lượng để từ đó nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh trong hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam Theo đó, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bên cạnh đó, với những thành công mà bài thi này mang lại sẽ góp phần trong việc tăng cường năng lực khảo thí ngoại ngữ của quốc gia, giúp nâng chất lượng khảo thí đánh giá năng lực tiếng Anh của Việt Nam lên tầm khu vực và thế giới, hoàn toàn có thể cạnh tranh với các dạng bài thi như TOEFL, IELTS, TOEIC, FCE, … trong tương lai, góp phần thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của Đề án NNQG 2025
Trong thời gian qua, để có đánh giá năng lực tiếng Anh với mức tin cậy cao, người
ta thường phải nhờ các thước đo của nước ngoài, phổ biến là TOEFL, IELTS, TOEIC Tuy nhiên, chúng ta không thể sử dụng các công cụ đánh giá này một cách đại trà cho hàng triệu học sinh, sinh viên và những người có nhu cầu, vì chi phí khá đắt đỏ, hơn nữa mục tiêu đánh giá không phải khi nào cũng phù hợp (Lâm Quang Thiệp, 2017)
2 XÂY DỰNG ĐỀ THI ĐGNL “THƯƠNG HIỆU VIỆT”
2.1 Cơ sở xây dựng VNU-EPT
Trang 3Với vai trò là một trong những đơn vị đầu tàu trong trong sự nghiệp đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo của cả nước, ĐHQG-HCM đã tiên phong thực hiện những công trình nghiên cứu và mạnh mẽ đề xuất sử dụng khung CEFR trong xây dựng chương trình, lựa chọn giáo trình, thiết kế tiêu chí đánh giá, và hợp tác với các chuyên gia quốc tế trong việc xây dựng chứng chỉ tiếng Anh cho sinh viên ĐHQG-HCM nói riêng và sinh viên Việt Nam nói chung Bài thi VNU-EPT ra đời dựa trên những tiêu chí đổi mới phương pháp và cải tiến chất lượng nhằm hiện thực hóa công tác ‘đổi mới kiểm tra đánh giá trong dạy và học ngoại ngữ theo hướng tiếp cận chuẩn quốc tế’ (Quyết định số 2080/QĐ-TTg, 2017)
Bài thi là công cụ đánh giá năng lực tiếng Anh tổng quát 4 kỹ năng, đa điểm và đa cấp trình độ, cho sinh viên đại học và sau đại học (ĐH&SĐH), đảm bảo độ tin cậy
(Reliability) - chất lượng bài thi tiếng Anh chính là sự ổn định về mặt kết quả (đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo); độ giá trị (Validity) - đánh giá đúng
trình độ và nội dung kiến thức, kỹ năng đào tạo (đại lượng biểu thị mức độ đo được các năng lực/mục tiêu cần đo); và tính phân loại cao không thua kém bất kỳ một bài thi quốc tế hiện hành nào như TOEFL, IELTS, TOEIC, FCE, … nhưng vẫn đảm bảo tính
thực tiễn (Practicality) - sự phù hợp và thích nghi của bài thi với thực tế trong công tác
triển khai (Andrew Harrison, 1983; American Psychological Association, 1985; Lyle Bachman, 1990) gắn với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam như lệ phí thi, thời gian thi (thời lượng bài thi và thời gian tổ chức thi), hình thức thi, cơ sở hạ tầng, v.v Trên cơ sở đó, TTKTTA đã thiết kế một nền tảng vững chắc để xây dựng một ngân hàng câu hỏi, đề thi có chất lượng gồm: (1) Dạng thức Đề thi VNU-EPT; (2) Bảng quy hoạch đề thi tổng quát và chi tiết; (3) Đề thi mẫu; (4) Thang đo năng lực 14 cấp; (5) Hướng dẫn chấm thi hai kỹ năng Nói và Viết; và (6) Bảng quy đổi điểm tương đương của Chứng chỉ VNU-EPT và các điểm thi tiếng Anh quốc tế Phần xây dựng các quy chuẩn này có vai trò rất quan trọng, dựa theo những nguyên lý của khoa học đo lường
và đánh giá Do vậy, TTKTTA đã mời một số chuyên gia trong nước (GS.TSKH Lâm Quang Thiệp) và quốc tế (GS.TS Robert Atlman từ ETS) về khoa học đo lường trong giáo dục và đánh giá tiếng Anh tham gia cố vấn trong quá trình thực hiện (Đỗ Thị Diệu Ngọc, 2017)
Trang 42.3 Phương pháp thực hiện
2.3.1 Các bước triển khai cụ thể
Để các câu hỏi của đề thi VNU-EPT có độ khó và độ phân biệt tốt, tiến tới xây dựng một ngân hàng câu hỏi hoàn thiện, TTKTTA áp dụng quy trình gồm sáu bước như sau:
Bước 1: Xây dựng dạng thức Đề thi VNU-EPT, bảng quy hoạch đề thi tổng
quát và chi tiết theo hướng dẫn của Khung CEFR Bước 2: Viết câu hỏi theo quy chuẩn của các bảng quy hoạch đề thi
Bước 3: Thẩm định
Bước 4: Thi thử (thí điểm)
Bước 5: Phân tích các tham số câu hỏi: độ khó và độ phân biệt
Bước 6: Đánh giá chất lượng của đề thi: độ tin cậy và độ giá trị
2.3.2 Xây dựng dạng thức Đề thi VNU-EPT, bảng quy hoạch đề thi tổng quát và chi tiết theo hướng dẫn của Khung CEFR
‐ Xây dựng dạng thức Đề thi VNU-EPT: Đề án NNQG2020 có mục tiêu chung là
“đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học
có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam…” Với định hướng đó, Đề thi VNU-EPT được thiết kế
là một đề thi đa điểm và đa cấp: đánh giá đầy đủ 4 kỹ năng tiếng Anh và ĐGNL sử dụng tiếng Anh từ cấp vỡ lòng đến cấp sử dụng thành thạo trong đa dạng bối cảnh
gồm: (1) lĩnh vực cá nhân - tiếng Anh tổng quát; (2) lĩnh vực công cộng - tiếng Anh công sở và các nơi công cộng, và (3) lĩnh vực hàn lâm - tiếng Anh học thuật.
Cấu trúc của đề thi VNU-EPT được xây dựng trên cơ sở tham khảo các đề thi tiếng Anh quốc tế như TOEFL, IELTS, TOEIC, SAT, v.v Mỗi kiểu đề thi trong số này đều
có những ưu điểm riêng Cấu trúc đề thi VNU-EPT mô phỏng những ưu điểm này căn
cứ trên tiêu chí phù hợp với các dạng câu hỏi của chương trình giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam Như vậy, thí sinh sẽ không bỡ ngỡ khi trả lời những dạng câu hỏi chưa từng gặp trong chương trình học, hoặc nếu muốn đạt điểm cao thì phải có
Trang 5một quá trình luyện kỹ năng làm bài thi Một cấu trúc đề thi phù hợp sẽ tránh được tình trạng đề thi đo kỹ năng làm bài thi thay vì đo năng lực tiếng Anh của thí sinh,
giúp tăng độ giá trị của đề thi (Đỗ Thị Diệu Ngọc, 2017) (Bảng 1: Dạng thức Đề thi VNU-EPT)
‐ Xây dựng bảng quy hoạch đề thi tổng quát và chi tiết: Theo Đề án NNQG2020,
Đề thi đánh giá năng lực tiếng Anh phải được xây dựng dựa trên hướng dẫn của khung
tham chiếu CEFR (Bảng 2: Cơ sở tham chiếu khung CEFR - phần Đọc hiểu) và củng
như phù hợp với Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam được ban hành năm gần đây (Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT, 2014) Do vậy, bước triển khai tiếp theo của quy trình xây dựng đề thi VNU-EPT là xây dựng bảng quy hoạch đề thi tổng quát
để xác định rõ mục tiêu cần đo cho từng kỹ năng ở 6 cấp độ (Bảng 3: Bảng quy hoạch
đề thi tổng quát phần Đọc hiểu)
Khung CEFR cung cấp các bảng mô tả năng lực chi tiết cho từng kỹ năng của từng trình độ Dựa trên bảng mô tả năng lực tổng quát của CEFR, bảng quy hoạch đề thi tổng quát quy định rõ các mức kỹ năng cần đo dựa trên 6 mức độ nhận thức của Bloom (1956) hoặc tổ hợp thành 4 mức chính theo công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH, ngày 30/12/2010 của BGD-ĐT quy định rõ tỉ lệ câu hỏi thuộc các mức trí năng và các lĩnh vực cần kiểm tra (Đỗ Thị Diệu Ngọc, 2017) Bảng quy hoạch đề thi chi tiết quy định rất cụ thể nội dung, độ khó của ngữ liệu và câu hỏi trong đề thi để
đánh giá các mức năng lực khác nhau (Bảng 4: Minh họa - Bảng quy hoạch đề thi chi tiết phần Đọc hiểu).
2.3.3 Phương pháp đánh giá chất lượng ngân hàng câu hỏi, đề thi
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, Phân tích dữ liệu qua hình thức phân tích và thống kê so sánh, phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp phân tích thống kê suy diễn và khảo sát đối sánh
‐ Đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm: tác giả sử dụng phương pháp phân
tích thống kê mô tả, dữ liệu thu được từ các phương án chọn của thí sinh được xử lý bằng các phần mềm chất lượng cao phân tích câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá các tham số của từng câu hỏi, như độ khó và độ phân biệt (theo lý thuyết trắc nghiệm cổ điển [Classical Test Theory - CTT) và a, b, c (theo Lý thuyết Đáp ứng Câu hỏi [Item
Trang 6Response Theory – IRT]) (Lâm Quang Thiệp, 2008; 2010) Sau mỗi lần phân tích, các câu hỏi chất lượng kém sẽ được chuyển nhóm thiết kế để tu chỉnh hoặc loại bỏ, bổ sung câu hỏi để hoàn thiện ngân hàng câu hỏi Trước khi đưa vào ngân hàng đề thi, mọi câu hỏi đều được ĐHQG-HCM tổ chức thi khảo sát thí điểm chất lượng trên mẫu thử là sinh viên đại học chương trình tiếng Anh tăng cường và học viên cao học của ĐHQG-HCM
‐ Đánh giá chất lượng câu hỏi tự luận: Đề thi VNU-EPT có hai phần tự luận –
Nói và Viết Nhằm định hướng cho thí sinh về cách sử dụng tiếng Anh như là một sinh ngữ, đề thi VNU-EPT chủ trương thiết kế các câu hỏi mang tính cập nhật với bối cảnh
xã hội cho phần thi tự luận, giúp thí sinh có ý tưởng phong phú hơn và phát triển năng lực tư duy biện luận tốt hơn Nội dung các câu hỏi tự luận liên tục được rà soát và đánh giá dựa trên nội dung trả lời của thí sinh sau mỗi kỳ thi, nhằm thay thế các câu hỏi thí sinh gặp khó khăn trong việc triển khai ý tưởng hay điều chỉnh cách dùng từ ngữ để thí sinh không hiểu nhầm nội dung câu hỏi, tránh triển khai lạc đề
‐ Đánh giá độ tin cậy của Đề thi VNU-EPT: Để phân tích độ tin cậy của đề thi
VNU-EPT, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê suy diễn dựa trên kết quả phân loại thí sinh trong ngân hàng dữ liệu của TTKTTA Tác giả phân tích và so sánh
dữ liệu của các thí sinh đã tham gia kỳ thi VNU-EPT từ 2 lần trở lên, với các bộ đề khác nhau trong ngân hàng dữ liệu câu hỏi đề thi nhằm đo độ ổn định và độ khó tương đương của các đề thi trong cùng ngân hàng dữ liệu
‐ Đánh giá chất lượng của đề thi bằng phương pháp đối sánh với các đề thi tiếng
Anh quốc tế: Để có luận cứ thuyết phục hơn trong đánh giá độ tin cậy, độ giá trị và độ
tương ứng với các đề thi tiếng Anh quốc tế của đề thi VNU-EPT, tác giả đã và đang tiến hành khảo sát trên các nhóm đối chứng - là những thí sinh đã tham gia các kỳ thi chứng chỉ quốc tế (TOEFL, IELTS, TOEIC) có nhu cầu thi chứng chỉ tiếng Anh VNU-EPT Kết quả của các bài thi sẽ được tác giả đối chiếu dựa trên các bảng quy đổi trình
độ giữa các hệ thống Thông qua kết quả thi, có thể điều chỉnh lại thang đo tổng quát
đã đề xuất trước đó
Trang 7Sau phân tích, những mẫu kết quả thu được qua các kỳ thi thử có tính thuyết phục đối với ban lãnh đạo HCM sẽ được Trung tâm Khảo thí tiếng Anh ĐHQG-HCM hoàn thiện để đưa vào ngân hàng câu hỏi, đề thi
3 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐỀ THI
Từ tháng 9/2013 đến 30/06/2018, ĐHQG-HCM đã tổ chức 142 kỳ thi VNU-EPT cho 28.888 lượt thí sinh và 15 kỳ thi tuyển sinh SĐH theo dạng thức VNU-EPT cho hơn 8.000 lượt thí sinh dự thi (Trung tâm Khảo thí Tiếng Anh ĐHQG-HCM, 2018) Trong đó, ĐHQG-HCM đã tổ chức 116 kỳ thi đánh giá trình độ tiếng Anh cấp chứng chỉ VNU-EPT tại Trung tâm Khảo thí cho 10.978 thí sinh với mục đích làm cơ
sở xét điểm đầu vào và đầu ra cho các chương trình đào tạo ĐH&SĐH tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM và sinh viên học sinh bên ngoài sử dụng cho mục đích khác Đồng thời, TTKTTA đã thực hiện 11 kỳ thi ĐGNL phân loại đầu vào cho 8.033
SV chương trình TATC tại các trường thành viên ĐHQG-HCM Tổ chức 17 kỳ thi ĐGNL quá trình & đầu ra cho 9.877 sinh viên chương trình TATC với mục đích làm
cơ sở đánh giá quá trình, xét điểm học phần, chuyển giai đoạn và đầu ra cho các chương trình đào tạo ĐH tại các trường thành viên của ĐHQG-HCM Bên cạnh đó, TTKTTA cũng xây dựng các qui trình coi thi và đề thi theo yêu cầu mới cho 15 đợt tuyển sinh SĐH theo dạng thức VNU-EPT, phục vụ hơn 8.000 thí sinh dự thi
3.1 Đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm VNU-EPT qua phân tích độ khó và
độ phân biệt của đề thi
Nhằm bổ sung và đảm bảo chất lượng ngân hàng câu hỏi, đề thi, tác giả đã tổ phân tích đánh giá chất lượng của từng câu hỏi qua các đợt thi ĐGNL phân loại đầu vào, ĐGNL quá trình cho sinh viên chương trình TATC và các kỳ thi cấp chứng chỉ VNU-EPT Cụ thể, tác giả đã phân tích đánh giá độ khó và độ phân biệt của câu hỏi thông qua dữ liệu 25 kỳ thi trên 20 bộ Đề thi VNU-EPT với mẫu đánh giá nhỏ nhất là 228 thí sinh và mẫu lớn nhất là 2.515 thí sinh/kỳ thi Kết quả cho thấy 65% (13/20 đề thi) không có câu hỏi độ phân biệt âm; 20% (4/20 đề thi) có 2 câu hỏi độ phân biệt âm; 15% (3/20 đề thi) có 3 câu hỏi độ phân biệt âm Để có các bộ đề thi ĐGNL chuẩn hóa, thông thường theo tính toán hệ số tương quan Pearson giữa điểm của một câu hỏi với
Trang 8tổng điểm của cả đề thi thì trị số phân biệt của câu hỏi có thể chấp nhận là không có độ
phân biệt âm và phải lớn hơn 0,2 (Lâm Quang Thiệp, 2008) (Phụ lục 1: Phân tích đánh giá chất lượng câu hỏi của Đề thi VNU-EPT)
Ngoài ra tác giả cũng phân tích 19 đợt thi VNU-EPT 4 kỹ năng để đo năng lực thí sinh với mẫu đánh giá nhỏ nhất là 124 thí sinh và mẫu lớn nhất là 3.556 thí sinh/kỳ thi
Dữ liệu bài thi được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng VITESTA (dùng để phân tích các câu hỏi theo CTT và IRT, hỗ trợ chấm thi và chuyển đổi các thang điểm) để đo năng lực các thí sinh, đồng thời cũng để đo chất lượng các câu hỏi và đề thi Phép đo kép này có thể thực hiện được nhờ hiệu quả của quy luật thống kê giúp tính các đại lượng cần thiết bằng các phép tính thống kê tương quan cổ điển và theo thuyết trắc
nghiệm hiện đại (Lâm Quang Thiệp, 2008) (Phụ lục 2: Phân tích đánh giá chất lượng thí sinh dự thi VNU-EPT)
Dựa trên các tham số cho việc phân tích về độ khó và độ phân biệt của câu hỏi và
đề thi, ĐHQG-HCM đã rà soát lại các câu hỏi chưa đạt chất lượng để bổ sung hoặc thay mới nhằm phát triển ngân hàng câu hỏi, đề thi
Đồ thị phân bố độ khó và năng lực của thí sinh - đề thi VNU-EPT 13/9/2015
Kết quả phân tích cho thấy câu hỏi trong đề thi VNU-EPT có độ tin cậy cao Hiện nay, tác giả đã thực hiện phân tích và có cơ sở dữ liệu khoa học của 20 bộ đề VNU-EPT cho ĐHQG-HCM, các bộ đề còn lại đang trong quá trình thu thập đủ mẫu để phân tích và hoàn thiện
Trang 93.2 Đánh giá độ tin cậy của VNU-EPT qua phân tích tính ổn định của đề thi
Tác giả đã thực hiện phân tích độ tin cậy của đề thi VNU-EPT qua dữ liệu của 802 thí sinh đã tham gia kỳ thi VNU-EPT từ 2 lần trở lên (thí sinh có số lần thi nhiều nhất
là 10 lần), với các bộ đề khác nhau trong ngân hàng dữ liệu đề thi và khoảng cách thời gian giữa 2 lần thi: (1) Ít nhất là 4 tuần; (2) Trung bình là 32 tuần; (3) Xa nhất là 50 tuần Qua phân tích có 3 nhóm:
- Nhóm 1: Trình độ thí sinh không thay đổi qua nhiều lần thi chiếm 21.82%;
- Nhóm 2: Trình độ thí sinh dao động 1 cấp độ qua nhiều lần thi chiếm 57%.
Trong đó, 76.03% có kết quả bài thi lần sau đạt trình độ cao hơn các bài thi trước đó 1 cấp độ Theo nhận xét của tác giả, sự chênh lệch này có thể do thí sinh chưa quen dạng thức VNU-EPT trong kỳ thi đầu, nhưng do rút được kinh nghiệm qua kỳ thi trước và có sự chuẩn bị và đầu tư nên thí sinh có kết quả khả quan hơn ở kỳ thi sau 23.97% có kết quả bài thi lần sau cùng thấp hơn 1 cấp độ
so với trước Kết quả này cho thấy có thể là do trình độ của các thí sinh này đang ở ngưỡng giữa 2 cấp độ, hoặc do ảnh hưởng tâm lý, khoảng cách giữa các lần thi, mức độ chuẩn bị cho các kỳ thi, v.v;
- Nhóm 3: Trình độ thí sinh dao động nhiều (hơn 1 cấp độ) qua các kỳ thi chiếm
20.95% Theo nhận định của tác giả, sự chênh lệch này phần nào cũng chịu ảnh hưởng từ yếu tố tâm lý, khoảng cách giữa các lần thi, mức độ đầu tư và chuẩn
bị cho kỳ thi, v.v
Kết quả phân tích cho thấy chất lượng, độ khó của các đề thi VNU-EPT là gần như tương đồng và từ đó có thể đánh giá khá chính xác trình độ của thí sinh theo tiêu chuẩn
của thang đo quốc tế (Phụ lục 3: Phân tích đánh giá tính ổn định của đề thi VNU-EPT).
3.3 Đánh giá tính tiệm cận chuẩn mực quốc tế của VNU-EPT qua đối sánh với
các đề thi tiếng Anh quốc tế
Để đối sánh đề thi VNU-EPT với các đề thi tiếng Anh quốc tế trong phiên điểm tương đương, tác giả đề xuất ĐHQG-HCM tổ chức các kỳ thi khảo sát đối sánh kết quả với các chứng chỉ quốc tế TOEFL, IELTS, TOEIC cho 447 thí sinh nhằm phân tích so sánh kết quả điểm thi VNU-EPT so với các mức điểm chuyển đổi tương đương
Trang 10các đề thi tiếng Anh quốc tế Bảng quy đổi điểm tương đương này được xây dựng trên
cơ sở tham khảo các thang đo quốc tế, sau đó được điều chỉnh dựa trên kết quả các kỳ thi đối sánh cho các thí sinh tự do đã từng tham dự kỳ thi quốc tế Kết quả thi cho thấy các mức điểm quy đổi giữa các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế và Chứng chỉ VNU-EPT
khá tương đồng (Phụ lục 4: Phân tích kết quả thi đối sánh với các kỳ thi quốc tế).
So sánh VNU-EPT với TOEFL-iBT & IELTS (mức chênh lệch trình độ giữa hai bài thi 4 kỹ năng)
- Nhóm 1: các thí sinh không có chênh lệch trình độ giữa hai bài thi (điểm VNU-EPT và điểm thi quốc tế 4 kỹ năng) Kết quả phân tích cho thấy có 20/44 thí
sinh, chiếm 45.4% (gần một nửa) tỷ lệ thí sinh không có chênh lệch trình độ giữa hai bài thi Điều này chứng tỏ tính tương đồng cao trong thang phiên điểm trình độ giữa bài thi VNU-EPT và các bài thi quốc tế 4 kỹ năng
- Nhóm 2: các thí sinh có trình độ lệch thấp 1 cấp (điểm VNU-EPT thấp hơn quốc tế) Có 14/44 thí sinh, chiếm 31.8% tỷ lệ thí sinh có trình độ (điểm thi
VNU-EPT) lệch thấp 1 cấp so với điểm thi quốc tế TOEFL & IELTS 4 kỹ năng Phân tích kết quả tác giả cho rằng, mặc dù đã từng ôn luyện các chứng chỉ quốc
tế 4 kỹ năng, nhưng thí sinh có thể chưa quen với bài thi VNU-EPT nên có một
số thí sinh đạt kết quả VNU-EPT thấp hơn so với điểm thi quốc tế
- Nhóm 3: các thí sinh có trình độ lệch cao 1 cấp (điểm VNU-EPT cao hơn quốc tế) Có 10/44 thí sinh, chiếm 22.7% tỷ lệ thí sinh có trình độ (điểm thi
VNU-EPT) lệch cao hơn 1 cấp so với điểm thi quốc tế TOEFL & IELTS 4 kỹ năng Kết quả phân tích cho thấy những thí sinh có trình độ ổn định hoặc cao hơn thể hiện qua bài thi rơi vào nhóm thí sinh có trình độ kiến thức tiếng Anh cao, có thể là do sau khi thi chứng chỉ quốc tế, họ vẫn tiếp tục học tập, ôn luyện tiếng Anh nên có được kết quả khả quan Khoảng cách thời gian dự thi giữa kỳ thi
Tổng số thí sinh tham gia đối sánh: 447
TOEFLiBT 4/447 (0.91%)
IELTS 40/447 (8.95%)
TOEFL-ITP 44/447 (9.98%)
TOEIC 359/447 (81.41%)