1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT CÁCH TIẾP CẬN QUẢN LÝ CA CÔNG TÁC XÃ HỘI

8 203 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 260 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIỚI THIỆU Công tác xã hội là một chuyên ngành phát triển từ cuối thể kỷ 18. Từ đó cho tới nay, công tác xã hội đã có những thay đổi lớn, đặc biệt là trong những năm gần đây (Cree 2002). Tuy nhiên, một khía cạnh cơ bản của khái niệm công tác xã hội vẫn được duy trì: đó là công tác xã hội đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp nhất mà con người đối mặt trong các môi trường phức tạp. Nhân viên công tác xã hội thường phải làm việc với các thân chủ đang ở trong tình huống bất lợi. Do đặc thù phức tạp của mình, công tác xã hội đòi hỏi nhân viên chuyên ngành phải được đào tạo tốt, nhằm đánh giá tình huống hiệu quả và có kế hoạch can thiệp phù hợp. Trong bài trình bày này, tôi đề xuất cách tiếp cận “lấy thân chủ làm trọng tâm” trong việc quản lý ca công tác xã hội và coi đây là một mô hình “hợp tác” trong việc cung cấp dịch vụ PHCN dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào mô hình này, rất cần thiết phải hiểu rõ về khái niệm, giá trị và các nguyên tắc của công tác xã hội. “Làm” công tác xã hội hoặc công tác chăm sóc, đòi hỏi không chỉ phải có kiến thức, hiểu các giả thuyết, vàhoặc có các kỹ năng thực hành phù hợp, mà còn phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc và giá trị đạo đức. Các nguyên tắc và giá trị đạo đức này dựa trên quyền con người và công bằng xã hội. Các giá trị cá nhân hướng con người trên đường đời và cũng chính các giá trị này sẽ hướng các nhân viên công tác xã hội (và các tổ chức của họ) quản lý thân chủ và làm việc với các đồng nghiệp. “Chuyên ngành công tác xã hội thúc đẩy các thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề quan hệ con người và trao quyền và giải phong con người nhằm nâng cao đời sống cho họ. Sử dụng các giả thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào cách con người tương tác với môi trường của họ. Do vậy các nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội đóng vai trò nền tảng trong công tác xã hội” (IASSWIFSW 2001) Có rất nhiều giá trị và nguyên tắc của công tác xã hội, ví dụ như trung thực, nhất quán, phẩm giá, tôn trọng v.v., nhưng một trong các nguyên tắc căn bản đó là trao quyền. Định nghĩa ở trên đã nhấn mạnh “trao quyền” cho con người nhằm nâng cao đời sống cho họ. Trao quyền là nền tảng trong công tác xã hội, nó là:

Trang 1

MỘT CÁCH TIẾP CẬN QUẢN LÝ CA CÔNG TÁC XÃ HỘI

(bài trình bày cho Hội thảo về Phục hồi Chức năng Dựa vào Cộng đồng,

Hạ Long, Việt Nam, 2-3/4/2010)

Tác giả: Trish Kane, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trung tâm Phát triển

Công tác Xã hội, Việt Nam

GIỚI THIỆU

Công tác xã hội là một chuyên ngành phát triển từ cuối thể kỷ 18 Từ đó cho tới nay, công tác

xã hội đã có những thay đổi lớn, đặc biệt là trong những năm gần đây (Cree 2002) Tuy nhiên, một khía cạnh cơ bản của khái niệm công tác xã hội vẫn được duy trì: đó là công tác

xã hội đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp nhất mà con người đối mặt trong các môi trường phức tạp Nhân viên công tác xã hội thường phải làm việc với các thân chủ đang

ở trong tình huống bất lợi Do đặc thù phức tạp của mình, công tác xã hội đòi hỏi nhân viên chuyên ngành phải được đào tạo tốt, nhằm đánh giá tình huống hiệu quả và có kế hoạch can thiệp phù hợp

Trong bài trình bày này, tôi đề xuất cách tiếp cận “lấy thân chủ làm trọng tâm” trong việc quản lý ca công tác xã hội và coi đây là một mô hình “hợp tác” trong việc cung cấp dịch vụ PHCN dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào mô hình này, rất cần thiết phải hiểu rõ về khái niệm, giá trị và các nguyên tắc của công tác xã hội “Làm” công tác xã hội hoặc công tác chăm sóc, đòi hỏi không chỉ phải có kiến thức, hiểu các giả thuyết, và/hoặc có các kỹ năng thực hành phù hợp, mà còn phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc và giá trị đạo đức Các nguyên tắc và giá trị đạo đức này dựa trên quyền con người và công bằng xã hội Các giá trị cá nhân hướng con người trên đường đời và cũng chính các giá trị này sẽ hướng các nhân viên công tác xã hội (và các tổ chức của họ) quản lý thân chủ và làm việc với các đồng nghiệp

“Chuyên ngành công tác xã hội thúc đẩy các thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề quan hệ con người và trao quyền và giải phong con người nhằm nâng cao đời sống cho họ.

Sử dụng các giả thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào cách con người tương tác với môi trường của họ Do vậy các nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội đóng vai trò nền tảng trong công tác xã hội” (IASSW/IFSW

2001)

Có rất nhiều giá trị và nguyên tắc của công tác xã hội, ví dụ như trung thực, nhất quán, phẩm giá, tôn trọng v.v., nhưng một trong các nguyên tắc căn bản đó là trao quyền Định nghĩa ở trên đã nhấn mạnh “trao quyền” cho con người nhằm nâng cao đời sống cho họ Trao quyền

là nền tảng trong công tác xã hội, nó là:

‘một chu trình qua đó các cá nhân, nhóm, và cộng động kiểm soát được các tình huống và đặt được các mục tiêu, do vậy cải thiện cuộc sống của họ’ (Woods, M et al 2007)

Trang 2

Dempsey và những người khác (1997) xác định trao quyền bao gồm 7 phần Trao quyền tập trung vào các nhu cầu cụ thể và các tình huống cụ thể đặt ra cho từng cá nhân và từng môi trường 7 phần này giúp thiết lập nền tảng cho cách tiếp cận của chúng ta trong công việc thực tế với các thân chủ và nhấn mạnh cách “lấy thân chủ làm trọng tâm” mà tôi đề xuất Các phần này cụ thể là:

Thay đổi – sự tin tưởng rằng tình huống có thể thay đổi hoặc tác động

Tham gia và Hợp tác – đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhiều lĩnh vực dịch vụ

Sự kiểm soát – sự thay đổi là do hành động của người có liên quan

Đáp ứng các nhu cầu cá nhân – Các thân chủ làm việc với các chuyên gia để xác định nhu

cầu thực tế của họ

Hiểu môi trường– đưa ra phân tích cụ thể về cơ cấu dịch vụ v.v.

Hành động cá nhân – có các cơ hội hỗ trợ cá nhân lựa chọn và được trao quyền

Tiếp cận các nguồn lực – phần này có thể bao gồm gia đình, bạn bè, nhóm cộng đồng, cá

nhân cũng như tài chính và các dịch vụ khác (Dempsey & Foreman 1997)

PHỐI HỢP, HỢP TÁC VÀ SỰ THAM GIA

Về cách tiếp cận liên quan tới việc “làm” công tác xã hội, đạo đức, giá trị và các nguyên tắc cung cấp nền tảng cần thiết để nhân viên công tác xã hội có thể thực hiện công việc của mình Dựa trên nền tảng này, khái niệm phối hợp và hợp tác đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ phù hợp, hiệu quả và cần thiết cho thân chủ Trong nhiều trường hợp, nhân viên công tác xã hội có thể là những người có bằng cấp khác nhau, tuy nhiên, họ vẫn có thể hợp tác nhằm phân tích, đánh giá và triển khai việc cung cấp dịch vụ để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu cùa thân chủ cho dù thân chủ của họ có thể là: trẻ em, người khuyết tật hay người nhiềm HIV/AIDS Nếu các nhân viên công tác xã hội là những người cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau giao tiếp và hợp tác hiêu quả đáp ứng các nhu cầu của thân chủ thì có khả năng các nhu cầu đa dạng của thân chủ sẽ được đáp ứng, từ y tế cho tới giáo dục, việc làm, cá nhân, tình cảm v.v Nhân viên công tác xã hội và các nhà quản lý ca có thể can thiệp vào các hệ thống dịch vụ để điều phối và hỗ trợ các dịch vụ hiện có và cải thiện tiếp cận tới các dịch vụ cần thiết thay mặt cho thân chủ của họ (NASW)

Vai trò của nhân viên công tác xã hội và nhân viên chăm sóc thông thường là để đảm bảo họ (và các tổ chức của họ) thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của những người sử dụng dịch vụ trong bất kỳ chu trình nào liên quan tới phúc lợi, quyền và bảo hộ Nhân viên công tác xã hội còn

có trách nhiệm kêu gọi sự cân bằng về quyền lực khi đàm phán các kế hoạch chăm sóc và các chiến lược khác nhằm đảm bảo đời sống cho người sử dụng dịch vụ Chúng ta cần phải ghi

Trang 3

 Tham vấn đầy đủ

 Tránh đơn phương ra quyết định trừ khi thực sự cần thiết (ví dụ như đối với trẻ em thuộc đối tượng bảo trợ)

 Duy trì nguyên tắc phối hợp và hợp tác

 Nguyên tắc tham gia đầy đủ đóng vai trò sống còn ở cấp đại diện (hoặc cá nhân) đối với việc lập kế hoạch, xây dựng chính sách và đào tạo

Lợi ích của việc tham gia tích cực đã được chứng minh rõ ràng (WHO/UNICEF, 1978) Một vài trong số các lợi ích của việc tham gia của cộng đồng/công dân là: công nhận kiến thức, quan điểm và kinh nghiệm của người dân địa phương trong việc xây dựng chiến lược/kế hoạch, tăng cường sự cam kết đối với dự án/kế hoạch do tăng quyền sở hữu, kiến thức và kỹ năng của những người có liên quan (ví dụ giúp họ có khả năng làm việc), nhiều nguồn lực địa phương hơn dành cho các dự án/kế hoạch và tăng cường “kiến thức xã hội” cho tất cả những bên có liên quan, cả nhân viên và thân chủ

Khái niệm “sự tham gia” không còn là mới mẻ và có quan hệ mật thiết với các nguyên tắc

“trao quyền” Vào cuối những năm 60, Sherry Arnstein đề xuất sử dụng công cụ dưới đây để đánh giá mức độ trao quyền cho công dân Công cụ này ngày nay được công nhận, sử dụng

và áp dụng vào nhiều lĩnh vực để đánh giá không chỉ mức độ tham gia của cá nhân mà còn cho cả tổ chức (Hart 1992) Để hoạt động hiệu quả, các tổ chức phải hoàn thành đánh giá một cách đầy đủ và trung thực sự tham gia ở mọi cấp

Trang 4

Thang đánh giá sự tham gia của công dân của Arnsteins (1969)

Tôi cho rằng để CBR diến ra hiệu quả trong mô hình thực tiễn, nó phụ thuộc vào việc nâng cao vị thế của thân chủ để họ có thể tham gia ở mức cao hơn trong nấc thang ở mô hình trên Như đã được thảo luận ở phía trên, các giá trị của người hành nghề hay một tổ chức sẽ được phản ảnh thông qua thái độ và phương pháp tiếp cận thân chủ Điều này sẽ được chứng minh qua cách mà hai bên giao tiếp với nhau Giao tiếp được dựa trên nền tảng của sự tham gia ở mức độ cao (và cùng với quan hệ đối tác) sẽ dẫn tới sự cởi mở, trung thực và tin tưởng- một thành phần thiết yếu cho sự thành công của các kế hoạch chăm sóc dựa vào cộng đồng hay cá nhân Giả sử rằng xã hội luôn ở trong trạng thái biến đổi, Tôi gợi ý rằng việc thường xuyên suy nghẫm và học hỏi của cá nhân và tổ chức là cần thiết để phân tích, đánh giá và giải quyết những thành kiến có thể tồn tại Điều này chỉ có thể thông qua sự đánh giá thường xuyên, trung thực mà qua đó tích luỹ được các giải đáp để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thân chủ, tối

đa hoá đầu ra của các dịch vụ được cung cấp

QUẢN LÝ CA TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Thang càng cao, bạn càng có nhiều quyền và sự kiểm soát trong việc ra quyết định đối với các vấn đề có liên quan tới bạn Bạn được “trao

quyền” trong việc tương tác và tham gia đầy đủ trong môi trường/ cộng đồng/tổ chức của mình

Thang càng cao, bạn càng có nhiều quyền và sự kiểm soát trong việc ra quyết định đối với các vấn đề có liên quan tới bạn Bạn được “trao

quyền” trong việc tương tác và tham gia đầy đủ trong môi trường/ cộng đồng/tổ chức của mình

Trang 5

thông qua việc giao tiếp và sử dụng các nguồn lực để thúc đẩy những kết quả có chất lượng cao và hiệu quả về mặt chi phí (CMSA 2009)

Phương pháp quản lý ca chứa đựng các khái niệm, kỹ năng, lý thuyết, kỹ thuật và thực hành

vể công tác xã hội đã được thiết lập Đây là một phương pháp được vận dụng rộng rãi trong nhiều các dịch vụ liên quan đến con người và lĩnh vực sức khoẻ Nó là một khía cạnh không thể thiếu của công tác xã hội thực hành, nó yêu cầu người hành nghề phát triển các kỹ năng

và phẩm chất cần thiết để đảm bảo rằng các nguồn lực được sử dụng hiệu quả và có những phản hồi phù hợp đáp ứng nhưng nhu cầu của thân chủ Các nhu cầu này thường mang tính đặc thù, đa dạng và phức tạp; nó yêu cầu thân chủ tiếp cận đến nhiều các đơn vị cung cấp dịch vụ khác nhau trong nhiều lĩnh vực Như đã bàn thảo ở trên, để việc cung cấp các dịch vụ được hữu hiệu nó cần phải được định hướng dựa trên sự quan tâm, nhu cầu và những ước muốn của thân chủ, và bởi vậy nó được gọi là “lấy thân chủ làm trung tâm” Điều này là tối quan trọng khi định hướng và xây dựng kế hoạch chăm sóc Kế hoạch phải được tập trung và

“dẫn dắt bởi nhu cầu”, quan trọng hơn, người hưởng lợi của kế hoạch chăm sóc như thân chủ

sẽ phải cảm nhận được mình là chủ của bản kế hoạch chăm sóc cho chính họ Bởi vậy, kế hoạch được lập với sự “lựa chọn” tham gia của thân chủ, từ đó tăng các cơ hội và khả năng thành công trong việc đáp ứng các nhu cầu của họ

Xét cho cùng thì một phương pháp mang tính hợp tác và đối tác là bắt buộc để đánh giá và chia sẻ vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm đối với việc cung cấp dich vụ liên quan đến chăm sóc xã hội Nếu chúng ta kiểm chứng định nghĩa CBR (UNESCO 1994) thì thấy rằng phương pháp quản lý ca là thích hợp, liên quan và rất phù hợp để quản lý và điều phối việc cung cấp các dịch vụ CBR cho người khuyết tật

“ Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR) là một chiến lược nằm trong phát triển cộng đồng vì sự phục hồi, cân bằng các cơ hội, và sự hoà nhập xã hội của tất cả người khuyết tật CBR được triển khai thông qua sự kết hợp các nỗ lực của bản thân người khuyết tật, gia đình và cộng đồng của họ, và các dịch vụ thích hợp liên quan đến sức khoẻ, giáo dục, nghề nghiệp và xã hội” (UNESCO 1994)

Thường thì trong các giai đoạn đầu của quản lý ca, nhân viên xã hội sẽ đảm nhiệm vai trò dẫn dắt trong giai đoạn đánh giá ban đầu Điều thiết yếu là thân chủ có cơ hội “tham gia đầy đủ

và có ý nghĩa” bởi vì các vấn đề thường phức tạp và xuất hiện trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau Thân chủ thường biết và hiểu các vấn đề này tốt hơn bất kỳ ai Bởi vậy;

“ Việc đánh giá yêu cầu kiến thức rộng mang tính hệ thống về môi trường sống của người sử dụng dịch vụ và các hệ thống rộng hơn ảnh hưởng đến nó”(Parker & Bradeley 2007)

Ý tưởng của “phương pháp lấy thân chủ làm trung tâm” trong quản lý ca không phải là mới, một cách tổng quan, Tôi cho rằng nó bao gồm: việc chuyển đến và sàng lọc (thu thập thông tin), đánh giá và tư vấn (bao gồm quản lý rủi ro), xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch chăm sóc, triển khai kế hoạch, giám sát và đánh giá lại kế hoạch chăm sóc (Kane, T 2010)

Trang 6

Quản lý ca - “phương pháp lấy thân chủ làm trung tâm” (Kane 2010)

Tôi xin gợi ý chia phương pháp này thành 2 giai đoạn chính:

GIAI ĐOẠN 1

 chuyển đến và sàng lọc (thu thập thông tin)

 đánh giá và tư vấn (bao gồm quản lý rủi ro),

 xác định nhu cầu (thể chất, xã hội, cảm xúc, y tế, việc làm, giáo dục, vv)

Trong giai đoạn này phần lớn công việc sẽ được hoàn thành bởi nhân viên xã hội cùng với thân chủ dựa trên các nguyên tắc của việc nâng cao năng lực và vị thế, đối tác, và sự tham gia Kết quả của giai đoạn này là xác định được những nhu cầu cụ thể dựa trên một quá trình đánh giá cặn kẽ chẳng hạn như mô hình ASPIRE (Sutton 1999) Việc đánh giá là chìa khoá cho sự thực hành hiệu quả không phân biệt lĩnh vực chuyên sâu của bạn là gì, và như vậy nó thích hợp với CBR và công tác làm việc với người khuyêt tật Nếu việc đánh giá đạt hiệu quả thì các biện pháp can thiệp có nhiều khả năng để thành công hơn (Milner và cộng sự 2000) Chỉ sau khi đã có sự đánh giá cặn kẽ và xác định định được những nhu cầu cụ thể chúng ta

Đánh giá và Tư vấn

Xác định nhu cầu

Xây dựng kế hoạch chăm

sóc Triển khai kế hoạch,

Giám sát và Đánh giá lại kế

hoạch chăm sóc

Chuyển đến và sàng lọc

Phương pháp lấy thân chủ làm trung tâm

Trang 7

 xây dựng kế hoạch chăm sóc

 triển khai kế hoạch

 đánh giá lại kế hoạch chăm sóc (có thể tiến hành như một vòng tuần hoàn các hoạt động)

Giai đoạn này bao gồm một sự kết hợp giữa các nhà chuyên môn, các đơn vị cung cấp dịch

vụ ở nhiều dạng cũng như của thân chủ Họ thường tham gia vào 3 công đoạn trên Giai đoạn này nên được dựa trên các nguyên tắc của việc nâng cao năng lực và vị thế, đối tác, và sự tham gia, và nên nỗ lực thúc đẩy tinh thần hợp tác với các đơn vị cung cấp dịch vụ Điều này bắt đầu với việc rà soát các nhu cầu đã được xác định và tiếp tục làm việc thông qua một tiến trình đối thoại mà cuối cùng tạo ra được một kế hoạch chăm sóc phù hợp đáp ứng nhu cầu của thân chủ Tiến đến việc xác định các giải pháp can thiệp cụ thể, triển khai và đánh giá lại các hành động và kế hoạch

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

Kế hoạch được xây dựng bởi rất nhiều thông tin thu được từ nhiều nguồn, bao gồm nhà cung cấp dịch vụ, hệ thống/mạng lưới xã hội/các vấn đề xã hội liên quan… Kế hoạch thường được xây dựng bởi khách hàng và đại diện nhà cung cấp dịch vụ Sau một quá trình tham khảo lâu dài, kế hoạch mới được xây dựng

Nhìn chung, có 3 bước xây dựng kế hoạch (Kane 2008) Sau đây, các bước xây dựng kế hoạch quản lý trường hợp sẽ được trình bày ngắn gọn, tổng quan:

Bước 1 – Chuẩn bị: trước khi xây dựng kế hoạch cụ thể

Bước này mang lại cơ hội để xác nhận và chỉ ra vì sao các cuộc họp về kế hoạch lại cần thiết, đảm bảo rằng khách hàng được thông báo hoàn toàn về quá trình xây dựng kế hoạch, cơ hội được đặt câu hỏi, xác định những ai nên tham gia vào xây dựng kế hoạch, thảo luận về những vấn đề thực tiễn của cuộc họp, vd như: thời gian, địa điểm, giấy mời, đi lại… Bước này cũng

đi kèm với bước thu thập thông tin Khách hàng nên có những người thân, bạn bè, người ủng

hộ, trợ lý tham gia cùng trong cuộc họp

Bước 2 – Buổi họp:

Nhìn chung, các buổi họp thường bí mật, thường có chương trình, chủ tọa (thường là người quản lý trường hợp, hoặc các CBXH), thư ký ghi chép lại các quyết định Các buổi họp thường dành nhiều thời gian trao đổi về những nhu cầu đã được xác định trước Tuy nhiên, các buổi họp cũng cần có nội dung mềm dẻo, không cứng nhắc để đảm bảo có những ý tưởng mới từ những nhà cung cấp dịch vụ Những hoạt động cụ thể cũng cần phải được chỉ ra Mục đích can thiệp thường phải rõ ràng, được đông đảo người tham gia tán thành Cuối buổi họp, các vấn đề cần phải được tổng kết lại, xem xét và xác nhận rõ vai trò và trách nhiệm của các

Trang 8

bên Quyết định được thực hiện và rà soát nội dung thực hiện trong buổi họp tiếp theo (Thường là 3 tháng sau buổi họp đầu tiên)

Bước 3: Tiến hành:

Bước này vai trò của CBXH rất quan trọng trong việc tiến hành những quyết định được đưa

ra Ngay sau khi bước 2 kết thúc, bước 3 bắt đầu Khi quá trình can thiệp bắt đầu và các khách hàng đáp lại, các hoạt động hỗ trợ, ủng hộ phải rõ ràng với khách hàng, và cả những người cung cấp dịch vụ CBXH đóng vai trò giám sát, liên kết giữa nhà cung cấp dịch vụ và những nhu cầu của khách hàng Bước này kết thúc bởi những hoạt động, những nhiệm vụ và những kết quả đầu ra, nhưng nó cũng có thể dẫn tới những khía cạnh khác, 1 hoặc 2 vấn đề khác có thể phát triển thành những kế hoạch tiếp theo

Một số thử thách của cách tiếp cận “khách hàng là trung tâm” trong quản lý trường hợp cho CBR:

• Thiếu hiểu biết về cách tiếp cận của các nhà cung cấp dịch vụ

• Nhu cầu được lãnh đạo và liên kết – thường là của các CBXH

• Thái độ “tôi biết nhiều nhất” với các nhà cung cấp dịch vụ - khó thay đổi quan điểm

• Nhu cầu đào tạo

• Thiếu nguồn lực/chuyên gia

• Thiếu nguồn cung cấp dịch vụ đảm bảo nhu cầu

• Khách hàng có những kinh nghiệm không tốt về “quyền lực” – từ chối tham gia

Một số lợi ích từ cách tiếp cận “khách hàng là trung tâm” cho CBR

• Dựa trên những nguyên tắc về con người – vd như tất cả chúng ta đều muốn được coi trọng, được quan tâm và được lắng nghe

• Khách hàng là người chỉ ra những nhu cầu tốt nhất

• Các tổ chức/cơ quan xác nhận nhu cầu của khách hàng, từ đó thông báo các quyết định về nguồn lực để triển khai

• Tiếp cận và sử dụng dịch vụ tốt hơn

• Nâng cao chất lượng đầu ra từ việc xác định nhu cầu

• Cách tiếp cận hiệu quả, chuyên nghiệp với các vấn đề xã hội

Nâng cao chất lượng cuộc sống cho các bên hưởng lợi

Đối với các CBXH làm việc trong lĩnh vực này, người thường xuyên vấp phải những khó khăn trong các yêu cầu và nhiệm vụ, khi đang tìm hiểu về các cách tiếp cận, bây giờ có thể là lúc để chúng ta cùng nhìn nhận lại giá trị của những nội dung mà ta đã cùng làm việc Có phải chính con người đã tạo ra tất cả những sự đa dạng? Nó có liên quan đến các giá trị nhân cách, sự kính trọng và bình đẳng xã hội? Có phải những hoạt động thực hành bắt nguồn từ cách tiếp cận “quyền lợi là cơ sở” – nhân tố chính của liên kết, hợp tác? Cuối cùng, trong phạm vi một bài viết cá nhân, chúng ta cần nhớ rằng CTXH không thuộc về một cơ quan, tổ chức riêng biệt nào, nó thuộc về mọi cá nhân Chúng ta đều có khả năng “quan tâm”, nhưng

Ngày đăng: 14/08/2019, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w