Theo Mác, chỉ có thể hiểu được quan hệ sở hữu của một hệ thống kinh tế khi đặt nó trong toàn bộ quan hệ sản xuất hiện thực tương ứng. Đồng thời, “Giải phẫu học về con người là cái chìa khóa cho giải phẫu học về con khỉ” (Mác, 1998). Vận dụng những chỉ dẫn có tính chất phương pháp luận này, đứng trên góc nhìn của thế giới đương đại, cần cắt nghĩa và thẩm định lại quan niệm của chính Mác về quan hệ sở hữu đặc trưng trong CNTB và CNXH. Nhờ đó, có thể khắc phục được cách nhìn thiên kiến về sở hữu tư nhân trong một nền kinh tế thị trường hiện đại cũng như những ngộ nhận về chế độ công hữu. Đó là những tiền đề cần thiết để tiếp tục thúc đẩy quá trình Đổi mới hiện nay ở Việt Nam.
Trang 1VẤN ĐỀ SỞ HỮU: TỪ HIỆN THỰC SUY NGẪM VỀ QUAN NIỆM CỦA
C MÁC PGS.TS Phí Mạnh Hồng- Trường Đại học Kinh tế- ĐHQG Hà Nội
Tóm tắt: Theo Mác, chỉ có thể hiểu được quan hệ sở hữu của một hệ thống
kinh tế khi đặt nó trong toàn bộ quan hệ sản xuất hiện thực tương ứng Đồng thời,
“Giải phẫu học về con người là cái chìa khóa cho giải phẫu học về con khỉ” (Mác, 1998) Vận dụng những chỉ dẫn có tính chất phương pháp luận này, đứng trên góc nhìn của thế giới đương đại, cần cắt nghĩa và thẩm định lại quan niệm của chính Mác về quan hệ sở hữu đặc trưng trong CNTB và CNXH Nhờ đó, có thể khắc phục được cách nhìn thiên kiến về sở hữu tư nhân trong một nền kinh tế thị trường hiện đại cũng như những ngộ nhận về chế độ công hữu Đó là những tiền đề cần thiết để tiếp tục thúc đẩy quá trình Đổi mới hiện nay ở Việt Nam
Từ khóa: Chủ nghĩa Mác, sở hữu tư, sở hữu công, kinh tế thị trường
1 Mở đầu
Quá trình Đổi mới ở Việt Nam thực chất là quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, được thiết kế trên cơ sở tư duy về mô hình CNXH kiểu cũ, sang nền kinh tế thị trường Những thành tựu to lớn mà Đổi mới mang lại xác nhận tính đúng đắn của quá trình chuyển đổi này Tuy nhiên những khó khăn và bất ổn tích đọng trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay cho thấy những động lực mà giai đoan Đổi mới vừa qua mang lại đã dần suy yếu, tiềm năng mà nó có thể khai thác
đã dần cạn kiệt Tiến trình Đổi mới cần được tiếp tục thúc đẩy một cách triệt để, nhất quán hơn, ít mang tính chất “ngập ngừng” hơn Để làm được điều này, việc tháo dỡ những rào cản về mặt tư duy là tiền đề cần thiết Trong số những rào cản
đó, không thể không đề cập đến vấn đề sở hữu, với tính cách là một quan hệ cốt yếu trong một hệ thống kinh tế Bài viết sẽ bàn luận về vấn đề này trên cơ sở suy ngẫm lại quan niệm của Mác trên cơ sở hiện thực của Việt Nam và thế giới hôm nay
2 Quan niệm của C Mác về quan hệ sở hữu nói chung – những chỉ dẫn phương pháp luận
Trong các quan điểm của Mác về sở hữu, cần phân biệt hai lớp quan điểm: một lớp liên quan đến cách nhìn phương pháp luận chung về sở hữu và một lớp liên quan đến quan niệm cụ thể của Mác về sở hữu trong CNTB và CNXH
Trang 2Liên quan đến cách nhìn có tính cách phương pháp luận chung của Mác về sở hữu, những luận điểm sau của ông là rất đáng chú ý: “Trong mỗi thời đại lịch sử, quyền sở hữu đã phát triển một cách khác nhau và trong một loạt quan hệ xã hội
hoàn toàn khác nhau Cho nên, định nghĩa quyền sở hữu tư sản không phải là cái gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sản xuất tư sản
Nếu muốn định nghĩa quyền sở hữu như là một quan hệ độc lập, một phạm trù đặc biệt, một ý niệm trừu tượng và vĩnh cửu, thì như thế chỉ là sa vào một ảo tưởng
siêu hình hay mang tính chất luật học mà thôi” (Mác, 1988a) (Tác giả nhấn mạnh).
“Cái mà về thực chất Pru-đông muốn nói đến là chế độ sở hữu hiện tồn, chế độ
sở hữu tư sản hiện đại Đối với câu hỏi: sở hữu ấy là gì, người ta chỉ có thể trả lời bằng một sự phân tích phê phán “khoa kinh tế chính trị”, môn học này bao quát toàn
bộ những quan hệ sở hữu ấy, không phải trong biểu hiện pháp quyền của chúng với
tư cách là những quan hệ ý chí, mà là trong hình thái hiện thực của chúng, tức với tư cách là những quan hệ sản xuất” (Mác, 1988b).
“Kết quả chung mà tôi đạt được và đã trở thành kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu sau này của tôi có thể trình bày vắn tắt như sau: Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ với nhau, những quan hệ xác định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất; những quan
hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức
là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị
và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó …Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội
sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó, từ
trước đến nay, các lực lượng sản xuất vẫn phát triển” (Mác, 1993a) (Tác giả nhấn mạnh)
Như vậy, dựa theo Mác, có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, quan hệ
sản xuất hiện thực là nội dung của quan hệ sở hữu Thông thường, trên bề mặt xã hội, quan hệ sở hữu tồn tại như là hình thức biểu hiện về mặt pháp lý của các quan hệ sản xuất Tuy nhiên, để hiểu được bản chất của các quan hệ sở hữu, người ta lại phải xem xét chúng không phải trong biểu hiện pháp lý mà là trong toàn bộ hình thái hiện
thực của chúng như là các quan hệ sản xuất Nếu như “định nghĩa quyền sở hữu tư sản không phải là cái gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sản
Trang 3xuất tư sản” thì để hiểu quan hệ sở hữu, cần phải xuất phát từ toàn bộ các quan hệ
sản xuất hiện thực chứ không phải ngược lại Điều đó cũng có nghĩa là việc xác lập một chế độ sở hữu không chỉ dừng lại ở những tuyên bố pháp lý Nếu các quan hệ sản xuất hiện thực (tương ứng với hình thức pháp lý của sở hữu) không được triển khai thì tính chất pháp lý của sở hữu sẽ không có cơ sở thực tế Trong trường hợp này, sở hữu trước sau cũng sẽ không có nội dung giống như cái vỏ pháp lý mà nó muốn thể hiện Thậm chí sự xung đột giữa hình thức pháp lý với nội dung kinh tế của sở hữu sẽ trở thành yếu tố kìm hãm quá trình phát triển Chẳng hạn, nếu về mặt pháp lý, cá nhân A được xem là người sở hữu duy nhất về một tài sản nào đó, trong khi trên thực tế, những người khác vẫn có thể nắm giữ, chiếm dụng, khai thác tài sản hoặc thụ hưởng những lợi ích phát sinh từ tài sản trên mà không cần sự cho phép của A thì quyền sở hữu của A chỉ tồn tại trên danh nghĩa A sẽ không còn tha thiết tìm cách khai thác một cách sáng tạo và hiệu quả tài sản của mình Một khu rừng được tuyên bố là thuộc sở hữu toàn dân sẽ không mảy may có giá trị kinh tế gì đối với tôi, với tư cách là một người đồng sở hữu, nếu như “lâm tặc” và các nhân viên kiểm lâm đang khai thác nó, dù là bất hợp pháp, như là những tài sản cá nhân
Thứ hai, quan hệ sở hữu cũng như các quan hệ sản xuất là có tính chất lịch sử.
Nó hình thành, phát triển, vận động phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Một quan hệ sở hữu, phản ánh một loại quan hệ sản xuất nhất định, sẽ không mất đi khi mà nó vẫn cho phép lực lượng sản xuất xã hội phát triển Một quan hệ sở hữu mới cũng không thể ra đời nếu như lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trạng thái chín muồi làm điểm tựa cho nó Mác viết: “Không một hình thái
xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất xã hội mà hình thái đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng xã hội cũ” (Mác, 1993a) Nói cách khác, quan hệ sở hữu, quan hệ sản xuất không thể vượt quá trình độ của lực lượng sản xuất, bị quy định bởi lực lượng sản xuất Sự ngộ nhận về khả năng thiết lập một loại quan hệ sản xuất tiên tiến, cao hơn trình độ của lực lượng sản xuất hiện có, nhằm
mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất thực chất là đi ngược với quan điểm của Mác, và quan trọng hơn, đã bị thực tiễn bác bỏ Mặt khác, trong các xã hội hiện đại, do các lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, được dẫn dắt bởi các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, các quan hệ xã hội của sản xuất, bao hàm cả quan hệ sở hữu, bằng cách nào đó, khó có thể đứng yên mà sẽ phải tiến hóa không ngừng
Trang 4Thứ ba, trong lịch sử, đã từng tồn tại các hình thái sở hữu khác nhau Chế độ sở
hữu “công cộng” dưới hình thức sở hữu bộ lạc, công xã được xem là các hình thái nguyên thủy của sở hữu Chế độ sở hữu tư nhân chỉ xuất hiện trong thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, khi sản xuất xã hội và phân công lao động phát triển đến một trình độ nhất định Sở hữu tư nhân cũng tiến triển dưới các hình thái khác nhau trong các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, trong đó sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa được xem là hình thái phát triển cao nhất của nó
Trong sự tiến triển chung như vậy, khi một hình thái sở hữu, đặc trưng cho một
xã hội mới, cao hơn, tiến bộ hơn xuất hiện và thay thế cho một hình thái sở hữu đặc trưng cho xã hội cũ, thì điều đó không có nghĩa là trong mọi trường hợp, hình thái sở hữu cũ hoàn toàn biến mất Xã hội mới có thể kế thừa các sản phẩm của lịch sử bằng cách dung nạp các hình thái sở hữu cũ và bắt chúng phải thích nghi, phụ thuộc vào hình thái sở hữu mới Chính vì vậy, khi bàn về các khái niệm như tư bản và địa tô, một mặt, Mác cho rằng, ở bình diện chung, địa tô chính là sự thực hiện về mặt kinh
tế quyền sở hữu ruộng đất (Mác, 1994) Mặt khác, tuy đia tô là hình thức có trước tư bản, song chỉ có thể hiểu được địa tô TBCN sau khi đã hiểu tư bản, trong khi có thể
hiểu được tư bản mà không cần hiểu địa tô (Mác, 1998) Điều đó có nghĩa là: khi đã
bị thu nạp vào hệ thống sản xuất TBCN, sở hữu ruộng đất cũng sẽ mang hình thức sở hữu ruộng đất tư bản chủ nghĩa Cũng như vậy, trong hệ thống sản xuất TBCN, sở hữu công (thực hiện thông qua sở hữu nhà nước), hình thái sở hữu tư của những người sản xuất nhỏ vẫn tồn tại như những hình thái sở hữu thứ yếu, phụ thuộc Nói cách khác, một hình thức sở hữu vốn có trước về mặt lịch sử, khi nằm trong một hệ thống sản xuất mới, bị chi phối bởi các quan hệ sản xuất xã hội mới, sẽ bị biến đổi để thích ứng và phù hợp với một hệ thống sản xuất cao hơn
Thứ tư, Mác còn đưa ra một chỉ dẫn phương pháp luận quan trọng khi tuyên bố:
“Xã hội tư sản là một tổ chức sản xuất phát triển nhất và đại diện nhất trong lịch sử
Vì vậy, các phạm trù biểu thị những quan hệ của xã hội đó, kết cấu của xã hội đó, đồng thời cũng cho ta cái khả năng hiểu thấu được kết cấu và các quan hệ sản xuất của tất cả các hình thái xã hội đã diệt vong; xã hội tư sản đã được xây dựng nên trên những tàn dư và những yếu tố của những hình thái xã hội ấy, một phần kéo theo sau
nó những tàn dư còn chưa khắc phục được, một phần thì phát triển đầy đủ tác dụng của những cái trước kia chỉ tồn tại dưới dạng một dấu hiệu báo trước mà thôi, v.v Giải phẫu học về con người là cái chìa khóa cho giải phẫu học về con khỉ Ngược lại, người ta chỉ có thể hiểu được những dấu hiệu báo trước cái cao hơn trong các loài động vật cấp thấp khi người ta đã biết được bản thân cái cao hơn đó Như vậy, nền
Trang 5kinh tế tư sản cho ta cái chìa khóa để hiểu nền kinh tế cổ đại, v.v…” (Mác, 1998) Theo mạch tư tưởng này của Mác, trong các nấc thang phát triển của lịch sử xã hội, người ta cần phải đứng trên nấc thang cao nhất có thể để nhìn nhận, xem xét những nấc thang thấp hơn mà xã hội loài người đã đi qua trước đó nếu muốn hiểu thấu về chúng Nói cách khác, xã hội hiện tại là chìa khóa để hiểu các xã hội trong quá khứ chứ không phải ngược lại Hai trăm năm qua, thế giới biến đổi quá nhiều và tốc độ của sự biến đổi ấy lại ngày càng gia tăng trong những thập kỷ gần đây Trong bối cảnh ấy, không thể không tin rằng CNTB và thế giới ngày nay đang đứng ở nấc thang phát triển cao hơn hẳn so với CNTB và thế giới trong thế kỷ 19 Nếu theo đúng tinh thần của đoạn văn trên, thì chính việc tìm hiểu CNTB ngày nay, thế giới ngày nay là chìa khóa để chúng ta hiểu chính xác hơn CNTB thời Mác, thế giới thời Mác Chúng ta có thể dùng điều này để thẩm định lại một số quan niệm cụ thể của chính Mác về sở hữu trong CNTB và CNXH
3 Quan niệm của C Mác về sở hữu tư bản chủ nghĩa – hình thức sở hữu đặc trưng trong hệ thống kinh tế thị trường
Những luận điểm về chế độ sở hữu TBCN, dĩ nhiên, được Mác khái quát và tổng kết từ hiện thực của xã hội tư sản thời ông Ở thời Mác, chế độ sở hữu TBCN là một chế độ sử hữu tư nhân trong đó các tư liệu sản xuất được tập trung trong tay một nhóm nhỏ các nhà tư bản, còn đông đảo những người lao động là không có tư liệu sản xuất và buộc phải trở thành những người lao động làm thuê Theo Mác, do độc chiếm các tư liệu sản xuất nên nhà tư bản sẽ chi phối quá trình sản xuất, chiếm đoạt giá trị thặng dư do lao động không công của người công nhân làm ra Cái mà người công nhân nhận được chỉ là tiền công, tức giá cả của sức lao động, bị quy định bởi giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết chỉ đủ để tái sản xuất ra sức lao động của anh ta Quá trình tái sản xuất cũng chính là quá trình tái sản xuất ra các quan hệ sản xuất TBCN, trong đó những người công nhân sẽ bị bần cùng hóa và bị cột chặt mãi vào thân phận của những người lao động làm thuê Do tiền công chỉ là một phần trong giá trị mới hoàn toàn do người công nhân tạo ra, nên quan hệ tư bản – lao động là một quan hệ bóc lột Trong trường hợp này, nguồn gốc của bóc lột là chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất, dù cách thức bóc lột của nó khác hẳn với các chế độ tư hữu khác, dựa trên các quan hệ thống trị - lệ thuộc trực tiếp (xem Mác, 1993c, đặc biệt phần nói về quá trình sản xuất giá trị thặng dư) Do đó, xóa bỏ tư hữu như là cơ
sở của việc xóa bỏ chế độ người bóc lột người, được Mác, Ăng ghen nêu lên như một công thức tóm tắt trong Tuyên ngôn của những người cộng sản (Mác & Ăng ghen, 1976)
Trang 6Như vậy, cách nhìn và phân tích của Mác về sở hữu trong chế độ TBCN (lẫn dự báo của ông về sở hữu trong xã hội tương lai được rút ra từ đó), một mặt, được triển khai trên cơ sở các quan niệm triết học của ông về lịch sử song mặt khác, nó cũng phản chiếu đậm nét những điều kiện thực tế của thời đại ông – thời đại của nền kinh
tế công nghiệp đại cơ khí, chủ yếu gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
Từ lát cắt thứ nhất, có thể nói, Mác không đơn giản coi chế độ sở hữu tư sản chỉ
là một kiểu dạng của sở hữu tư nhân mà xem nó như là kết quả phát triển hoàn bị từ những hình thái sở hữu tư nhân trước đó trong lịch sử, khiến cho nó hoàn toàn khác trước Cũng là sở hữu tư nhân, song trong chế độ nô lệ, những người chủ nô không những sở hữu các điều kiện vật chất của sản xuất mà còn sở hữu bản thân các nô lệ như là những “công cụ biết nói”, còn trong chế độ phong kiến, ruộng đất – tư liệu sản xuất chính- thuộc về giai cấp địa chủ, còn những người nông nô, tuy không phải
là nô lệ song vẫn chỉ tồn tại như những kẻ lệ thuộc (vào ruộng đất và địa chủ) Trong các xã hội này, nền kinh tế là nền kinh tế tự nhiên, dựa nhiều vào ruộng đất cũng như các nguồn lực tự nhiên, sẵn có và quan hệ giữa chủ sở hữu và người lao động là quan
hệ chi phối – lệ thuộc một cách trực tiếp Trong khi đó, ở xã hội tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế là nền kinh tế hàng hóa phổ biến – một nền kinh tế thị trường đích thực, rộng khắp và quan hệ giữa nhà tư bản với tư cách là người sở hữu các phương tiện sản xuất và người lao động là quan hệ giữa các cá nhân độc lập Vì thế, sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa là một kiểu dạng hoàn toàn khác biệt về chất so với sở hữu tư
nhân của các xã hội tiền tư bản
Đối với Mác, sản xuất TBCN là một dạng sản xuất hàng hóa phổ biến được phát triển lên từ sản xuất hàng hóa giản đơn Ông luôn luôn khẳng định: sở hữu tư nhân là một trong hai điều kiện cho sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa (Mác, 1993c) Chính trên nền tảng của sở hữu tư nhân mà những người sản xuất hàng hóa cần phải trao đổi với nhau Phân công lao động chia tách họ với nhau, đồng thời sự trao đổi hàng hóa lại liên kết họ với nhau Chỉ trong chế độ sở hữu tư nhân, khi những người sở hữu hàng hóa đối diện với nhau như những chủ thể kinh tế độc lập, khi những người này không có khả năng chiếm đoạt sản phẩm của người khác thông qua sự phân phối trực tiếp hay các quan hệ cống nạp, các giao dịch thị trường mới trở nên cần thiết Quan điểm này của Mác là nhất quán Vì cho rằng CNXH với tính cách là sự phủ định của CNTB sẽ được thiết lập trên cơ sở chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất, Mác luôn hình dung trong CNXH sẽ không còn sản xuất hàng hóa (Mác, 1993b) Trong các mô hình CNXH hiện thực trước đây, khi phải nhân nhượng
Trang 7với thực tiễn về sự tồn tại của các quan hệ hàng hóa- tiền tệ, các nhà lý luận mác-xit phải sửa đổi một cách sai lầm luận điểm này của Mác bằng cách lý giải rằng: trong CNXH, sự tách biệt tương đối giữa các chủ thể kinh tế (chứ không nhất thiết là sở hữu tư nhân) là cơ sở của các quan hệ hàng hóa, quan hệ thị trường1 Tuy nhiên, trên thực tế, một khi sở hữu tư nhân không được thừa nhận hoặc không được thừa nhận một cách đúng mức, các quan hệ thị trường không thực sự phát triển và phát triển một cách lành mạnh
Từ cách lý giải của Mác có thể thấy kinh tế thị trường đích thực với tính cách là nền kinh tế hàng hóa phổ biến phải dựa trên nền tảng: quyền sở hữu tư nhân phổ biến
về các tài sản được xác lập và thừa nhận Ở thời của Mác, công nhân nói chung có thể không có tư liệu sản xuất song điều đó không hàm nghĩa là họ không có quyền sở hữu các tư liệu sản xuất một khi họ là những cá nhân độc lập và tự do, không lệ thuộc trực tiếp vào người khác Họ có quyền sống, quyền lao động tức quyền tự do
sử dụng ít nhất là thứ tài sản mà mình có như thân thể, kiến thức, kỹ năng…, những thứ quyền mà người nô lệ hay nông nô trong các xã hội trước đây không có Chính điều này mở ra tiềm năng để họ có thể sở hữu các tài sản vật chất khác một khi năng suất lao động xã hội tăng lên, các điều kiện xã hội khác xuất hiện cho phép họ chuyển hóa những năng lực lao động của mình thành tiền bạc, tài sản nhiều hơn – điều mà thời Mác về cơ bản chưa xảy ra Mặt khác, chính tính chất phổ biến của quyền tư hữu về các tài sản, với việc thủ tiêu các quan hệ thống trị - lệ thuộc cá nhân trực tiếp khiến cho các quan hệ thị trường trở nên phổ biến2
Tuy nhiên, lát cắt thứ hai cho thấy, chúng ta cần thận trọng hơn khi tiếp thu một
số luận điểm cụ thể của Mác về chế độ sở hữu TBCN (cũng như các quan điểm có tính chất dự báo của ông về chế độ sở hữu trong CNXH mà ở phần sau bài viết này
sẽ phân tích) Các luận điểm kinh tế trong học thuyết của Mác, theo đúng tinh thần triết học của ông, suy đến cùng, cũng chỉ là sự phản ánh những điều kiện thực tế của thời đại công nghiệp đại cơ khí thời Mác Chúng cần được kiểm nghiệm lại theo tinh thần “thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý” Từ khi Mác mất đến nay (2018), 135 năm
đã trôi qua và thế giới đã có quá nhiều đổi khác Vì thế, sẽ là dễ hiểu nếu có những luận điểm mà Mác nêu lên và từng được thừa nhận rộng rãi song giờ đây không còn giải thích được thế giới ngày nay nữa
1 Chẳng hạn xem: Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Đình Kháng, Nguyễn Văn Luân và Nguyễn Xuân Khoát (Eds), (2002), tr.50 Nhiều giáo trình sau này vẫn trình bày như vậy.
2 Ở chỗ này người ta hay nhầm lẫn khi cho rằng kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của CNTB, mà
là sản phẩm chung, đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau Sự thực, trong các xã hội tiền tư bản, các quan hệ thị trường chỉ là những quan hệ bên lề, thứ yếu, bị chi phối bởi các quan hệ kinh tế tự nhiên.
Trang 8Khi đối chiếu với thực tiễn, chúng ta thấy cho đến nay CNTB chẳng những chưa sụp đổ như lý thuyết Mác dự báo mà vẫn tiếp tục tồn tại với những sức sống mới phù hợp với các điều kiện phát triển mới của nền kinh tế tri thức CNXH hiện thực – vốn xuất hiện không phải ở những nước tư bản phát triển nhất giống như tiên liệu của Mác, trên thực tế đã không tạo ra được NSLĐ cao hơn hẳn CNTB, mới thực
sự sụp đổ Các nước vẫn tiếp tục con đường XHCN như Trung Quốc, Việt Nam… đều phải tiến hành cải cách, đổi mới theo hướng chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường – vốn bị phủ nhận trong mô hình CNXH
cũ Những bằng chứng thực tiễn như vậy đòi hỏi phải cắt nghĩa, thẩm định lại những luận đề trên của Mác
Luận đề nhấn mạnh sự xung đột (chứ không phải hợp tác) giữa tư bản và lao động cũng như tính chất bóc lột của quan hệ sản xuất TBCN dựa chủ yếu trên các luận điểm: 1 Lao động là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị (hàng hóa); 2 Giá trị sức lao động của người công nhân làm thuê (theo Mác, đó là cái mà tiền lương xoay quanh) được quy về giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của người công nhân Luận điểm thứ nhất có nguồn gốc từ những nhà kinh tế học trước Mác (khởi thủy từ W Petty) Nó ra đời trong hoàn cảnh mà thời đại kinh tế nông nghiệp (theo một cách phân kỳ khác, người ta cho rằng lịch sử sản xuất xã hội của loài người diễn tiến theo trình tự: kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và hiện nay đang bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức) về căn bản còn đóng vai trò thống trị Trong thời đại đó, lao động (cơ bắp) là nguồn lực quan trọng nhất, dẫn dắt, chi phối các quá trình tạo ra của cải Lý luận giá trị - lao động, vì vậy chính là sự phản chiếu tầm quan trọng có tính chất lịch sử của nguồn lực này Khi thời đại kinh
tế nông nghiệp bị vượt qua và lùi sâu vào quá khứ, lý luận giá trị - lao động cũng mất dần chỗ đứng trong các lý thuyết kinh tế học hiện đại Nó được thay thế bằng các lý thuyết mới giải thích tốt hơn các yếu tố chi phối sự vận động lên, xuống của giá cả
và tiền lương (ví dụ nổi tiếng được các nhà kinh tế sau này dùng để phản bác lý luận giá trị - lao động là: giá trị của viên ngọc trai tự nhiên không chỉ bao gồm lao động
mà người thợ mò ngọc trai kết tinh vào Chính vì nó có giá trị nên người ta mới đi
mò ngọc trai chứ không phải ngược lại) Các lý thuyết này cũng không còn xem tiền lương là hình thức biểu hiện của giá trị sức lao động, trong đó giá trị sức lao động của người công nhân làm thuê được quy về giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của họ (Mác, 1993c), vì điều đó rõ ràng không đúng với hiện thực của các nền kinh tế hiện đại Nó đặc biệt không giải thích được hiện tượng tiền lương cao một cách ổn định, phổ biến của những người có khả năng lao động
Trang 9đặc biệt như các vận động viên, các ca sỹ hay các CEO tài năng3 Khi cho rằng tiền lương bị quy định bởi giá trị sản phẩm biên của lao động, kinh tế học hiện đại giải thích chính xác hơn bản chất tiền lương, tiền công của mọi loại hình lao động
Ngoài ra, khác với thời của Mác, ngày nay nhiều người trung lưu hay giàu có vẫn có thể là những người làm thuê mặc dù họ không phải là những người hoàn toàn không có tư liệu sản xuất Theo Mác, một trong các điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa, do đó lao động trở thành lao động làm thuê, là tình trạng không có
tư liệu sản xuất của những người lao động Trong nền kinh tế hiện đại, nhất là khi khu vực dịch vụ ngày càng lớn mạnh, một người vừa có thể là người làm thuê ở chỗ này song lại là ông chủ kinh doanh ở chỗ khác Người ta cũng có thể vừa là lao động làm thuê song đồng thời cũng là cổ đông của chính doanh nghiệp nơi mình làm việc Trước đây, Mác hình dung vị trí chức năng trong hệ thống sản xuất giữa tư bản
và lao động là tương đối cố định do quan hệ giữa hai nhóm xã hội này luôn có khả năng tự tái tạo Người công nhân do chỉ nhận được những đồng tiền lương ít ỏi, chỉ
đủ duy trì đời sống của mình và gia đình mình, cho nên họ bị cột chặt vào thân phận của người không có tư liệu sản xuất và buộc phải đi làm thuê Ngày nay, cùng với sự tiến bộ về khoa học và công nghệ, với sự gia tăng về mức trang bị vốn (hiện vật) trên mỗi đơn vị lao động, sản phẩm biên do lao động tạo ra tăng lên là cơ sở cho tiền lương và thu nhập nói chung của người lao động được cải thiện dần theo thời gian Mặt khác, hệ thống an sinh xã hội được thiết lập và ngày càng được hoàn thiện, các
cơ hội tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế dần dần được mở rộng cho mọi người dân trong các nước phát triển Nói cách khác, các thể chế kinh tế thị trường hiện đại
đã khiến cho tính linh động xã hội trở thành một thực tế, do đó, một người vốn xuất thân nghèo khó vẫn có thể vươn lên thành người giàu có và ngược lại Địa vị của mỗi người trong hệ thống sản xuất xã hội ngày càng phụ thuộc vào việc tích lũy vốn nhân lực (tri thức, kỹ năng, nghị lực, ý chí…) hơn là các nguồn lực vật chất Do tính linh động xã hội này mà ranh giới, hố ngăn cách giữa các giai cấp trong xã hội trở nên
mờ nhạt hơn
Những điều nói trên cho thấy toàn bộ các quan hệ sản xuất hiện thực của các xã hội thị trường hiện đại, vốn cần thiết để hiểu chân xác hơn quan hệ sở hữu trong các
xã hội này như chính Mác gợi ý, đã khác xa so với chính các quan hệ này ở thời Mác Sự thật thì ở thời Mác, tính chất gay gắt của sự xung đột giai cấp, xã hội là không thể phủ nhận và đó là cơ sở thực tiễn cho dự báo của Mác về sự sụp đổ không
3 Không hiếm cầu thủ ở các câu lạc bộ bóng đá châu Âu hiện có mức lương trên 100.000 bảng/tuần Số tiền này vượt xa nhu cầu tái sản xuất ra sức lao động của họ và gia đình họ.
Trang 10tránh khỏi, trong một tương lai gần của CNTB thời Ông Sự xung đột này bắt nguồn
từ thế yếu tương đối của những lao động nghèo khó trong quan hệ giao dịch giữa tư bản và lao động khi mà nỗ lực làm giàu của các nhà tư bản hay những người tư hữu
bị dẫn dắt bởi lòng tham không được chế ngự, mặc dù cũng chính nỗ lực ấy có thể đem lại sự thịnh vượng chung cho xã hội như A Smith khẳng định (Smith, 1997) Tuy nhiên, thực tế, như ta đã biết, sự sụp đổ của CNTB hay của hệ thống kinh tế thị trường dựa trên quyền tư hữu phổ biến đã không xảy ra Một mặt, nó chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của mình vì nó phù hợp với giai đoạn lịch sử mà con người về căn bản còn là những người tư lợi, những người hành động trước hết vì lợi ích cá nhân thiết thân của mình Dựa trên nền tảng quyền tư hữu được tôn trọng và bảo vệ,
hệ thống này khuyến khích các cá nhân khai thác hữu hiệu các tài sản và các tiềm năng của mình trong các hoạt động sản xuất, trao đổi nhằm tối đa hóa các lợi ích bản thân Tất cả những điều đó tạo ra sự năng động và thịnh vượng của các nền kinh tế thị trường Vì lẽ đó, trong hai trăm năm qua, bất chấp những thay đổi khác nhau trong hệ thống này, “chế độ tư hữu vẫn tiếp tục đóng vai trò trung tâm”, quyền tư hữu không những không yếu đi mà ngày càng được củng cố và mở rộng ở mức độ tinh vi hơn (Tan, 2008) Mặt khác, nó tiếp tục phát triển nhờ giải pháp tự hoàn thiện mình, thông qua việc phát triển các thể chế để bảo vệ các cá nhân ở thế yếu và bất lợi, để trừng phạt các hành vi kinh doanh gian dối, không lành mạnh và có tính chất lạm dụng (đối với nhóm yếu thế), do đó, làm giảm đi những xung đột và mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích Nhà nước hiện đại ngày càng đóng tốt hơn vai trò là trọng tài (bên thứ ba) trong các giao dịch thị trường (Tan, 2008) thông qua việc ban hành và cưỡng chế thực thi các quy tắc, luật lệ cần thiết cho sự hoạt động hiệu quả của khu vực tư nhân Các chức năng của nhà nước cũng được mở rộng để đối phó với các
“thất bại thị trường”, bảo vệ cạnh tranh tự do (chống độc quyền, hiệu chỉnh ngoại ứng, cung cấp hàng hóa công, ổn định kinh tế vĩ mô…) Các hệ thống an sinh xã hội được thiết lập, các chính sách phân phối lại được áp dụng để hạn chế sự bất bình đẳng thu nhập Sự mở rộng và hoàn thiện không ngừng vai trò của nhà nước với tư cách là một thể chế cung cấp các dịch vụ công vừa giúp duy trì hoạt động lành mạnh của thị trường tự do, vừa bổ sung và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường Quy mô của khu vực công trong các nền kinh tế thị trường hiện đại lớn hơn nhiều so với thời Mác, song đó không phải lực lượng thay thế khu vực tư (Phí & Trần, 2014)
4 Về quan niệm của C Mác về chế độ sở hữu trong CNXH
Các luận điểm của Mác về CNXH và chế độ công hữu đặc trưng của nó, hoàn toàn chỉ là những phác thảo, có tính chất như những dự báo về những cái có thể xuất