ĐỀ CƯƠNG 2 I. TÊN CHỦ ĐỀ 3 II. MÔ TẢ CHỦ ĐỀ 3 III. MỤC TIÊU GIẢNG DẠY 3 IV. THỜI GIAN GIẢNG DẠY 3 V. NỘI DUNG CHỦ ĐỀ 3 MỤC TIÊU GIẢNG DẠY Tự nhận thức là một kỹ năng giúp không chỉ giúp cho Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) hiểu rõ, chấp nhận, yêu mến bản thân mình (nhận diện được mặt mạnh, mạnh yếu, khả năng…) mà còn giúp họ định vị được bản thân trong mối quan hệ với thân chủ với tư cách là người cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, NVCTXH cũng cần được trang bị kỹ năng này để giúp cho thân chủ của họ cũng có kỹ năng nhận thức bản thân. Đây là kỹ năng quan trọng của NVCTXH, vì trong công tác xã hội thực hành thì mối quan hệ giữa thân chủ và NVCTXH là một thành phần quan trọng của tiến trình giúp đỡ và mối quan hệ này là một sự chuyên nghiệp, do đó, NVCTXH cần phải thực hành và phát triển kỹ năng này với tư cách là người cung cấp dịch vụ. Chủ đề này nhằm cung cấp kiến thức, thái độ và kỹ năng về tự nhận thức bản thân cho các NVCTXH để giúp họ có thể nhận diện và chấp nhận bản thân một cách chính xác và sâu sắc, qua đó, có hành động phù hợp trong các hoàn cảnh cụ thể khi làm việc với thân
Trang 1Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
NĂNG ĐỘNG NHÓM
Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này.
Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
TỰ NHẬN THỨC
Trang 2MỤC LỤC
ĐỀ CƯƠNG 2
I TÊN CHỦ ĐỀ 3
II MÔ TẢ CHỦ ĐỀ 3
III MỤC TIÊU GIẢNG DẠY 3
IV THỜI GIAN GIẢNG DẠY 3
V NỘI DUNG CHỦ ĐỀ 3
TÀI LIỆU PHÁT 5
Bài 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ NHẬN THỨC 6
I KHÁI NIỆM CƠ BẢN 6
II Ý NGHĨA CỦA TỰ NHẬN THỨC 7
III ĐẶC ĐIỂM CỦA TỰ NHẬN THỨC 7
Bài 2: NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VIỆC THỰC HÀNH & PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC 9
I TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỰ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 9
II TỰ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI BẢN THÂN NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI .10 III NỘI DUNG TỰ NHẬN THỨC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI THÂN CHỦ 11
PHỤ LỤC 12
GIÁO ÁN 13
A Mục tiêu khóa học: 14
B Kế hoạch tập huấn 14
HOẠT ĐỘNG CHUNG (phần 1) 15
HOẠT ĐỘNG CHUNG (phần 2) 23
Bế giảng (25 ph) 23
Trang 3ĐỀ CƯƠNG
Trang 4I TÊN CHỦ ĐỀ: “TỰ NHẬN THỨC”
Tự nhận thức là một kỹ năng giúp không chỉ giúp cho Nhân viên công tác xã hội
(NVCTXH) hiểu rõ, chấp nhận, yêu mến bản thân mình (nhận diện được mặt mạnh, mạnhyếu, khả năng…) mà còn giúp họ định vị được bản thân trong mối quan hệ với thân chủ với
tư cách là người cung cấp dịch vụ Ngoài ra, NVCTXH cũng cần được trang bị kỹ năng này
để giúp cho thân chủ của họ cũng có kỹ năng nhận thức bản thân
Đây là kỹ năng quan trọng của NVCTXH, vì trong công tác xã hội thực hành thì mốiquan hệ giữa thân chủ và NVCTXH là một thành phần quan trọng của tiến trình giúp đỡ vàmối quan hệ này là một sự chuyên nghiệp, do đó, NVCTXH cần phải thực hành và pháttriển kỹ năng này với tư cách là người cung cấp dịch vụ
Chủ đề này nhằm cung cấp kiến thức, thái độ và kỹ năng về tự nhận thức bản thân chocác NVCTXH để giúp họ có thể nhận diện và chấp nhận bản thân một cách chính xác vàsâu sắc, qua đó, có hành động phù hợp trong các hoàn cảnh cụ thể khi làm việc với thânchủ, đồng nghiệp
III MỤC TIÊU GIẢNG DẠY
Sau khi kết thúc việc học tập chủ đề này trong 01 ngày, người học có thể:
- Về kiến thức:
Hiểu rõ khái niệm tự nhận thức và những khái niệm liên quan
Hiểu rõ được tầm quan trọng của kỹ năng này
Nhận diện bản thân mình cũng như thân chủ, đồng nghiệp
Nhận ra tầm quan trọng của nhận thức bản thân trong vai trò củaNVCTXH như là nhà cung cấp dịch vụ
- Về kỹ năng:
Thực hành được các bài tập rèn luyện tự nhận thức
Ứng dụng kỹ năng này khi làm việc với thân chủ, đồng nghiệp
- Về thái độ:
Chấp nhận và yêu mến bản thân của mình, thân chủ và đồng nghiệp
Tin tưởng vào thân chủ
Trang 5- Tự nhận thức mang tính nhiều chiều
- Tự nhận thức là quá trình thay đổi liên tục
- Tự nhận thức chịu ảnh hưởng từ những đánh giá bên ngoài
Bài 2: NVCTXH với việc thực hành và phát triển kỹ năng tự nhận thức
1) Tầm quan trọng của tự nhận thức đối với NVCTXH
2) Tự nhận thức với bản thân NVCTXH
3) Nội dung tự nhận thức trong mối quan hệ với thân chủ
VI Phương pháp giảng dạy
- Trình bày có sử dụng hình ảnh minh họa, thẻ màu
- Sử dụng âm nhạc làm nền cho các bài tập
- Sử dụng phương pháp vẽ, vẽ sơ đồ tư duy
- Thảo luận nhóm cặp đôi và nhóm lớn
- Sắm vai
- Sử dụng các câu chuyện tình huống để phân tích
- Sử dụng các video clip có liên quan
- Ưu tiên thực hành nhiều hơn lý thuyết
VII Yêu cầu học tập
- Tham dự lớp đầy đủ
- Tham gia thảo luận nhóm tích cực
- Chia sẻ kinh nghiệm
- Đọc thêm tài liệu
VIII Tài liệu tham khảo
[1] Lê Chí An dịch (1999) Công tác xã hội cá nhân, Ban xuất bản Đại học Mở Tp.
Hồ Chí Minh
[2] Nguyễn Thị Oanh 2010 Kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên NXB Trẻ
[3] Nguyễn Thị Oanh 2008 Hạnh phúc - Phải lựa chọn, NXB Trẻ
[4] Nguyễn Thị Oanh 1998 Công tác xã hội đại cương NXB Giáo Dục
[5] Th.s Đòan Tâm Đan và Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích (2005) Công tác xã hội cá
nhân Tài liệu Tập huấn SDRC, lưu hành nội bộ.
[6] Th.s Chu Dũng và Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích (2009) Công tác xã hội cá nhân.
Tài liệu Tập huấn của SDRC, lưu hành nội bộ
[7] GS.TS Phạm Huy Dũng (chủ biên) 2006 Bài giảng Công tác xã hội - Lý thuyết và
thực hành công tác xã hội trực tiếp NXB Đại học Sư Phạm
[8] Social Work Education Project (SWEP) - Vietnam Certificate Course on Social
Work Administration Module 1.2 – Human Behaviour and Social Environment
[9] Johari Window - Kiwipedia
[10] Choices: Developing Your Self-Awareness
http://frank.mtsu.edu/~cfrost/crazy/choices.htm
Trang 6TÀI LIỆU PHÁT
Trang 7là khởi điểm cho việc làm chủ bản thân và tạo ra những gì ta muốn.
Tự nhận thức là một khả năng hiểu biết mạnh mặt, mặt yếu, giá trị, quan điểm,tính khí, nhu cầu, ước vọng, cảm xúc, sợ hãi2 Những suy nghĩ về chính mình (tôithông minh, tôi tháo vát, tôi là người chậm chạp, tôi là trụ cột trong gia đình, tôi lànhân viên công tác xã hội, tôi ân cần, tôi không kỳ thị và phân biệt người có H…)nhằm vẽ nên một bức chân dung về chính họ Bức tranh này không chỉ mô tả hìnhdáng bên ngoài mà còn mô tả cảm xúc, năng lực, vai trò, trách nhiệm của họ đối vớingười khác
Tóm lại, tự nhận thức là một kỹ năng mà qua đó mỗi cá nhân hình dung, khám
phá chính mình là người như thế nào và thường soi theo đó để hành động
2 Hình ảnh bản thân
Hình ảnh bản thân là cách mà chúng ta nghĩ và đánh giá về bản thân Hình ảnhnày là những nhận thức tương đối ổn định của một người về chính họ và, nhữngnhận thức này ảnh hưởng mạnh tới hành động và cách chúng ta quan hệ với ngườikhác Nói cách khác, hình ảnh bản thân là cách mỗi cá nhân hình dung, khái quátchính mình như thế nào và thường soi đó mà hành động
Ví dụ: Chị A được xem là một NVCTXH giỏi giữ bình tĩnh Có lần tức giận một
người và chị nghĩ “Tức quá! Phải cho nó một trận cho nó biết tay, nhưng dù saomình cũng là người biết giữ bình tĩnh, sử xự vậy cũng không hay cho lắm!” Nhưvậy chị A đã chiếu theo hình ảnh bản thân mà cư xử cho thích hợp
Khái niệm hình ảnh bản thân hình thành qua cách người thân nhìn và tỏ thái độ,đánh giá chúng ta Đôi khi nó cũng xuất phát từ một khiếm khuyết nội tại nào đó mà
ta không được người thân động viên khắc phục
3 Ý thức về giá trị bản thân (Lòng quý trọng bản thân)
Ý thức về giá trị bản thân (Self-Esstem) hay còn gọi là sự tự quý trọng bản thân làmột phần của khái niệm bản thân mà nó liên quan đến những đánh giá về chính giátrị của bản thân và là động lực thúc đẩy cá nhân tự vươn lên, là yếu tố cốt lõi để mộtnhân cách phát triển bình thường
Ví dụ: hình ảnh bản thân của một người nào đó về chính họ có thể là ít nói, hoặc
thích tranh luận, hoặc nghiêm nghị Sự ý thức giá trị bản thân của người đó là cáchngười đó đánh giá như thế nào về những thuộc tính này của mình Người đó có thểcảm thấy “hài lòng vì mình ít nói”, hoặc “xấu hổ vì tính hay tranh luận của mình”,hoặc “cảm thấy chán vì mình nghiêm nghị, không hài hước được như người khác”
1 http://www.canyons.edu/committees/leap/team1/15tips/tip13.asp
2 Nguyễn Thị Oanh
Trang 8Người có ý thức về giá trị bản thân cao không phải là người tự đề cao vì tài giỏihay đức hạnh Đó là người tự tin rằng mình xứng đáng để được hạnh phúc và thànhcông Giá trị đơn giản ở chỗ họ biết quý trọng bản thân Họ không phải lúc nào cũngthành công vang dội, họ là người bình thường nhưng khi vấp ngã thì họ biết cách trỗidậy Người có ý thức giá trị bản thân thấp có thể là người tài giỏi, thành đạt nhưngkhi vấp ngã họ khó vươn lên và dễ có xu hướng hủy hoại bản thân và, sa vào rượuchè, ma túy, mại dâm và dễ bỏ bỏ cuộc
Ý thức về giá trị bản thân thấp thường do lớn lên trong gia đình có vấn đề, hay có
sự đối xử thiếu tế nhị của phụ huynh: so sánh trẻ em hàng xóm, mắng nhiếc nặng nề
“suốt đời mày chẳng làm được tích sự gì Sao không bắt chước em mày để học thậtgiỏi cho tao nhờ !”
Tuy nhiên, ý thức bản thân tuy hình thành chủ yếu khi còn nhỏ nhưng không cốđịnh mà có thể thay đổi tùy hoàn cảnh, môi trường ở các thời điểm khác nhau, có thểđược điều chỉnh qua tham vấn, trị liệu tâm lý
II Ý NGHĨA CỦA TỰ NHẬN THỨC
Tự nhận thức là cảm nhận rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềmtin, động lực và cảm xúc Tự nhận thức cũng cho phép bạn hiểu về người khác, cách họcảm nhận về bạn cũng như thái độ và phản hồi của bạn Sự tự nhận thức là cơ sở/ nềntảng/ nền móng hỗ trợ tất cả các năng lực tư duy cảm xúc Nó phải có trước, bởi nếukhông hiểu bản thân và cảm xúc của mình, làm sao chúng ta có thể biết và hiểu cảm xúccủa người khác
Sự tự nhận thức giúp chúng ta biết được cái gì thúc đẩy mình và mình say mê cái gì.Điều này hướng chúng ta đến những công việc yêu thích, khiến chúng ta làm việc vui vẻ,hiệu quả Nó dẫn tới những mối quan hệ, cả trong công việc lẫn quan hệ cá nhân, ở đó,chúng ta sẽ đóng góp có tính xây dựng và tích cực hơn Và nó cũng dẫn đến cuộc sốngchân thật hơn cũng như làm cho chúng ta hài lòng hơn
Càng hiểu rõ bản thân, chúng ta càng có thể kiểm soát và lựa chọn hành vi muốn biểuhiện Sự tự nhận thức giúp chúng ta hiểu mình đang ở đâu, muốn đi đâu để sẵn sàng thayđổi nhằm đến được nơi cần đến Không có sự tự nhận thức, các cảm xúc có thể che mắtchúng ta, khiến ta trở thành người mà mình không muốn Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩcủa mình, chúng ta có thể lựa chọn cách hành động, hoặc phản ứng trong một tình huốngnào đó, hoặc với một người nào đó Sự lựa chọn này trở thành sức mạnh, một sức mạnhnội tại không ai có thể lấy đi Mặt khác, tự nhận thức cũng giúp cá nhân nhận rõ mình cónhững điểm yếu nào để có thể khắc phục kịp thời Đồng thời, cá nhân không tự mình đẩybản thân vào những thế yếu, theo đuổi những cái viển vông, không thực tế và không phùhợp với năng lực hiện có của mình
Ngoài ra, tự nhận thức cũng cho phép cá nhân hiểu về người khác, cách họ cảm nhận
về mình cũng như những thái độ và phản hồi của mình đối với người khác Thông qua
“tấm gương” là những cá nhân khác để mỗi người hiểu sâu sắc hơn về mình và có lốihành xử phù hợp với những cá nhân khác
III ĐẶC ĐIỂM CỦA TỰ NHẬN THỨC
1 Tự nhận thức mang tính nhiều chiều
Có nhiều chiều, hoặc nhiều khía cạnh khi nhìn về bản thân của con người Cáckhía cạnh này bao gồm:
- Thể lý: là cách mà ta nghĩ về cơ thể của ta, như ốm, mập, cao, lùn…
Trang 9- Năng lực trí tuệ bản thân: là cách ta nhận thức về sự thông minh, năng
khiếu, khả năng suy nghĩ logic, mặt mạnh và mặt yếu, vai trò của bản thân (làcon trai, con gái, con trưởng, NVCTXH…)
- Giá trị: là những suy nghĩ về bản thân liên quan tới những chuẩn mực đạo
đức, là thái độ, niềm tin, hành vi và những điều mà ta quý trọng và những điềunày định hướng cho ta hành động Ví dụ: yêu thương, cao thượng, chung thủy,giản dị…
- Tính khí/tính cách: là cách chúng ta nghĩ về bản thân là người nóng nảy, dễ
xúc động, lạc quan hay hoài nghi, yếm thế, hướng nội hay hướng ngoại, thíchlãnh đạo hay khống chế người khác…
Lưu ý: Ngoài ra, còn có niềm tin, ước mơ…
2 Tự nhận thức là một quá trình thay đổi liên tục
Tự nhận thức không có sẵn ngay khi chúng ta được sinh ra mà đây là một quátrình thu nhận, gìn giữ hay thay đổi nó Ngay trong những năm đầu đời khi đứa trẻbắt đầu phát triển thì chúng đã bắt đầu quá trình tìm hiểu mình là ai, và cứ thế suốtcuộc đời chúng ta tiếp tục xác định và thể hiện bản sắc cá nhân của mình Và cáchnhận thức về bản thân cũng thay đổi ở mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau
Ví dụ: khi còn nhỏ có thể ta cho rằng ta thông minh vì mọi người quanh ta đều
nâng niu, cưng chiều và khen ngợi ta thông minh Khi đi học ta lại nghĩ ta là người ngu đần vì thầy giáo ta luôn cho rằng ta không thông minh Như vậy, tự nhận thức bản thân ta cũng có thay đổi chứ không giữ nguyên như vậy hoài.
3 Tự nhận thức chịu ảnh hưởng những đánh giá từ bên ngoài
Ta thường biết mình qua sự phản ảnh của những người khác xung quanh như giađình, bạn bè, họ hàng, thầy cô… Qua đó, ta có được hình ảnh của bản thân Nhữngcách nhìn nhận và đánh giá từ bên ngoài này phụ thuộc vào quan điểm riêng của họ
Từ khi sinh ra và lớn lên, ta luôn tương tác với mọi người khác Qua đó, ta học cáchngười khác nhìn ta như thế nào và ta mang những quan niệm của họ vào trong chínhbản thân ta Quá trình này thường bắt đầu từ trong gia đình khi ta học cách cha mẹ
ta, anh em ta, người thân họ hàng của ta nhìn ta, quan niệm về ta như thế nào Khilớn lên, đi học, ta tương tác với các bạn cùng học, thầy cô giáo ta lại có thêm nhữngquan niệm khác về ta là ai Rồi về sau khi ta đi làm, ta lại biết thêm cách thức ngườilãnh đạo ta, đồng nghiệp ta nhìn ta ra sao Ta tiếp thu tất cả những cách nhìn này vàchúng trở thành một phần của cái gọi là ta là ai và ta hình dung, khái quát về ta nhưthế nào
Những cách nhìn về ta mà ta tiếp thu được không chỉ bị ảnh hưởng bởi nhữngngười mà ta tương tác mà còn bị ảnh hưởng bởi những quan niệm xã hội và nền vănhóa của thời mà ta đang sống
Trang 10Bài 2: NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VIỆC THỰC HÀNH & PHÁT TRIỂN
Như vậy, nhận thức bản thân là một đòi hỏi chuyên nghiệp đối với những nghề mà đốitượng tiếp xúc và giúp đỡ là con người Như một tác giả nói “nhân cách của những ngườinày chính là công cụ làm việc của họ” Nếu công cụ của người thợ mộc là cái bào, của anh
kỹ sư là máy móc thì công cụ của công tác xã hội (CTXH) chính là nhân cách, là phẩmchất con người của NVCTXH 3
Do đó, NVCTXH cần có năng lực tự nhận thức ở mức độ cao Nếu không có khả năngnày, nhân viên xã hội sẽ không thể khách quan đủ khi làm việc với thân chủ và sẽ áp đặtnhững ý muốn của mình lên thân chủ
Ví dụ: Nếu NVCTXH có thói quen độc tài bao biện thì thường hay áp đặt thân chủ,
nếu có xu hướng nói nhiều thì khó khăn trong việc lắng nghe và giữ bí mật của thân chủ,nếu không thật nhạy bén về chính mình thì rất dễ vi phạm sự tôn trọng của thân chủ
Ngoài ra, việc nhận ra rằng sự tự nhận thức không cố định mà có thể thay
đổi tùy theo hoàn cảnh nên NVCTXH hoàn toàn có thể giúp cho thân chủ của mình có được kỹ năng tự nhận thức
Khi NVCTXH làm việc mà không có kỹ năng tự nhận thức
1 Tránh né hoặc hoặc không biết cảm xúc của thân chủ
2 Phóng chiếu* những cảm xúc của bản thân lên thân chủ
3 Phản ứng không thích hợp khi những có những vấn đề không thể giải quyết chi phối khả năng trở nên khách quan của họ
4 Phản ứng cảm xúc lại với thân chủ nhưng không hiểu tại sao và như thế nào
5 Hành xử không thích đáng (chú ý một cách quá đáng, có cử chỉ xoa dịu quá mức…) vì
họ không ý thức về những tác động giới hạn của suy nghĩ cho rằng mình bất lực
6 Làm ngơ trước những phản ứng phòng thủ của thân chủ và không biết làm thế nào mà hành vi của NVXH ảnh hưởng tới người khác
7 Hành xử dựa trên nhu cầu cá nhân hơn là việc đáp ứng các nhu cầu và phản ứng của thân chủ
8 Tránh né hoặc hạn chế trong việc thiết lập mục tiêu, bởi vì, NVCTXH không biết nhu cầu chuyên nghiệp trong công việc
3 Nguyễn Thị Oanh
Trang 11*Phóng chiếu (project): Theo tự điển tâm lý, trong phân tâm học, phóng chiếu là cơ chế vô thức nơi đó lỗi lầm của bản thân được nhìn nơi nhân cách của người khác hơn là nhân cách của mình, nghĩa là một cơ chế phòng vệ vô thức (không có ý thức) đổ lỗi hay những điều tiêu cực của chính mình cho người khác
II TỰ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI BẢN THÂN NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã hộiNVCTXH cần ý thức rằng, vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề Phục vụthân chủ là trách nhiệm của NVCTXH, vì vậy, cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí côngviệc để mưu lợi cá nhân Đồng thời, NVCTXH cũng cần phải ý thức được khả năng trình
độ chuyên môn của bản thân có đáp ứng yêu cầu của công việc được giao hay không (tức
là cần nhận biết được trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình tới đâu)… Khigặp trường hợp quá phức tạp và vượt quá giới hạn khả năng cá nhân, thì NVCTXHchuyển giao trường hợp đang thụ lý cho NVCTXH khác giúp đỡ
Tự nhận thức về bản thân là một trong những nguyên tắc không thể thiếu được đốivới NVCTXH Nó giúp NVCTXH biết giới hạn về quyền lực của mình và có ý thứchoàn thiện bản thân để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao phó Việc nhận thức về bảnthân NVCTXH còn đảm bảo cho lợi ích cũng như quyền lợi của thân chủ trong trườnghợp vấn đề vượt quá khả năng của NVCTXH và cần chuyển tuyến Việc ý thức đượcyếu tố này giúp cho NVCTXH trung thực trong công việc, trung thực với khả năng củabản thân
Đồng thời, NVCTXH phải có khả năng nắm bắt suy nghĩ của mình, cảm xúc của thânchủ, mà không để cho các cảm xúc này chi phối quá trình suy nghĩ của mình Vì thế, nếu
có thể, NVCTXH nên duy trì một mức độ khoảng cách nhất định, bên cạnh sự đồng cảm
và mức độ cảm xúc nào đó để có thể giúp thân chủ giải quyết vấn đề một cách kháchquan và lập kế hoạch một cách thực tế
Tóm lại, việc nhận thức và chấp nhận bản thân của NVCTXH bao gồm:
- Hiểu biết bản thân: Biết rõ thể lý, cảm xúc, tình cảm, năng lực (kiến thức, kỹ năng)thái độ, hành vi, kể cả những mặt mạnh lẫn hạn chế
- Chấp nhận bản thân với những đặc điểm nêu trên Biết rõ những gì tôi có thể làm
và chấp nhận những gì tôi không thể làm, những gì tôi chưa giải quyết được
Ví dụ NVCTXH xuất thân trong gia đình mà người cha bạo hành mẹ và những
hình ảnh bạo hành đó vẫn còn ảnh hưởng tới suy nghĩ, hành vi của NVCTXH thì nên hạn chế tiếp nhận những thân chủ có vấn đề tương tự
- Nhận biết những tổn thương đặc biệt của bản thân và tìm cách ứng phó với chúng
Ví dụ: Thể lý yếu ớt, ứng phó bằng cách tập thể dục thể thao, quan tâm chế độ
dinh dưỡng Dễ xúc động ứng phó bằng cách đối diện với nhiều tình huống gây xúc động để rèn luyện cơ chế kềm chế xúc động
- Biết những gì tôi có thể làm và chấp nhận những gì tôi không thể làm
- Đặt ra các mục tiêu chuyên ngiệp dựa trên kiến thức, kỹ năng, thế mạnh và hạn chếcủa bản thân
Tóm lại, trong CTXH thực hành, đặc biệt là khi làm việc với cá nhân thì mối quan
hệ giữa thân chủ và NVCTXH là một thành phần quan trọng của quá trình giúp đỡ vàmối quan hệ này là một sự chuyên nghiệp Do đó, người NVCTXH cần có sự ý thức và
kỷ luật của việc tự nhận thức bản thân khi làm việc với thân chủ với tư cách là ngườicung cấp dịch vụ
Trang 12III NỘI DUNG TỰ NHẬN THỨC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI THÂN CHỦ
Khi làm việc với thân chủ với tư cách là người cung cấp dịch vụ, vì thế, NVCTXHkhông chỉ ý thức bản thân mình mà còn phải giúp thân chủ của mình cũng có được kỹnăng tự nhận thức này Nhận thức về bản thân và ý thức giá trị bản thân không cốđịnh, mà có thể thay đổi nếu đối tượng gặp môi trường tốt và nhất là gặp người biếtcách đối xử hay được sự giúp đỡ của các nhà tâm lý, các NVCTXH, do đó vai trò củaNVCTXH là quan trọng Những thân chủ là người rơi vào tệ nạn xã hội thường cómột hình ảnh tiêu cực về bản thân, nếu đến một trung tâm phục hồi mà được nhânviên đối xử với sự tin tưởng và tôn trọng, được khuyến khích để khắc phục yếu kém
và phát huy tiềm năng thì dần họ có thể thay đổi hình ảnh về bản thân mà họ có
NVCTXH phải nhận ra và tin vào khả năng của thân chủ, giá trị bản thân của thânchủ để, từ đó, không áp đặt ý nghĩ của mình lên thân chủ, hay có cái nhìn thương hại,ban ơn, làm thay cho thân chủ
Cụ thể, khi làm việc với thân chủ đòi hỏi NVCTXH cần có sự tự nhận thức như:
- Biết được khi nào tôi đồng hoá/ quá thấu cảm với thân chủ
- Nhận biết và chấp nhận những lĩnh vực dễ bị tổn thương và những vấn đề màNVCTXH không giải quyết được
- Luôn kiểm soát lời nói, cử chỉ hành vi thể hiện với thân chủ để biết được nhữngbiểu hiện quá mức thân thiện hoặc luôn nhắc nhớ lại những quy định của nghề
- Nhận biết và quản lý đối thoại bên trong con người NVCTXH
Ví
dụ khi thân chủ đang bày tỏ về câu chuyện của mình, NVCTXH không suy
nghĩ phán xét hay thầm dè bỉu thân chủ.
- Nhận diện và gọi tên những cảm xúc và hành vi mà bản thân nhân viên xã hội có
Ví dụ: NVCTXH biết mình đang phán xét, mất bình tĩnh… với thân chủ thông
qua suy nghĩ, phản ứng bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nên điều chỉnh kịp thời suy nghĩ, hành vi của mình
- Hiểu và kiểm soát được cơ chế phòng thủ cá nhân
Ví dụ khi thân chủ nổi nóng, NVCTXH có thể cũng sẽ mất bình tĩnh theo và có
phản ứng gay gắt lại với thân chủ Hiểu được như vậy thì NVCTXH sẽ tìm cách giữ thái độ bình tĩnh để tiếp tục làm việc với thân chủ.
- Hiểu những giá trị cá nhân và những ảnh hưởng của nó tới mối quan hệ tham vấn
Ví dụ: nếu NVCTXH đánh giá thấp và gay gắt hành vi bạo lực thì khi tham
vấn cho nam thân chủ cần ý thức, không để những suy nghĩ này ảnh hưởng tới việc ứng xử của mình với thân chủ
- Đặt ra các mục tiêu chuyên ngiệp dựa trên kiến thức, kỹ năng, thế mạnh và hạn chếcủa bản thân
Trang 13PHỤ LỤC
Cửa sổ JOHARI (Joe luft & Harry Ingham)
Mỗi người chúng ta là mộ kho báu, một phần đã được lộ ra, một phần chưa lộ ra JoeLuft và Harry Ingham đã vẽ ra một cửa sổ giúp chúng ta hiểu:
- Chúng ta có thể trưởng thành như thế nào trong việc tự nhận biết chính mình
- Làm sao chúng ta có thể xây dựng mối quan hệ làm việc tin tưởng hơn trongnhón và cộng đồng qua chia sẻ và phản hồi
Trang 14GIÁO ÁN
Trang 15Thời gian thực hiện: 01 ngày
A Mục tiêu khóa học:
Sau 01 ngày học, tham dự viên (TDV) có thể :
- Về kiến thức:
Hiểu rõ khái niệm tự nhận thức và những khái niệm liên quan
Hiểu rõ được tầm quan trọng của kỹ năng này
Nhận diện và chấp nhận bản thân mình cũng như thân chủ, đồng nghiệp
Nhận ra tầm quan trọng của nhận thức bản thân trong vai trò củaNVCTXH như là nhà cung cấp dịch vụ
- Về kỹ năng:
Thực hành được các bài tập rèn luyện tự nhận thức
Ứng dụng kỹ năng này khi làm việc với thân chủ, đồng nghiệp
- Về thái độ:
Chấp nhận và yêu mến bản thân của mình, thân chủ và đồng nghiệp
Tin tưởng vào thân chủ
B Kế hoạch tập huấn
(phút # ph) NGÀY 1
Sáng
8g00-11g30
- Khởi động đầu giờ
- Giới thiệu làm quen
30 ph
Bài 1: Tổng quan về Tự nhận thức
1 Các khái niệm
- Khái niệm tự nhận thức
- Khái niệm hình ảnh bản thân
- Khái niệm giá trị bản thân
Bài 2: NVXH với việc phát triển kỹ năng tự nhận thức
1 Tầm quan trọng của kỹ năng tự nhận thức với NVCTXH
Trang 16Thời gian Nội dung hoạt động Thời gian
Bế giảng
120 ph
HOẠT ĐỘNG CHUNG (Phần 1)
- Khởi động đầu giờ: Trò chơi dẫn nhập
Yêu cầu TDV đứng thành vòng tròn và chọn cho mình một biểu tượng màTDV thấy phù hợp nhất cho việc đại diện chính mình, sử dụng điệu bộ đểdiễn tả biểu tượng và giải thích tại sao chọn biểu tượng này
THV chia sẻ với TDV: Việc chọn cho mình một biểu tượng đại diện chotính cách, đặc điểm thể lý hay cho ước mơ cũng chính là việc chúng tađang suy nghĩ, đang tìm hiểu chính bản thân mình Khi suy nghĩ biểutượng thì thấy dễ dàng hay khó khăn tùy thuộc vào mức độ thực hành kỹnăng tự nhận thức bản thân Để hiểu sâu hơn về tự nhận thức và tại saoNVXH lại cần kỹ năng này thì hôm nay chúng ta học về “Tự nhận thức”
- Lấy mong đợi: Sử dụng giấy màu cắt hình hoa, quả để làm cây mong đợi.
Trong đó: Quả là mong đợi về kiến thứ, hoa: mong đợi về kỹ năng và lá làmong đợi về thái độ THV tổng hợp
- Xây dựng nội quy lớp học: TDV thảo luận những điều nên làm và không nên
làm trong khóa tập huấn
- Giới thiệu nội dung chủ đề
Trong thời gian chuẩn bị vào bài, mời TDV xem một đoạn video clip liênquan tới tự nhận thức