1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ LUẬN PHÂN PHỐI THEO LAO ĐỘNG CỦA CÁC MÁC VỚI CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG CHO CÁC BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

15 144 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 35,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiền lương trong khu vực Nhà nước gắn liền với đời sống của hàng triệu người lao động bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời cũng gắn với vấn đề an sinh xã hội và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Vì thế, nghiên cứu và xây dựng một chính sách tiền lương hợp lý vừa là trách nhiệm của Đảng và Nhà Nước vừa là hành động thiết thực cụ thể để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Từ lý luận phân phối theo lao động của Các Mác, sẽ gợi ý cho những chính sách và giải pháp nhằm cải cách tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian tới.

Trang 1

LÝ LUẬN PHÂN PHỐI THEO LAO ĐỘNG CỦA CÁC MÁC VỚI CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG CHO CÁC BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

PGS.TS Nguyễn Minh Tuấn Trường Đại học Kinh tế TP HCM

Tóm tắt: Tiền lương trong khu vực Nhà nước gắn liền với đời sống của hàng triệu người lao động bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời cũng gắn với vấn đề an sinh xã hội và góp phần thực hiện công bằng xã hội Vì thế, nghiên cứu và xây dựng một chính sách tiền lương hợp lý vừa là trách nhiệm của Đảng và Nhà Nước vừa là hành động thiết thực cụ thể để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Từ lý luận phân phối theo lao động của Các Mác, sẽ gợi ý cho những chính sách và

giải pháp nhằm cải cách tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian tới

Từ khoá: Phân phối theo lao động, chính sách tiền lương, cán bộ, công chức, viên chức, phê phán cương lĩnh Gôta

1 Lý luận phân phối theo lao động của Các Mác

Lý luận phân phối theo lao động được C Mác trình tác phẩm “Phê phán cương lĩnh

Gôta” Theo C Mác, phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế dựa trên

cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, hoặc hợp tác xã do các thành viên tự nguyện góp vốn Lý luận phân phối theo lao động của C Mác bao gồm:

Một là, điều kiện tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động gồm hai mặt có quan

hệ chặt chẽ với nhau, đó là:

- Phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa

- Phân phối theo lao động được thực hiện trong điều kiện kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất

Cách thức phân phối theo lao động là thích hợp nhất trong giai đoạn đầu của xã hội Cộng sản chủ nghĩa, bởi vì nó được dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, đồng thời theo C Mác do lực lượng sản xuất chưa phát triển cao như trong CNCS, vì vậy chưa thể thực hiện phân phối theo nhu cầu mà phải phân phối theo lao động Trong thời kỳ quá độ và

Trang 2

dưới CNXH, trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mỗi thành viên trong xã hội ngoài cung cấp lao động cho xã hội ra không phải cung cấp bất cứ cái gì khác, vì vậy chỉ có lao động mới có thể trở thành thước đo đánh giá cống hiến của mọi người đối với xã hội nhiều hay ít Trong chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mọi người đều có quyền bình đẳng đối với tư liệu sản xuất, quyền bình đẳng đó chỉ có thể chuyển hoá thành quyền lợi lao động bình đẳng, lao động trở thành phương tiện mưu sinh, trở thành tiền đề quan trọng để thu được lợi ích kinh tế, do đó phân phối theo lao động là một tất yếu khách quan

Hai là, nguyên tắc và phương thức phân phối theo lao động

Theo C Mác, phân phối theo lao động không có nghĩa là mỗi người làm được bao nhiêu sản phẩm thì được hưởng hết bấy nhiêu Trái lại, tổng sản phẩm do lao động xã hội tạo ra phải được đem phân phối cho tiêu dùng cá nhân, cho tích lũy để tái sản xuất mở rộng

và cho tiêu dùng công cộng của xã hội Đồng thời phương thức phân phối theo lao động sẽ thay đổi tùy theo cơ cấu sản xuất xã hội và trình độ phát triển lịch sử, cụ thể trong từng giai đoạn của mỗi nước

Ngoài ra, theo C Mác, trong CNXH của cải làm ra chưa đạt đến mức dồi dào, lao động còn là nghĩa vụ, là phương tiện để sinh sống chứ chưa trở thành nhu cầu bậc nhất của đời sống như ở giai đoạn cao là Chủ nghĩa cộng sản (CNCS) Do đó, cách phân phối sản phẩm theo lao động được dựa trên nguyên tắc:

- Người nào không làm thì không ăn;

- Số lượng lao động ngang nhau thì hưởng số sản phẩm ngang nhau

Hơn nữa, CNXH ra đời và phát triển chưa phải dựa trên cơ sở của chính nó mà mới thoát thai từ xã hội cũ, nên vẫn còn nhiều dấu vết, sức ỳ của xã hội cũ, nhiều người còn trốn tránh, lười biếng trong lao động Vì vậy, cần thiết phải phân phối theo lao động đi kèm với kiểm tra, kiểm soát nghiêm mức độ lao động và tiêu dùng của mỗi người

Như vậy, C.Mác đã xác lập cơ sở của mối liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, lao động trở thành điều kiện tất yếu để nhận được thu nhập tương ứng Lý luận phân phối theo lao động của C Mác thừa nhận tồn tại sự khác biệt về thu nhập, do kết quả lao động của mỗi người khác nhau và phủ nhận phân phối bình quân Sự khác biệt trong phân phối

Trang 3

theo lao động, chính là sự công bằng trong phân phối mà không phải là chủ nghĩa bình quân

Ngoài lý luận về phân phối theo lao động được trình bày trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” Khi nghiên cứu về phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa (TBCN), C.Mác đã chứng minh rằng lao động không phải là hàng hóa mà sức lao động mới là hàng hóa, vì vậy đối tượng mua bán trên thị trường lao động (TTLĐ) là sức lao động

Sức lao động là sự tổng hợp thể lực và trí lực ở trong cơ thể sống của một con người, được người đó đem ra sử dụng để tạo ra một sản phẩm cụ thể có giá trị sử dụng

Lao động có thể hiểu theo cả hai nghĩa: lao động là một quá trình sống, là sự tiêu dùng sức lao động vào mục đích sản xuất, là quá trình kết hợp giữa tư liệu sản xuất với sức lao động của con người Theo nghĩa này, lao động là một quá trình, và nó không thể là đối tượng của mua và bán Mặt khác, lao động hiểu theo nghĩa là sự vật hóa lao động, là sự tiêu dùng sức lao động, lao động không có giá trị, giống như việc tiêu dùng bất cứ một vật có ích nào khác cũng đều không có giá trị, vì giá trị sử dụng không phải là giá trị Trên thực tế, người lao động không thể bán lao động vật hóa, mà chỉ bán năng lực lao động của mình mà thôi, tức là chỉ bán sức lao động Do đó, đối tượng mua – bán trên TTLĐ là sức lao động chứ không phải là lao động

Trong lý luận về hàng hóa sức lao động, C Mác còn chỉ ra một điều kiện để đảm bảo sức lao động là hàng hoá, đó là người lao động chỉ bán sức lao động của mình trong một thời gian nhất định Thời gian đó được người mua và người bán hàng hoá sức lao động thoả thuận trên thị trường và được thể hiện trên hợp đồng nhằm đảm bảo tính pháp lý của nó Như vậy, trong lý luận của C Mác, đối tượng mua bán trên TTLĐ là sức lao động chứ không phải là lao động Trên cơ sở lý luận về hàng hóa sức lao động, C.Mác xây dựng lý luận về tiền công trong Chủ nghĩa tư bản (CNTB) Lý luận tiền công của C.Mác khẳng định bản chất của tiền công trong CNTB là giá cả của hàng hoá sức lao động, nó bao gồm các yếu tố sau:

Một là, đảm bảo các nhu cầu vật chất và tinh thần để nuôi sống người lao động Hai là, đảm bảo các nhu cầu vật chất và tinh thần để nuôi sống con cái, gia đình

người lao động Bởi vì, tái sản xuất sức lao động không chỉ về chất lượng mà còn về số

Trang 4

lượng Con cái người lao động chính là lực lượng thay thế và bổ sung cho thị trường sức lao động

Ba là, đảm bảo trang trải các chi phí đào tạo người lao động có được trình độ lành

nghề thích hợp Bởi vì người lao động tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ dựa vào thể lực mà còn sử dụng cả trí tuệ Sản xuất ngày càng phát triển, lao động ngày càng phức tạp nên chi phí đào tạo ngày càng tăng

Giá trị hàng hóa sức lao động còn bao hàm cả yếu tố lịch sử và tinh thần Điều đó có nghĩa là những nhu cầu, cũng như quy mô nhu cầu của người lao động tùy thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế, điều kiện tự nhiên, tập quán, trình độ văn minh đã đạt được Điều này cho thấy, một mặt, giá trị sức lao động của những người sống ở các vùng, quốc gia khác nhau có sự khác nhau, nên tiền công của họ có sự chênh lệch Mặt khác, sản xuất ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, trình độ văn minh ngày càng cao, nên nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại Vì vậy, giá trị sức lao động cũng như tiền công không phải là cố định mà xu hướng vận động của chúng ngày càng tăng lên

Tiền công phải dựa trên cơ sở giá trị sức lao động và được hình thành trên thị trường chủ yếu do tương quan cung – cầu sức lao động quyết định Sự tương tác cung – cầu sẽ tiến tới thiết lập một giá cả ở mức cân bằng mà cả hai bên mua và bán đều sẵn sàng chấp nhận

“Quan hệ cung và cầu về lao động thay đổi không ngừng và cùng với chúng giá cả thị trường của lao động cũng thay đổi theo Nếu cầu vượt quá cung thì tiền công tăng lên; nếu cung vượt quá cầu thì tiền công hạ xuống” (C Mác và Ph Ăngghen -Toàn tập, NXBCTQG

1993, tập 23, tr 245) Điều này đồng nghĩa với việc nếu cung sức lao động lớn hơn cầu sức lao động, thì người công nhân sẽ có vị thế mặc cả thấp hơn trong quan hệ lao động, vì nhu cầu kiếm sống người công nhân sẵn sàng chấp nhận làm việc với mức lương thấp, chấp nhận bị bóc lột sức lao động, ít di chuyển chỗ làm và ít đấu tranh với giới chủ để đòi tăng lương vì họ luôn đứng trước nguy cơ bị mất việc làm Ngược lại, khi lao động khan hiếm tức cung sức lao động thấp hơn cầu sức lao động, cá nhân hay tập thể người lao động sẽ có

vị thế mặc cả cao hơn Người công nhân không hài lòng với điều kiện làm việc ở doanh

Trang 5

nghiệp này có thể chuyển đến một doanh nghiệp khác với hy vọng có điều kiện tốt hơn một cách dễ dàng

Lý luận về tiền công của C.Mác còn phân biệt tiền công danh nghĩa và tiền công thực

tế Tiền công danh nghĩa là tiền công mà người lao động nhận được dưới hình thức tiền tệ Tiền công thực tế là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người lao động mua được bằng tiền công danh nghĩa với mức giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường sau khi đã trừ đi thuế

và các khoản trích nộp khác Như vậy, tiền công thực tế tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hóa và dịch vụ Do đó, tiền công danh nghĩa nếu không được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống Vì vậy, để bảo đảm tiền công thực tế cho người lao động cần

có sự điều chỉnh tiền công danh nghĩa theo tỷ lệ lạm phát Đối với người lao động, lợi ích

và mục đích cuối cùng của việc cung ứng sức lao động là tiền công thực tế chứ không phải

là tiền công danh nghĩa Khi nghiên cứu thực tế của Chủ nghĩa tư bản, C.Mác nhận thấy tiền công danh nghĩa thường cứng nhắc hơn so với giá cả tư liệu sinh hoạt, “… những giá cả của lao động thì ổn định hơn nhiều so với những giá cả của tư liệu sinh hoạt Thường thường hai cái đó tỷ lệ nghịch với nhau” (C Mác và Ph Ăngghen-Toàn tập, NXBCTQG 1993, tập 23,

tr 252) Do đó, khi giá cả tư liệu tiêu dùng tăng lên nếu tiền công danh nghĩa không được điều chỉnh thì sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người lao động

2 Thực trạng chính sách tiền lương đối với các bộ, công chức, viên chức

Về mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng

Mức lương tối thiểu do nhà nước quy định là cơ sở xác định, xây dựng các mức lương trong thang lương, bảng lương để trả lương, đóng, hưởng BHXH và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến quyền lợi của cán bộ, công chức, viên chức (CB, CC, VC) và

người lao động theo quy định của pháp luật Mặc dù việc điều chỉnh mức lương tối thiểu

chung và mức lương tối thiểu vùng trong thời gian qua là một nổ lực lớn của Nhà nước trong cải cách chính sách tiền lương, phù hợp với khả năng chi trả của ngân sách Nhà nước

và doanh nghiệp Tuy nhiên, mức lương tối thiểu hiện nay chưa phù hợp với cơ chế thị trường, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng không kịp so với mức tăng của giá cả sinh hoạt hàng ngày và mức tăng trưởng của nền kinh tế, do đó tiền lương thực tế của CB, CC,

Trang 6

VC và người lao động có phần giảm sút và không đảm bảo trang trải cho các nhu cầu thiết yếu của bản thân, chưa kể đến gia đình của họ, nhất là trong tình hình lạm phát tăng cao

Từ năm 2008 đến tháng 10 năm 2011 chính sách tiền lương, còn gắn mức lương tối thiểu vùng 4 của doanh nghiệp với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên khó khăn trong việc nâng tỷ lệ tăng, do phụ thuộc chủ yếu vào nguồn ngân sách nhà nước Mặt khác, đối với các doanh nghiệp được phân chia theo địa bàn 4 vùng để áp dụng mức lương tối thiểu vùng nhưng trên thực tế khi áp dụng, doanh nghiệp chỉ điều chỉnh tăng tiền lương đóng, hưởng BHXH, BHYT, BHTN và các khoản chi thấp hơn theo quy định còn tiền lương thực tế doanh nghiệp trả cho người lao động cao hơn so với quy định, nên doanh nghiệp có thể không điều chỉnh hoặc có điều chỉnh nhưng mức điều chỉnh tăng không theo tỷ lệ tăng tiền lương tối thiểu vùng

Bảng 1: Quy định mức lương tối thiểu chung (lương cơ sở), 1995-2017

Nghị định/Nghị quyết Thời điểm áp dụng Lương cơ sở Tốc độ tăng (%)

Nguồn: Tổng hợp Nghị định của Chính phủ về tiền lương

Trong thời gian qua, các doanh nghiệp đã trả lương cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng Đặc biệt tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu là một trong những tỉnh phát triển ngành công nghiệp dầu khí, có tỷ trọng kinh tế cao Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu khí và dịch vụ dầu khí trả lương cho người lao động khá cao, gấp nhiều lần

Trang 7

tiền lương của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp Vì vậy, việc Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng không ảnh hưởng đến việc trả lương của doanh nghiệp, đã

có sự phân biệt về khoảng cách trong đời sống giữa những ngừời lao động và kéo theo sự đắt đỏ về giá cả

Như vậy việc tăng mức lương tối thiểu trong thời gian qua chưa góp phần cải thiện đời sống của người làm công ăn lương nhất là cán bộ công chức, viên chức và người lao động làm việc trong doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động như lĩnh vực may mặc, giày da, chế biến hải sản…Chính sách tiền lương chưa thực sự là đòn bẩy khuyến khích được CB,

CC, VC nâng cao trách nhiệm, hiệu quả, phát huy năng lực trong thực thi công vụ; có nhiều công chức, viên chức, nhất là đội ngũ trẻ, có trình độ chuyên môn cao chuyển sang các doanh nghiệp có mức lương cao như các công ty dầu khí, công ty nước ngoài,…đời sống của nhiều người lao động còn rất khó khăn

Về thang lương, bảng lương

Mặc dù hệ thống thang bảng lương hiện nay đã được thu gọn và đã đơn giản hơn khi thực hiện, đã có sự phân biệt mức lương từng loại, từng chức danh, từng nhóm ngành, điều kiện làm việc và mức độ làm việc Cách xếp lương đối với cán bộ cấp xã hiện nay là một bước tiến mới, phần nào đem lại sự phấn khởi, an tâm cho đội ngũ này Trong doanh nghiệp được nhà nước giao quyền chủ động để áp dụng hệ thống thang, bảng lương Tuy nhiên, trong hệ thống thang, bảng lương còn một số hạn chế như:

- Hệ thống thang lương, bảng lương hiện nay còn nhiều bảng lương và thang lương; khoảng cách giữa các bậc lương chênh lệch không đáng kể so với thời gian nâng bậc làm giảm động lực phấn đấu của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động

- Hệ số lương khởi điểm các ngạch có trình độ đại học (2,34); ngạch nhân viên văn thư (1,35), nhân viên phục vụ (1,0) là quá thấp; một số thang bảng lương còn bất cập, một

số chế độ phụ cấp chưa phù hợp

- Hệ thống thang lương, bảng lương chưa phát huy được tác dụng khuyến khích người lao động trong sáng tạo, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

- Việc ban hành bảng lương gắn với tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch công chức,

viên chức; từ năm 2004 đến nay, các ngạch công chức, viên chức vẫn áp dụng theo tiêu

Trang 8

chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức từ năm 1994 do Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) ban hành Tuy nhiên, có một số tiêu chuẩn ngạch đến nay không còn phù hợp như ngạch hành chính, kỹ thuật (nhóm 13 ), ngạch văn hoá (nhóm 17 ); ngạch nhân viên quản lý thị trường có mã số ngạch mới, nhưng chưa có quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ, hiện vẫn áp dụng tiêu chuẩn của ngạch công chức ngành thuế

- Mức phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã không quá 1,0 lần mức lương tối thiểu và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, là quá thấp và không phù hợp với tính chất công việc đảm nhận Thực tế tại địa phương, các đối tượng này vẫn làm việc trong thời gian hành chính cùng với cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã Ngoài ra, để có thể cùng với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã làm việc, những đối tượng này vẫn đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương đương các chức danh công chức Do đó, chế độ, chính sách đối với những đối tượng này chưa phù hợp, làm ảnh hưởng đến tâm lý làm việc của một đội ngũ đóng vai trò khá quan trọng (có thể nói là không thể thiếu) trong giải quyết công việc tại chính quyền địa phương cơ sở

- Việc nhà nước quy định hệ thống thang lương, bảng lương và phụ cấp lương áp dụng đối với công ty nhà nước mang nặng tính hình thức Tiền lương thực tế của người lao động được trả theo đơn giá tiền lương, theo lợi nhuận và theo hiệu quả sản xuất kinh doanh với mức cao hơn nhiều lần so với mức lương cơ bản của người lao động Mức lương theo

hệ thống thang lương, bảng lương và phụ cấp lương do Chính phủ quy định chỉ còn giữ vai trò làm cơ sở tính đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật lao động như vậy mức lương cơ bản theo hệ thống thang lương, bảng lương nhà nước không phản ánh thực chất giá cả sức lao động

Đối với doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp FDI: Nhà nước đưa ra những nguyên tắc chung xây dựng thang lương, bảng lương, quy định mức lương của lao động đã qua đào tạo cao hơn 7% mức lương tối thiểu vùng, không phân biệt trình độ đào tạo (sơ cấp, công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng và đại học) Do đó nhiều doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp FDI chỉ trả cao hơn 7% so với mức lương tối thiểu vùng để đóng BHXH, BHYT và thực hiện các quyền lợi khác đối với người lao động thuộc các trình độ được đào tạo, nhất là các doanh nghiệp trong lĩnh vực thuộc da, giày, túi xách, chế biến hải sản.Việc

Trang 9

trả lương như trên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người lao động, dẫn đến một

bộ phận không nhỏ người lao động có thu nhập thấp, đời sống khó khăn và trở thành nguyên nhân chủ yếu phát sinh tranh chấp lao động, có lúc có nơi gay gắt dẫn đến tình trạng người lao động lãn công, đình công

Việc đăng ký thang lương, bảng lương với cơ quan quản lý nhà nước về lao động nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc, làm hạn chế công tác giám sát việc trả lương cho người lao động theo quy định của pháp luật lao động Cơ chế giám sát các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp FDI thực hiện các quy định pháp luật về tiền lương, tiền công, bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động còn hạn chế, chế tài của nhà nước trong chính sách tiền lương chưa đủ mạnh để buộc doanh nghiệp phải thực hiện các quy định của pháp luật lao động về tiền lương

Về thực hiện chế độ phụ cấp

Tên gọi và cách áp dụng các loại chế độ phụ cấp như hiện nay là tương đối phù hợp Tuy nhiên, vẫn còn một số khoản phụ cấp cần xem xét lại như:

- Các chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp kiêm nhiệm, phụ cấp độc hại còn thấp, chưa phù hợp

- Sau khi có Nghị định 204/2005/NĐ-CP; căn cứ thông tư 02/2005/TT-BNV và thông

tư 83/2005/TT-BNV, năm 2005 UBND tỉnh đã ban hành quy định tạm thời về chế độ phụ cấp chức vụ cho các đơn vị sự nghiệp mà Chính phủ chưa quy đinh mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều đơn vị sự nghiệp chưa có hướng dẫn xếp hạng, nên việc quy định mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo của từng đơn vị này cũng chưa thật sự quy củ; việc điều chỉnh lên xuống cho các tổ chức này cũng chưa có đủ cơ sở, vì không có các tiêu chí nào được quy định cụ thể; ngoài ra còn một số đơn vị Chi cục trực thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn ở địa phương từ năm 2005 đến nay chưa có hướng dẫn

về phụ cấp chức vụ lãnh đạo, hiện vẫn còn hưởng mức phụ cấp chức vụ theo bảng lương của Nghị định 25/CP, các bộ ngành có hứa sẽ ban hành văn bản quy định, hướng dẫn, nhưng

đã qua 7 năm thực hiện chế độ tiền lương mới vẫn chưa có quy định Vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của cán bộ, công chức rất thiệt thòi trong khi tiền lương thấp, trách nhiệm đòi hỏi ngày càng cao, nhưng chế độ chính sách chưa được quan tâm đúng mức

Trang 10

- Hiện nay đối với công chức đã có phụ cấp công vụ, viên chức thuộc các ngành sự nghiệp lớn như giáo dục, y tế, văn hoá…đã có các loại phụ cấp thâm niên hay đặc thù ngành; riêng hiện nay còn một số loại sự nghiệp khác, viên chức không có loại phụ cấp đặc thù, thâm niên nào, kể cả những người làm việc tại các bộ phận hành chính trong cùng một đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, những không phải là nhà giáo hay viên chức y tế,…từ đó làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm tư của những viên chức này, và cũng gây khó khăn cho công tác điều động, luân chuyển công chức hay viên chức đến công tác tại các đơn vị vị, bộ phận không được hưởng các khoản phụ cấp thâm niên,… nếu cơ quan, tổ chức có yêu cầu

Những tồn tạo và hạn chế của chính sách tiền lương đối với CB, CC, CV

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc cải cách chế độ tiền lương Đặc biệt, cơ chế quản lý tiền lương, chính sách tiền lương, tiếp tục được đổi mới, mức lương tối thiểu được điều chỉnh qua các năm, chế độ tài chính phục vụ cho hoạt động công vụ được nâng dần qua các giai đoạn đã góp phần cải thiện đời sống, sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, công chức Tuy vậy, chế độ tiền lương hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế như:

- Tình trạng trả lương còn mang tính “cào bằng”, cán bộ, công chức được trả theo chức nghiệp, thâm niên công tác, chức vụ; tình trạng “làm nhiều, làm ít cũng hưởng lương như nhau” dẫn đến tiền lương chưa phù hợp với mức độ cống hiến, chưa phản ảnh đúng năng lực, kết quả công tác của cán bộ, công chức

- Tiền lương công chức, viên chức còn thấp, chưa đủ trang trải cho nhu cầu thiết yếu

và chưa trở thành nguồn thu nhập chính của những người hưởng lương, nhất là đối với độ ngũ công chức hành chính, do vậy dễ phát sinh tiêu cực

- Chính sách tiền lương chưa gắn đồng bộ với các chính sách liên quan như cải cách hành chính, tinh giản bộ máy và biên chế, tiêu chuẩn hóa công chức

- Tiền lương của cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế - xã hội, chưa đảm bảo cân đối và tương ứng với khu vực tư Hệ thống tiền lương trong doanh nghiệp còn mang nặng tính hình thức, không phù hợp với tình hình trả lương thực tế của các doanh nghiệp đối với người lao động; Tiền lương chưa thể hiện được hết ý nghĩa khuyến khích, động viên công chức làm việc;

Ngày đăng: 14/08/2019, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w