1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ và tăng sinh tế bào thần kinh của rau đắng biển (Bacopa monnieri (L.) wettst) trên mô hình chuột nhắt mất tế bào thần kinh bởi Trimethyltin

60 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình chuột TMT… .... Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên chuộ

Trang 1

(Bacopa monnieri (L.) Wettst) TRÊN MÔ

HÌNH CHUỘT NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN

KINH BỞI TRIMETHYLTIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

(Bacopa monnieri (L.) Wettst) TRÊN MÔ

HÌNH CHUỘT NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN

KINH BỞI TRIMETHYLTIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Người hướng dẫn:

1 PGS.TS Nguyễn Thị Lập

2 TS Phạm Thị Nguyệt Hằng

Nơi thực hiện:

1 Bộ môn Hóa sinh

2 Viện Dược Liệu

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Phạm Thị Nguyệt Hằng –

Trưởng khoa Dược lý – Sinh hóa – Viện Dược liệu là người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Tiếp đến em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Lập – Bộ

môn Hóa sinh – Trường Đại học Dược Hà Nội Cô là người đã nhận em vào bộ môn cũng như tạo mọi điều kiện tốt nhất để giúp em tiến hành khóa luận tốt nghiệp

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị tại khoa Dược lý – Sinh hóa – Viện Dược liệu đã giúp đỡ, hướng dẫn em về kỹ thuật cũng như tạo điều kiện để em

có thể hoàn thành được nghiên cứu thực nghiệm tại khoa

Nhân dịp này, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy

cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian em học tập tại trường

Cuối cùng, em xin bày tỏ sự yêu thương và biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã luôn bên tôi, ủng hộ và động viên em, là chỗ dựa tinh thần vững chắc khi em gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống

Do thời gian làm thực nghiệm cũng như kiến thức của bản thân có hạn, khóa luận này còn có nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Đỗ Phương Anh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1.Tổng quan về dược liệu nghiên cứu: Rau đắng biển (Bacopa monnier L.) 3

1.1.1 Tên gọi………3

1.1.2 Đặc điểm thực vật, phân bố 3

1.1.3 Bộ phận dùng làm thuốc 4

1.1.4 Thành phần hóa học 4

1.1.5 Tác dụng dược lý 4

1.1.6 Tính vị, công năng 5

1.1.7 Công dụng ………5

1.1.8 Bài thuốc có Rau đắng biển 5

1.1.9 Một số nghiên cứu về BME 6

1.2 Tổng quan về suy giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ 7

1.2.1 Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ 7

1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 9

1.2.3 Thuốc điều trị 12

1.2.4 Một số mô hình nghiên cứu 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 18

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18

Trang 5

2.1.2 Động vật thí nghiệm 18 2.1.3 Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm 18

2.2 Phương pháp và nội dung nghiên cứu 20

2.2.1 Nghiên cứu tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình chuột TMT… 20 2.2.2 Đánh giá tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của cao chiết Rau đắng biển bằng phương pháp nhuộm Nissl 25

2.3 Xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên chuột bị mất tế bào thần kinh bởi Trimethyltin. 27

3.1.1 Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử nghiệm vị trí đồ vật (OLT) 27 3.1.2 Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ không gian của cao chiết Rau đắng biển bằng thử nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến 30 3.1.3 Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử nghiệm lẩn tránh thụ động 31

3.2 Đánh giá tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của BME trên mô hình chuột TMT bằng phương pháp nhuộm Nissl. 33

Trang 6

4.1.3 Về tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử nghiệm lẩn tránh thụ động 39

4.2 Về tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình chuột TMT bằng phương pháp nhuộm Nissl. 40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BME Bacopa monnier (L.)

Wettst Extract

Cao chiết Rau đắng biển

và cao chiết Rau đắng biển

và nước

Trang 8

OLT Object Location Test Thử nghiệm vị trí đồ vật

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ ngắn hạn của BME (50 mg/kg)

trên chuột TMT được đánh giá bằng thử nghiệm OLT

27

Trang 10

Hình 3.2: Tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của BME (50 mg/kg) trên chuột

TMT sau 18 và 33 ngày điều trị, được đánh giá bằng thử nghiệm mê lộ chữ Y

cải tiến

30

Hình 3.3: Tác dụng cải thiện suy giảm nhận thức của BME (50 mg/kg) trên

chuột TMT, được đánh giá bằng thử nghiệm lẩn tránh thụ động

32

Hình 3.4: Tác dụng của BME (50 mg/kg) trên các tổn thương tế bào thần kinh

gây bởi TMT ở vùng CA1 và CA3 của thùy hải mã Lát cắt não được nhuộm

Nissl với tím tinh thể 0.5% như mô tả phía trên

34

Hình 3.5: Tác dụng của BME (50 mg/kg) trên các tổn thương tế bào thần kinh

gây bởi TMT ở vùng CA1 và CA3 của thùy hải mã

35

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo một số nghiên cứu thống kê đã được công bố, sẽ có khoảng 63 triệu người bị

sa sút trí tuệ trên toàn thế giới vào năm 2030 Trong số những người sa sút trí tuệ, 60% sống ở các nước đang phát triển, con số này tăng lên 71% vào năm 2040 [44] Hội chứng

sa sút trí tuệ thường có tính chất mạn tính, tiến triển dần dần và thường trở nên tồi tệ sau một vài năm Chứng sa sút trí tuệ có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế và xã hội liên quan đến gánh nặng về chi phí y tế, chi phí chăm sóc, chi phí xã hội Trong khi đó, các phương pháp điều trị hiện tại không có hiệu quả kéo dài tuổi thọ, chữa khỏi, hoặc tạm dừng hoặc đảo ngược quá trình sinh lý bệnh Mặt khác, đa số các thuốc được sử dụng trong điều trị là tân dược và có nhiều tác dụng không mong muốn Do đó, việc nghiên cứu phát triển các loại thuốc mới không chỉ có hiệu quả trong việc ngăn chặn và điều trị sa sút trí tuệ mà còn

có thể sử dụng trong thời gian dài nhưng không gây ra các phản ứng bất lợi là rất cần thiết

Rau đắng biển có tên khoa học là Bacopa monnieri (L.) Wettst (BM) thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae), được biết đến như một cây thuốc ở Ấn Độ và Đông Nam Á

để tăng cường trí nhớ và cải thiện chức năng não bộ Ở Việt Nam, cây Rau đắng biển mọc hoang dại ở nhiều nơi, được người dân sử dụng làm rau ăn hàng ngày và điều trị một số bệnh như suy nhược thần kinh, động kinh, mất trương lực cơ theo kinh nghiệm dân gian

Các nghiên cứu trước đây sử dụng các mô hình động vật thiếu hụt nhận thức khác nhau đã chứng minh rằng việc điều trị bằng Rau đắng biển có tác dụng cải thiện trí nhớ và bảo vệ tế bào thần kinh chống lại sự tổn thương não bộ [33], [36], [48], [50], [57] Bằng chứng chỉ ra rằng Rau đắng biển làm giảm stress oxy hóa trong não và do đó bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi các độc tố gây stress oxy hóa [19], [53] Nó không chỉ làm giảm sự lắng đọng β-amyloid vùng đồi thị mà còn làm giảm tổn thương vùng đồi thị do stress [15]

Nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng cao chiết Rau đắng biển (BME) và chất

ức chế Cholinesterase Tacrine làm giảm sự thiếu hụt nhận thức ở chuột bị gây mất thùy khứu giác (OBX) Phát hiện này cho thấy phương pháp điều trị với BME có lợi cho chứng mất trí nhớ và các rối loạn thoái hóa thần kinh khác [37] Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ liệu tác dụng chống mất trí nhớ của chiết xuất BM có liên quan đến sự hình thành thần kinh nội sinh hay không

Trang 13

Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích:

1 Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình chuột nhắt bị mất tế bào thần kinh do Trimethyltin gây ra thông qua thử nghiệm vị trí đồ vật, thử nghiệm mê lộ chữ Y và thử nghiệm lẩn tránh thụ động

2 Đánh giá tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình chuột nhắt bị mất tế bào thần kinh do Trimethyltin gây ra thông qua phương pháp nhuộm Nissl

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về dược liệu nghiên cứu: Rau đắng biển (Bacopa monnier L.)

Hình 1.1: Cây Rau đắng biển (Bacopa monnier (L.) Wettst)

1.1.1 Tên gọi

Ở Việt Nam, Rau đắng biển còn có tên gọi khác là Sam trắng

Người Hindu giáo gọi Rau đắng biển là Brahmi [26]

Tên khác: Thyme – leaved granola (Anh)

Tên khoa học: Bacopa monnier (L.) Wettst, họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) [1]

1.1.2 Đặc điểm thực vật, phân bố

❖ Đặc điểm thực vật

Rau đắng biển là cây thảo, sống lâu năm, cao 10 – 20cm Thân nhẵn, phần gốc mọc bò, bén rễ ở những mấu, phần trên mọc đứng Lá mọc đối, không cuống, hình trái xoan, mọng nước, dài 0.8 – 1.2cm, rộng 3 – 5mm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn, chỉ gân giữa rõ Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá trên một cuống dài; lá bắc dạng lá, lá bắc con hình sợi; đài năm răng không bằng nhau, ba cái hình trái xoan, hai cái hình chỉ; tràng dài gấp hai lần đài, năm cánh gần bằng nhau; nhị bốn, chỉ nhị nhẵn

Quả nang, hình trứng nhẵn, có đài tồn tại; hạt nhỏ, có cạnh

Mùa hoa: tháng 4 – 9 [1]

❖ Phân bố, sinh thái

Trang 15

Bacopa Aubl là chi tương đối lớn, có khoảng 70 loài, phân bố rải rác khắp các vùng

nhiệt đới và cận nhiệt đới; sống tập trung nhiều ở khu vực Trung và Nam Mỹ Ở Việt Nam chỉ có hai loài [1] Loài Rau đắng biển được coi là cây liên nhiệt đới, đồng thời cũng có thể thấy ở vùng cận nhiệt đới Ở châu Á, Rau đắng biển phân bố rộng rãi từ vùng Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào đến các nước khác ở Đông Nam châu Á

Ở Việt Nam, Rau đắng biển phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và trung du miền Bắc

và miền Nam Cây ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm, pha cát lẫn với các loại vỏ thấp ở bờ ruộng, bãi sông, bờ kênh mương… Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt Cây còn có khả năng mọc chồi khỏe từ kẽ lá, kể cả phần còn sót lại sau khi cắt

Do đó, Rau đắng biển cũng bị coi là cây cỏ dại ảnh hưởng tới cây trồng [1]

Theo những tác giả khác, Rau đắng biển chứa một số saponin triterpene khác là bacoside A1 (3-O- [α-L-arabinofuranosyl (1→3) α-L-arabinopyranosyl] jujubogenin), bacoside A3 (3-β- [O-β-D-glucopyranosyl (1→3)-O- [α-L-arabinofuranosyl (1→2) -O-β-D-glucopyranosyl] jujubogenin) [1], [26]

Theo Proliac A và cs, 1991; lá chứa hai glycosylflavonoid là glucuronyl – 7 – apigenin và glucuronyl – 7 – luteolin (CA 115:89.186 d)

Có tài liệu nêu ở Rau đắng biển có brahmin [1]

1.1.5 Tác dụng dược lý

Tác dụng trên huyết áp: Alcaloid brahmin chiết từ cây Rau đắng biển với liều 0.5 mg/kg ở mèo có tác dụng làm hạ huyết áp Tuy nhiên, liều nhỏ hơn lại gây tăng huyết áp nhẹ do co mạch và kích thích cơ tim

Trang 16

Tác dụng trên hô hấp: Brahmin với liều nhỏ, có tác dụng kích thích hô hấp

Tác dụng trên cơ trơn: Ở nồng độ rất loãng 1/200000 đến 1/500000, brahmin có tác dụng tăng co bóp ruột và tử cung cô lập

Tác dụng kích thích hệ thần kinh: Brahmin cũng giống như Strychnin có tác dụng kích thích thần kinh trung ương gây hưng phấn các cơ quan đặc biệt là kích thích tủy sống Ngoài ra, nó có tác dụng kích thích trực tiếp trên tim, khác với Strychnin chỉ gián tiếp kích thích tim

Tác dụng chống ung thư: Cao khô chiết cồn của toàn cây Rau đắng biển có tác dụng

ức chế sự phát triển tế bào ung thư Walker carcinosarcoma 256 khi tiêm bắp cho chuột cống trắng

Độc tính: Brahmin có độc tính cao Ếch bị chết trong vòng 10 phút với một liều 5 mg/kg thể trọng, còn chuột cống trắng và chuột lang chết trong vòng 24 giờ khi dùng liều

25 mg/kg Cao khô chiết cồn 50º rồi cô chân không có LD50 là 50 mg/kg khi tiêm trong màng bụng cho chuột nhắt trắng [1]

1.1.6 Tính vị, công năng

Rau đắng biển có vị đắng, tính mát, có tác dụng kích thích thần kinh, trơ tim, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, nhuận tràng [1]

1.1.7 Công dụng

Toàn cây Rau đắng biển được dùng chữa suy nhược thần kinh [9], mất trương lực

cơ, động kinh, thao cuồng, mất tiếng, khản tiếng, viêm phế quản cấp, ho, hen [1] Còn chữa

bí đái, viêm gan, thấp khớp, rắn cắn và bệnh ngoài da như da sưng dày lên như da voi, lở, nhọt độc, ghẻ Ngày 6 – 12g dạng thuốc sắc Dùng ngoài không kể liều lượng

Ngọn lá Rau đắng biển có thể dùng như rau sống hoặc nấu chín ăn [1]

1.1.8 Bài thuốc có Rau đắng biển

❖ Chữa động kinh, thao cuồng, suy nhược thần kinh, mất tiếng, khản tiếng (Bài thuốc Brahmi ghrita ở Ấn Độ):

Dùng bốn lít dịch ép Rau đắng biển tươi, bốn lít bơ, các vị thủy xương bồ, mộc hương

và rễ cỏ bươm bướm (Canscora decussata (Roxb.) Roem et Schult., Gentianaceae) mỗi vị 120g đã tán thành bột mịn Tất cả cho vào đánh kỹ rồi đun nhỏ lửa cho đến khi bốc hết hơi

Trang 17

thành bột nhão Liều dùng 5 – 10g, ngày 2 lần, uống với sữa, sau khi ăn Có thể chế thành siro rồi uống

❖ Chữa khản tiếng do lao phổi (tài liệu Ấn Độ):

Rau đắng biển, thủy xương bồ, rễ cang mai, quả chiêu liêu, tất bát (Piper longum L.,

Piperaceae) Các vị phơi khô tán bột với lượng bằng nhau Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10g với mật ong

❖ Chữa rắn cắn:

Rau đắng biển 30g, dây mơ lông 30g, lá mướp đắng 30g, đọt cây sập 20g, rau cần tươi 20g, rau má 20g Tất cả dùng tươi, giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp (kinh nghiệm của nhân dân Minh Hải) [1]

1.1.9 Một số nghiên cứu về BME

Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng việc điều trị bằng BME sau một khoảng thời gian cải thiện rõ rệt khả năng học tập và trí nhớ ở chuột so với nhóm chứng sinh lý thông qua thử nghiệm mê lộ chữ T và thử nghiệm lẩn tránh thụ động [58]

Nghiên cứu của PGS Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự đối với tác dụng cải thiện trí nhớ của Rau đắng biển trên mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng Scopolamine trong thử nghiệm “step – down” Thử nghiệm được sử dụng nhằm mục đích đánh giá trí nhớ của chuột thông qua thời gian từ lúc chuột bắt đầu được đặt lên trên bục cho đến khi chuột bước xuống sàn và đặt hoàn toàn bốn chân lên sàn và số lần chuột bước xuống sàn trong suốt thời gian quan sát 300 giây Kết quả cho thấy nhóm chuột được điều trị với saponin toàn phần (50 mg/kg) cải thiện trí nhớ so với nhóm chứng bệnh lý

Nghiên cứu tác dụng cải thiện trí nhớ của Rau đắng biển trên mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamine bằng thử nghiệm mê lộ nước Morris cũng cho thấy saponin toàn phần của Rau đắng biển có tác dụng cải thiện khả năng ghi nhớ bị suy giảm bởi scopolamine của chuột thử nghiệm [4]

Nghiên cứu của Ahirwar S và cộng sự về khả năng ức chế Acetylcholinesterase của Rau đắng biển trên các vùng khác nhau của não chuột qua mô hình in vivo, cho thấy liều

100 mg/kg thể trọng chuột, dịch chiết Rau đắng biển có khả năng ức chế Acetylcholin khác nhau và có tác dụng ức chế cạnh tranh với Acetylcholinesterase trong tất cả các vùng não [10]

Trang 18

Bằng chứng chỉ ra rằng điều trị bằng BME giúp làm giảm nồng độ β – amyloid có trong não bệnh nhân Alzheimer nhờ sự có mặt của các chất có trong BME có khả năng ảnh hưởng tới các thành phần có liên quan tới stress oxy hóa như sự khử các kim loại hóa trị II, thay đổi hoạt tính lipoxygenase và quá trình peroxyd hóa lipid [34]

Các nghiên cứu trước đây khi sử dụng mô hình in vivo và in vitro trong bệnh thiếu

máu não cũng cho thấy tác dụng của Rau đắng biển trong việc cải thiện trí nhớ Trong một

nghiên cứu in vivo sử dụng mô hình chuột tắc hai mạch thoáng qua (T2VO) đã phát hiện ra

rằng cao tiêu chuẩn có chứa 21.8% bacoside A và 11.0% bacopaside I từ rau đắng biển

(Bacopa monnieri (L.) Wettst) làm giảm sự thiếu hụt nhận thức do thiếu máu não thoáng qua Hơn nữa, nghiên cứu in vitro sử dụng nuôi cấy lát cắt vùng đồi thị (OHSCs) đã cho

thấy rằng bacopaside I, một triterpenoid từ BM, bảo vệ chống lại tổn thương tế bào đồi thị

do oxy hóa và glucose (OGD) thông qua PKC và PI3 [38] Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ liệu tác dụng chống mất trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển có liên quan đến sự hình thành thần kinh nội sinh hay không

1.2 Tổng quan về suy giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ

1.2.1 Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ

Theo định nghĩa của WHO: “Sa sút trí tuệ là một hội chứng cấp tính hay mạn tính

do bệnh của não, gây rối loạn chức năng thần kinh cao cấp bao gồm trí nhớ, tư duy, phương hướng, sự hiểu biết, tính toán, khả năng học hỏi, ngôn ngữ và phán xét nhưng ý thức chưa

bị mất hoàn toàn Hội chứng đi kèm sự suy giảm chức năng nhận thức do suy giảm trong kiểm soát cảm xúc, động cơ và hành vi xã hội Hội chứng xảy ra trong bệnh Alzheimer, bệnh mạch máu não và trong các điều kiện khác trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến não” [54]

Hoạt động của trí nhớ gồm có ba quá trình cơ bản [6]:

❖ Quá trình ghi nhận:

Quá trình hưng phấn ở những hệ thống cấu trúc cơ động của bộ não trước những kích thích của thực tại: Càng chú ý và càng thích thú với kích thích bao nhiêu thì quá trình ghi nhận càng chắc chắn, rõ ràng bấy nhiêu

❖ Quá trình bảo tồn:

Trang 19

Quá trình hình thành những đường liên hệ tạm thời để duy trì dấu vết của những kích thích đã tác động vào bộ não Kích thích càng mạnh, càng được lặp lại thì quá trình bảo tồn càng bền vững

❖ Quá trình nhớ lại:

Quá trình hồi phục những đường liên hệ tạm thời đã được bảo tồn trong những hệ thống cấu trúc cơ động của bộ não Nhớ lại tốt chứng tỏ quá trình bảo tồn tốt Thường nhớ lại xuất hiện dưới hai hình thức:

- Nhận lại: Thông qua các giác quan nhận được những đối tượng kích thích trước kia Ví dụ: Nhận lại bạn cũ xa nhau nhiều năm

- Hiện tại: Kinh nghiệm và tri thức cũ, không cần thông qua tri giác đối tượng kích thích trước kia, vẫn có thể hiện ra trong óc dưới dạng biểu tượng hay ý niệm Ví dụ: Hiện lại khuôn mặt bà mẹ đã mất

Suy giảm trí nhớ (hypomnesia):

❖ Là kém nhớ những sự việc mới xảy ra hay những sự việc đã cũ Thường những sự

việc mới xảy ra khó nhớ hơn những sự việc cũ (Định luật Ribot) Gặp trong loạn

thần tuổi già, liệt toàn thể tiến triển, bệnh tâm căn suy nhược, … [6]

❖ Bộ nhớ có chức năng còn nguyên vẹn là rất quan trọng để thực hiện các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày như quản lý tài chính, nhớ uống thuốc, lái xe Nhớ sinh nhật của một đứa cháu và cách sử dụng máy tính mới, … Suy giảm trí nhớ được thấy trong bệnh lão hóa, bệnh Alheimer nhưng cũng gặp trong một số rối loạn tâm thần

và thần kinh khác: Thiểu năng trí tuệ, tự kỷ, rối loạn thiếu tập trung, khuyết tật khả năng học tập, tâm thần phân liệt, trầm cảm đều có suy giảm trí nhớ, cũng như trong bệnh Parkinson, Huntington và các bệnh thoái hóa thần kinh khác Người ta tin rằng, suy giảm trí nhớ phát sinh từ các hoạt động bất thường trong mạng lưới neuron và

sự suy giảm hoạt động của các synap Việc tái tạo synap là rất cần thiết cho sự hình thành của trí nhớ và được cho là điều chỉnh bởi nhiều điều kiện sinh học bao gồm: Biểu hiện gen, dịch mã protein, sự suy thoái protein, động học tế bào, tương tác matrix ngoại bảo, chất truyền tin thứ hai, receptor và chức năng của chất dẫn truyền thần kinh Sự thiếu hụt hoặc suy giảm chức năng của một hay nhiều yếu tố này có thể dẫn tới cản trở dẫn truyền thần kinh và gây suy giảm trí nhớ [30]

Trang 20

Sa sút trí tuệ cần được phân biệt với tình trạng giảm trí nhớ sinh lý của người lớn tuổi (quên lành tính của tuổi già) vốn là hệ quả của sự lão hóa, trong đó các quá trình thần kinh bị chậm đi Người có chứng quên lành tính của tuổi già học các thông tin mới bị chậm hơn và cũng nhớ lại các thông tin mới học được chậm hơn người bình thường, tuy nhiên nếu họ được cho thêm thời gian để được thực hiện những hoạt động này thì họ vẫn đạt được các thành tích trí tuệ ở mức chuẩn của người bình thường Các hoạt động thường ngày của

họ cũng không bị ảnh hưởng [20]

1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Có nhiều nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh dẫn tới suy giảm trí nhớ:

❖ Nguyên nhân do bệnh lý thoái hóa:

Suy giảm trí nhớ thường gặp trong bệnh Alzheimer Alzheimer là một bệnh lý thoái hóa thần kinh tiến triển, các rối loạn thần kinh không thể đảo ngược và được đặc trưng về mặt lâm sàng bởi mất trí nhớ và suy giảm nhận thức [30] Tuy nhiên, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh Alzheimer chưa được biết chính xác Tuổi tác và yếu tố gen di truyền

là những nguy cơ quan trọng nhất

Hình 1.2: Sơ đồ bệnh sinh

Trang 21

- Giả thuyết beta amyloid:

β - amyloid peptid (βAP) là những sản phẩm tự nhiên của quá trình chuyển hóa bao gồm 36-43 acid amin, βA42 ít phổ biến hơn so với các βAP nhưng lại dễ bị kết tụ và hình thành mảng bám Sự mất cân bằng giữa sản xuất, thanh thải của các peptid làm cho các βAP dư thừa tích lũy và kết tụ lại gây độc cho tế bào Giả thuyết chỉ ra sự tích tụ β-amyloid peptid (βAP) được coi là độc tố làm ngăn cản quá trình cân bằng ion calci, ức chế chức năng của một số enzyme và khả năng sử dụng glucose của tế bào thần kinh đồng thời kích hoạt sự chết theo chương trình [14], [55] Người ta vẫn chưa biết chính xác sự biến đổi trong việc sản xuất βAP đến mức độ nào thì gây ra suy giảm trí nhớ

- Giả thuyết đám rối thần kinh (Neurofibrilary Tangles - NFTs)

Đám rối thần kinh - NFTs thường được tìm thấy trong các tế bào thùy hải mã và vỏ não ở người bệnh Alzheimer NFTs được hình thành từ protein tau phosphoryl hóa bất thường Protein tau có vai trò ổn định cấu trúc vi ống, giúp hệ thống vi ống thực hiện chức năng nâng đỡ tế bào, chức năng vận chuyển và vận động tế bào chất Khi sợi tau bị phosphoryl hóa bất thường tại một vị trí cụ thể, chúng không thể liên kết một cách hiệu quả với các vi ống làm chức năng của chúng bị gián đoạn dẫn tới gây chết tế bào Mật độ của các NFTs tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh mất trí nhớ bởi chúng là một dấu hiệu về sự chết đi của các tế bào thần kinh [55], [22], [14]

- Giả thuyết cholinergic và những bất thường về các chất dẫn truyền thần kinh khác

Rối loạn chức năng và thoái hóa tế bào lan tỏa dẫn đến một loạt các khiếm khuyết dẫn truyền thần kinh, trong đó, các bất thường trên hệ cholinergic là nổi bật nhất Sự mất hoạt động của hệ cholinergic có mối tương quan thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh suy giảm trí nhớ Vào giai đoạn muộn của bệnh, số lượng các tế bào thần kinh cholinergic

và số lượng các thụ thể nicotinic trong vùng hải mã và vỏ não giảm xuống Thụ thể nicotinic trước synap có vai trò kiểm soát việc giải phóng của acetylcholin, cũng như các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng khác cho bộ nhớ và tâm trạng, bao gồm: glutamat, serotonin

và norepinephrin Giả thuyết cholinergic lý giải việc mất tế bào cholinergic là nguyên nhân suy giảm nhận thức trong bệnh Alzheimer, do đó, việc tăng cường chức năng hệ cholinergic

có thể cải thiện triệu chứng mất trí nhớ [14], [55], [22]

Trang 22

- Giả thuyết apolipoprotein E

Những nghiên cứu trước đây đã tìm thấy nhiều mối liên hệ giữa cholesterol và sự xuất hiện của bệnh Alzheimer Apolipoprotein E (Apo E) là một lipoprotein có nhiệm vụ vận chuyển cholesterol trong não Apoliprotein E4 có liên quan đến tăng tính lắng đọng của βAP và được cho là đóng vai trò như một chất điều hòa thúc đẩy trong quá trình bệnh sa sút trí tuệ mạch máu Cholesterol được vận chuyển bằng LDL vào tế bào thần kinh và liên kết với NFTs Mức cholesterol cao trong tế bào thần kinh não có thể làm thay đổi chức năng màng tế bào, dẫn đến hình thành các βAP và các mảng bám [22], [55], [14]

- Các chất trung gian gây viêm

Giả thuyết cho rằng, khi βAP tích tụ, các thực bào tiểu thần kinh đệm được kích hoạt và tăng cường phản ứng của các tế bào hình sao với các mảng bám Các thực bào tiểu thần kinh đệm làm giảm βAP bằng cơ chế thực bào Các tế bào hình sao đưa βAP vào tế bào chất gián tiếp qua receptor và vận chuyển βAP vào tuần hoàn chung, do đó cũng làm giảm βAP Tuy nhiên, việc kích hoạt mạn tính các tiểu thần kinh đệm dẫn tới giải phóng các cytokin như interleukin-1 (IL-1), interleukin-6 (IL-6) và yếu tố hoại tử khối u (TNF-α), nitric oxid làm tổn thương các tế bào thần kinh và thúc đẩy quá trình viêm liên tục Trên thực tế, nhiều cytokin và chemokin tăng lên trong não bệnh nhân Alzheimer, và một số kiểu

đa hình gen tiền viêm được báo cáo là có liên quan với bệnh Alzheimer [55], [14], [22]

❖ Nguyên nhân không do bệnh lý thoái hóa

Ngày càng có nhiều bằng chứng về mối quan hệ nhân - quả giữa các bệnh lý tim mạch

và những yếu tố nguy cơ tim mạch với tỷ lệ mắc bệnh sa sút trí tuệ Các yếu tố nguy cơ tim mạch là những yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ bao gồm: tăng huyết áp, tăng lipoprotein cholesterol tỷ trọng thấp (LDL-cholesterol), giảm lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao (HDL-cholesterol) và bệnh tiểu đường Bệnh tiểu đường có thể làm tăng nguy cơ mất trí nhớ thông qua các yếu tố liên quan đến “hội chứng chuyển hóa” (rối loại lipid máu và tăng huyết áp) và thông qua bất thường insulin Rối loạn con đường tín hiệu insulin (insulin-signaling pathways), cả ở ngoại vi và ở não, có sự liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ Insulin cũng có vai trò trong việc điều chỉnh sự chuyển hóa của βAP và protein tau

Các bệnh mạch máu não làm giảm cung cấp các chất dinh dưỡng cho tế bào thần kinh và giảm độ thanh thải của βAP từ não bộ, làm tăng tốc độ lắng đọng β-amyloid và tăng

Trang 23

độc tính của β-amyloid cho tế bào thần kinh do đó làm nặng thêm sự giảm khả năng nhận thức của bệnh sa sút trí tuệ

Những giả thuyết khác được đề xuất để giải thích cơ chế bệnh sinh của suy giảm trí nhớ bao gồm sự oxy hóa, rối loạn chức năng ty thể, và những ảnh hưởng của estrogen ở phụ nữ sau mãn kinh

Cho tới nay, chưa có cơ chế bệnh sinh nào được chứng minh là cơ chế chính Nhưng tất cả các giả thuyết đều dẫn đến một hậu quả: sự thoái hóa của tế bào thần kinh trong vùng não cao hơn, hình thành NFTs và mảng bám; sự suy giảm hoạt động nghiêm trọng hệ cholinergic và sự mất nhận thức tiến triển từ từ cho tới khi bệnh nhân tử vong [22], [55], [14]

1.2.3 Thuốc điều trị

1.2.3.1 Nhóm thuốc điều trị tổn thương liên quan đến nhận thức

❖ Thuốc kháng enzym cholinesterase

Nhóm này được sử dụng do khả năng suy giảm thụ thể acetylcholin và nicotin trong

hệ thần kinh trung ương ở các bệnh nhân sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer và những khiếm khuyết gây suy giảm trí nhớ, nhận thức

Cho tới nay, thuốc kháng enzym cholinesterase được xem là nhóm thuốc chính trong điều trị Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác, đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác khi được

sử dụng ở giai đoạn bệnh nhẹ hay nặng trung bình (10-24 điểm MMSE), tuy nhiên các thuốc này không ngăn chặn được diễn tiến tự nhiên của bệnh Các thuốc thuộc nhóm này bao gồm: tacrin, donepezil, rivastigmin, galantamine [3]

❖ Nhóm thuốc kháng thụ thể N-methyl D aspartate (NMDA)

Glutamat là một chất dẫn truyền thần kinh kích thích có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và tiến triển của bệnh thoái hóa thần kinh Một giả thuyết cho rằng vai trò của glutamate là phát quá mức xung động thần kinh dẫn đến kích thích quá mức của các thụ thể glutamate NMDA, gây tăng nhập calci vào tế bào gây phá hủy các neuron [5] Do

đó, các thuốc tác động vào thụ thể NMDA sẽ làm cải thiện được tình trạng bệnh

Memantin, một thuốc thuộc nhóm NMDA, là thuốc đối kháng không cạnh tranh trên thụ thể NMDA của hệ thống glutamat Memantin giảm ức chế receptor NMDA đối với

Trang 24

glutamate sinh lý và tăng ức chế receptor này đối với glutamate bệnh lý, do đó cải thiện trí nhớ và chức năng nhận thức [28] Điều trị Alzheimer vừa và nặng với memantin không cải thiện chức năng và hành vi, nhưng cải thiện ít tổng thể và tình trạng nhận thức [22], [14], [28]

❖ Chất tác dụng trên amyloid bệnh lý

Tuy dòng thác amyloid là một trọng tâm nghiên cứu trong điều trị suy giảm trí nhớ nhưng đến nay vẫn chưa có thuốc đối kháng amyloid nào được phê duyệt, mặc dù nhiều chất đang ở pha cuối thử nghiệm lâm sàng [22]

- Giảm sản xuất Aβ:

✓ Ức chế β-secretase: Amyloid được hoạt hóa bởi β-secretase hoặc enzyme β-site APP-cleaving 1 (BACE1) Nhóm thiazolidindion trong điều trị đái tháo đường typ 2 gồm rosiglitazon và pioglitazon được sử dụng chủ yếu

để điều chỉnh chuyển hóa glucose và lipid, cũng có thể ức chế β-secretase

và tiền chất amyloid (APP) [28]

✓ Ức chế γ-secretase: Tác động của γ-secretase lên β-secretase trong quá trình phân cắt protein APP là bước cuối cùng trong sản xuất Aβ Semagacestat là chất ức chế γ-secretase duy nhất được nghiên cứu trong điều trị Alzheimer, có tác dụng giảm sản xuất Aβ ở hệ thần kinh trung ương phụ thuộc liều [28]

✓ Hoạt hóa α-secretase: α-secretase là enzym cạnh tranh với β-secretase trong phân cắt protein APP, hoạt hóa con đường không amyloid tạo ra các sản phẩm có tác dụng bảo vệ thần kinh, cải thiện trí nhớ và giảm sự chết

tế bào Một số chất ảnh hưởng lên hoạt động của α-secretase thông qua các chất dẫn truyền thần kinh khác (glutamat, serotonin), hormon (estrogen, testosteron) và các statin đã được nghiên cứu Tuy nhiên, hiện tại chưa có chất tác động lên α-secretase nào được thử nghiệm pha III [28]

- Giảm kết tập Aβ:

Gần đây, các oligome tan được của Aβ được biết tới có mối liên hệ chặt chẽ với độc tính trên thần kinh và synap hơn so với các sợi fibrin Aβ Các chất ức chế kết tập hoặc làm

Trang 25

mất ổn định của oligome Aβ có thể làm thay đổi triệu chứng bệnh Một số chất ức chế kết tập khác đang được nghiên cứu lâm sàng [28]

- Tăng thải trừ Aβ:

Loại bỏ độc tính của Aβ thông qua đáp ứng miễn dịch làm giảm bớt những tác động

có hại của Alzheimer với 4 cơ chế chính: (i) liên kết kháng thể và thực bào nhờ tế bào tiểu thần kinh đệm microglia; (ii) trực tiếp hòa tan thông qua sự gián đoạn của Aβ; (iii) chiết tách hòa tan từ hệ thần kinh trung ương bởi kháng thể trong huyết tương; (iv) liên kết kháng thể để ức chế oligome gây độc tính mà không ảnh hưởng tới amyloid Bapineuzumab và Solanezumab đang được nghiên cứu với cơ chế tạo ra kháng thể trung gian giải phóng Aβ [28]

1.2.3.2 Nhóm điều chỉnh hành vi (Tăng cường hoạt tính serotonin)

Nhóm này có tác dụng tăng cường tái hấp thu serotonin chọn lọc SSRIs có tác dụng giúp bệnh nhân điều chỉnh hành vi, chống trầm cảm, tránh kích thích hoặc lú lẫn Nhóm này gồm có Fluoxetin, Citalopram, Escitalopram, Paroxetin [14], [22], [55]

1.2.3.3 Các thuốc chống oxy hóa và các nhóm khác

1.2.3.4 Hạn chế của các thuốc điều trị sa sút trí tuệ hiện nay

❖ Các phương pháp điều trị hiện tại không có hiệu quả kéo dài tuổi thọ, chữa khỏi, hoặc tạm dừng hoặc đảo ngược quá trình sinh lý bệnh Hai nhóm thuốc chính đang

sử dụng là thuốc ức chế cholinesterase và thuốc tác dụng trên hệ glutamat dựa trên hai giả thuyết cơ chế bệnh sinh của bệnh Alzheimer Nhóm thuốc ức chế cholinesterase chỉ định cho trường hợp bệnh nhẹ đến trung bình, ổn định nhận thức

Trang 26

tạm thời, hoặc làm giảm rất nhỏ sự suy giảm nhận thức, 20-30% bệnh nhân đã điều trị giảm được 7 điểm trong thang điểm đánh giá nhận thức ADAS-Cog (tương đương giảm được 1 năm suy giảm nhận thức) [22], [23] Memantin được dùng cho bệnh nhân ở giai đoạn trung bình đến nặng, ở những người không dùng được thuốc ức chế cholinesterase [27] Một số thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả của memantin khi đánh giá bằng thang ADAS-Cog so với giả dược ở thời điểm 12 - 24 tuần điều trị, nhưng không cho thấy lợi ích từ 24-48 tuần [21] Tuy dòng thác amyloid là một trọng tâm nghiên cứu trong điều trị Alzheimer nhưng đến nay vẫn chưa có thuốc đối kháng amyloid nào được phê duyệt, mặc dù nhiều chất đang ở pha cuối thử nghiệm lâm sàng [28]

❖ Những nhóm thuốc điều trị triệu chứng không thuộc nhận thức: các thuốc chống loạn thần, thuốc chống trầm cảm, chống co giật được sử dụng khi những triệu chứng

về tâm-thần kinh ở mức độ nghiêm trọng Việc điều trị phải dựa trên sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ [49] Ngoài ra, thuốc hướng thần còn có tác dụng kháng cholinergic, vì vậy, chúng có thể làm bệnh trầm trọng hơn hoặc tác động đến việc

sử dụng thuốc ức chế cholinesterase [41] Các thuốc điều trị suy giảm trí nhớ hiện nay cũng gây ra nhiều tác dụng không mong muốn do tác dụng kích thích cholinergic quá mức và gây ra nhiều tương tác thuốc

1.2.4 Một số mô hình nghiên cứu

Các mô hình nghiên cứu về thuốc điều trị suy giảm trí nhớ lần lượt được giới thiệu dựa vào cơ chế bệnh sinh

Đầu tiên là mô hình đánh giá khả năng ức chế hoạt tính enzym acetylcholinesterase,

là mô hình đơn giản, dễ làm và ít tốn kém Trong bệnh Alzheimer (AD), các tế bào thần kinh cholinergic bị chết làm giảm lượng acetylcholine (Ach) Acetylcholinesterase (AchE)

là enzyme bất hoạt Ach tại synap do xúc tác quá trình thủy phân Ach tạo acid acetic và choline Bằng chứng chỉ ra rằng AchE có liên quan đến sinh lý bệnh của AD do có tương tác trực tiếp với β – amyloid (βAP) bằng cách làm tăng lắng đọng βAP ở màng không hòa tan, làm tăng các mảng βAP [56] Nghiên cứu đánh giá khả năng ức chế hoạt tính của enzym

AChE ex vivo theo nguyên tắc của Ellman và cộng sự [22]: Cơ chất acetylthiocholin iodid

(ATCI) bị thủy phân bởi AChE tạo thành thiocholin và acid acetic Thiocholin thu được

Trang 27

cho phản ứng với thuốc thử Ellman (DTNB) tạo ra accid 5-thio-2-nitro benzoic (RS) có màu vàng, có độ hấp thụ cực đại ở bước sóng 412 nm Chuột sẽ được tách vùng vỏ não để tiến hành định lượng hoạt tính enzym AChE theo phương pháp của Ellman và cộng sự [22]

Ngoài ra, có thể đánh giá khả năng ức chế hoạt tính của AChE in vitro với nguyên tắc tiến

hành theo phương pháp của Ellman và cộng sự [22] nhưng sử dụng AChE có sẵn [2], [8], [25], [37]

Hệ thống tế bào, như các dòng tế bào thần kinh (NG 108-15) hoặc tế bào thần kinh

vỏ não được nuôi cấy cũng được sử dụng để đánh giá thuốc điều trị Alzheimer, bằng cách gây độc các tế bào này bởi protein beta-amyloid hoặc glutamat, sử dụng mẫu nghiên cứu

để bảo vệ tế bào thần kinh đó và định lượng lượng tế bào sống sót [32], [35], [38], [39] Tế bào thần kinh NG 108-15 (Neuroblastoma x glioma hybrid cell, 108CC15) là dòng tế bào lai giữa hai dòng tế bào riêng biệt: Tế bào u nguyên bào thần kinh chuột cống N18TG2 và

tế bào u thần kinh đệm chuột nhắt C6BU-1 Đây là mô hình tế bào đã được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu sàng lọc cũng như nghiên cứu cơ chế tác dụng của thuốc Ưu điểm của việc sử dụng mô hình tế bào là có thể đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của thuốc đối với tế bào đích, tiết kiệm thời gian, giảm được sai số và chỉ cần một lượng nhỏ thuốc nghiên cứu Một

số nghiên cứu thuốc điều trị sa sút trí tuệ đã được nghiên cứu trên dòng tế bào NG 108-15

Trên mô hình động vật, người ta sử dụng một số loại chuột chuyển gen mang bệnh Alzheimer như chuột Tg2576, PSAPP (hiện nay đang được sử dụng trên thế giới) Nghiên cứu trên mô hình động vật chuyển gen mang bệnh ở người là cần thiết để hiểu rõ về cơ chế phân tử và thúc đẩy nghiên cứu tiền lâm sàng Bệnh Alzheimer đã được gây trên mô hình chuột chuyển gen thế hệ đầu tiên (Tg), trên chuột chuyển gen này có sự biểu hiện quá mức của protein có liên quan đến bệnh Alzheimer có tính chất gia đình, hoặc sử dụng mô hình chuột chuyển gen thế hệ thứ 2 là APP mang đột biến protein tiền thân amyloid (APP), hoặc đột biến cả APP và presenilin (PS) Các chủng chuột chuyển gen này thể hiện bệnh lý Alzheimer nhưng mô hình biểu hiện quá mức có thể dẫn tới các kiểu hình bổ sung không liên quan đến Alzheimer Mô hình chuột chuyển gen thế hệ thứ 2 APP chứa các trình tự gen người và đột biến gen APP nội sinh trên lâm sàng Những chuột này cho thấy sự tích

tụ β-amyloid không có kiểu hình liên quan đến biểu hiện quá mức nhưng chưa phải là biểu hiện Alzheimer trên lâm sàng của người [16], [51]

Trang 28

Bên cạnh đó, các mô hình phẫu thuật gây mất trí nhớ cho chuột cũng được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu Mô hình gây mất trí nhớ do thiếu máu não cục bộ (ischemia induced learning and memory deficit) bằng cách thắt 2 động mạch cảnh đồng thời gây hạ huyết áp bằng cách rút máu đuôi chuột đã được giáo sư Kinzo Matsumoto sử dụng để nghiên cứu thuốc điều trị Alzheimer từ năm 2000 [38] Trong mô hình này, chuột

sẽ được gây mê, sau đó bộc lộ 2 động mạch cảnh một cách cẩn thận, thắt 2 động mạch cảnh này bằng chỉ kẹp động mạch trong 30 phút, đồng thời lấy máu đuôi chuột trong quá trình gây thiếu máu cục bộ

Một mô hình mới cũng được sử dụng hiện nay là mô hình gây suy giảm học và nhớ trên chuột mất vùng khứu giác (learning and memory deficit in olfactory bulbectomized mice) của giáo sư Kinzo Matsumoto áp dụng từ năm 2011 [38] Chuột được gây mê và cố định trên hệ thống định vị chuột Sau đó, rạch da bộc lộ phần hộp sọ bao phủ vùng khứu giác (OBX) rồi khoan thủng 1 lỗ đường kính 1 mm, phá hủy vùng khứu giác của chuột, lấp đầy vùng này bằng bọt cầm máu gelatin Chuột sau khi bị loại bỏ vùng khứu giác sẽ bị suy giảm khả năng học tập và trí nhớ

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Rau đắng biển được thu thập tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam năm 2017, và xác định tên

khoa học là (Bacopa monnieri (L.) Wettst), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) Mẫu thực

vật này hiện đang được lưu giữ tại Phòng Bảo tàng thực vật, Viện Dược liệu có mã số tiêu bản là 9967 Cao chiết Rau đắng biển được chiết xuất tương tự nghiên cứu trước đây, được

mô tả tóm tắt như sau [38]:

1,2 kg dược liệu rau đắng biển (đạt tiêu chuẩn cơ sở, mẫu dược liệu chứa 3,3% bacosid toàn phần) được chiết cách thủy ở 85ºC 3 lần với thể tích ethanol 50% lần lượt là (9,6; 9,6; 7,2 lít) trong (3; 2 và 1,5 h) tương ứng Dịch chiết được thu hồi ethanol dưới áp suất giảm và bốc hơi nước đến khi còn khoảng 2 lít dịch chiết, chiết với butanol (2; 2 và 1,6 lít) Pha butanol được rửa lại với nước rồi thu hồi dung môi dưới áp suất giảm Cao được sấy trong

tủ sấy chân không ở 50C trong 24 h, thu được 99,4 g cao rau đắng biển (H=8,3%), độ ẩm

<5%, hàm lượng bacosid A + bacopasid I đạt > 25%

2.1.2 Động vật thí nghiệm

Chuột nhắt chủng Swiss albino, giới đực, 4 tuần tuổi, được cung cấp bởi Viện Vệ Sinh dịch tễ Trung ương Chuột được chăm sóc và nuôi ổn định 1 tuần trong phòng thí nghiệm với nhiệt độ duy trì 24 ± 1°C, ăn uống đầy đủ, chu kỳ sáng tối là 12/12 h (chu kỳ sáng từ 7:00 – 19:00) trước khi tiến hành nghiên cứu

Trang 30

4 Tartate Merck, Nhật Bản

Muromachi, Kikai, Tokyo, Nhật Bản

8 Và các trang thiết bị khác

Ngày đăng: 14/08/2019, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, và Trần Toàn (2002), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, 666 - 668 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, và Trần Toàn
Năm: 2002
2. Đinh Đại Độ (2015), Đánh giá tác dụng cải thiện sa sút trí nhớ thực nghiệm của 1- tetrahydropalmatin, Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ đại học, Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác dụng cải thiện sa sút trí nhớ thực nghiệm của 1-tetrahydropalmatin
Tác giả: Đinh Đại Độ
Năm: 2015
3. Lê Đức Hinh, Nguyễn Thi Hùng, Daniel D. Trương (2004), Thần kinh học lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 524-543 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần kinh học lâm sàng
Tác giả: Lê Đức Hinh, Nguyễn Thi Hùng, Daniel D. Trương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
4. Nguyễn Thị Thu Hương (2006), "Tác dụng của cao mềm chiết cồn rau đắng biển (Bacopa Monnieri (L.) Wettst, Scrophulariaceae) trên khả năng học tập và ghi nhớ", Nghiên cứu phát triển dược liệu và đông dược ở Việt Nam, Viện Dược Liệu, Nhà xuất bản Khoa học Kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng của cao mềm chiết cồn rau đắng biển (Bacopa Monnieri (L.) Wettst, Scrophulariaceae) trên khả năng học tập và ghi nhớ
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kĩ thuật
Năm: 2006
5. Hoàng Thị Kim Huyền (2014), Dược lâm sàng- Những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị, Dự án NPT-VNM 240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lâm sàng- Những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị
Tác giả: Hoàng Thị Kim Huyền
Năm: 2014
7. Nguyễn Minh Trang (2014), Nghiên cứu tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột bị thiếu máu não cục bộ và khả năng ức chế acetylcholinesterase của rau đắng biển (Bacopa Monnieri (Linn) Wettst), Luận văn thạc sĩ dược học, Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột bị thiếu máu não cục bộ và khả năng ức chế acetylcholinesterase của rau đắng biển (Bacopa Monnieri (Linn) Wettst)
Tác giả: Nguyễn Minh Trang
Năm: 2014
8. Trần Phi Hoàng Yến (2011), "Khảo sát khả năng cải thiện sự suy giảm trí nhớ của cao chiết lá hương nhu tía (Ocimum sanctum) trên chuột nhắt", Tạp chí Y học TPHCM, 15, 124-129.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khả năng cải thiện sự suy giảm trí nhớ của cao chiết lá hương nhu tía (Ocimum sanctum) trên chuột nhắt
Tác giả: Trần Phi Hoàng Yến
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm