con người vừa là sản phẩm lịch sử vừa là chủ thể sáng tạo bản thân mình. Hoạt động của con người là hoạt động tự do và có ý thức. Quan hệ xã hội là sự giao tiếp hiện thực của thực thể xã hội. Sự sống của con người là bản thân lao động và lao động là nhu cầu, mục đích của đời sống. Lao động làm bộc lộ các thuộc tính, giá trị, phẩm chất, tài năng của con người và khẳng định mình trước nhịp điệu, cường độ của xã hội. Mọi sự tốt đẹp có nguồn gốc từ lao động, còn những tiêu cực, hạn chế, mâu thuẫn xã hội có nguyên nhân từ tha hóa lao động. Sự tha hóa lao động làm cho lực lượng không phải người nói chung thống trị tất cả. Khắc phục sự tha hóa ấy phải là nhận thức, làm chủ mình qua một quá trình rất khó khăn và lâu dài trong hiện thực, đó là chủ nghĩa cộng sản.
Trang 1VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG
BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844
Nguyễn Anh Quốc *
Tóm tắt, con người vừa là sản phẩm lịch sử vừa là chủ thể sáng tạo bản
thân mình Hoạt động của con người là hoạt động tự do và có ý thức Quan hệ xã hội là sự giao tiếp hiện thực của thực thể xã hội Sự sống của con người là bản thân lao động và lao động là nhu cầu, mục đích của đời sống Lao động làm bộc lộ các thuộc tính, giá trị, phẩm chất, tài năng của con người và khẳng định mình trước nhịp điệu, cường độ của xã hội Mọi sự tốt đẹp có nguồn gốc từ lao động, còn những tiêu cực, hạn chế, mâu thuẫn xã hội có nguyên nhân từ tha hóa lao động Sự tha hóa lao động làm cho lực lượng không phải người nói chung thống trị tất cả Khắc phục sự tha hóa ấy phải là nhận thức, làm chủ mình qua một quá trình rất khó khăn và lâu dài trong hiện thực, đó là chủ nghĩa cộng sản.
Từ khóa: tự nhiên, con người, xã hội, tự do, lao động tha hóa
Vấn đề con người và cuộc sống con người, như bản chất, giá trị con người,vai trò, vị trí con người trong thế giới; đặc biệt là vấn đề giải phóng con người; xâydựng và phát triển hoàn thiện con người, đưa con người “từ vương quốc tất yếusang vương quốc của tự do”1 luôn là vấn đề được nhân loại quan tâm và là vấn đềtrung tâm của triết học Nó được nhiều nghành khoa học nghiên cứu với những trithức phong phú đa dạng, ở những góc độ khác nhau Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việcchia tách con người thành các yếu tố, các bộ phận để nghiên cứu sẽ không tránh
* * TS Nguyễn Anh Quốc, Trưởng Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
1C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 20, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1994, tr.393.
Trang 2khỏi sự phiến diện, thiếu triệt để trong sự nghiệp giải phóng con người Khác vớikhoa học cụ thể ấy, với tính cách là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất,triết học nghiên cứu con người một cách tổng thể, khái quát, căn bản nhất, đó làvấn đề bản chất con người và vấn đề giải phóng con người Tuy nhiên, do nhữngchế định của lịch sử, các nhà tư tưởng trong lịch sử chưa đưa ra được những quanđiểm và phương pháp thực sự khoa học về vấn đề con người và vấn đề giải phóngcon người.
Trên cơ sở thực tiễn lịch sử - bối cảnh xã hội giữa những năm 50 của thế kỷXIX ở nước Đức đặt ra, và sự kế thừa có phê phán triết học Heghel, kinh tế chínhtrị học, các quan điểm không tưởng về xã hội thì C.Mác đã phân tích vấn đề conngười một cách toàn diện Triết học Mác về con người có sự thay đổi căn bản vềchất, mang tính khoa học, cách mạng trong việc tiếp cận ý nghĩa, giá trị của hiệnthực đời sống ngay từ những năm đầu có sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác.C.Mác đã phê phán tư tưởng của Luther là “ông đã giải thoát con người khỏi tínhtôn giáo bên ngoài bằng cách biến tính tôn giáo thành thế giới bên trong của conngười Ông đã giải phóng thể xác khỏi xiềng xích bằng cách quảng xiềng xích lêntâm hồn con người”2 Quan điểm duy vật lịch sử về con người được trình bày một
cách khá tập trung trong tác phẩm Bản thảo kinh tế chính trị - triết học năm 1844,
về hình thức đây là một công trình nghiên cứu về kinh tế gắn với điều kiện chínhtrị đương thời nhưng mục đích của nó còn tiến xa hơn ở luận điểm triết học về giảiphóng con người, đó là khoa học về con người Theo Mác, khoa học phải đượcxuất phát từ “cơ sở của đời sống con người hiện thực, còn như lấy một cơ sở nàycho đời sống và một cơ sở khác cho khoa học thì ngay từ đầu đó là một sự nóiláo”3
2C.Mác – Ph.Âng-ghen Tuyển tập, Tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.26.
3C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.178-179
Trang 3Việc nghiên cứu con người, “bản thân khoa học về con người là một sảnphẩm của việc con người biểu hiện bản thân mình một cách thực tiễn”4, điều đó nóđòi hỏi khái quát toàn bộ lịch sử nhân loại Nhưng “Tiền đề đầu tiên của toàn bộlịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”5.Những cá nhân sống ấy được sinh thành và phát triển từ thế giới tự nhiên, mangđầy đủ, đặc tính của thế giới tự nhiên, “con người là một bộ phận của giới tựnhiên”6 Trong tự nhiên thì nguyên nhân sinh ra kết quả, khả năng thành hiện thực
là quan hệ phụ thuộc tất yếu Con người được nuôi dưỡng, bao bọc để sinh thành,phát triển bởi vạn vật, vũ trụ thì con người thuộc về thế giới tự nhiên mà khôngthuộc về mình, con người là nô lệ của cái tất yếu C Mác xem xét con người khôngchỉ ở mặt tự nhiên mà còn phải xem xét con người ở mặt xã hội trong hoạt độngthực tiễn C.Mác cho rằng con người “được phú cho những lực lượng tự nhiên,những lực lượng sống, nó là thực thể tự nhiên hoạt động; những lực lượng đó tồntại trong nó dưới hình thức thiên bẩm và năng lực, dưới hình thức năng khiếu”7 Đó
là “tài sản tinh thần có tính loài của con người”8 làm cho “cảm giác của con người
xã hội là những cảm giác khác với những cảm giác của con người phi xã hội”9
nhưng “Cảm giác bị nhu cầu thực tiễn thô lậu cầm tù chỉ có một ý nghĩa hạn
hẹp” 10
Sự tồn tại của con người là hiện tượng tất yếu mà trước hết thì nó giống như
và mang đầy đủ đặc tính của các dạng tồn tại khác - động vật, đó là phải thực hiện
4C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.209 5C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 43, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2004, tr.29.
6C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.135.
7C.Mác – Ph.Ăng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,2000, tr.232
8C.Mác – Ph.Ăng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.138.
9C.Mác – Ph.Ăng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.175.
10C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.176.
Trang 4các hành vi để thỏa mãn các nhu cầu sinh lý tự nhiên như ăn, uống, sinh con đẻcái… Theo C.Mác “Cố nhiên là ăn, uống, sinh con đẻ cái, v.v., cũng là những chứcnăng thực sự có tính người Nhưng trong khái niệm trừu tượng tách chúng khỏiphạm vi hoạt động khác của con người và biến chúng thành những mục đích cuốicùng và duy nhất thì những chức năng ấy mang tính súc vật”11 Vậy mục đích sinh
sống và những chức năng thực sự có tính người ấy là gì?
Sự khác nhau giữa con người với các hiện tượng khác không phải là ở tồn
tại mà là ở sinh vật có tính loài C.Mác viết: “Con vật tự đồng nhất mình một cách
trực tiếp với hoạt động sinh sống của nó Nó không tự phân biệt nó với hoạt động
sinh sống của nó Nó là hoạt động sinh sống ấy Còn con người thì biến bản thân
hoạt động sinh sống của mình thành đối đượng của ý chí và ý thức của mình Hoạtđộng sinh sống của con người là hoạt động sinh sống có ý thức”12 Đặc tính loàicủa con người là hoạt động có ý thức, có ý chí; đó là một trong những đặc điểmcăn bản nhất của con người và giúp cho con người hiểu biết các sự vật, những quyluật của thế giới Nhờ “tính cách là ý thức loài, con người khẳng định sinh hoạt xãhội hiện thực của mình và chỉ lặp lại - trong tư duy - tồn tại hiện thực của mình,cũng như ngược lại tồn tại loài tự khẳng định mình trong ý thức loài và tồn tại đốivới mình trong tính phổ biến của mình như một thực thể đang tư duy”13 Nghĩa là ítnhất nó giúp con người biết đang làm gì trong hiện tại, biết đã làm gì trong quá khứ
và cần làm gì trong tương lai Biết quá khứ hiểu ra nguyên nhân của hiện tại vàhiểu tương lai biết mục đích cuộc sống Cuộc sống hiện tại bị quy định bởi nhữngnguyên nhân và mục đích, nó là đối tượng của con người Con người chọn lực đốitượng ấy, bản chất của vấn đề lựa chọn là tự do
11C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.133 12C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.136 13C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.171
Trang 5Tôi là con người, tôi là một thực thể xã hội; cái thuộc về con người là cái
của tôi Điều này, “nó là sự giải quyết thực sự mâu thuẫn giữa con người và tựnhiên, giữa con người và con người, là sự giải quyết thực sự cuộc tranh chấp giữatồn tại và bản chất, giữa sự đối tượng hóa và sự tự khẳng định, giữa tự do và tấtyếu, giữa cá thể và loài” 14 Ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển xã hội bắtđầu từ sự tự do và cuối cùng của sự văn minh ấy cũng chính là tự do Ph.Ăng –ghen viết: “tự do là ở sự chi phối được chính bản thân mình và tự nhiên bên ngoài,một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên; do đó, nótất yếu là một sản phẩm của sự phát triển lịch sử Những con người vừa mới tách rakhỏi súc vật thì trong tất cả mọi mặt cơ bản cũng đều không tự do chẳng khác gìbản thân súc vật; nhưng mỗi bước tiến trên con đường văn minh lại là một bướctiến tới tự do”15 Mác viết: “Người ta không thể bàn về đạo đức và pháp quyền màlại không nói đến vấn đề gọi là tự do ý chí, lương tri của con người, quan hệ giữatất yếu và tự do”16
Sự phát triển phong phú về mặt vật chất và bản chất con người thì sự đadạng cảm giác chủ quan của con người phát triển ra những nhu cầu mới, đó là
“những cảm giác có khả năng về những sự hưởng thụ có tính chất người và tự khẳng định mình như những lực lượng bản chất của con người”17 Năm giác quan
bên ngoài và cảm giác tinh thần như ý chí, tình yêu…, tất cả là “cảm giác của con
người, tính người của cảm giác chỉ nảy sinh nhờ có đối tượng tương ứng, nhờ bản
tính đã nhân hóa”18 Năm giác quan bên ngoài nảy sinh từ đối tượng của thế giới tựnhiên, nó phụ thuộc, làm nô lệ cho tự nhiên Tự nhiên giam hãm con người trong14C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.167 15C.Mác – Ph.Âng-ghen Tuyển tập, Tập V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.164.
16C.Mác – Ph.Âng-ghen Tuyển tập, Tập V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.162
17C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.176 18C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.176.
Trang 6hoàn cảnh cụ thể, chật hẹp nên sức chứa đối tượng của năm quan: thở, uống, ăn,nghe, thấy là có giới hạn và hoạt động sinh sống của con người dựa trên những nhucầu này biểu hiện ra là phụ thuộc tự nhiên Cảm giác tinh thần thì khác, đối tượngcủa nó không phải là thế giới tự nhiên mà là xã hội, tức đối tượng của nó là nhữngsản phẩm do nó sáng tạo ra bằng hoạt động của con người Sự sáng tạo ra đốitượng như thế nào thì nó cũng hấp thụ hết bấy nhiêu như: tình yêu, hạnh phúc màchứa mãi không đầy và hoạt động sinh sống của con người dựa trên những nhu cầunày trở thành tự do.
Người cùng khổ bị sự lo lắng đói khát dày vò mà hờ hững với cảnh tượngtuyệt đẹp, kẻ buôn khoáng vật chỉ thấy giá trị ở thương nghiệp mà không thấy vẻđẹp, tính độc đáo của nó Nhưng nhu cầu đạt được khi con người bắt đầu từ hiệnthực, cái đang có và đang tồn tại Không đòi hỏi người khác cái không có, hạnhphúc phải là cái mình có, hạnh phúc không phải là cái của mình thì đó là hạnh phúcgiả, là bất hạnh và tình yêu có ở nơi con người là tình yêu chân thật, nó không có ởcon người là sự giả dối của tình yêu Những vấn đề như hạnh phúc, tình yêu, đạođức, trí tuệ, âm thanh của nốt nhạc… không có nơi con người, thì việc đòi hỏi có
nó là giả dối, là không tưởng, là bất hạnh và cũng chỉ làm khổ nhau mà thôi Sự đốitượng hóa bản chất con người là tất yếu, tức đối tượng sẽ được biến đổi theo nhu
cầu của con người, đó là “một mặt nhân hóa cảm giác của con người, mặt khác tạo
ra cảm giác con người tương ứng với toàn bộ sự phong phú của bản chất con người
và tự nhiên”19
Tuy nhiên, cái mà mình có mới chỉ là điều cần mà chưa đủ để khả năngthành hiện thực, nguyên nhân thành kết quả thì đòi hỏi vai trò của con người, đó làcon người có muốn hay không mà thôi, muốn thì được mà bỏ thì mất, đương nhiênmuốn phải xuất phát từ khách quan Mọi sự tốt đẹp là bản thân đã thụ hưởng nơi19C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.176.
Trang 7chính mình C.Mác viết: “Nếu anh muốn ảnh hưởng tới những người khác thì anhphải là người thực sự kích thích và thúc đẩy người khác Mối quan hệ của anh đối
với con người và đối với tự nhiên phải là một biểu hiện của đời sống cá nhân hiện
thực của anh, một biểu hiện xác định, đáp ứng đối tượng của ý muốn của anh”20.Như vậy, con người đòi hỏi từ chính mình trên cơ sở đáp ứng của đối tượng nhưng
con người bắt đầu từ nhận thức về mình, do mình quyết định và nó là sự tự tiêu
dùng, tức là sự chiếm hữu “đời sống con người, con người đối tượng hóa và các tácphẩm của con người bởi con người và vì con người cũng vậy, cần phải hiểu nókhông những theo ý nghĩa sự hưởng dụng vật phẩm một cách trực tiếp, mộtchiều”21 mà là sự sáng tạo, trong đó thống nhất giữa sản xuất và tiêu dùng, hy sinh
và thụ hưởng, theo C Mác, “hoạt động của con người là hoạt động tự do”22
Nét đặc sắc của con người là hoạt động thỏa mãn nhu cầu Con người luônsuy tính, tính toán để dự kiến được kết quả trên cơ sở những quy luật tất yếu để từ
đó có lựa chọn cho đối tượng của mình Con người là một sinh vật có tính loài mà
về thực tiễn cũng như về lý luận, “con người biến loài, cả loài của mình cũng nhưloài của những vật khác, thành vật của mình,… và do đó là một thực thể tự do”23
Tự do là nhận thức cái tất yếu và tuân thủ cái tất yếu Tất yếu trong mối quan hệnguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực là rất đa dạng, phong phú Trongđời sống xã hội, mối quan hệ giữa nguyên nhân sinh ra kết quả, khả năng thànhhiện thực chỉ khi có vai trò của con người tham gia trong quá trình ấy Những kếtquả, hiện thực khác nhau trong quá trình đó trở thành đối tượng, mục đích mà conngười theo đuổi Mục đích xuyên suốt và mục đích tối cao, tối hậu là toàn bộ thếgiới thuộc về con người, con người là chủ nhân sở hữu toàn bộ thế giới, là sự sáng20C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.216 21C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.172 22C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.136 23C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.134.
Trang 8tạo, chi phối thế giới và tự nhiên trở thành nô lệ của con người Nhưng thực chất
“mục đích sau hết, cuối cùng không phải là của cải mà là sự hưởng lạc” 24
Sự hưởng lạc hiện thực là sự chiêm ngưỡng bản thân về sáng tạo của conngười, trong đó có sự thống nhất giữa hy sinh và hưởng thụ; sản xuất và tiêu dùng
Sự sáng tạo của con người không phải là sản phẩm của sự tưởng tượng, cũngkhông phải cái mà chỉ là biểu tượng để con người muốn đạt được, mà tất cả mọi sựsáng tạo tốt đẹp ấy là hiện thực có ở chính đời sống xã hội của con người TheoC.Mác con người “là thực thể tự nhiên hoạt động; những lực lượng đó tồn tại trong
nó dưới hình thức thiên bẩm và năng lực, dưới hình thức năng khiếu”25; Cái thiênbẩm, năng lực, năng khiếu ấy là sức mạnh của sự thật, công tâm, khách quan và sựgiàu có ở công sức, trí tuệ, tài năng, tình yêu thương, đức độ…, nên “thể xác conngười tồn tại được là nhờ có con người”26 – con người là tập tin nén của toàn bộthế giới cần được giải mã Sức mạnh, sự giàu có ở con người là để sáng tạo ra thếgiới đúng với bản tính của nó, đó là sự bao bọc, che chở, chăm sóc muôn loài, vạnvật một cách âm thầm lặng lẽ mà không kể công, khoe khoang, phô trương hìnhthức để đòi chia phần mình và cũng là thanh thản khi đã làm hết chức trách củamột con người
Vì tất cả thế giới là của mình, “con người nhân đôi mình không chỉ về mặttrí tuệ…, mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực và conngười ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra”27 Khi đó mọikhiếm khuyết nếu có thì chấp nhận hết trách nhiệm thuộc về con người với tinhthần cầu thị, nhân từ, hiền hòa, khoan dung, đầy lòng vị tha mà không chê trách,đổi lỗi cho ai; khi đó không thấy con người làm gì mà uy nghi đến mức mọi việc24C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.197 25C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.232 26C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.181 27C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.137
Trang 9cứ chuyển biến tốt đẹp; trắng đen, thị phi, phải trái lẫn lộn đều được làm sáng rõ;
phản động có nổi lên đều phải quy phục Đó lý do “tại sao sự sáng tạo là biểu
tượng rất khó trừ bỏ khỏi ý thức của nhân dân”28 và nên cần “học cách tin tưởngvào con người”29 Khiếm khuyết và đầy đủ ở nơi con người là toàn mỹ mà thế giới
tự nhiên có tưởng tượng cũng không thể lý giải được là tại sao con người lại vinhquang đến thế, vì nhờ sự sáng tạo “giới tự nhiên biểu hiện ra là tác phẩm của nó(con người)”30 Lúc đó, thế giới sẽ quỳ gối, nghiêng mình, cúi đầu còn miệng cangợi mà chẳng khen chê vào đâu được về sự hiện thực của con người, ngoài nhữnglúc đó, tự nhiên nếu có chê trách, dằn vặt về thân phận nô lệ của nó thì cũng phải
kính cẩn mà nói: tại sao tôi không thuộc về con người Giá trị thực tiễn của chủ
nghĩa Mác về con người là không nhầm lẫn với các hình thức tôn giáo, các tưtưởng khác trong lịch sử
Thật vậy, “bản thân con người là bản chất tối cao của con người”31, “đối với
con người thì bản thân lao động, bản thân hoạt động sinh sống, bản thân đời sống sản xuất hóa ra chỉ là một phương tiện để thỏa mãn một nhu cầu của anh ta, nhu
cầu duy trì sự sinh tồn thể xác Còn đời sống sản xuất thì chính là đời sống có tínhloài Đó là đời sống đẻ ra đời sống Tính chất của hoạt động sinh sống bao hàmtoàn bộ tính chất của một chủng loài nhất định, tính loài của nó, và hoạt động tự
do, có ý thức chính là tính chất loài của con người”32 Có ý thức và hoạt động tự do
mà không thành công, không hiệu quả, không đạt được mục đích thì đó là bất lực
và bất hạnh Vậy vấn đề còn lại là làm thế nào để những điều tồi tệ ấy không xảyra?
28C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.180 29C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.125 30C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.137 31C.Mác – Ph.Âng-ghen Tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr 35.
32C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.136.
Trang 10Tự do cá nhân là một thực thể xã hội có cá tính, nhân cách và bản sắc độcđáo riêng; có nhu cầu, mục đích khác nhau “Sinh hoạt cá nhân và sinh hoạt loàicủa con người không phải là một cái gì khác biệt, mặc dù phương thức tồn tại củasinh hoạt cá nhân tất nhiên là một biểu hiện hoặc là đặc thù hơn, hoặc là phổ biếnhơn của sinh hoạt loài, còn sinh hoạt loài là một sinh hoạt cá nhân hoặc là đặc thùhơn, hoặc là phổ biến”33 Nhưng dù cái riêng, cái đặc thù, các hiện tượng của đờisống có phức tạp, phong phú như thế nào thì nó vẫn có cái chung, sâu sắc, bảnchất, tất yếu, phổ biến của tự do là lao động Lao động là hoạt động đặc trưng, hiệntượng này là cơ sở cho sự khác nhau với tự nhiên, động vật “Lao động là điều kiện
cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, hơn nữa là đến một mức mà trênmột ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã tạo ra chính bản thân conngười”34, “Còn khi nói đến lao động thì người ta trực tiếp bàn đến bản thân conngười”35 Lao động làm cho bản thân mình được sáng tạo, đối tượng lao động luônđược mới tạo ra và những giá trị thụ hưởng nơi con người có sự gia tăng về lượng.Nếu con người không lao động thì chỉ là hoạt động có tính bản năng tự nhiên vàcũng không có gì khác ngoài cái lặp lại trong cảm giác, tạo ra lờn mòn cảm giác
Những hiện tượng xã hội như “Tôn giáo, nhà nước, gia đình, nhà nước, phápluật, đạo đức, khoa học, nghệ thuật,v.v chỉ là những hình thức đặc biệt của sảnxuất và phục tùng quy luật chung của sản xuất”36, “Có thể phân biệt con người vớisúc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản
thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản
xuất ra những sinh hoạt của mình”37 Trong quá trình con người sản xuất ra những33C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.171 34C.Mác – Ph.Âng-ghen Tuyển tập, Tập V, Nxb Sự thật, hà Nội, 1980, tr.491.
35C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.144 36C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.168 37C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 43, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2004, tr.29.
Trang 11sinh hoạt của mình thì bản thân lao động được thể hiện ở các hình thức như làmviệc, khẳng định, thể hiện, phát huy, trọng dụng, đãi ngộ, sự cống hiến, phục vụ,suy nghĩ và lao động bộc lộ thuộc tính, giá trị của nó về năng lực, phẩm chất nhưsức khỏe, khôn ngoan, tài năng, trí tuệ, dũng cảm, gan dạ, nghĩa tình, yêu thương,kính trọng, quý mến; cường độ của lao động như sự nhanh nhẹn, siêng năng, cần
cù, hoạt bát, miệt mài, tận tụy được thể hiện ở thời gian sản xuất; vai trò của laođộng là tác động, cải tạo, biến đổi, sáng tạo đối tượng theo nhu cầu của con người
và đối tượng đáp ứng tác động đến chủ thể lao động được no đủ, ngon miệng, đượctôn trọng, hạnh phúc, được tình yêu, thích thú, thỏa mãn, vui vẻ, bình yên, an lành
Sự trao đổi cho nhau giữa những con người là sự cho nhau những thuộc tính, giátrị, cường độ của nhau C Mác viết: “những tài năng và những loại hoạt độngnhiều vẻ nhất có thể có ích cho nhau, bởi vì người ta biết tập họp những sản phẩmkhác nhau của mình thành một khối chung, từ trong đó mỗi người có thể mua chomình cái mà người đó cần Vì phân công lao động xuất hiện từ xu thế trao đổi, chonên nó lớn lên và được giữ lại trong những giới hạn nhất định tùy theo quy mô củatrao đổi, của thị trường Trong trạng thái văn minh mỗi người là một thương nhân,còn xã hội là một xã hội thương nghiệp”38 Mọi giá trị của xã hội có nguồn gốc từlao động Con người như một “phai nén” của thế giới, mở phai nén, giải mã thôngtin của vũ trụ thông qua hoạt động lao động của con người Lao động là hiện tượngphổ biến của xã hội thì những biểu hiện và giá trị của nó như năng lực, phẩm chấttrở thành mẫu số chung, điểm tương đồng cho sự khác biệt gữa các quốc gia, dântộc Mỗi quốc gia dân tộc có truyền thống, văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau
và mỗi giai đoạn lịch sử có quan điểm về lập trường khác nhau giữa các giai cấpnhưng ở bất cứ đâu, giai đoạn nào thì lao động và những phẩm chất, năng lực tốt
38C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.205
Trang 12đẹp ấy đều là của con người, nó là cơ sở cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốcgia, dân tộc trong những điều kiện đầy sự biến động của thế giới
Lao động là nhu cầu, mục đích của con người Theo Mác, “con người thì sảnxuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xáctrực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi không bị khỏi nhu cầu thể xác ràngbuộc, và chỉ khi không bị nhu cầu đó ràng buộc thì con người mới sản xuất theo ýnghĩa chân chính của từ đó”39 “Nếu sự hao phí thời gian và sức người cần thiết đểthỏa mãn một số lượng nhu cầu vật chất nào đó giảm đi một nửa so với trước thìthời gian thừa ra để hoạt động tinh thần và hưởng thụ tinh thần tăng thêm” 40 Trongquá trình sinh sống mà trừ những khi thỏa mãn các nhu cầu sinh lý tự nhiên như
ăn, uống, sinh con… thì khoảng thời gian còn lại là lao động Nếu không tìm cáchình thức lao động khác nhau để lấp vào khoảng trống thời gian cho đầy thì conngười trong bản thân họ đã chết, vì họ không thể hiện được bản thân, không khẳngđịnh chính mình, không bộc lộ ra những thuộc tính, cường độ, nhịp điệu của xã hội
ở nơi mình, và không thưởng thức những thành quả do mình tạo ra “Lao động là
sự sống”41 Mọi sự liên quan đến con người không có gì là phi lý, nếu có thì sự phi
lý duy nhất, đó là con người đã bị nhốt trong thân xác mình Mục đích sống là ở
bản thân lao động, “con người lần đầu tiên khẳng định mình là một sinh vật có tính
loài Sự sản xuất đó là đời sống có tính loài tích cực của con người… Do đó đối
tượng của lao động là sự đối tượng hóa đời sống có tính loài của con người”42
"Cho thuê lao động của mình có nghĩa là bắt đầu cuộc sống nô lệ của mình; cho
39C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.137 40C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.83 -84 41C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.87
42C.Mác – Ph.Âng-ghen Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.137.