ÔÛ Vieät Nam trong nhöõng naêm gaàn ñaây vaán ñeà giôùi (gender) ñöôïc nhöõng nhaø nghieân cöùu xaõ hoäi ñeà caäp ñeán nhieàu trong vieäc thöïc hieän caùc döï aùn phaùt trieån1 vaø giôùi cuõng ñang trôû thaønh moät ngaønh hoïc coù tính thôøi thöôïng2. Tuy nhieân xaõ hoäi hoùa veà giôùi (gender socialization) vaãn coøn laø ñeà taøi chöa ñöôïc maáy ai quan taâm. Caùc nhaø khoa hoïc xaõ hoäi Vieät Nam chæ môùi ñeà caäp ñeán quaù trình xaõ hoäi hoùa (socialization) noùi chung. Ñeà taøi naøy ñaõ ñöôïc moät soá ngöôøi quan taâm vaø khía caïnh thöôøng ñöôïc chuù troïng nhaát laø quaù trình xaõ hoäi hoùa trong gia ñình3. Theo hieåu bieát cuûa chuùng toâi, coù leõ coâng trình nghieân cöùu veà xaõ hoäi hoùa giôùi ôû treû em Vieät Nam duy nhaát laø cuûa Helle Rydstrom4. Taùc giaû ñaõ duøng phöông phaùp quan saùt tröïc tieáp vaø quan saùt tham gia cuûa ngaønh daân toäc hoïc ñeå moâ taû veà quaù trình xaõ hoäi hoùa veà giôùi ôû treû em gaùi thuoäc naêm gia ñình ôû hai laøng thuoäc xaõ Thònh Trò5, Haø Taây. Nhö vaäy xaõ hoäi hoùa veà giôùi (gender socialization) vaãn coøn laø moät ñeà taøi môùi meõ ñoái vôùi nhieàu ngöôøi. Thaät ra vaán ñeà naøy laø raát quan troïng vaø raát thieát thaân vôùi chuùng ta, bôûi leõ khi moät ñöùa beù ñöôïc sinh ra, caâu hoûi ñaàu tieân laø “Trai hay gaùi?”. Vaø caâu traû lôøi khoâng chæ cho ta bieát veà giôùi tính (sex) cuûa ñöùa beù maø coøn
Trang 1QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA VỀ GIỚI
Ở TRẺ EM
Nguyễn Xuân Nghĩa
BAN XUẤT BẢN ĐHMBC TP HỒ CHÍ MINH
2000
Trang 2MỤC LỤC
QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA VỀ GIỚI Ở TRẺ EM
(tìm hiểu ở nội thành TP Hồ Chí Minh)
I DẪN NHẬP: 5
A B ỐI CẢNH CỦA CUỘC NGHIÊN CỨU 5
B M ỤC TIÊU CUỘC NGHIÊN CỨU 7
1 Mục tiêu: 7
2 Phương pháp 8
II KẾT QUẢ CUỘC NGHIÊN CỨU: 9
A GIỚI VÀ XÃ HỘI HÓA VỀ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG 9
B Q UÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA VỀ GIỚI Ở TRẺ EM 12
1 Các tập tục, kiêng cữ khi mang thai: 12
2 Thuộc tính của trai, gái qua việc đặt tên con: 14
3 Xã hội hóa về giới qua cách ăn mặc, hành vi, cử chỉ và qua đồ chơi, trò chơi: 15
4 Sự tham gia công việc trong gia đình: 19
5 Những điều con trai được làm và con gái không được làm và ngược lại: 23
6 Quan hệ bạn bè: 24
7 Sự mong đợi và việc giáo dục về tính cách của con trai và của con gái 25
8 Cách giáo dục của cha mẹ 28
9 Nam tính, nữ tính và sự kỳ thị, phân biệt giới tính: 29
III KẾT LUẬN: 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 39
TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN VAI TRÒ GIỚI I CÁC LÝ THUYẾT ĐỘNG THÁI TÂM LÝ HỌC 42
LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC CỦA S FREUD 42
QUAN ĐIỂM CỦA NANCY CHODOROV 43
Trang 3CÁC CƠ CHẾ SINH HỌC 46
HOÓC MÔN GIỚI TÍNH VÀ HÀNH VI 47
Nghiên cứu trên động vật 47
Nghiên cứu với con người: 48
AÛNH HƯỞNG CỦA HOÓC MÔN VÀ CẤU TẠO NÃO BỘ LÊN CHỨC NĂNG NHẬN THỨC 49
NHỮNG LỐI GIẢI THÍCH THEO THUYẾT TIẾN HÓA 50
III LÝ THUYẾT HỌC HỎI THÔNG QUA XÃ HỘI 51
NHỮNG QUÁ TRÌNH HỌC HỎI TỪ XÃ HỘI 51
CÁC TÁC NHÂN XÃ HỘI HÓA 52
LẬP LUẬN CỦA LÝ THUYẾT HỌC HỎI TỪ XÃ HỘI 52
IV LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC 55
CÁC CHỨNG CỨ CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC 56
NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA HAI LỐI TIẾP CẬN HỌC HỎI TỪ XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC 57
GIỚI VÀ CÁC NHÂN TỐ SINH HỌC, XÃ HỘI VÀ NHẬN THỨC: 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 4Danh sách các bảng
Trang 5QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA VỀ GIỚI Ở TRẺ EM
(tìm hiểu ở nội thành TP Hồ Chí Minh)
I DẪN NHẬP:
A Bối cảnh của cuộc nghiên cứu:
Ở Việt Nam trong những năm gần đây vấn đề giới (gender) được nhữngnhà nghiên cứu xã hội đề cập đến nhiều trong việc thực hiện các dự án phát triển1và giới cũng đang trở thành một ngành học có tính thời thượng2 Tuy nhiên xã hộihóa về giới (gender socialization) vẫn còn là đề tài chưa được mấy ai quan tâm.Các nhà khoa học xã hội Việt Nam chỉ mới đề cập đến quá trình xã hội hóa(socialization) nói chung Đề tài này đã được một số người quan tâm và khía cạnhthường được chú trọng nhất là quá trình xã hội hóa trong gia đình3 Theo hiểu biếtcủa chúng tôi, có lẽ công trình nghiên cứu về xã hội hóa giới ở trẻ em ViệtNam duy nhất là của Helle Rydstrom4 Tác giả đã dùng phương pháp quan sát trựctiếp và quan sát tham gia của ngành dân tộc học để mô tả về quá trình xã hội hóavề giới ở trẻ em gái thuộc năm gia đình ở hai làng thuộc xã Thịnh Trị5, Hà Tây
Như vậy xã hội hóa về giới (gender socialization) vẫn còn là một đề tài mớimẽ đối với nhiều người Thật ra vấn đề này là rất quan trọng và rất thiết thân vớichúng ta, bởi lẽ khi một đứa bé được sinh ra, câu hỏi đầu tiên là “Trai hay gái?”.Và câu trả lời không chỉ cho ta biết về giới tính (sex) của đứa bé mà còn cho tacó thể hình dung ra hướng phát triển cả cuộc đời của đứa bé Hơn thế nữa giới tínhcủa đứa bé không chỉ được đặt ra khi đứa bé vừa mới chào đời mà ngay cả trước khiđứa bé sinh ra Giới tính đặc biệt quan trọng trong những xã hội phụ quyền như xãhội Việt Nam của chúng ta
1 Hội Liên Hiệp Phụ nữ, UNICEF, UNDP, Tài liệu tập huấn về giới, Hà Nội, 1996 Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng, Phụ Nữ, giới và phát triển, NXB Phụ Nữ, Hà Nội 1996.
2 Thái thị Ngọc Dư, Tài liệu nhập môn phụ Nữ học, ĐHMBCTPHCM, 1997 Nguyễn Linh Khiếu (cb),
Nghiên cứu & đào tạo giới ở Việt Nam, Hà Nội, NXB KHXH, 1999
3 Lê Thi, Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người việt Nam, Nxb Phụ Nữ, 1997
Pham Van Bich, The Vietnamese Family in change – the case of Red River Delta, Euzon,1999.
4 Helle Rydstrom, Embodying Morality – Girls’ Socialization in a North Vietnamese Commune,
Linkoping University, 1998
5 Theo tác giả đây là một tên giả.
Trang 6Có nhiều công trình lý thuyết về phát triển giới, nhưng tựu chung có bốnkhuynh hướng lý thuyết lớn sau đây6:
Lý thuyết sinh vật học xã hội: Lập luận của lý thuyết sinh vật học xã
hội như sau: nếu những khác biệt giữa trai và gái đã tồn tại ngay khi vừa sinh rathì những khác biệt trên phản ánh ảnh hưởng của yếu tố sinh lý bởi lẽ quá trìnhxã hội hóa sẽ chỉ có ảnh hưởng rất ít trong những năm tháng đầu tiên
Lý thuyết về sự học hỏi thông qua xã hội: Cũng như nhiều hành vi khác của
con người, việc học hỏi những hành vi về giới thường thông qua việc phối hợpcác biện pháp như: tưởng thưởng, củng cố và trừng phạt Trong những nămtháng đầu tiên và trong thời niên thiếu, lấy trường hợp đứa bé trai, một đứa bétrai sẽ được khen, tưởng thưởng nếu ứng xử “như là con trai” và sẽ bị trừng phạtnếu bị chê “như là con gái” Lý thuyết này cho thấy đứa bé trai đã làm theo cáckhuôn mẫu hoặc đã bắt chước hành vi những người cùng giới tính như thế nào.Đứa bé trai suy nghĩ: “Ta muốn được thưởng, được khen và ta được khen khi làmnhững việc của con trai, do đó ta muốn là con trai” Tình trạng tương tự cũng xảy ravới các bé gái Đây là lý thuyết được ủng hộ rộng rãi và là lý thuyết đơn giảnnhất
Các lý thuyết nhận thức (cognitive theories): Lý thuyết này cho rằng sự
khác biệt về giới tính xuất hiện qua một quá trình phạm trù hóa qua đó những đứabé trai đặt mình trong nhóm (phạm trù) đàn ông và ứng xử theo nhóm này Đứa bétrai suy nghĩ: “ta là con trai do đó ta phải làm những điều con trai làm” Và ngượclại, bé gái cũng nhận thức và suy nghĩ như vậy Lối tiếp cận này đã khuyếnkhích những nghiên cứu xem trẻ em đã sở đắc và sử dụng nhận thức về giớinhư thế nào
Các lý thuyết động thái tâm lý (psychodynamic theories) : Các lý thuyến này
bắt nguồn từ lý thuyết của S Freud Theo quan điểm của Freud, quá trình xã hộihóa nói chung là một quá trình hình thành nhân cách trong việc đấu tranh chốnglại những xu hướng bẩm sinh Trong khi đó quá trình xã hội hóa về giới hìnhthành do đấu tranh về cảm xúc giữa đứa bé và những người nuôi chúng trongnhững năm tháng đầu tiên Cơ cấu cảm xúc của ở bé trai hình thành do xung độttình yêu dành cho mẹ và việc sợ bố Mối xung đột này nếu được giải quyết thànhcông sẽ dẫn đến việc đứa bé đồng hóa mạnh mẽ với cha mình và do đó mangnam tính
Một tác giả khác là Nancy Chodorov, một người chịu ảnh hưởng của
Trang 7British Psychological Society Books, 1995; R Schaffer, Early Socialization, Leicester BPS Books, 1995;
A Giddens, Sociology, Polity Press, 1997; J Macionis, K Plummer, Sociology, a Global
Introduction, Prentice Hall Europe, 1999.
Trang 8ra là nam hay nữ là do sự gắn bó của đứa bé đối với cha mẹ khi còn niên thiếu.Bà cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của người mẹ hơn người cha Đến một thờiđiểm nào đó, nhằm hình nhân cách riêng biệt của mình, sự gắn bó này cầnđược chấm dứt.
Chodorov cho rằng quá trình chấm dứt sự gắn bó này xảy ra khác nhaugiữa trẻ trai và trẻ gái Ở đứa bé gái không có một sự cắt đứt quan hệ đột ngộtnên sau này khi trở thành thiếu nữ, trẻ gái vẫn phát triển một cảm nhận về bảnngã có tính liên tục hơn trong quan hệ với những người khác Trái lại, trẻ trai hìnhthành nhận thức về bản ngã bằng một sự khước từ triệt để hơn Hình thànhnhận thức về nam tính là cái gì không thuộc về phụ nữ, khác với phụ nữ Nhữngkhuôn mẫu tâm lý này đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác vì phụ nữgiữ một vai trò hàng đầu trong quá trình xã hội hóa thời niên thiếu ở trẻ em
Nhiều tác giả đã phê bình Chodorov chưa mô tả được sự phấn đấu củaphụ nữ để trở thành những người thực sự độc lập Chodorov cũng không giảithích được tính cách của một đứa bé sống trong gia đình chỉ có cha hoặc mẹhay là trong những gia đình mở rộng có nhiều người chăm sóc nuôi dưỡng đứabé Theo A Giddens, dù sao lý thuyết của Chodorov cũng giải thích được “tínhkhông biểu lộ tình cảm của nam giới”- hay là sự khó khăn của nam giới trong
1 Mục tiêu:
Cuộc nghiên cứu này không có mục tiêu kiểm nghiệm các lý thuyết trên.Mặc dù đây đó trong nghiên cứu này, một số thông tin thâu lượm sẽ gợi cho chúng
ta những suy nghĩ về tính thích hợp của các lý thuyết đã được nêu ra
Đây chỉ là mô tả bước đầu về quá trình xã hội hóa về giới ở trẻ em ở mộtvùng đô thị – thành phố Hồ Chí Minh - và là những nét chấm phá, những suy nghĩ chonhững vấn đề mới mẽ hơn cần phải đào sâu sau này
Nghiên cứu này nhằm trả lời một số câu hỏi sau đây: Quá trình xã hội hóavề giới ở trẻ em Việt Nam được bắt đầu từ khi nào? Hay đúng hơn cha mẹ củacác đứa bé quan tâm đến giới tính và những vấn đề về giới ở con em họ từ khinào? Quá trình xã hội hóa về giới là một quá trình liên tục và lâu dài, từ khi đứa béchào đời cho đến khi chúng đi học, cả thời thiếu niên và cả khi thành niên, nhưng
Trang 97 A Giddens, “Gender and Sexuality” trong Sociology, Polity Press, 1997, tr 99.
Trang 102 Phương pháp
Một số khái niệm :
Trong nghiên cứu này khái niệm trẻ em được hiểu bao gồm cả trẻ em traivà trẻ em gái từ 18 tuổi trở xuống Trong thực tế các cuộc phỏng vấn chỉ được thựchiện với các trẻ nhỏ nhất là 7 tuổi
Hai khái niệm quan trọng trong nghiên cứu này giới (gender) và giới tính(sex) được hiểu theo nghĩa thông thường của các nhà khoa học xã hội hiện nay.Giới tính chỉ sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới từ góc độ sinh lý học trongkhi giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hộicủa phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đếngiới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ văn hóa của một xãhội nhất định Với ảnh hưởng của P Bourdieu, trong nghiên cứu của mình, HelleRydstrom đã phê phán sự phân chia hai khái niệm nói trên vẫn nằm trong truyềnthống triết học nhị nguyên của phương Tây Chúng tôi nhận thấy sự phân biệt haikhái niệm trên vẫn có tác dụng Tuy nhiên phải luôn ý thức rằng những khuônmẫu văn hóa về giới của một nền văn hóa luôn luôn phải hóa thân, biểu hiệntrong hành vi, ứng xử của những cá nhân cụ thể
Xã hội hóa về giới được hiểu là quá trình học hỏi của cá nhân để trởthành những người đàn ông, những người phụ nữ trong xã hội bằng cách nội tâmhóa những chuẩn mực, những giá trị về giới và bằng cách học hỏi đóng những vaitrò về giới theo sự mong đợi của một xã hội nhất định Nghiên cứu này giới hạnchỉ tìm hiểu quá trình xã hội hóa về giới trong gia đình ở trẻ em Nếu có điềukiện trong những nghiên cứu sau chúng ta sẽ tìm hiểu quá trình xã hội hóa vềgiới ở trẻ em qua môi trường học đường, qua bạn bè, qua các phương tiện truyềnthông đại chúng…Xã hội hóa về giới trong gia đình được thể hiện qua sự giáodục, qua sự tương tác giữa cha mẹ, người lớn trong gia đình với trẻ em trên nhiềumặt trong đời sống, từ cách ăn mặc, đi đứng, hành vi cử chỉ, qua đồ chơi, tròchơi, thể hiện trong tính tình được mong đợi, qua công việc trong gia đình…
Phương pháp:
Nghiên cứu này trước hết và chủ yếu có tính cách định lượng Để thâuthập thông tin, chúng tôi đã tiến hành hai cuộc điều tra: một dành cho trẻ em,một dành cho cha mẹ Một bảng câu hỏi đã được thực hiện với 200 trẻ em: 90nam và 110 nữ , được phân bố đều cho học sinh ở ba cấp học Ngoài ra cũng cómột vài câu hỏi mở để tìm hiểu sự khác biệt trong giáo dục con trai và con gái, để
Trang 11về tính cách của bạn bè thuộc hai giới tính.
Trang 12Một thang điểm gồm 16 đề mục (item) để đo lường về “nam tính” hay
“nữ tính” Thang điểm này được dùng để xem các yếu tố xã hội nào đã tácđộng lên nam tính và nữ tính của trẻ em (Xin xem phần Phụ Lục và phần
“Nam tính, nữ tính và sự phân biệt về giới”)
Cuối cùng một thang điểm gồm 10 đề mục để đo lường mức độ kỳ thị vềgiới, cũng được tính theo thang điểm Likert (Cũng xin xem phần Phụ Lục vàphần “Nam tính, nữ tính và sự phân biệt về giới”)
Một cuộc điều tra khác bằng bảng câu hỏi được dành cho bậc cha mẹ củanhững gia đình có đủ con trai và con gái 180 cha mẹ đã được hỏi trong đó gồmcó: 75 người cha và 105 người mẹ Ngoài những câu hỏi để tìm hiểu những đặcđiểm nhân khẩu và xã hội của cha mẹ, còn có những câu hỏi để tìm hiểu quátrình cha mẹ giáo dục con cái về giới trên các mặt: những quan niệm chi phốingười mẹ trong quá trình mang thai, việc đặt tên cho con, đồ chơi, trò chơi, hành vicử chỉ, sự phân công công việc trong gia đình cho trẻ trai và gái, những mong đợicủa cha mẹ về tính tình, về ứng xử của con trai và gái, những mong đợi của chamẹ về con dâu, con rễ của mình trong tương lai
Bảng câu hỏi gồm 16 đề mục để đo lường về “nam tính” hay “nữ tính”bảng câu hỏi gồm 10 đề mục để đo lường mức độ kỳ thị về giới cũng được sửdụng trong điều tra đối với cha mẹ
Ngoài bảng câu hỏi, chúng tôi đã tổ chức ba cuộc thảo luận nhóm tiêuđiểm (focused group discussion): một nhóm cho những người phụ nữ độc thân, hainhóm cho phụ nữ có gia đình Các cuộc thảo luận nhóm nhằm làm sáng tỏ mộtsố vấn đề đã được nêu ra vắn tắt trong bảng câu hỏi, ví như sự khác biệt giữacách giáo dục về giới giữa thế hệ đi trước và thế hệ hiện nay, những kinhnghiêm của bản thân về quá trình xã hội hóa về giới…Rất tiếc, các điều kiệncủa cuộc nghiên cứu chưa cho phép chúng tôi thực hiện những cuộc thảo luận nhómtiêu điểm với nam giới và đặc biệt là với trẻ em8
II Kết quả cuộc nghiên cứu:
A Giới và xã hội hóa về giới trong gia đình truyền thống9:
8 Chúng tôi sử dụng các chữ viết tắt TLN1, 2 để chỉ các cuốc thảo luận nhóm tiêu điểm; chúng
Trang 13Gia đình truyền thống của Việt Nam đặc biệt chịu ảnh hưởng của Nho giáo,nổi bật nhất là chế độ phụ quyền (patriarchy, ở đây hiểu là sự thống trị của nam
giới, trong nghiên cứu này chúng tôi dùng thuật ngữ chế độ nam trị) Nhưng bên
cạnh đó cũng có một quan điểm cho rằng xã hội Việt Nam vẫn còn ảnh hưởng đậmnét của tàn dư mẫu quyền trong đó người phụ nữ có vai trò khá quan trọng10.Nhưng trước hết chúng ta hãy đề cập đến ảnh hưởng của Nho giáo
Trong gia đình phụ quyền truyền thống, vì nhu cầu nối dõi và tế tự, ngườicon trai, đặc biệt người con trai trưởng được hết sức coi trọng và có những đặc
quyền “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”: có một đứa con trai cũng là có, còn
mười con gái cũng bị coi như là không Người đàn ông, người cha và người chồng làngười đứng đầu và có quyền uy tuyệt đối trên vợ, con Nguyên tắc “tam tòng”:
“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” đã đặt ngừơi con gái, người
vợ vào vị thế phụ thuộc người đàn ông, phụ thuộc cha, chồng và con trai Theo quan
niêm trên, người chồng có thể “năm thê bảy thiếp”, còn người vợ phải tuyệt đối
chung thủy với chồng, nếu ngoại tình sẽ bị nghiêm trị Khi chồng chết, đạo lý yêucầu người phụ nữ thờ chồng, nuôi con, không tái giá Trong gia đình, người đànông là người quyết định những công việc quan trọng, từ việc sản xuất , quản lýtài sản đến việc định hướng nghề nghiệp, học hành của con cái Còn người phụnữ phải đảm nhiệm phần lớn những công việc nội trơ, chăm sóc nuôi dưỡngcon cái
Lối sống nho giáo có một sự phân biệt rất rõ giữa các hoạt động trí óc và taychân Người đàn ông trong gia đình được xem là trụ cột của gia đình và là ngườisẽ lãnh đạo xã hội nên được dành nhiều đặc quyền, được độc quyền giáo dục vàcó kiến thức Và để làm nhiệm vụ đó, người đàn ông không phải làm những việc
tay chân, những công việc nội trợ trong gia đình: “Quân tử viễn bào trù” (Người
quân tử phải lánh xa bếp) Việc nội trợ, bếp núc là công việc của riêng phụ nữ.Người phụ nữ trong xã hội truyền thống phải “đầu tắt mặt tối”, trong khi người đànông có thể thảnh thơi hơn, nhàn nhã hơn trong công việc gia đình 11 Người phụ nữngoài công việc nội trợ, còn tham gia việc đồng áng (cấy, gặt…), buôn bán Mô
hình phân công trên được tóm tắt trong câu: “Chồng chúa, vợ tôi”.
Sự phân công theo giới tính trong các gia đình của các tầng lớp dưới ítkhắc khe hơn Công việc làm ruộng nước rất nặng nhọc, đòi sự tham gia của
các thành viên trong xã hội, như một câu ca dao xưa đã mô tả: “Chồng cày vợ
cấy, con trâu đi bừa…” Các khâu trong canh tác lúa nước bao gồm: cày, bừa, cấy,
làm cỏ, gặt Người đàn ông
10 Lê Thi Nhâm Tuyết, Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại, Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, 1975, tr
27-40 N Wiegersma, Vietnam: Peasant Land, Peasant revolution Patriarchy and Collectivity in the Rural
economy Basingstoke, Macmillan Press, 1988, p.28.
11
Luong Van Hy, “Vietnamese Kinship: Structural Principles and the Socialist Transformation in
Northern Vietnam”, The Journal of Asian Studies, vol 48, no 4, 1989, pp 744-745 Luong Van Hy:
Revolution in the Village Tradition and transformation in North Viet Nam, 1925-1988, Honolulu, Univ of
Trang 14hawai Press, 1992, pp 68-69.
Trang 15thường phụ trách các khâu cày, bừa nhưng việc cấy mạ thường là công việc của phụnữ, do một quan niệm của tín ngưỡng phồn thực gắn hình ảnh người phụ nữ vớichức năng tái sản xuất 12.
Sự phân công theo giới trong các hoạt động khác cũng rất rõ rệt Trong
giao tiếp đó là quan niệm “nam ngoại, nữ nội” Người đàn ông tham gia những
công việc bên ngoài xã hội, công việc của làng xóm Việc tiếp khách, nhất lànhững khách quan trọng cũng là công việc của nam giới
Ngay trong gia đình, cũng có sự phân chia về mặt không gian Mỗi nhà đềucó gian thờ, nơi có bàn thờ tổ tiên và cũng là nơi tiếp những khách quan trọng vàđó cũng là không gian dành cho nam giới Và khu vực dành cho phụ nữ là “nhàdưới”, nhà bếp Phòng dành cho phụ nữ thường tối tăm, ẩm thấp13 Phụ nữcũng thường tiếp những khách của mình ở bếp Trong ngôn ngữ Việt nam có sự
phân biệt: đi lên nhà trên và đi xuống bếp Và người phụ nữ theo phong tục cũ
“không được vượt quá ngưỡng cửa nhà trên” (TLN1).
Trong các gia đình truyền thống thuộc tầng lớp trên, đôi lúc nam giới vànhững người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình được dọn ăn ở phòng khách, còn phụ nữvà trẻ em thì ăn ở nhà bếp
Còn đối với các gia đình thuộc tầng lớp dưới vì nhà chật, người đông,nên sự phân biệt về không gian đôi lúc không rõ nét14
Từ những khuôn mẫu “giới” chặt chẽ như vậy trong gia đình, từ nhỏ bétrai đã thấy mình có được những ưu tiên, ưu đãi hơn những chị em gái trong giađình
Nhưng cũng có một quan điểm cho rằng trước khi Nho giáo xâm nhập vàoViệt Nam, thì Việt Nam đã có một nền văn hóa bản địa khá đậm nét và toàn diện,cho nên khi những giá trị của Nho giáo vào Việt Nam đều đã bị địa phương hóa ởnhiều khía cạnh15 Đặc điểm của nền văn hóa bản địa trên về khía cạnh giới trong
gia đình là đồng thời đề cao vai trò của người cha và người mẹ (“Công cha như
núi Thaí sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ khính cha…”);
người con gái không bị lép vế mà được đề cao (“ruộng sâu, trâu nái không bằng
con gái đầu lòng”); phụ nữ được bình đẳng với nam giới do vai trò quan trọng của
phụ nữ trong canh tác lúa nước (“chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa…”) Do chiếntranh kéo dài trong lịch sử Việt Nam, người chồng thường phải vắng nhà, ngườivợ đảm nhiệm mọi công việc trong gia
12 Nguyen Tu Chi, “Preliminary Notes on the Family of the Viet”, in R Liljestrom and Tuong Lai (eds.),
Sociological Studies on the Vietnamese family, Ha Noi, Social Sciences publishing house, 1991.
13 Le Thi Nham Tuyet, Sđd, 1975.
14 Pham Van Bich, op cit., p 36
15 Phan Ngọc Bản sắc văn hóa Việt Nam, HN, NXB Văn hóa Thông tin, 1998; Lê Thi,
Trang 16Sđd,1997, tr 62 và cước chú 10.
Trang 17đình nên thật sự có vị trí quan trọng, có quyền và được kính trọng (“Nhất vợ, nhì
trời”, “Lệnh ông thua cồng bà”, “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”…).
Đây là vấn đề còn tranh cãi, tuy nhiên trong văn hóa Việt Nam đều có cả hai xuhướng đặc điểm nêu trên cho thấy khá xác đáng ý kiến cho rằng ở Việt Namđã hình thành một nền văn hóa bản địa khá ổn định trước khi tiếp xúc với Nhogiáo Trung quốc
Nhưng những khuôn mẫu về giới cổ truyền như trên đã có những thay đổiqua thời gian Dưới thời Pháp thuộc, một số trẻ em gái, phụ nữ – nhất là con emthuộc các gia đình trung lưu, trí thức, thành thị - đã được đi học ở các cấp tiểu học,trung học, thậm chí cả bậc cao đẳng và đại học
Năm 1954, khi chúng ta đã giành được độc lập ở miền Bắc và tiến hànhxây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình cũ bằng cách đưa sản xuất vào conđường hợp tác hóa, trong việc giáo dục trẻ em, vai trò của gia đình đã phần nào bịxem nhẹ, và chức năng này chủ yếu được đảm trách bởi các đoàn thể xã hội vànhà trường Có một thời gian, người ta đã quan niệm cách ly trẻ em ra khỏi giađình là một biện pháp tốt cho việc hình thành nhân cách con người xã hội chủnghĩa16 Trong giai đoạn này, do việc tiếp tục cuộc chiến tranh kháng chiến chống Mỹ,người đàn ông phải vắng nhà, vai trò sản xuất, xây dựng và vai trò giáo dụccon cái lại trút lên vai người phụ nữ17
B Quá trình xã hội hóa về giới ở trẻ em:
Từ lâu người Việt Nam đã quan niệm “dạy con dạy thuở còn thơ” Tuổi thơ
đây là thời niên thiếu, nhưng người Việt Nam còn đi xa hơn họ quan niệm ngay khiđứa bé chưa sinh ra, những hành vi, thái độ, tình cảm của người mẹ trong lúc mangthai cũng có ảnh hưởng lên những yếu tố thể chất và tâm lý của đứa trẻ saunày
1 Các tập tục, kiêng cữ khi mang thai:
Cũng như một số dân tộc khác ở Việt Nam, người Việt không chỉ quan tâmđến việc giáo dục con cái khi đã lớn, mà trong quan niệm truyền thống của ngườiViệt, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai của người mẹ cũng ảnhhưởng lên tính nết, nhân cách, hình dáng của đứa đứa bé khi sinh ra Do đó ở ngườiViệt có rất nhiều tục lệ, kiêng kỵ liên quan đến hành vi ứng xử của người phụnữ trong thời kỳ mang thai Những tục lệ, kiêng cữ này liên quan đến những gìngười phụ nữ phải làm, nên làm hay không nên làm
Trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp, người phụ nữ mang thai phải rất ý
tứ, bởi lẽ cũng theo quan niệm truyền thống “người phụ nữ mang thai vía rất nặng”,
“sáng sớm ra đường gặp người phụ nữ đang mang thai thì cả ngày bị xui xẻo”…Do đó
người phụ nữ
Trang 1816 Phan van Bich, op cit., pp 44-101; Leâ Thi, sñd, tr 96-97.,
17 F Houtart, G Lemercier, Sociologie d’une commune vietnamienne, Louvain – la- -Neuve, 1981.
Trang 19khi mang thai không được đi đám cưới, không được đi đám ma, sáng sớm không được vào nhà người khác, trong gia đình không được lên nhà trên (nơi thờ cúng tổ tiên).
Về phía bản thân mình, người phụ nữ mang thai phải kềm giữ không đượcbuồn tủi, hờn giận, ghen tuông bởi lẽ sẽ ảnh hưởng đến tính khí của đứa bé saunày
Có nhiều hành vi mà người phụ nữ không nên làm khi mang thai:
con ra lì lợm (NL11 )
Việc ăn uống của người phụ nữ mang thai cũng chịu nhiều kiêng cữ:
- không nên ăn trứng hai tròng, không ăn trái sinh đôi (sợ sanh đôi)
- không nên ăn thịt dê
- kiêng ăn thịt mèo, thịt thỏ (sợ con bị tật sức môi…)
- kiêng ăn ổi (sợ da con sần sùi, ghẻ…)
- không ăn thịt vịt (sợ con có dáng đi lẹt đẹt…)
Và ngược lại, nếu người phụ nữ muốn con thông minh, đẹp đẻ thì phảituân thủ một số lời khuyên:
Một số người khác lại tin tưởng, muốn có con trai thì mượn con trai củangười khác để bồng bế, ngắm ảnh các bé trai… và nếu muốn có con gái cũngphải hành động tương ứng
Trang 2018 Trong nghiên cứu này tên những người được phỏng vân không được nêu ra, chúng tôi dùng ký hiệu NL cho người lớn (ở đây là cha mẹ) và TE cho trẻ em.
Trang 21Ngoài ra do kinh nghiệm dân gian, một số người nhận xét khi mang thainếu thèm đồ ngọt thì sinh con trai, nếu thèm đồ chua thì sinh con gái Do đónếu muốn có con trai thì nên ăn đồ ngọt nhiều và ngược lại Do quan niệm vềâm dương, một số người quan niệm ăn đồ nóng, thịt của những con vật trên mặtđất như (bò, gà, heo…) thì sinh con trai và ngược lại ăn đồ nóng, ăn thịt những loàichim, thủy, hải sản… thì sinh con gái (NL73).
Các tập tục kiêng cữ trên đa phần bị chi phối bởi nguyên tắc liên tưởng vàquan niệm về âm dương trong vũ trụ quan truyền thống của người Việt Nam Vàtheo đó nam giới thường được gắn liền với yếu tố dương, phụ nữ yếu tố âm
2 Thuộc tính của trai, gái qua việc đặt tên con:
Việc đặt tên cho con cái trong gia đình chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốvà trên nguyên tắc, tên chính của nam nữ không hoàn toàn cho phép ta phân biệtđược giới tính Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, căn cứ vào ý nghĩa của tênchính ấy, phối hợp tên chính với tên đệm (Văn, Thị…), dựa vào thói quen của ngườiViệt, ta có đoán được tương đối chính xác một tên nam hay nữ Lấy thí dụ, các tênHùng, Hổ, Long, Dũng, Vệ Quốc, Trung Thành thường là tên nam giới; Hằng,Hoa, Lệ, Thoa, Cẩm Tú, Đoan Trang, Thùy Dung, Trinh Tiết…thường là tên của nữgiới
Một thống kê về tên gọi của nữ giới ở miền Bắc19 cho thấy các tên sau đâycó tỷ lệ xuất hiện nhiều nhất: Nga (1,25%), Lan (0,99%), Vân (0,86%), Tuyết(),78%), Thanh (0,78%)…Ở miền Nam, các tên sau đây: Anh (5%), Lan (3,07%),Dung (2,69%) Hương (2,30%), Trang (2.30%), Hà (1,92%), Nga (1,92%), Hằng1,53%), Ngọc
Tên của nam giới ở Miền Bắc: Hùng (3,15%), Tuấn (1,88%), Sơn(1,88%), Dũng (1,82%), Bình (1.39%) Ở miền Nam: Minh (3,24%), Dũng (2,70),hải (2,16%),
Tuấn (2,16%), Nam (1,89%), Quang (1,89%), Trí (1,89%)…
Ở một số gia đình ở nông thôn trước đây do hiếm muộn hay do mê tín đãlấy những từ có nghĩa tục như tên của các cơ quan sinh dục (Cu, Hĩm…)để đặttên cho trẻ em trai, trẻ em gái
19 Phạm Tất Thắng, “Vài nhận xét về yếu tố đệm trong tên gọi ngừơi Việt”, trong Tiếng Việt và
Trang 22ngôn ngữ Đông Nam Á, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, 1988, tr 184-190.
20 Lê Trung Hoa, Họ và Tên Người Việt Nam, Hà Nội, Nxb Khoa Học Xã hội, 1992.
Trang 23Mặc dù không hoàn toàn có tính cách tuyệt đối, tên nam phải mang thuộctính dương, động, chủ động, tên nữ ngược lại mang thuộc tính âm, tĩnh, thụ động21.Một số tên con trai và con gái được đặt theo những phẩm chất mang tính đặc thùcủa trai, gái.
Những cách đặt tên cho con trai có thể theo những đặc điểm sau:
Cường, Can, Đảm
Nghiệp, Huy Hoàng…
Cung, Kiếm, Cước, Chưởng, Thành, Lũy, Quân, Binh, Sĩ, Chiến, Đấu,
Tranh…
Vũ, Quốc…
- các dụng cụ học tập, thi cử: Mực, Bút, Viết, Nghiên, Kinh,
Sử… Cách đặt tên cho con gái có thể theo những đặc
điểm sau:
Quyên, Họa Mi, Sơn Ca…
Như vậy, trong cách đặt tên cho con, người Việt Nam nói chung đã có một
ý thức phân biệt nam/ nữ rất rõ và tên của bé trai bé gái đã ít nhiều mangnhững mong ước, hoài bão của cha mẹ đối với con cái mình
3 Xã hội hóa về giới qua cách ăn mặc, hành vi, cử chỉ và qua đồ chơi, trò chơi:
Ngay từ tuổi ấu thơ, cách ăn mặc , đồ chơi, trò chơi của trẻ cũng cho tathấy sự khác biệt giữa trẻ trai trẻ gái Và cũng chính qua cách ăn mặc cha mẹmuốn truyền dạy cho con cái những tính cách của nữ giới và nam giới
21 Nguyễn Thế Truyền, “Người Việt đặt tên cho con như thế nào” Đặc san Ngôn Ngữ và Đời sống, số
Trang 24Xuaân Canh Thìn (2000), tr.8
22 Nhö treân
Trang 25Từ khi sinh ra đến khoảng hai tuổi về cách ăn mặc, màu sắc, kiểu dáng áoquần chưa có sự phân biệt nhiều giữa trẻ trai và gái Nhưng dần dần cũng xuấthiện những khác biệt không chỉ về kiểu dáng mà cả màu sắc Những màu trắng,xanh, đen, với các mô típ sọc, carô thường được dành cho con trai Cách ăn mặccủa con trai cũng đơn giản hơn “Con trai mặc vải dày hơn, sậm hơn để lỡ có đùanghịch, cũng đỡ rách, đỡ dơ…” Con gái thì mặc vải bông, hoa, vải mềm hơn, mỏnghơn, có thể có màu sắc tươi tắn hơn, lòe loẹt hơn, cầu kỳ hơn.
Từ hai tuổi trở đi, cách dạy về hành vi cử chỉ cũng bắt đầu có những khácbiệt lớn giữa trẻ trai và gái Trước hết trong hành vi cử chỉ, cha mẹ dù thuộc tầnglớp xã hội nào vẫn hướng các con về các khuôn mẫu: con trai phải có những
hành vi mạnh mẽ, cứng rắn, con gái dịu dàng, nhẹ nhàng, ý tứ:“con trai trong
hành vi phải cứng rắn, mạnh mẽ cho ra vẻ đàn ông, con gái phải dạy đi đứng dịu dàng” (NL94) (NL12, nam, 77t) (NL 13, nữ 68t) “con trai luôn mạnh bạo, hay leo trèo, nghịch phá, hay tò mò khám phá những điều lạ, con gái luôn nhẹ nhàng, quan tâm đến người khác (NL38, nam, đại học, 49t); “Con trai có thể chạy nhảy, đi đứng tùy thích, còn con gái được mẹ nhắc nhở nhiều hơn, khuyên con gái không cười nói to tiếng, đi đứng dịu dàng…” (NL95, nam, NL6, nữ), “con gái không được leo trèo nghịch phá như con trai” (NL98, nữ).”…con gái được chú ý nhắc nhở nhiều hơn con trai, ví dụ không nên vừa nói vừa cười, vừa đi vừa chạy, để đồ vật nhẹ nhàng không được mạnh tay” (NL4, nữõ)(NL 17, nữ, 41t).
Trong việc giáo dục những hành vi cho trẻ, trẻ nam ít bị đưa vào khuôn
phép hơn, dễ dải hơn, thoáng hơn: “con gái phải ăn xem nồi, ngồi xem hướng,
ngồi ở đâu cũng phải khép nép, ăn nói nhỏ nhẹ, con trai thì sao cũng được …” (NL8,
nữ, không biết chữ); “con trai thì sao cũng được , đừng nói tục làm bậy thì thôi, còn con gái đi đứng ăn nói phải ý tứ, công dung ngôn hạnh (NL 9, Nam, 43 t);
“con trai không cần khuôn phép mấy” (NL49, nam 40 t) “…con trai cũng dạy kính trên nhường dưới, nhưng thoáng hơn con gái ” (NL7, nữ, trình độ học vấn đại
học);
Vì sao phải có những khuôn mẫu khác biệt như vậy cho trẻ nam và trẻ nữ?
- “…con trai, con gái sinh ra đã có những khác biệt tâm sinh lý: con trai thích
những hành vi mạnh bạo, còn con gái nhu mì, có những hành vi chậm rãi…” (NL
180, nữ, 45t, đại học)
- “Con trai hành vi phải mạnh bạo sau này mới gánh vác việc gia đình được”
(NL101, nam)
ăn nói phải ý tứ, công dung ngôn hạnh Tại sao? Vì là con gái thì phải như vậy thôi” (NL 9, Nam, 43 t);
Trang 26Như vậy, theo ý kiến của một số bậc cha mẹ, những khuôn mẫu hành viđó là do bản chất tâm sinh lý khi sinh ra, là nhằm chuẩn bị cho trẻ em trai, gáiđảm nhận những vai trò sau này Nói chung họ xem những khác biệt trong nhữngkhuôn mẫu ứng xử này là “tự nhiên”.
Đồ chơi, trò chơi:
Đồ chơi gắn liền với trẻ em, ngay khi trẻ mới được một vài tháng tuổi, chamẹ cũng đã mua cho các em đồ chơi treo nhiều màu, hay nhưng đồ chơi phát ranhưng âm thanh được treo quanh nôi để giúp trẻ phát triển giác quan Lên một haituổi, đã có sự quan tâm theo giới tính đối với đồ chơi của trẻ Các bé gái cóđược những con búp bê đầu tiên trong cuộc đời, những “đồ hàng” để chơi buônbán Và các bé trai bắt đầu có được các loại xe môtô, xe hơi các loại, súng, kiếm,máy bay, tàu thủy, hỏa tiễn…Thoạt đầu những loại đồ chơi này bằng đất sét,bằng nhựa, bằng gổ, nhưng khi trẻ bắt đầu lớn lên các em bắt đầu có những đồchơi bằng kim loại và kể cả gắn động cơ
“Cho con trai chơi súng, kiếm – bằng nhựa thôi – là để tạo tính tình
mạnh mẽ”.23Đó cũng là lý do phổ biến của các bậc cha mẹ khi chọn đồ chơi chocon theo giới tính
Ngay cả với những đồ chơi – như những con thú nhỏ mà chúng ta vẫnthường nghĩ cha mẹ đã chọn lựa một cách tình cờ, không có mang một sự phânbiệt về giới, nhưng chính chúng cũng biểu hiện những sự khác biệt về giới.Bảng 1 cho thấy tỷ lệ phần trăm khá cao các em gái thích con thỏ (72.7%), con
chó (56.4%), con mèo (42.7%) Các em thích các con thú này vì: “ thỏ trắng, mềm,
hiền, dễ thương” “con mèo hiền, dễ thương, lông mịn…”, “chó hiền, trung thành, khôn ngoan”, “thích thỏ, mèo vì chúng nhỏ bé, yếu ớt…”
B
ẢNG 1 : TỶ LỆ % NHỮNG CON THÚ ĐỒ CHƠI ĐƯỢC TRẺ YÊU THÍCH NHẤT
(phân theo giới tính của trẻ)
Trang 27Các em trai cũng thích chó mèo, vì đây là những con vật gần gủi với các
em trong gia đình, nhưng tỷ lệ các em trai thích con thú này nhỏ hơn các em gái.Đặc biệt tỷ lệ những con thú như voi, sư tử, khủng long có tỷ lệ các em trai yêuthích khá cao, trong khi các con vật này chỉ được một số ít em gái yêu thích
Các em trai nêu lý do:”Khủng long to, dữ, không con vật nào ăn hiếp được…”,
“Sư tử mạnh, dữ, em thích mạnh như sư tử…”, “thích khủng long vì có hình dáng lạ mắt, hùng dũng, dữ dằn, coi trong phim thấy phun lửa…” “thích sư tử vì nó khỏe mạnh , to lớn, oai phong…”
Về các trò chơi, ở đây chúng ta có thể trở lại sự phân biệt cuả G H.Mead về trò chơi đóng vai (play, role playing) và trò chơi (games) trong quá trình pháttriển nhân cách và hình thành cái tôi ý thức (self) nơi trẻ em Ở lứa tuổi từ haituổi trở đi, trẻ em bắt đầu nhận thức có những khuôn mẫu hành vi trong xã hộithể hiện trước hết nơi những người thân quen của trẻ, như ba mẹ, anh chị em, côgiáo ở nhà trẻ, cô y tá, bác sĩ…hay của các nhân vật các em được nghe kể, đọctrong truyện hay trên các phương tiện truyền thông đại chúng như vô tuyến truyềnhình Và loại hình trò chơi đầu tiên là các em diễn lại vai trò của những ngườithân quen kể trên Theo G H Mead, loại trò chơi này đơn giản vì chỉ cần hình dungvai trò của một loại người trong một tình huống Ở đây cũng đã thấy có sự khácbiệt về giới Các em gái Việt thường thích chơi các trò chơi đóng vai “vợ chồng”,chơi nội trợ, làm y tá bác sĩ, làm cô giáo, người bán hàng…Các em trai ngoài vaitrò của người cha, thường còn đóng các vai trò tài xế, thích làm những người hùngtrong các truyện cổ tích, thích đóng vai các hiệp sĩ với cung, kiếm, kể cả các vaiBatman, hay Tôn Ngộ Không
B
ẢNG 2 : MỘT SỐ TRÒ CHƠI CỦA TRẺ EM VÀ SỰ KHÁC BIỆT VỀ GIỚI
Trang 289 chơi búp bê: Không chơi: 88.1 11.9 110.0 0.000
Dần dần với kinh nghiệm ngày càng tích lũy do sự tương tác xã hội, trẻ
em bắt đầu có khả năng đóng vai trò của nhiều người trong một tình huống nhấtđịnh Khả năng này cho phép trẻ em có thể từ những trò chơi đơn giản (như chơitrốn tìm) sang những trò chơi khác phức tạp hơn, bao gồm nhiều vai trò hơn nhưbóng đá, bóng rỗ…Chỉ những trẻ từ 7 , 8 tuổi mới có thể chơi những trò chơi tậpthể này một cách đúng nghĩa
Bảng 2 cho thấy trong các trò chơi cũng có một sự khác biệt về giới khá rõ.Trẻ em trai: chơi bắn súng, kiếm, chơi bi, chơi diều…Các em gái chơi cò cò, chơibúp bê, chơi bán hàng, chơi y tá – bác sĩ…Chỉ có trò chơi về xây cất là không có sựkhác biệt giữa nam nữ Các em trai thiên về những trò chơi dùng nhiều sức lực,mạnh bạo trong khi các em nữ thiên về những trò chơi có mối quan hệ giao tiếpgiữa những con người, những trò chơi có liên quan đến vai trò tái sản xuất…
Ở đây có một điểm đáng lưu ý, trẻ em trai khi còn một hai tuổi có thể chơibúp bê, chơi đồ hàng và các em gái có thể chơi xe, chơi súng, chơi kiếm…mộtcách rất tự nhiên Nhưng khi được khoảng sáu, bảy tuổi các em bắt đầu ý thứcvà ít dám chơi những đồ chơi của trẻ khác giới
4 Sự tham gia công việc trong gia đình:
Về những việc trong gia đình, ngoài những công việc mà chúng ta thấy ở bấtcứ gia đình người Việt nào như: quét nhà, đi chợ, nấu ăn, giặt giủ, ủi áo quần,sửa chữa điện, sửa chữa các vật dụng trong gia đình… trong các gia đình ở đô thị,trẻ em còn làm những công chuyện như chở mẹ đi chợ, rửa xe gắn máy cho chamẹ, may sửa quần áo Trong các gia đình buôn bán, các em phụ cha mẹ đi giaohàng, dọn hàng Đó là chưa kể một số trẻ do hoàn cảnh gia đình phải lao động sớmlàm các nghề như bán báo, bán vé số, mua ve chai24…
Sự phân chia lao động theo giới tính ở Việt Nam không rõ ràng Tùy hoàncảnh gia đình, cũng có thể có những người phụ nữ làm công việc nặng nhọc vàcũng có thể có những người đàn ông – vào những thời điểm nào đó - làm côngviệc nội trợ trong
Trang 29gia đình Nhưng điều này không có nghĩa là không có sự phân công lao động theogiới tính Trong quan niệm truyền thống, mọi người Việt nam đều nhận biết và cóthể nói công việc nào thường là của người đàn ông và công việc nào là của phụ nữtrong các nhiệm vụ sản xuất và tái sản xuất Nhưng ngày nay sự phân công laođộng theo giới tính đã chịu nhiều sự thay đổi Những thay đổi do chế độ chủ nghĩaxã hội ở Việt Nam chủ trương mọi quyền lợi và nghĩa vụ đều được phân chia
Bắc – chịu ảnh hưởng chủ nghĩa xã hội nhiều hơn – có xu hướng giúp đở phụnữ trong những công việc nội trợ hơn nam giới ở các tỉnh phía Nam Và một tácđộng lớn khác là trong môi trường đô thị, người phụ nữ càng ngày càng tham gianhững công việc có thu nhập ở bên ngoài gia đình, do đó người đàn ông phảichia sẻ những công việc trong gia đình
Sự phân công những công việc trong gia đình theo giới tính càng rõ ràng khitrẻ càng lớn lên Trẻ em gái bắt chước những công việc của mẹ, của bà ngoại,đảm nhận những công việc của người phụ nữ trong gia đình còn trẻ em trai thì làmnhững công việc của cha, của những người đàn ông trong gia đình
25 Joachim Theis và tgk, sđd, 1997, tr.17
Trang 30hơn Ngược lại công việc sửa chữa những dụng cụ trong gia đình, sửa điện…là công việc của nam giới.
Trong thực tế, hoàn cảnh cụ thể của từng hộ gia đình chi phối việc phânchia lao động giữa các thành viên trong gia đình: gia đình khá giả hay nghèo khó,gia đình có thuê mướn người làm việc không, trong gia đình có cả hai giới không,qui mô của gia đình, tuổi tác, vị thứ của trẻ trong gia đình…Nhưng tần số mà trẻ traihay trẻ gái làm một số công việc nào đó vẫn cho ta thấy những khuôn mẫutruyền thống về lao động phân chia theo giới (bảng 3) Việc thực hiện những côngviệc trong gia đình thay đổi tùy theo mức độ “nam tính” hay “nữ tính” của các em vàtùy theo mức độ về sự kỳ thị giới tính của các em (xin xem phần chỉ số nam tính,nữ tính và sự phân biệt về giới được trình bày ở phần sau.)
Những việc thích làm và không thích làm của trẻ em trai và trẻ em gái
Dưới khía cạnh giới, trẻ em trai và trẻ em gái thường nêu ra những lý dochung nào khiến chúng thích hay không thích một số công việc nhất định Trongcông việc gia đình trẻ em trai thường thích những công việc nào nhanh, đòi hỏi ítthời gian, những công việc giúp các em khám phá thế giới xung quanh, thoả mãn sựtò mò của các em như sửa điện, sửa chữa đồ đạc trong nhà Các em làm công
việc nhà cũng nhằm đáp ứng nhu cầu tự thể hiện mình “em thích trang trí nhà
cửa để tạo ấn tượng cho bạn bè”, nhu cầu khẳng định giới tính của mình: “em thích sửa điện vì em biết đây là công việc nguy hiểm mà con trai phải làm”
(TE125, 18 tuổi, lớp 12); “em thích dọn hàng giúp cho mẹ vì đây là công việc
nặng” (TE175, 16 tuổi, lớp 10)…
Các em gái cũng muốn làm những công việc để chứng tỏ mình là phụ nữ
“em thích nấu ăn để chứng tỏ mình là con gái Con gái phải biết nấu ăn” (TE123, 18 tuổi, lớp 11) “em thích việc nhà vì mẹ làm, ngoại làm và em cũng làm
được, giống người lớn” (TE 109, 10 tuổi lớp 4); “em thích nấu ăn, vì vui, sáng tạo Nấu ngon được khen”, “em thích may, vì thích thời trang và được mặc đẹp”, “thích
đi chợ vì chi li và phải tính toán.”…Các em gái tỏ ra có tinh thần trách nhiệm, quan
tâm đến người khác, chú trọng những công việc trong gia đình hơn: “em thích mọi
công việc nhà vì đó là bổn phận và trách nhiệm”, các em làm công việc nhà là
muốn giúp cha mẹ, muốn nhà cửa được tươm tất, sạch sẽ, gọn gàng…
Tìm hiểu những điều mà trẻ không thích cũng giúp hiểu được những nỗi
lo, nguy hiểm, những nỗi bực dọc, nhàm chán mà trẻ phải trải qua trong côngviệc Trẻ em không thích những công việc mất thời gian, những công việc
Trang 31không biết mua gì, không biết trả giá và mọi người nói đó là chuyện của phụ nữ” (TE
159, 15 tuổi, lớp 9)
Cũng có một số cha mẹ dạy con theo quan điểm mới, tuy nhiên khuôn mẫu
truyền thống về giới vẫn phổ biến trong xã hội:“Tất cả mọi việc trong nhà em nghĩ
đó là việc của con gái Nhưng ba mẹ em thì không nghĩ vậy mà bắt em làm mọi việc” (TE114, nam, 12 tuổi, lớp 5)
BẢNG 4: LÝ DO NHỮNG CÔNG VIỆC MÀ TRẺ EM TRAI VÀ TRẺ EM GÁI KHÔNG THÍCH LÀM
không thích
Những việc con gái không thích
gấp quần áo
rửa rau
dọn bàn ăn
nấu ăn
ủi quần áo
nấu ăn
rửa chén
giặt quần áo
nấu ăn
ủi quần áo (sợ điện giật)
đi chợ (không biết trả giá)
giặt đồ
giữ em
mua thuốc lá cho ba
mua đồ nhậu cho ba
Trang 325 Những điều con trai được làm và con gái không được làm và ngược lại:
Cách giáo dục của cha mẹ đã ảnh hưởng nhận thức của các em về những
cái gì trẻ em trai có thể làm và trẻ em gái không thể làm và ngược lại Dĩ nhiên có
một số nhận xét sau đây của các em không hoàn toàn được sự đồng tình của
các em khác và của các bậc cha mẹ, nhưng đó là sự thật mà các em đã nhận thấy
ngay trong chính gia đình mình khi các em trả lời câu hỏi: “Trong gia đình em có
những việc nào con trai có thể làm mà con gái không làm và ngược lại…” Những
nhận xét sau đây cũng cho thấy những khuôn mẫu giáo dục cổ truyền vẫn còn có
những ảnh hưởng rất mạnh mẽ
Căn cứ trên những trả lời của các em ta có thể hệ thống trên một số vấn đề sau:
Con trai có thể có những hành vi mạnh bạo, nghịch ngợm:
“Con trai có thể la hét”, “con trai có thể vật lộn, đánh nhau”, “con trai có
thể chạy nhảy”, “con trai có thể leo cây, đu cây”, “con gái không được xem
phim bạo lực”, “con gái không được quậy phá”,
Hành vi một chút “lệch lạc” có thể được chấp nhận ở con trai: “con trai có
thể đánh bài ở những nơi công khai”; “con trai có thể đua xe”, “con trai có
thể ở dơ” , “con gái không được chửi thề”
Con gái có thể có những hành vi “ít tính lý trí”: “con gái có thể giận hờn mà khônglý do”, “con gái đi coi bói” (TE 47, nữ lớp 11, 18 tuổi)
về việc nhà con trai làm những việc lớn, nặng nhọc chứ không làm những việc
“lặt vặt”: ”con trai phải làm việc nặng, khuân vác”, “con trai sửa điện”, “con trai
đóng tủ”, …”con trai không phải làm việc nội trợ”, “con trai không phải đi chợ,
nấu ăn” “con trai không giặt quần áo, không may vá”, “con gái phải làm
việc nhà” ,
Con gái phải hi sinh, nhường nhịn:”con gái không được đi ngũ sớm” (TE123), “emtrai có thể đánh chị gái nhưng chị gái không được đánh lại em”;
về trò chơi: “con trai không chơi đồ hàng”, “con trai không chơi búp bê”,
“con trai không nhảy dây”, “con trai không học múa”….”con gái không đá
banh”…
về một số hành vi: “con gái không được múa máy tay chân”, “con gái không
được cười nói to tiếng”, “con trai không được làm điệu”, “con trai không
được để tóc dài”, “con gái không được ở trần”, “con trai không được đeo
bông tai”, “con trai không được trang điểm”…
một số việc ít nhiều nguy hiểm, có hại cho sức khỏe có thể chấp nhận ở con trai,còn con gái thì không: “con gái không được tắm sông”, “con gái không tắm
mưa”, “con gái không được đi chơi khuya”, “con gái không thể ngũ qua đêm ở
Trang 33Tóm lại suy nghĩ và ghi nhận của các em không hoàn toàn khác biệt việcgiáo dục và mong chờ của cha mẹ về những tính cách của trẻ em nam và trẻ emgái mà chúng ta sẽ trình bày ở phần sau.
6 Quan hệ bạn bè:
B
ẢNG 5: SỐ BẠN TRAI/GÁI TRUNG BÌNH CỦA CÁC TRẺ EM PHÂN THEO GIỚI VÀ CẤP HỌC
Bảng 6 cho thấy các em càng lớn tuổi thì số bạn thân cùng giới cànggiảm và điều này đặc biệt có ý nghĩa với trẻ em nam, hay nói cách khác ở trẻ emnữ số bạn gái thân giảm ít hơn và sự sút giảm này không có ý nghĩa thống kê (Ởtrẻ em nam, hệ số F = 4.20, p = 0.012; ở trẻ em nữ hệ số F = 2.40, p = 0.096).Đồng thời số bạn thân khác giới gia tăng, điều này xảy ra và có ý nghĩa ở cảhai giới (Ở trẻ em nam, hệ số F = 5.37, p = 0.006; ở trẻ em nữ hệ số F = 3.67, p
= 0.03)
B
ẢNG 6 : SỐ BẠN TRAI/GÁI TRUNG BÌNH CỦA CÁC TRẺ EM PHÂN THEO GIỚI VÀ LỚP TUỔI
Bạn thân thuộc nam giới
Bạn thân thuộc nữ giới
Trang 34Trẻ em nam:
- mạnh mẽ, cứng rắn, quyết đoán
- tháo vát, nhanh nhẹn năng động
- tự lập
- thẳng thắn, trung thực
- ham học, học giỏi
- can đãm, dũng cảm
- hiếu thảo
- đạo đức
- giúp đở người khác
- hoạt bác, vuivẽ
Trẻ em nữ:
- hiền hậu, dịu dàng, dễ thương, thùy mị
- đảm đang, quán xuyến
- tế nhị, ý tứ, kín đáo
- vâng lời, ngoan ngoãn
- nết na, đức hạnh
- sạch sẽ, gọn gàng
- hiếu thảo
- ham học
- chung thủy-thành thực, trung thực
7 Sự mong đợi và việc giáo dục về tính cách của con trai và của con gái
“Anh chị mong con trai và con gái của anh chị có những tính gì?” Trước
một câu hỏi mở, hoàn toàn không có một gợi ý gì, câu trả lời bộc phát của cácbậc cha mẹ có thể chưa phản ánh hoàn toàn những mong đợi sâu xa của họ đốivới con trai và con gái của họ, nhưng thông qua những ý kiến trên chúng ta cũng cóthể ta cũng hiểu được quan niệm về mẫu người đàn ông, người phụ nữ điểnhình
Như bảng 7 cho thấy, những tính cách mà cha mẹ mong đợi ở trẻ emnam, ví như “mạnh mẽ, cứng rắn, quyết đoán”, “tháo vát, nhanh nhẹn, năng động”,
“tự lập”, “thẳng thắn, trung thực”, “dũng cảm”, “hiếu thảo”….vẫn nằm trong quanniệm truyền thống hướng các em vào những vai trò của người trụ cột, những ngườiquyết định trong gia đình và xã hội, những tính cách mang tính hướng về ngườikhác, “hướng ngoại” nhiều hơn Trong khi đó, những tính cách được chờ đợi ởtrẻ em gái như “đảm đang, quán xuyến”, “dịu dàng dễ thương, thuỳ mị”, “hiềnhậu”, “tế nhị, ý tứ, kín đáo”, “nết na, công dung ngôn hạnh”, “sạch sẽ, gọngàng”, “hiếu thảo”…mang tính “phục vụ, chăm sóc” người khác hơn, mang tính
“đối tượng” hơn, hướng về những công việc trong gia đình, chuẩn bị cho trẻ gáivai trò làm người vợ, người mẹ, người nội trợ trong gia đình
B
ẢNG 7 : NHỮNG TÍNH CÁCH ĐƯỢC MONG ĐỢI NHẤT Ở CON TRAI VÀ CON GÁI
(xếp theo cường độ từ mạnh đến yếu)
Trang 35nào đó: “Lớn lên con phải lấy chồng thế này, lấy vợ thế này…?” Trong gia đìnhhiện đại dĩ nhiên quyết định trong việc kết hôn là quyền của thanh niên, nhưngnhững gợi ý, những tiêu chuẩn mà cha mẹ nêu ra có ảnh hưởng lớn về hình ảnhngười chồng, người vợ sau này của thanh niên, nhưng đồng thời cũng nói lênnhững mong đợi đối với những thanh niên, thiếu nữ vì chính họ cũng sẽ là nhữngngười chồng, người vợ trong tương lai.
Với câu hỏi được đặt với các bậc cha mẹ “Theo anh chị hiện nay thanhniên chọn vợ, chọn chồng theo những tiêu chuẩn nào?”, chúng ta được những kếtquả như sau:
Về tiêu chuẩn chọn chồng, theo ý kiến của những người mẹ, 92,4% thiếunữ trước hết muốn chọn chồng có nghề nghiệp ổn định, 74.3% mong muốnchồng phải chung thủy, 68,6% chồng phải khỏe mạnh, 48,9% chồng phải tháovát…Trong khi đó theo ý kiến của các bậc làm cha, các cô thiếu nữ lấy chồngcũng theo những tiêu chuẩn trên nhưng với một tỷ lệ thấp hơn
Thảo luận nhóm đã làm rõ hơn về tiêu chuẩn “nghề nghiệp ổn định” ở
người chồng: “Nghề nghiệp ổn định có nghĩa là nghề có thu nhập tương đối, có thể
lo cho con ăn học đến nơi đến chốn…Giả sử nếu lương không đủ sống thì phải có công việc phụ, phải biết xoay xở kiếm tiền…” (TLN3).
Cần chú ý, với ý kiến của nam giới, tỷ lệ mong đợi người chồng phảichung thủy là 53,3% trong khi tỷ lệ này ở nữ giới là 74,3% và người đàn ông nhấnmạnh tính trung thực (58,7%) hơn là sự chung thủy (53,3%) ở người chồng Tỷ lệvề mong đợi người chồng phải là người “biết xoay xở kiếm tiền” ở người đàn ông(50,7%) cũng cao hơn ở phụ nữ (41%)
B
ẢNG 8 : TIÊU CHUẨN CHỌN NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÀM CHỒNG THEO Ý KIẾN CỦA CHA MẸ
(người cha)
% của phụ nữ(người mẹ)
Trang 3611 có tiền của: 14.4 18.7 11.4
Về tiêu chuẩn chọn vợ của thanh niên, theo ý kiến của những người me,ï89.5% thanh niên chọn vợ đảm đang, 78,1% chung thủy, 67,6% có nghề nghiệpổn định, 56,2% xinh đẹp, 45,7% có sức khoẻ Theo ý kiến của những ngườicha, thanh niên chọn vợ cũng theo những tiêu chuẩn đã nêu trên: vợ phải đảmđang, chung thủy, có nghề nghiệp, nhưng yếu tố sắc đẹp được xếp lên thứ hạng ba(65,3% ở ý kiến của người cha so với 56,2% ở người mẹ) Yếu tố về sức khoẻcủa người vợ cũng có sự mong đợi cao hơn ở người đàn ông so với ý kiếncủa phụ nữ (57,3% so với 45,7%)
Trong các tiêu chuẩn, tiêu chuẩn “đảm đang” đứng hàng đầu “Đảm đang
đây được hiểu là giỏi công việc trong gia đình, biết thu xếp tính toán công việc gia đình, biết lo cho chồng con Ngay người phụ nữ có công việc ngoài xã hội cũng phải biết sắp xếp việc nhà mới gọi là đảm đang” (NL54, 46 tuổi, trình độ đại học)
B
ẢNG 9: CÁC TIÊU CHUẨN ĐỂ CHỌN NGƯỜI PHỤ NỮ LÀM VỢ
giới
% của nam giới (người cha)
% của phụ nữ (người mẹ)
Nhìn chung, tiêu chuẩn đầu tiên ở người chồng tương lai là nghề nghiệp ổnđịnh trong khi ở người vợ là sự đảm đang, tiêu chuẩn thứ hai cho cả hai giới là sựtrung thực và chung thủy và tiêu chuẩn thứ ba ở người đàn ông là sự khỏe mạnh và
ở phụ nữ là sự xinh đẹp Như vậy khuôn mẫu về giới tính truyền thống vẫn chiphối mạnh trong mong ước về hôn nhân trong thời hiện đại Người đàn ông vẫn là
Trang 378 Cách giáo dục của cha mẹ
Dĩ nhiên trong việc giáo dục con cái, vai trò của người cha và người mẹthay đổi theo từng gia đình tùy theo hoàn cảnh cụ thể, trình độ học vấn, nghềnghiệp, cá tính của từng thành viên và sự tương tác trong gia đình Tuy nhiên
ở đây chúng ta muốn tìm hiểu cái nhìn nói chung của cha mẹ về chính mình và vềngười đối ngẫu trong việc giáo dục con cái
Trong việc dạy con cái, người mẹ thường được xem có cách dạy mềm dẻo,nhẹ nhàng, tình cảm, người mẹ thường gần gủi con cái, dùng lời lẽ ngọt ngào nêndễ thuyết phục con Người mẹ cũng thường dạy dỗ con một cách tường tận, chitiết Nhưng một hạn chế mà nhiều người phụ nữ mắc phải là thói quen nhắc đinhắc lại nhiều lần những lỗi lầm của con, “nói nhiều, nói lãi nhãi” (NL 111) nên dễmất tác dụng
Ngược lại, cách giáo dục của người cha thường mang những đặc điểmsau: người cha thường dễ dãi, ít quan tâm đến con cái, ít nói, nhưng khi dạy thìcứng rắn, nghiêm khắc, độc đoán, quát tháo Nhưng người cha thường la con mộtlần rồi thôi, không “càm ràm, lãi nhãi”, người cha dễ tha thứ những lỗi lầmhơn mẹ (NL114) Trong cách dạy, người cha thường dùng lời ngắn gọn, tổng quát,chỉ đưa ra những tư tưởng định hướng
Ta có thể tóm tắt những khác biệt trong cách dạy giữa cha và mẹ như sau:
- quan tâm đến con nhiều hơn - ít quan tâm
Con cái chịu nhiều ảnh hưởng của cha hay mẹ, chịu ảnh hưởng trên nhữngmặt nào cũng tùy thuộc hoàn cảnh của từng gia đình cụ thể, tùy thuộc cá tính vàmối quan hệ của các thành viên trong gia đình Con cái thường chịu ảnh hưởng chavề các mặt học hành, nghề nghiệp và chịu ảnh hưởng mẹ trong cách giao tiếp,xử thế Về những công việc trong gia đình, cha và mẹ là những hình mẫu tươngứng của trẻ trái và trẻ gái
Trang 38Một số ý kiến trong các cuộc phỏng vấn sâu cũng không xa lạ với nhữngquan niệm thường phổ biến ở người Việt – mặc dù đây chỉ là những cảm nhận chưa
được lý giải một cách có ý thức – “Con gái thường thương cha, con trai thường
thương mẹ” (NL119) “Lúc nhỏ, con trai thường theo mẹ, còn con gái thì bám bố Nhưng khi lớn lên, con trai thường bắt chước bố, con gái thường bắt chước mẹ vì cùng giới tính” (NL125).
Những dữ kiện định lượng sau đây sẽ giúp chúng ta phần nào hiểu đượcnhững ý kiến trên Theo bảng 10, trẻ em thường thích cách giáo dục của mẹnhiều hơn, 47.7% trẻ thuộc cả hai giới đều thích cách giáo dục của mẹ, trong khi tỷ lệnày đối với người cha chỉ là 34.4% Điều này có thể lý giải được, vì mẹ là ngườichăm sóc, gần gủi với các em suốt thời thơ ấu Các em đều nêu các lý do: mẹtâm lý hơn, dễ gần gủi, hiền hậu, nhẹ nhàng, luôn quan tâm đến con…
B
ẢNG 10 : ĐÁNH GIÁ CỦA TRẺ EM TRAI VÀ GÁI VỀ CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ
Giới tính:
Cách giáo dục được ưa thích
Các trẻ em gái nêu lên nhiều lý do biện minh cho sự ưa thích của mình vềcách giáo dục của cha: cách giáo dục của cha nghiêm túc, phân tích đúng sai,giải thích gảy gọn, nghiêm khắc, công bằng, đứng đắn, ít la mắng con cái Và các
em cũng thường lập đi lập lại “cha cứng rắn, nhưng thông cảm” Cũng qua phátbiểu cảm nghĩ của các em, người cha đối xử với con gái cũng rất nhẹ nhàng,nhỏ nhẹ Còn các em trai thường nhấn mạnh nhiều hơn về cách dạy của cha ởnhững đặc điểm sau: dễ hiểu, lý lẽ, cha có kiến thức rộng…
Trang 39Chúng tôi dùng một thang điểm gồm 16 đề mục (items) để đo lường namtính , nữ tính của các đối tượng nghiên cứu (trẻ em và cha mẹ) Các đề mục liênquan đến tính độc lập, tính năng động, tính cứng rắn, tính cạnh tranh, khả năng dễđưa ra quyết định, tính kiên định, tính tự tin, tính tự tôn, vững chãi trước áp lực…để đo lường nam tính Những đề mục để đo lường nữ tính gồm có những câu hỏiliên quan đến tính dễ xúc động, tính tận tụy với người khác, tính mềm dẻo, tính haygiúp đở người khác, khả năng dễ biết cảm xúc của người khác, dễ cảm thông vớingười khác, nhiệt tình trong quan hệ26 (Xin xem Phu ï lục 1).
Ở đây có một điểm về phương pháp luận cần xác định ngay Trước đâycó nhiều tác giả giả định nam tính đối lập với nữ tính Nói cách khác họ quanniệm nam tính và nữ tính là hai cực đối nghịch của một đường thẳng và điều đó cónghĩa là một người có nam tính nhiều thì không thể có nữ tính nhiều Nhưnggần đây theo quan điểm của nhiều người nghiên cứu, nam tính và nữ tính là haichiều kích (dimension), hay lãnh vực độc lập Có nghĩa là một cá nhân có nhữngtính chất biểu hiện nam tính (như tính tự lập, tính quyết đoán…) đồng thời cũng cónhững tính chất như dễ xúc động, hay quan tâm chăm sóc người khác…- những tínhchất biểu hiện nữ tính Thang điểm được nêu ra ở trên cũng quan niệm nam tínhvà nữ tính là hai chiều kích độc lập Như vậy sẽ không chỉ có những người cónam tính mạnh, những người có nữ tính mạnh mà còn có những người vừa có nam
tính mạnh vừa nữ tính mạnh (tạm gọi là những người lưỡng tính, androgynous) và
cả những người vô tính (tạm dùng thuật ngữ này cho những người mà biểuhiện nam tính và nữ tính đều thấp, không rõ ràng)
Theo bảng 11, nhìn chung chỉ số trung bình của trẻ em thấp hơn chỉ sốtrung bình của người lớn, điều này có nghĩa là càng lớn lên ý thức về các khuônmẫu về càng có ý nghĩa, càng đậm nét hơn Nhận định này càng được củng cố,nếu so sánh chỉ số về nam tính ở trẻ em nam (24.26) và ở trẻ em gái (23.80), tathấy sự khác biệt không lớn và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê(t = 0.805, p = 0.42) Nhưng chỉ số này ở người lớn có sự khác biệt ở hai giới(28.30 so với 26.42)
B
ẢNG 11 : CHỈ SỐ NAM TÍNH VÀ NỮ TÍNH Ở NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ EM THEO GIỚI TÍNH
Trang 40conceptions of masculinity and feminity, Journal of personality and Social Psychology, 1975, No 32.