Theo các tài liệu đã được công bố năm 1871 Vương quốc Anh là nước đầu tiên trên thế giới triển khai các dịch vụ công tác xã hội vào trong hệ thống các trường học, trong đó các nhân viên công tác xã hội học đường có nhiệm vụ giúp đỡ học sinh vượt qua những khó khăn về tâm lý xã hội, giúp các em học sinh phát huy tối đa tiềm năng và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ học tập. Sau đó là các trường học tại New York, Boston và Hartfort vào năm 1906 trong nỗ lực hỗ trợ chương trình xóa mù chữ trong các gia đình ở Mỹ. Tiếp đó là sự phát triển công tác xã hội học đường ở Thụy Điển năm 1950, các nước Canada, Autralia vào những năm 1940, các nước châu Âu như Phần Lan, Đức vào những năm 1960, New Zeland, Singgapore, Trung Quốc (Đài Loan, Hồng Kong) vào thập kỉ 70, cho đến những năm 80 và 90 tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ, Ả Rập Xê ut… Như vậy, công tác xã hội trong trường học đã xuất hiện từ rất sớm, bắt đầu ở các nước phương Tây có nền an sinh xã hội phát triển rồi lan rộng sang các nước châu Á, châu Úc.
Trang 1CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC: VẤN ĐỀ CƠ BẢN
1. Lịch sử hình thành công tác xã hội trong trường học
Theo các tài liệu đã được công bố năm 1871 Vương quốc Anh là nước đầutiên trên thế giới triển khai các dịch vụ công tác xã hội vào trong hệ thống cáctrường học, trong đó các nhân viên công tác xã hội học đường có nhiệm vụ giúp đỡhọc sinh vượt qua những khó khăn về tâm lý xã hội, giúp các em học sinh phát huytối đa tiềm năng và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ học tập Sau đó là các trườnghọc tại New York, Boston và Hartfort vào năm 1906 trong nỗ lực hỗ trợ chươngtrình xóa mù chữ trong các gia đình ở Mỹ Tiếp đó là sự phát triển công tác xã hộihọc đường ở Thụy Điển năm 1950, các nước Canada, Autralia vào những năm
1940, các nước châu Âu như Phần Lan, Đức vào những năm 1960, New Zeland,Singgapore, Trung Quốc (Đài Loan, Hồng Kong) vào thập kỉ 70, cho đến nhữngnăm 80 và 90 tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ, Ả Rập Xê ut…
Như vậy, công tác xã hội trong trường học đã xuất hiện từ rất sớm, bắt đầu ởcác nước phương Tây có nền an sinh xã hội phát triển rồi lan rộng sang các nướcchâu Á, châu Úc
Tuy nhiên, đến nay, ngành công tác xã hội học đường phát triển hơn cả vẫn
là ở Mỹ, mô hình công tác xã hội học đường ở Mỹ có thể gọi là nền móng vữngchắc để phát triển ngành công tác xã hội học đường nói chung Trong khuôn khổcuốn sách này, chúng tôi sẽ giới thiệu về lịch sử hình thành công tác xã hội họcđường ở Mỹ, để bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn về công tác xã hội học đường
a)Lịch sử công tác xã hội học đường/trường học ở Mỹ
Lịch sử công tác xã hội học đường ở Mỹ bắt đầu từ hơn 100 năm trước Đầuthập niên 1900, tại 3 thành phố lớn của Mỹ là Hathfod, Boston và New York, nhânviên phúc lợi xã hội của các cơ quan trong cộng đồng địa phương đã bắt đầu đếnthăm trường học để hỗ trợ cho những trẻ em cần bảo hộ ở địa phương Những nhân
Trang 2viên này được gọi là ‘giáo viên thăm hỏi’ (visiting teacher) và đó chính là mô hìnhtiền thân để ngày nay nhân viên công tác xã hội học đường được công nhận là nhânlực chuyên môn hoạt động bên trong nhà trường Trong 100 năm qua công tác xãhội học đường ở Mỹ đã, đang và sẽ không ngừng biến đổi theo hoàn cảnh xã hội vàmôi trường giáo dục.
Thời kỳ giáo viên thăm hỏi (Nửa đầu thập niên 1900~ thập niên 1930)
Nửa đầu thập niên 1900 nhân viên công tác xã hội thuộc các cơ quan xã hộiđịa phương ở 3 thành phố của Mỹ là Hathfod, Boston và New York đã thăm hỏicác trường học ở địa phương với tư cách là giáo viên thăm hỏi Công việc của giáoviên thăm hỏi ở đây chủ yếu hỗ trợ các em học sinh cần bảo hộ để các em thíchnghi với trường học và nâng cao thành tích học tập, cung cấp dịch vụ liên kết giữacộng đồng địa phương-trường học-gia đình và hỗ trợ để trường học có thể thựchiện chính sách giáo dục theo sự biến đổi của môi trường xã hội
Năm 1913 lần đầu tiên Sở giáo dục New York đã tuyển dụng giáo viên thămhỏi vào vị trí giáo viên chính thức và điều này là tiền đề để nhân viên công tác xãhội trong trường học được công nhận là nhân lực chuyên môn của chế độ trườnghọc Năm 1919 Hiệp hội giáo viên thăm hỏi Mỹ (National Association of VisitingTeachers) được thành lập
Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn đưa nhân viên công tác xã hội vào họcđường, Mỹ nhận thấy có sự thay đổi tích cực với các vấn đề trong trường học vànhân viên công tác xã hội đã được tuyển dụng vào vị trí chính thức trong trườnghọc, không còn là cán bộ chuyên trách đứng ngoài hệ thống nhà trường Vai tròquan trọng nhất của nhân viên công tác xã hội trường học thời kỳ này là liên kếtcộng đồng địa phương-trường học-gia đình và hỗ trợ để trường học thực hiện chínhsách giáo dục tùy theo sự biến đổi của môi trường xã hội và điều chỉnh chính sáchtrường học có ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ em
Trang 3Từ nửa sau thập niên 1920, xã hội Mỹ quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe tinhthần.Chính từ ảnh hưởng đó, vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trườnghọc cũng bắt đầu thay đổi Vai trò người liên kết giữa cộng đồng xã hội - trườnghọc - gia đình như lúc ban đầu đã chuyển dần thành vai trò của chuyên gia sứckhỏe tinh thần và nhấn mạnh phòng ngừa và điều trị sức khỏe tinh thần.
Nhân viên phúc lợi xã hội dần dần được công nhận là nhân lực chuyên môntrong chế độ học đường thì tên gọi của giáo viên thăm hỏi cũng được đổi thànhnhân viên Công tác xã hội học đường,và vào năm 1945 Hiệp hội giáo viên thămhỏi Mỹ (National Association of Visiting Teachers) đổi tên thành Hiệp hội nhânviên CTXHHĐ Mỹ (National Association of School Social Workers)
Trong thời gian này, nhân viên công tác xã hội học đường quan tâm chủ yếuđến sức khỏe tinh thần của học sinh Tuy nhiên trong thập niên 1960 diễn ra cuộcvận động nhân quyền có bàn về các vấn đề bất bình đẳng cơ hội giáo dục trên toàn
xã hội, sự thiếu hi vọng của giáo viên với trẻ em thuộc giai cấp thu nhập thấp và sự
xa lánh từ nhà trường của phụ huynh học sinh Vì những lý do đó, Nhân viên côngtác xã hội học đường đã hỗ trợ để tái cơ cấu chức năng của nhà trường một lần nữa
và nhấn mạnh sự can thiệp tích cực vào môi trường xã hội gây ảnh hưởng lêntrường học và học sinh
Trong thời điểm đó, Luật giáo dục trẻ em khuyết tật (Education for AllHandicapped Children Act) thông qua năm 1975 đã đưa ra căn cứ hợp pháp chứngminh học sinh khuyết tật được xem là đối tượng dịch vụ chủ yếu của nhân viêncông tác xã hội học đường
Thời kì dịch vụ tổng hợp liên kết trường học (Nửa sau thập niên 1980 đến nay)
Từ sau thập niên 1980 ở Mỹ đặt ra câu hỏi về chất lượng giáo dục nhàtrường và các cuộc vận động cải cách giáo dục được triển khai từ đó Như vậy,ngoài chức năng giáo dục, trường học còn được hiểu là hệ thống xã hội cung cấpcác dịch vụ phúc lợi phổ quát và được hiểu là trung tâm liên kết và cung cấp các
Trang 4dịch vụ y tế xã hội đa dạng cần thiết cho học sinh Từ nhu cầu đó dịch vụ liên kếttrường học (school- linked services) được ra đời và xem như là mô hình mới củacông tác xã hội học đường Trong mô hình này, nhân viên công tác xã hội họcđường được nhấn mạnh ở vai trò người quản lý tình huống cụ thể không chỉ cungcấp trực tiếp các dịch vụ công tác xã hội học đường cho học sinh mà con liên kết
và quản lý các nguồn lực đa dạng trong cộng đồng địa phương Và Nhân viên côngtác xã hội học đường được nhấn mạnh hơn ở vai trò liên kết và điểu chỉnh gia đình,trường học và cộng đồng địa phương
Học sinh khuyết tật vẫn là đối tượng dịch vụ chủ yếu của nhân viên công tác
xã hội học đường và nhân viên công tác xã hội học đường thực hiện vai trò tíchcực hơn nữa khi can thiệp giai đoạn đầu với trẻ em khuyết tật
Ngoài ra, do nhu cầu đa dạng của dân số học sinh cũng như đói nghèo, lạmdụng thuốc và bạo lực tăng lên nên tính cần thiết của việc nhân viên công tác xãhội học đường phải can thiệp tích cực vào các dịch vụ giải quyết triệt để đói nghèo,lạm dụng chất độc hại và bạo lực được nhấn mạnh hơn (Allen-Meares et al.,2000)
Tiêu chuẩn công tác xã hội học đường của Hiệp hội nhân viên công tác
xã hội Mỹ năm 2002.
1. Nhân viên CTXHHĐ tuân thủ giá trị và luân lý của nghề chuyên môn CTXH và làm theo chỉ dẫn luân lý của hiệp hội nhân viên CTXH Mỹ khi đưa ra quyết định mang tính luân lý.
2. Nhân viên CTXHHĐ phải chú ý đến thứ tự trước sau của trách nhiệm khi thực hiện trách nhiệm và vai trò được giao để tổ chức thời gian, năng lượng và nhiệm vụ.
3. Nhân viên CTXHHĐ tư vấn để nhân viên các cơ quan xã hội địa phương, thành viên Ủy ban điều hành nhà trường và các đại biểu của cộng đồng địa phương có
Trang 54 Nhân viên CTXHHĐ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho học sinh và gia đình học sinh giúp họ hiểu tính đa dạng của văn hóa.
5 Mở rộng các dịch vụ CTXHHĐ theo hướng tham gia tối đa nhằm nâng cao năng lực
cá nhân của học sinh và giúp học sinh tự lên kế hoạch học tập cho mình.
6 Nhân viên CTXHHĐ củng cố khả năng để học sinh và gia đình học sinh có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực chính thức và phi chính thức trong cộng đồng địa
phương 7.Nhân viên CTXHHĐ tuân thủ các điều lệ bảo hộ cuộc sống riêng và giữ bí mật.
8 Nhân viên CTXHHĐ ủng hộ học sinh và gia đình học sinh có hoàn cảnh đa dạng 9.Nhân viên CTXHHĐ làm việc với tư cách vừa là người lãnh đạo vừa là thành viên của nhóm đa chuyên môn, hợp lực để huy động các nguồn lực trong cộng đồng địa phương và các cơ quan giáo dục thuộc địa phương có tác dụng đáp ứng nhu cầu của học sinh và gia đình học sinh.
10. Nhân viên CTXHHĐ xây dựng và cung cấp các chương trình tập huấn và giáo dục phù hợp với mục đích và sứ mệnh của giáo dục.
11. Nhân viên CTXHHĐ bảo quản tài liệu chính xác liên quan đến kế hoạch,
15. Nhân viên CTXHHĐ được tập huấn các chiến lược hòa giải hay giải quyết mâu thuẫn và áp dụng nó giúp học sinh có thể giải quyết những xung đột mang tính phi sản xuất bên trong trường học hay cộng đồng địa phương, và phát triển
Trang 6quan hệ
Trang 7mang tính sản xuất.
16. Nhân viên CTXHHĐ tuân theo quy định thực hành của Hiệp hội nhân viên CTXH Mỹ.
17. Nhân viên CTXHHĐ lĩnh hội và hiểu biết các tri thức chuyên môn về CTXHĐ 18.Nhân viên CTXHHĐ hiểu bối cảnh gây ảnh hưởng đến học tập của học sinh và
có kinh nghiệm rộng lớn.
19 Nhân viên CTXHHĐ biết và hiểu tổ chức và cơ cấu của các cơ quan giáo dục địa phương 20.Nhân viên CTXHHĐ biết và hiểu lực ảnh hưởng lẫn nhau giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng địa phương.
21. Nhân viên CTXHHĐ duy trì và bồi dưỡng các kỹ năng cần thiết cho điều tra mang tính hệ thống.
22. Nhân viên CTXHHĐ hiểu trách nhiệm và mối quan hệ với quản lý gây ảnh
hưởng đến học sinh.
23. Nhân viên CTXHHĐ chọn lựa và áp dụng phương pháp ngăn ngừa và can thiệp
có tính khả năng cao hoặc được kiểm chứng thực tế bằng việc nâng cao kinh nghiệm giáo dục cho học sinh.
24. Nhân viên CTXHHĐ đánh giá thực hành và thông báo các phát hiện đó cho người tham gia, cơ quan giáo dục địa phương, cộng đồng địa phương và nhóm
chuyên gia 25.Nhân viên CTXHHĐ có kỹ năng liên hiệp các đơn vị địa phương, vùng , quốc gia hỗ trợ cho học sinh thành công.
26. Nhân viên CTXHHĐ phát huy sự hợp tác với người cung cấp dịch vụ y tế tinh thần
và y tế cộng đồng địa phương, và giúp đỡ để học sinh dễ dàng tiếp cận với các dịch
vụ này.
27. Nhân viên CTXHHĐ với tư cách là chuyên gia có trách nhiệm liên tục nghiên cứu phương án phát triển tuân theo tiêu chuẩn và điều kiện của bộ chủ quản về giáo dục chuyên môn liên tục của Hiệp hội CTXH Mỹ.
28. Nhân viên CTXHHĐ góp phần vào sự phát triển của nghề chuyên môn thông qua
Trang 8giáo dục và hướng dẫn thanh tra nơi làm việc CTXHHĐ.
29. Bộ giáo dục hay các cơ quan của bộ chủ quản có trách nhiệm công nhận
các nguồn lực liên quan đến giáo dục quy định việc thực hành CTXHHĐ.
30. Bộ giáo dục hay các cơ quan của bộ chủ quản có trách nhiệm công nhận các nguồn lực liên quan đến giáo dục phải tuyển dụng nhân viên CTXHHĐ đúng chuyên môn và có kinh nghiệm vào vị trí chuyên gia CTXHHĐ của cơ quan dưới bộ chủ quản.
31. Nhân viên CTXHHĐ đúng chuyên môn được cơ quan giáo dục địa phương tuyển dụng phải cung cấp các dịch vụ CTXHHĐ.
32. Cơ quan giáo dục địa phương phải tuyển dụng nhân viên CTXHHĐ có tiêu chuẩn tư cách cao nhất.
33. Nhân viên CTXH trong nhà trường được gọi là ‘nhân viên CTXHHĐ’.
34. Lương và thưởng của nhân viên CTXHHĐ phải tuân thủ đúng theo giáo dục, trách nhiệm và kinh nghiệm của họ, và bình đẳng với các chuyên gia có tư cách tương ứng được cơ quan giáo dục địa phương tuyển dụng.
35. Cơ cấu hành chính của cơ quan giáo dục địa phương đưa ra mục tiêu tương lai phù hợp của CTXHHĐ.
36. Cơ cấu hành chính của cơ quan giáo dục địa phương đưa ra chính sách rõ ràng
về nguồn gốc và trách nhiệm cho các chương trình CTXHHĐ.
37. Cơ quan giáo dục địa phương cung cấp môi trường làm việc chuyên môn để nhân viên CTXHHĐ có thể thực hiện các dịch vụ một cách hiệu quả.
38. Cơ quan giáo dục địa phương tạo cơ hội cho nhân viên CTXHHĐ tham gia vào các hoạt động phát triển chuyên môn có ích cho việc thực hành CTXHHĐ.
39. Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ của dịch vụ CTXHHĐ phải rõ ràng nhưng cũng phải liên quan trực tiếp đến sứ mệnh và quá trình đào tạo của cơ quan giáo dục địa phương.
40. Cơ quan giáo dục địa phương hỗ trợ để nhân viên CTXHHĐ có thể hợp tác với
Trang 9quan
Trang 10đến trường học nhằm tìm ra kế hoạch cho sự thành công về giáo dục của học sinh.
41 Phải đánh giá liên tục tất cả các chương trình của dịch vụ CTXHHĐ để
phán đoán liệu nó có góp phần vào sự thành công giáo dục học sinh.
42.Cơ quan giáo dục địa phương giải thích và hiểu tỷ lệ học sinh so với nhân viên CTXHHĐ để đưa ra số lượng công việc phù hợp.
b)Lịch sử Công tác xã hội trường học ở Việt Nam
Công tác xã hội được coi là ngành khoa học khá mới ở Việt Nam, do vậycông tác xã hội trường học được hình thành và phát triển dần dần với sự tác độngcủa ngành khoa học này đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và với các đối tượngkhác nhau, tuy nhiên, ở Việt Nam, công tác xã hội trường học được phát triển hơn
cả ở miền Nam Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo về công tác
xã hội tiên phong trong cả nước khi mở mã ngành đào tạo công tác xã hội họcđường Trong quá trình hình thành, để thúc đẩy sự phát triển của công tác xã hộihọc đường trường Đại học Mở đã triển khai dự án thí điểm công tác xã hội họcđường tại hai trường Chu Văn An (Quận1) và Hưng Phú (Quận 8) từ năm 1999-
2001 Tại mỗi trường học này, có một nữ nhân viên công tác xã hội làm việcthường xuyên với học sinh để giải quyết các vấn đề liên quan đến học hành, tìnhcảm, tâm sinh lý, mối quan hệ thầy cô, vấn đề gia đình Các em học sinh ở cáctrường học này có thể đến các trung tâm công tác xã hội đặt trong trường gặp nhânviên công tác xã hội để tìm kiếm sự giúp đỡ - các nhân viên công tác xã hội sẽ sửdụng kiến thức, kĩ năng, phương pháp công tác xã hội phù hợp để giải quyết vấn đềcủa học sinh đạt hiệu quả Có thể thấy rằng từ những ngày đầu triển khai, mặc dùnguồn nhân lực còn hạn chế, đối tượng mà nhân viên công tác xã hội tiếp cận trongtrường học chỉ là học sinh nhưng kết quả của dự án thí điểm công tác xã hội họcđường đã được đánh giá thành công, đã cải thiện được mối quan hệ giữa học sinhvới học sinh, học sinh với thầy cô giáo và các vấn đề cá nhân của học sinh
Trang 11Từ thành công của dự án thí điểm trên, tổ chức SCS (tổ chức cứu trợ trẻ emThụy Điển) đã phối hợp với ngành dân số gia đình và trẻ em thành phố Hồ ChíMinh xây dựng 8 điểm tư vấn học đường tại 8 trường thuộc các quận 3,8,10, TânBình và Gò Vấp và đã cũng đã mang lại hiệu quả rõ nét trong công tác xã hội họcđường hiện nay.
Và đến thời điểm này, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu trongviệc quan tâm đẩy mạnh mô hình tư vấn học đường Các trường và các tổ chứctham vấn học đường coi mô hình này như là biện pháp giúp học sinh hạ nhiệtnhững vấn đề thuộc khuôn khổ tâm lý chứ chưa thực sự là công tác xã hội
Ở các địa phương khác trong cả nước cũng thực hiện mô hình này ở trườngdưới hình thức có các trung tâm tư vấn học đường hay tham vấn học đường.Có thểthấy rằng so với mạng lưới công tác xã hội thế giới, đặc biệt là nhìn từ mô hìnhcông tác xã hội Mỹ, chúng ta có thể nhận ra mô hình của Việt Nam chưa thật sự làcông tác xã hội trong trường học – Bởi chúng ta chỉ mới chú trọng mảng tư vấnhay tham vấn học đường Trong khi đó nhân viên công tác xã hội học đường lànhững người được huấn luyện đặc biệt để giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ
em, học sinh và gia đình cũng như các thầy cô giáo của các em ở trong trường học.Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, khi công tác xã hội là ngành mớiđang được quan tâm và phát triển, đã có hơn 40 trường Đại học – Cao đẳng trong
cả nước được mở mã ngành đào tạo Công tác xã hội – có thể thấy rõ rằng đội ngũnhân viên công tác xã hội đang được bổ sung và lớn mạnh, mạng lưới công tác xãhội chuyên nghiệp đang hình thành trên khắp cả nước Và thiết nghĩ, để nghề côngtác xã hội trong trường học được phát triển hơn đòi hỏi dự quan tâm của các nhàquản lý ở các Bộ, ngành để đưa vào chiến lược phát triển giáo dục của nước nhà
2. Khái niệm công tác xã hội trong trường học
Công tác xã hội được ra đời bắt nguồn từ các hoạt động chăm sóc nhân đạo,hoạt động từ thiện, sự trợ giúp xã hội, dần dần chuyển từ các hoạt động nghiệp dư
Trang 12thành các hoạt động chuyên nghiệp trên cơ sở được đào tạo một cách khoahọc.Hiện nay, công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợgiúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu vàtăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vàphòng ngừa các vấn đề xã hội đảm bảo an sinh xã hội.
Công tác xã hội hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, trẻ em,người cao tuổi, người tàn tật, người nghèo, gia đình và trường học… Trong mỗimột lĩnh vực khác nhau, công tác xã hội đều có cách thức tiếp cận, kĩ năng làmviệc khác nhau cho từng đối tượng cần được giúp đỡ
Công tác xã hội trong trường học hay còn gọi là công tác xã hội học đường
là một lĩnh vực trong công tác xã hội được thực hành trong trường học để giúp đỡhọc sinh, giáo viên hay cán bộ quản lý nhà trường tăng cường hoặc phục hồi nănglực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằmđạt được những mục tiêu trong dạy và học
Công tác xã hội trong trường học là một lĩnh vực được thực hành thông quaviệc Nhân viên công tác xã hội vận dụng kiến thức, kĩ năng, nguyên tắc, phươngpháp của chuyên biệt của ngành làm việc cụ thể với các đối tượng trong trườnghọc
Như vậy, đối tượng được xác định cụ thể trong trường học là học sinh, giáoviên, cán bộ quản lý trong nhà trường và phụ huynh học sinh Có thể thấy rằng cácđối tượng trong trường học là khác nhau, mỗi thân chủ là một cá thể riêng biệt vớinhững vấn đề khác nhau Chính vì vậy đòi hỏi Nhân viên công tác xã hội cần mềmdẻo, linh hoạt trong việc áp dụng các kiến thức, kĩ năng khi thực hiện hoạt độngcan thiệp và trợ giúp
Mục đích chính của việc trợ giúp là tăng cường hoặc phục hồi chức năng xã
Trang 13trợ giúp của Nhân viên công tác xã hội đối với đối tượng nào thì cũng đi đến đíchcuối cùng là tạo môi trường giáo dục thuận lợi nhất cho học sinh Cố nhiên có thểthấy rằng dù hoạt động trợ giúp đó là gì nhân viên công tác xã hội cũng cần kết nốicác đối tượng kể trên để hỗ trợ nhau giải quyết những vấn đề liên quan trongtrường học.
3. Vai trò của CTXH trong trường học
Trong quá trình phát triển của CTXHTH trên thế giới và đặc biệt là trongcác đại hội quốc tế lần thứ nhất vào năm 1999 và lần thứ hai vào năm 2003, vai tròcủa công tác xã hội học đường đã dần được củng cố và khẳng định, cụ thể là sự tácđộng vào 4 đối tượng ở học đường là học sinh, phụ huynh, thầy cô giáo và các cán
bộ quản lý giáo dục
Với học sinh
- Giúp giải quyết những căng thẳng và khủng hoảng thần kinh
- Tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm trí
- Giúp học sinh khai thác và phát huy những điểm mạnh và thành công trong họctập
- Có được năng lực cá nhân và xã hội, cụ thể là giúp các em giảm những hành vinhư: không hoàn thành việc học tập; hung hăng, gây gổ với bạn, không kiểmsoát được mình; không có quan hệ với bạn đồng lứa và người lớn; bị lạm dụngthể chất; chán học; bị trầm cảm; có những dấu hiệu, hành vi tự tử
Với các bậc phụ huynh
- Hỗ trợ tham gia một cách có hiệu quả vào giáo dục con cái
- Hiểu được những nhu cầu phát triển và giáo dục của trẻ
- Tiếp cận các nguồn lực của trường học và cộng đồng
- Hiểu các dịch vụ giáo dục đặc biệt
- Tăng cường kỹ năng làm cha mẹ
Với các thầy cô giáo
Trang 14- Giúp cho quá trình làm việc với phụ huynh của học sinh tiến hành hiệu quả
- Tìm hiểu những nguồn lực mới
- Tham gia vào tiến trình giáo dục, nhất là với các em cần sự giáo dục đặc biệt
- Hiểu hơn về gia đình, những yếu tố văn hoá và cộng đồng ảnh hưởng đến trẻ
Với các nhà quản lý giáo dục
- Hỗ trợ và tham gia vào việc xây dựng các chính sách và chương trình phòng ngừa
- Đảm bảo thực hiện đúng một số luật
Trên đây là các vai trò chung của CTXHTH, nhấn mạnh đến đối tượng làm việccủa nhân viên CTXHTH, dưới đây là một số vai trò cụ thể hay nói cách khác lànhiệm vụ mà người nhân viên CTXH hoạt động trong trường học thực hiện
Phòng ngừa và can thiệp các vấn đề sau:
- Mang thai v ị thành niên
- Quan hệ xã hội, cá nhân
- Vấn đ ề tình dục
Trang 15Trực tiếp: Trực tiếp can thiệp để giải quyết những vấn đề của học sinh
- Đánh giá vấn đề tâm lý-xã hội và hành vi-cảm xúc
- Can thiệp khủng hoảng
- Tư vấn gia đình
- Hòa giải mâu thuẫn
- Tham vấn/trị liệu cá nhân/nhóm
- Giáo dục đặc biệt
• Đánh giá sinh học - tâm lý xã hội
• Đánh giá hành vi chức năng
• Kế hoạch can thiệp hành vi
• Huy động các các nguồn lực giúp cho trẻ em học một cách hiệu quả nhất trong chương trình giáo dục
Gián tiếp: Làm việc với nhân viên, giáo viên và cán bộ quản lý trong nhà trường, cộng đồng và các cơ quan để giải quyết những vấn đề của học sinh
- Xây dựng nhóm hỗ trợ học sinh
- Giới thiệu, kết nối dịch vụ
- Phối hợp giữa cộng đồng, gia đình, nhà trường
Trang 16- Quản lý trường hợp
- Xây dựng các chương trình phòng chống và can thiệp
Làm việc với các cơ quan, tổ chức cộng đồng về các vấn đề sau:
- Sự hợp tác trong cộng đồng
- Nhóm giải quyết vấn đề liên ngành
- Chính sách và chương trình phát triển
- Quan hệ công chúng
- Nghiên cứu và xuất bản
- Kế hoạch cải thiện trường học
- Phát triển NVCTXHTH chuyên nghiệp
- Tư vấn giáo viên và nhân viên trường học
Như vậy, người NVCTXHTH có rất nhiều vai trò khác nhau trong việc trợ giúp các vấn đề trong trường học, tựu chung lại, có thể khái quát mấy điểm về vaitrò của NVCTXHTH như sau:
- Xây dựng các kỹ năng xã hội mới hoặc năng lực cho giáo viên, phụ huynh và học sinh
- Xác định các nguồn tài nguyên mới và các cơ sở dịch vụ xã hội hỗ trợ trẻ em và gia đình cũng như triển khai các chương trình mới tại trường và tại cộng đồng
- Thay đổi quan điểm người lớn ( như các giáo viên thường có các quan điểm tiêucực về học sinh )
- Nâng cao kiến thức và sự thông hiểu ( như tập huấn tại chức cho giáo viên về trẻ
Trang 17- Triển khai các chương trình mới khi có nhu cầu ( như chương trình sau giờ học cho các trẻ có bố mẹ phải làm việc, chương trình giáo dục thể chất…)
- Biện hộ cho học sinh khi học sinh phải ra trước Hội đồng kỷ luật của nhà trường
4. Một số nguyên tắc đạo đức hướng dẫn hành độngtrong công tác xã hội trường học
Cũng giống như các ngành nghề khác trong xã hội, như nghề y người bác sĩcũng phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức của nghề, nghề luật sư cũng có nhữngnguyên tắc đạo đức của nghề, công tác xã hội hiện nay cũng được coi là một nghềtrong xã hội, do vậy, nó cũng không nằm ngoài qui luật chung của một nghề, khilàm nghề công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội cũng phải dựa vào nhữngnguyên tắc đạo đức của nghề Nguyên tắc đạo đức trong công tác xã hội là hệthống các quy tắc dựa trên nền tảng triết lý, giá trị nghề nghiệp Những nguyên tắcnày được nhân viên công tác xã hội sử dụng trong quá trình tiến hành trợ giúp thânchủ Khi làm việc với các đối tượng trong trường học nhân viên công tác xã hộicũng đều phải tuân thủ các nguyên tắc của ngành
a) Chấp nhận thân chủ
Chấp nhận thân chủ là chấp nhận mọi điểm tốt, xấu, điểm mạnh, điểm yếucủa thân chủ và không xem xét đến hành vi của thân chủ Chấp nhận thân chủ đòihỏi nhân viên công tác xã hội tiếp nhận thân chủ không được tính toán và khôngđược phán xét hành vi của thân chủ
Trong môi trường học đường, nhân viên công tác xã hội sẽ phải tiếp cận vớinhiều đối tượng và nhiều vấn đề xã hội khác nhau Chấp nhận thân chủ ở đây cónghĩa là nhân viên công tác xã hội cần chấp nhận con người học sinh, giáo viên,cán bộ quản lý trong nhà trường cho dù họ có thực hiện các hành vi dù tốt, dù xấunhưng việc chấp nhận ở đây không đồng nghĩa với việc chấp nhận hành vi, việc
Trang 18làm của họ mà đòi hỏi người nhân viên công tác xã hội không được đồng tình, baoche hay tha thứ cho những hành vi mà xã hội không thừa nhận đối với họ.
Ở mỗi trường học đều có những hệ thống quy tắc kỉ luật cho từng hành vi viphạm Nhân viên công tác xã hội không thể đánh giá hành vi đó của các đối tượngtrong trường học thông qua hệ thống kỉ luật mà cần nhìn nhận vấn đề của các đốitượng trong trường học một cách khách quan nhất, để họ cảm nhận thấy rằng mìnhđược tôn trọng hoàn toàn và dễ dàng bộc lộ vấn đề của mình
Ví dụ: trong lớp học A tại trường Tiểu học B, có em học sinh C có hành vi trộm cắp vặt các đồ tư trang cá nhân của các học sinh khác Khi được tiếp nhận ca trợ giúp học sinh này, nhân viên công tác xã hội luôn phải chấp nhận học sinh không được lên án, phê phán, gán nhãn, kết án hay có định kiếnđối với học sinh này mà phải khẳng định em đó là một con người bình thường, có phẩm giá đầy đủ Tuy nhiên, chấp nhận học sinh đó bằng thái độ, hành động cụ thể của nhân viên công tác xã hội: đón nhận học sinh vui vẻ, cởi mở, không dùng lời phê phán mà luôn động viên học sinh sửa lỗi và cũng thể hiện sự không đồng tình về hành vi, việc làm của học sinh theo phương châm yêu người - ghét tội.
b) Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Nguyên tắc này cho rằng cá nhân có quyền quyết định những vấn đề thuộc
về cuộc đời của họ và người khác không được áp đặt quyền quyết định của mìnhlên cá nhân ấy Nhân viên công tác xã hội không nên là người vạch kế hoạch, lựachọn giúp thân chủ mà chỉ là người hướng dẫn và giúp đỡ để thân chủ đưa ranhững quyết định cuối cùng
Tuy nhiên, nguyên tắc quyền thân chủ tự quyết cũng có những điểm cần lưu
ý khi làm việc trong trường học Trong trường hợp nếu như thân chủ đưa ra quyếtđịnh không nằm trong quy định của xã hội và gây tổn hại đến người khác cũngnhư bản thân thì nhân viên công tác xã hội cần có sự can thiệp
Trang 19Thân chủ trong trường học có thể là những học sinh đang ở trong độ tuổimẫu giáo, tiểu học, không có sự hiểu biết rõ ràng về vấn đề của mình, không tự đưa
ra quyết định của bản thân thì nhân viên công tác xã hội có thể hỗ trợ để thân chủ
có quyết định tốt, hoặc có thể kết nối thân chủ với gia đình để gia đình cùng thamgia vào quá trình giải quyết vấn đề của thân chủ
Ví dụ, có cô giáo do bức xúc về công việc, áp lực từ phụ huynh và nhà trường cô giáo đã nói với nhân viên công tác xã hội rằng, em sẽ tự tử để chứng minh sự trong sạch của mình Nhân viên công tác xã hội thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền tựquyếtcủa thân chủ như thế nào?
Sự tự quyếtcũng như sự tự do, đều phải nằm trong giới hạn riêng của nó Quyết định
mà thân chủ đưa ra phải nằm trong phạm vi qui định của xã hội có nghĩa, những quyết định mà thân chủ đưa ra phải nằm trong những chuẩn mực hành vi mà xã hội
có thể chấp nhận được, hậu quả của quyết định không gây tổn hại đến người khác
và cũng không có hại cho chính bản thân thân chủ Với tình huống trên, nhân viên công tác xã hội phá vỡ nguyên tắc tôn trọng quyền tựquyết của thân chủ.
->Nhân viên công tác xã hội phải có ý kiến, hướng dẫn cô giáo từ bỏ những ý nghĩ
và quyết định tự tử.
->Nhân viên công tác xã hội giúp cô giáo nhận thức được quyết định của cô giáo đưa ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tâm lý của cô giáo và những người thân trong gia đình.
->Nhân viên công tác xã hội thông báo về ý định của cô giáo tới gia đình, nàh trường, bạn bè để phòng ngừa.
c) Khuyến khích thân chủ tham gia giải quyết vấn đề
Nguyên tắc khuyến khích thân chủ tham gia giải quyết vấn đề là nguyên tắc
cơ bản trong công tác xã hội, đây cũng là nguyên tắc nhằm phân biệt rõ ràng côngtác xã hội và các hoạt động từ thiện khác
Trang 20Khuyến khích thân chủ tham gia giải quyết vấn đề có nghĩa là nhân viên
công tác xã hội không làm hộ, làm thay, làm cho mà để thân chủ trực tiếp tham gia
giải quyết vấn đề của mình nhằm giúp thân chủ phát huy tinh thần độc lập và cácnăng lực tiềm ẩn để tự quyết định hành động, giải quyết vấn đề của mình
Nguyên tắc này có ý nghĩa hơn khi vấn đề của thân chủ được giải quyếtbằng chính sự cố gắng của bản thân thì hiệu quả sẽ mang tính bền vững hơn Lúcnày, vai trò của nhân viên công tác xã hội chỉ là người kết nối và tạo điều kiệnthuận lợi cho thân chủ
Nguyên tắc này sử dụng trong trường học nhằm giúp các đối tượng chủ độngtham gia giải quyết vấn đề của mình
Ví dụ: Trường hợp giáo viên yêu cầu học sinh viết đơn xin hỗ trợ đồ dung học tập,
hỗ trợ giảm học phí… nhưng học sinh không biết viết đơn Trong trường hợp này, nhân viên công tác xã hội có được làm hộ, làm cho, làm thay cho em học sinh đó không? vì sao?
Không nên, nhân viên công tác xã hội có thể kết nối với giáo viên, gia đình hoặc trực tiếp hướng dẫn em học sinh viết đơn theo sự tư vấn của nhân viên công tác xã hội, hoặc hỗ trợ giáo viên, gia đình trong việc hướng dẫn học sinh viết đơn.
d) Cá nhân hóa
Nguyên tắc cá nhân hóa có ý nghĩa coi mỗi con người như là một cá nhânđộc nhất, với cá tính riêng biệt Cá nhân ấy có thể có cùng những nhu cầu cơ bảngiống nhau, tuy nhiên cá nhân ấy lại có tính cách khác nhau, nguyện vọng khônggiống nhau Điều này đòi hỏi nhân viên công tác xã hội không nên đồng nhất các
cá nhân với nhau Nhìn nhận mỗi cá nhân đều có sự khác biệt sẽ giúp cho quá trìnhtrợ giúp của nhân viên công tác xã hội có tính hiệu quả khi tìm hiểu những nét đặcthù của mỗi cá nhân đó để có sự linh hoạt trong giải quyết vấn đề và không ápdụng các cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp Nhân viên công tác xã
Trang 21hội sẽ trợ giúp thân chủ giải quyết vấn đề của họ trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khảnăng và nguồn lực mà họ có.
Trong trường học, nguyên tắc cá nhân hóa cần được coi là nguyên tắc quantrọng then chốt trong quá trình làm việc của Nhân viên công tác xã hội Mỗi thânchủ có thể có cùng chung vấn đề, tuy nhiên nguyên nhân của vấn đề đó có thể khácnhau, vì vậy đòi hỏi nhân viên công tác xã hội cần phải tìm hiểu và trợ giúp khácnhau
Ví dụ: Trong một lớp học có 2 học sinh cá biệt hay gây hấn với bạn và bỏ học không lý do.Rõ ràng vấn đề của cả 2 em học sinh đó là giống nhau: hành vi gây hấn và bỏ học Tuy nhiên, nhân viên công tác xã hội không thể đồng nhất hai em học sinh này vào cùng 1ca để giải quyết mà cần có sự tìm hiểu về từng cá nhân Các hành vi chung ấy có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau của các
cá nhân khác nhau.
e) Giữ bí mật cho thân chủ
Nguyên tắc giữ bí mật cho thân chủ yêu cầu nhân viên công tác xã hội giữ bímật thông tin mà họ chia sẻ Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ như bímật đó có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của thân chủ hay người khác thì Nhân viêncông tác xã hội có thể phá vỡ nguyên tắc nhằm đảm bảo sự an toàn cho mọi người.Trong trường học, các vấn đề của thân chủ có thể có liên quan nhiều đến cácđối tượng khác trong môi trường đó Không dễ dàng mà thân chủ tìm đến nhânviên công tác xã hội chia sẻ vấn đề của mình Việc thân chủ chia sẻ và hi vọng sẽđược bảo mật thông tin là nhu cầu chính đáng Giữ bí mật thông tin là thể hiện sựtôn trọng đối với thân chủ
Thông thường, nhà trường và giáo viên chủ nhiệm sẽ là những nhân tố cóthể được biết thông tin về học sinh mà họ quản lý Nhưng đôi khi vấn đề của họcsinh đó liên quan trực tiếp đến nhà trường và thầy cô giáo thì nhân viên công tác xãhội cần xem xét đến tính bảo mật thông tin cho thân chủ Trong quá trình làm việc
Trang 22với thân chủ đó có thể kiểm chứng lại thông tin mà em học sinh đó cung cấp để xácthực lại tính chính xác của thông tin.
Cần lưu ý đến nguyên tắc bảo mật thông tin khi làm việc trong trường học.Nếu vấn đề đó có ảnh hưởng đến chính thân chủ hoặc người khác, Nhân viên côngtác xã hội cần xác định xem thông tin đó sẽ được tiết lộ với ai và dưới hình thứcnào
5. Một số kĩ năng công tác xã hội trong trường học
a) Kĩ năng giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình tiếp xúc qua đó các đối tác trao đổi và chia sẻnhững hiểu biết ý tưởng và tình cảm, thông tin cho nhau hay nói cách khác giaotiếp là sự tiếp xúc qua lại, là cùng trao đổi, bàn luận thông qua các kĩ năng nghe,nói, viết và kĩ năng nhìn nhận
Giao tiếp được coi là chiếc chìa khóa để mở mọi cánh cửa Trong công tác
xã hội, kĩ năng giao tiếp được sử dụng như là một kĩ năng tổng hợp và xuyên suốtquá trình làm việc gồm rất nhiều các kĩ năng đã kể trên nhằm mục đích tiếp cậnthân chủ, làm việc với thân chủ, hiểu vấn đề thân chủ
Giao tiếp trong công tác xã hội không phải là giao tiếp xã hội thông thường,thông qua giao tiếp với đối tượng mà nhân viên công tác xã hội có thể tạo được ấntượng nhất định, khai thác thông tin, nắm vấn đề và tác động làm thay đổi suynghĩ, cảm xúc, hành vi của thân chủ
Đặc thù của công tác xã hội trong trường học là làm việc với nhiều đốitượng khác nhau như giáo viên, học sinh, lãnh đạo quản lý nhà trường và cả phụhuynh học sinh Nhân viên công tác xã hội không thể đồng nhất tất cả các đốitượng trên với cùng 1 cách giao tiếp Điều này đòi hỏi Nhân viên công tác xã hội
Trang 23cần phải có khả năng hiểu về thân chủ của mình, hiểu mình đang đứng trong hoàncảnh nào và tiếp xúc với ai để có cách làm việc hiệu quả nhất.
b) Kĩ năng lắng nghe
Lắng nghe là kĩ năng cơ bản của công tác xã hội Lắng nghe là hoạt độngtâm lý tích cực có sự tham gia của ý thức, đòi hỏi người nghe phải tập trung chú ýcao độ để tiếp nhận và hiểu được ý nghĩa thông tin Lắng nghe đòi hỏi Nhân viêncông tác xã hội cần phải có ý thức khi làm việc với thân chủ của mình, nó là mộtkhía cạnh thực hành nguyên tắc chấp nhận
Ở trong trường học, lắng nghe trở thành một kĩ năng vô cùng quan trọng bởicác đối tượng làm việc của nhân viên công tác xã hội trong trường học là rất đadạng Có thể là giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý, và phụ huynh học sinh Đôi khibởi những yếu tố tác động chủ quan và khách quan khiến nhân viên công tác xã hộisao nhãng và không lắng nghe thân chủ của mình sẽ dẫn đến việc dễ áp đặt ý kiếnchủ quan của mình vào vấn đề của thân chủ bởi những thành kiến đã có sẵn Việclắng nghe không tích cực sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình can thiệp giải quyết vấn
c) Kĩ năng quan sát
Trang 24Quan sát là chú ý đến những đặc điểm của người, vật hay tình huống, mụcđích là sử dụng những dữ liệu quan sát được để hiểu về thân chủ và hoàn cảnh củathân chủ.
Kĩ năng quan sát rất quan trọng khi nhân viên công tác xã hội làm việc trongtrường học, đặc biệt là đối với những thân chủ là học sinh Không dễ dàng gì mànhân viên công tác xã hội có thể tiếp cận được với các em học sinh, và có thể khitiếp cận rồi, cũng không dễ để các em chia sẻ vấn đề của mình Trong thời điểm
đó, quan sát là kĩ năng tốt nhất mà nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng, cóquan sát chúng ta mới hiểu được những biểu hiện qua nét mặt, những dấu hiệu của
sự lo lắng bất an qua hành vi, thái độ của thân chủ
d) Kĩ năng biện hộ
Biện hộ là việc nhân viên công tác xã hội đứng trên tư cách của thân chủ,đứng về phía thân chủ để tranh luận, giúp đỡ thân chủ nhưng cũng không hẳn làchống đối một tổ chức khác
Muốn biện hộ thành công nhân viên công tác xã hội cần xác định được thânchủ cần biện hộ là ai, vấn đề cần biện hộ cho thân chủ là gì, và biện hộ nhằm mụctiêu gì Nhân viên công tác xã hội cũng cần phải có khả năng thuyết phục, thươnglượng với các tổ chức khác để tìm ra biện pháp tốt nhất hỗ trợ cho thân chủ
Biện hộ được sử dụng trong trường học cho tất cả các đối tượng có vấn đề.Tuy nhiên, có thể nhận thấy đối tượng cần được biện hộ nhiều nhất là học sinh.Bởi có những vấn đề của các em học sinh không thuộc khả năng tự giải quyếtđược, như vấn đề liên quan đến chính sách hay pháp luật, thì nhân viên công tác xãhội sẽ đứng ra bảo vệ quyền lợi cho các em Biện hộ nhằm tạo điều kiện để các em
có thể tham gia vào tiến trình học tập một cách tốt nhất
e) Kĩ năng thuyết phục
Thuyết phục là việc làm cho người khác thay đổi hành vi, hành động của
Trang 25Thuyết phục trong công tác xã hội là việc nhân viên công tác xã hội tác động
để thân chủ thay đổi hành vi và hành động theo hướng mà nhân viên công tác xãhội mong muốn nhằm mang lại những lợi ích tốt nhất cho thân chủ
Trong trường học, ở môi trường cần tiếp cận với nhiều đối tượng khác nhaunhư: học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý trường học và phụ huynh học sinh và mỗiđối tượng cần có cách tiếp cận làm việc khác nhau
Trình tự cơ bản của việc thuyết phục đối tượng bao gồm: Tạo sự tin tưởng,gần gũi (qua lập luận, qua cử chỉ, qua sự tự tin, hòa đồng, cảm thông với đối tượng
mà nhân viên công tác xã hội thể hiện) để tạo ra sự hấp dẫn, thích thú khiến đốitượng phải quan tâm đến vấn đề mà nhân viên công tác xã hội nêu ra nhằm tăngcường sức thuyết phục, dẫn dắt đối tượng tới các hành vi, hành động mà nhân viêncông tác xã hội mong muốn
Do đó, nhân viên công tác xã hội cần phải tìm hiểu được nhu cầu của đốitượng thuyết phục, tìm hiểu môi trường xã hội, tính cách của đối tượng qua đó nắmbắt được sở thích, tâm lý, hoàn cảnh của đối tượng cần thuyết phục
Đối với giáo viên, cán bộ quản lý trường học, phụ huynh học sinh cần phảiphân tích được sự hợp lý trong phương pháp làm việc mà nhân viên công tác xãhội đề xuất để cùng thống nhất các biện pháp tác động lên học sinh cũng như tìmkiếm được sự ủng hộ của họ trong việc thực hiện các biện pháp trên
Đối với học sinh cần tránh việc cứng nhắc ép trẻ vào khuôn khổ, quy địnhhay rao giảng cho trẻ về các nguyên tắc Trước tiền cần phải tạo cho trẻ cảm giácthân thiện, hòa đồng Qua đó tìm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của trẻ, các sởthích của trẻ Từ đó từng bước dẫn dắt trẻ thay đổi các hành vi lệch chuẩn
f) Kĩ năng tìm kiếm nguồn lực
Tìm kiếm nguồn lực trong công tác xã hội là việc Nhân viên công tác xã hộikết nối thân chủ với các nguồn lực để họ có thêm nguồn hỗ trợ giải quyết nhữngvấn đề khó khăn của bản thân
Trang 26Khi làm việc trong trường học, Nhân viên công tác xã hội cần xác định mỗiđối tượng khác nhau sẽ có những vấn đề, mong muốn và nhu cầu khác nhau vì vậy
để mang lại hiệu quả tốt nhất khi giới thiệu các nguồn tài nguyên khác nhau đếnvới thân chủ, Nhân viên công tác xã hội cần phải chú ý các điểm sau:
- Cần xác định nhu cầu mong muốn của thân chủ
- Thảo luận với thân chủ về những nguồn tài nguyên có thể hỗ trợ thân chủ:nhằm tìm ra nguồn tài nguyên tốt nhất có thể hỗ trợ thân chủ
- Biện hộ để thân chủ được tiếp cận với nguồn tài nguyên đó
6. Một số phương pháp công tác xã hội trong trường học
a) Phương pháp Công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân được coi là phương pháp ra đời sớm nhất trong hệthống các phương pháp được sử dụng trong công tác xã hội Công tác xã hội cánhân là phương pháp can thiệp giúp đỡ cá nhân giải quyết các vấn đề khó khăn của
họ mà chính bản thân họ không tìm ra lối thoát Phương pháp này được thực hiệnthông qua mối quan hệ 1-1 giữa nhân viên công tác xã hội và thân chủ được giúp
đỡ với mục đích là thiết lập mối quan hệ tốt với thân chủ, phục hồi, củng cố vàphát triển các chức năng xã hội cá nhân và gia đình Và để thực hiện được mụcđích trên, nhân viên công tác xã hội sẽ giúp thân chủ tiếp cận với các nguồn tàinguyên cần thiết về nội tâm, về quan hệ giữa người với người và kinh tế xã hội
Trong trường học, phương pháp công tác xã hội cá nhân được sử dụng đểlàm việc với học sinh, cấp quản lý và thầy cô, giải quyết những vấn đề, những khókhăn của các cá nhân đó
Với các vấn đề nảy sinh trong trường học với từng đối tượng, cần sử dụngphương pháp cá nhân Thông qua phương pháp này, nhân viên công tác xã hội sẽbiết được cá nhân đó thiếu hụt chức năng gì? Cần phục hổi hay chữa trị hay pháttriển nhằm đưa cá nhân đó hòa nhập với môi trường học đường tốt nhất
Trang 27Ví dụ: Trong trường học có những trường hợp có học sinh bỏ học,học sinh có hành vi bạo lực học đường, học sinh bị quấy rối tình dục, học sinh nghèo, học sinh mâu thuẫn với thầy cô, bạn bè Mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt với những vấn đề khác nhau, những mong muốn nguyện vọng và mục đích khác nhau, phương pháp công tác xã hội cá nhân sẽ là phương pháp tốt nhất để nhân viên công tác xã hội có thể tiếp cận và can thiệp với cá nhân đó.Khi làm việc với từng cá nhân, hiểu được nhu cầu, điểm mạnh, điểm yếu, mong muốn,
nguyện vọng của cá nhân, nhân viên công tác xã hội có thể trợ giúp để thân chủ (học sinh) khám phá được bản thân, tự lực và tự đương đầu và quyết định vấn
đề của mình.
b) Phương pháp công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm là một phương pháp công tác xã hội, trong đó nhânviên xã hội sử dụng các tiến trình sinh hoạt nhóm nhằm giúp các cá nhân tương tácnhau, chia sẻ kinh nghiệm suy nghĩ với nhau, tạo sự thay đổi thái độ, hành vi, tăngcường khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của các thành viên trongnhóm
Công tác xã hội nhóm được sử dụng khi có nhiều đối tượng có vấn đề tương
tự nhau Qua sinh hoạt nhóm nhân viên công tác xã hội giúp các thành viên trongnhóm có vấn đề học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong cách giải quyết vấn đề; sửdụng áp lực của nhóm để thay đổi hành vi; thiết lập mục tiêu hợp tác, tạo môitrường các thành viên được sinh hoạt cùng nhau để thêm động lực
Công tác xã hội nhóm đặc biệt mang lại hiệu quả khi làm việc trong môitrường giáo dục đối với nhóm học sinh Bởi trong môi trường học đường, học sinh
là đối tượng dễ kết nhóm nhất ( Nhóm chính thức, nhóm không chính thức), cácnhóm bạn bè này có ảnh hưởng đến hành vi của nhau rất nhiều
Trang 28Nhân viên công tác xã hội có thể dựa vào những nhóm học sinh có sẵn hoặcthành lập nhóm (có đặc điểm chung) để tổ chức sinh hoạt nhóm và thực hiện tiếntrình trị liệu nhóm.
Như chúng ta đã biết, có 5 loại hình nhóm trong công tác xã hội: Nhóm giảitrí; nhóm giáo dục; nhóm xã hội hóa; nhóm trị liệu; nhóm tự giúp Dựa vào các loạihình nhóm cơ bản này, tùy từng trường hợp mà nhân viên công tác xã hội có thể sửdụng các loại hình cụ thể, phụ thuộc vào đặc điểm của nhóm và mục tiêu mà nhómxây dựng
c) Tham vấn trong công tác xã hội
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụngnhững kiến thức, kĩ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp thiết lập mối quan hệtương tác tích cực với thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề đểthay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình
Tham vấn học đường là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong cáctrường học của Nhân viên công tác xã hội tập trung chủ yếu vào hai đối tượng:
Tham vấn trợ giúp học sinh giải quyết những khó khăn về tâm lý trong quan
hệ với thầy cô, bạn bè và gia đình; những khó khăn trong quá trình học tập của các
em Tham vấn nhằm ngăn ngừa những hành vi lệch chuẩn của học sinh cũng nhưgiúp cho học sinh giải tỏa những căng thẳng trong suy nghĩ, cảm xúc và tự tìmkiếm giải pháp cho chính bản thân các em
Tham vấn trợ giúp giáo viên giải quyết những căng thẳng về tâm lý Thôngqua tham vấn tâm lý, giáo viên sẽ tự mình tìm ra giải pháp thay đổi suy nghĩ, hành
vi để không làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ với học sinh cũng như các hoạtđộng chuyên môn trong công tác
Trong quá trình tham vấn tâm lý cho học sinh, giáo viên, Nhân viên công tác
xã hội cần tuân thủ những nguyên tắc trong tham vấn cũng như sử dụng linh hoạt
Trang 29d) Quản lý trường hợp
Quản lý trường hợp hay còn gọi là quản lý ca là một công cụ tiếp cận hỗ trợđối tượng trong chuyên môn Công tác xã hội Đây là một quá trình tổ chức cácdịch vụ giúp đỡ đối tượng giải quyết khó khăn một cách hiệu quả Trong quá trìnhnày, Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ tìm kiếm, kết nối và điều phối cácdịch vụ hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng có thể kết nối với các nguồn lực bên trong (Bảnthân đối tương, gia đình đối tượng) và bên ngoài (cộng đồng, các tổ chức xã hội,đoàn thể…) để đáp ứng tốt nhất cho đối tượng các nhu cầu về thể chất, tâm thần,tâm lý xã hội từ đó giúp họ phục hồi và có khả năng đối phó với các trở ngại có thểxảy ra.(Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ quản lý trường hợp- Cục Bảo trợ xã hội)
Như vậy, vai trò chủ yếu của một Nhân viên công tác xã hội quản lý ca làliên kết thân chủ với các ngồn hỗ trợ tâm lý xã hội cần thiết, và điều phối hoặc tổchức mọi hoạt động để giúp thân chủ giải quyết những vấn đề khó khăn
Công tác xã hội trong lĩnh vực giáo dục ở trường học sử dụng quản lý canhằm kết nối các nguồn lực để mang đến môi trường giáo dục tốt nhất cả về vậtchất và các điều kiện khác
Trong giáo dục, Nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng quản lý ca cho tất
cả các đối tượng trong nhà trường Mỗi đối tượng sẽ có những vấn đề khác nhau,
vì vậy để đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động, người làm công tác quản lý catrong trường học cần phải có các kiến thức và kĩ năng sau đây:
- Hiểu biết về các nguồn hỗ trợ ở cộng đồng và các cơ quan cung cấp cácdịch vụ tâm lý xã hội khác nhau
- Hiểu về các chính sách và nội dung hoạt động của các cơ quan có thể hỗtrợ trường học
- Hiểu rõ các quyền và nhu cầu của các nhóm đối tượng trong trường học:Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh
- Có các kĩ năng biện hộ cho đối tượng
Trang 317. Một số mô hình trợ giúp
7.1 Mô hình tổ, nhóm hỗ trợ học sinh
Một tập thể làm việc theo phương pháp giải quyết vấn đề được lập ra để thảoluận và nghiên cứu những khó khăn của một học sinh để từ đó tìm ra những giảipháp tích cực nhằm phát huy tiềm năng của em đó Tổ trình bày những vấn đề khókhăn của một em học sinh, lập kế hoạch tích cực, phân công và giám sát kết quả
Tổ phải giữ bí mật về những vấn đề nhạy cảm phát sinh trong các buổi họp.Cần được sự đồng ý của phụ huynh và các thành viên khác khi cần chia xẻ thôngtin với các cá nhân bên ngoài tổ Đồng thời thành viên của tổ cũng phải xác định rõthế nào là những vấn đề nhạy cảm và định nghĩa của bảo mật
Cần tinh tế nhận ra những dấu hiệu khó chịu, bất an từ lời nói hay cử chỉ củahọc sinh hay cha mẹ khi được mời trình bày về một vấn đề nào đó trong buổi họp.Nếu cần thiết có lúc phải cử một thành viên thảo luận riêng với học sinh hay chamẹ
Cần xác định rõ trên bản hỗ trợ “ai” phải “làm gì” vào “lúc nào” và “khinào” thì phải báo cáo lại cho tổ trưởng Cũng cần phải chỉ định một người giữnhiệm vụ giám sát việc thực hiện toàn kế hoạch
Công tác quản trị một trường hợp bao gồm việc nối kết liên hoàn giữa nhucầu, can thiệp, sửa đổi, lập chiến lược, và hành động dựa trên nguồn nhân lực, tàilực và dịch vụ có được
Hình thức hoạt động của tổ hỗ trợ học sinh
Mức 1: Hợp tác giữa các giáo viên cùng
cấp
- Chia xẻ những quan tâm về các học sinh có vấn đề
- Đề xuất các can thiệp
Trang 32- Lập biên bản
Trang 33- Điền vào mẫu giới thiệu học sinh đến tổ
Mức 2: Hợp tác giữa giáo viên và tổ trưởng
- Chọn người làm trưởng ca
- Xác định những vấn đề với dữ liệu cụ thể
- Lập mục tiêu và các can thiệp
- Giám sát sự tiến bộ dựa trên mục tiêu
Mức 3: Tổ Hỗ Trợ Học Sinh
- Giáo viên/hay trưởng ca báo cáo dữ liệu thu thập ở mức 2
- Xác định và/hay thay đổi mục tiêu và can thiệp
- Thảo luận việc sử dụng các can thiệp ở mức 3
Quy trình hoạt động
- Gởi giấy mời cho cha mẹ và các tài liệu liên quan đến THT
- Chỉ định người để nhắc mọi người đi họp và chuẩn bị tài liệu
- Lập một lịch họp THT trong tháng, trong năm
- Toàn tổ ký bản cam kết giữ bí mật
- Gởi cho giáo viên giới thiệu thông tin về qui trình THT để họ chuẩn bị tốtcho buổi họp
- Nếu khả thi, chuẩn bị cho em học sinh tham dự buổi họp
- Bảo đảm các tổ viên đi họp đầy đủ có điểm danh
- Buổi họp bắt đầu và chấm dứt đúng giờ (30 – 60 phút cho buổi họp đầu,, 15-45 phút cho các buổi họp tiếp theo)
- Người điều hành cuộc họp đón chào gia đình, giới thiệu các thành viên trong tổ, và giải thích mục tiêu và tiền trình của buổi họp THT)
- Để cử ba người chia công việc trong buổi họp (người điều hợp, người ghibiên bản, thành viên, v.v .)
- Các thành viên tham gia và chia xẻ những kiến thức từ góc độ của mình
Trang 34- Sao chụp và phân phát biên bản buổi họp cho tổ trưởng, trưởng ca, phụ huynh và hồ sơ trường
- Thực hiện và giám sát các công việc đã đề ra để chuẩn bị báo cáo tại buổihọp sau và sửa đổi các mục tiêu hay cải thiện các biên pháp can thiệp
- Lập lịch buổi họp thứ nhì và nhắc nhở tổ viên và cha mẹ học sinh đi họp
7.2 Mô hình hợp tác giữa nhà trường và các tổ chức cộng đồng
Mô hình hợp tác giữa nhà trường và các tổ chức cộng đồng là “việc trao đổi
ý tưởng, nguồn lực, dịch vụ, và chuyên môn giữa các định chế giáo dục và cơ quan khác trong các môi trường khác nhau để hỗ tương giải quyết nhu cầu của học sinh
và cộng đồng như một toàn thể.” (Welch & Sheridan, 1995)
Mô hình này có những đặc điểm sau:
- Các thành viên tương tác một cách bình đẳng
- Ưu tiên cho việc duy trì quan hệ tích cực
- Hợp tác bình đẳng
Trang 35- Học sinh là tâm điểm trong bối cảnh hợp tác
chứ không vì vi ̣trí của ai/vì thương maị của tổ chứ c tham vấn nào đó
- Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và tổ chức cộng đồng linh động, chủđộng và đáp ứng nhanh chóng
- Những khác biệt trong quan điểm và hướng tiếp cận phải xem như ưuđiểm không phải sự cản trở (Tôn trọng những hướng tiếp cận khác nhaucủa nhà trường và các nguồn lực trong cộng đồng)
- Tập trung vào kết quả và các mục tiêu muốn đạt được
Các nguồn lực cộng đồng có thể phát huy trong CTXHTH
Trung tâm/tổ chức
- Các cơ quan, tổ chức của chính phủ
- Các trung tâm sinh hoạt/phục vụ học sinh/trẻ em
- Các tổ chức phi chính phủ quốc tế có hoạt động phục vụ trẻ em
Trang 36- Giải trí (công viên, lễ hội, giải trí)
- Học tập (thư viên, dạy kèm)
- Phòng chống rượu, thuốc lá, ma túy
- Sức khỏe công cộng, thể chất và tinh thần
- Sinh hoạt tập thể
- Chương trình phòng chống nạn bỏ học
- Chương trình tập huấn kỹ năng xã hội
- Chương trình anh chị tinh thần
- Các dịch vụ tham vấn công cộng
- Chương trình xóa đói giảm nghèo
- Chương trình hướng nghiệp và huấn nghề
- Các chương trình chống bạo hành trẻ em
- Các chương trình phòng chống học sinh bỏ học
- Chương trình điều trị bệnh tự kỷ, thiểu năng, etc
- Chương trình cho trẻ câm điếc, khiếm thị, khuyết tật thể hình
Các kỹ năng hợp tác của NVCTXHTH trong mô hình phối hợp giữa cộng đồng và nhà trường
- Kỹ năng tìm các nguồn lực trong cộng đồng
- Kỹ năng sàng lọc các nguồn lực sao cho có chất lượng và phù hợp với mục tiêu của trường
- Kỹ năng mời cộng tác
Trang 37- Kỹ năng thiết lập mục tiêu chung và các công việc hậu cần
- Kỹ năng chia sẻ nguồn lực
7.3 Mô hình hợp tác gia đình-nhà trường-cộng đồng
Mô hình hợp tác giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong công tác xãhội trường học trước hết là tăng năng lực của các môi trường trên nhằm hạn chếcác vấn đề xảy trong trường học và hợp tác để can thiệp và trợ giúp vấn đề của họcsinh
Như vậy, mô hình này có hai khía cạnh chính, khía cạnh thứ nhất xuất phát
từ luận điểm một vấn đề của học sinh xuất hiện trong trường học không chỉ cónguồn gốc từ bản thân học sinh và trường học, đôi khi nó xuất phát từ những môitrường bên ngoài hoặc nó nằm trong tương quan của các môi trường nhà trường,gia đình và cộng đồng Ở khía cạnh này, phòng chống hay can thiệp, giải quyết vấn
đề đó có nghĩa là hướng tới thay đổi từ bên ngoài nhà trường Có nghĩa là cácNVCTXHTH là người làm việc trực tiếp với gia đình, nhà trường hoặc với cộngđồng
Khía cạnh thứ hai, một vấn đề xảy ra với học sinh để trợ giúp giải quyếtkhông phải chỉ có gia đình, nhà trường hay cộng đồng đứng ra mà nó cần sự hợptác của cả ba định chế này Ở khía cạnh này, mối quan hệ hợp tác chính là việc xácđịnh rõ vai trò của từng định chế trong trợ giúp vấn đề của học sinh hay nói cáchkhác, NVCTXHTH là cầu nối để gia đình, nhà trường và cộng đồng cùng hợp táctrợ giúp học sinh
Những yếu tố chính trong quá trình hợp tác giữa gia đình, nhà trường
và cộng đồng
(1) Nhân viên CTXHTH thúc đẩy mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường và gia đình phòng ngừa các vấn đề xảy ra ở học sinh
Trang 38- Giúp gia đình hiểu những hoạt động trong trường học và những vấn đề màtrường học đang thực hiện đối với học sinh và ngược lại, giúp nhà trường hiểu bốicảnh văn hóa của gia đình, hoàn cảnh gia đình học sinh
- Giúp các thành viên của gia đình tham gia các hoạt động mà nhà trường tổ chức
mà cần sự hỗ trợ của gia đình
- Giúp gia đình hiểu quá trình học tập và sinh hoạt cũng như quan hệ của học sinh
và các vấn đề học sinh gặp phải trong trường học và ngược lại, giúp các thành viêncủa nhà trường hiểu được các vấn đề mà học sinh gặp phải tại gia đình
- Giúp cho nhà trường và gia đình tiếp cận với các nguồn lực trong cộng đồngtrong việc phòng ngừa các vấn đề của gia đình, nhà trường và bản thân học sinhchẳng hạn như các chương trình phòng chống lạm dụng trẻ em, các chương trìnhvui chơi, phòng chống bạo lực học đường, bạo lực gia đình, các chương trình nângcao sức khỏe tâm thần, các chương trình giáo dục kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năngsống, cấc chương trình tăng cường nhận thức, kỹ năng của giáo viên về vấn đềkhác nhau như HIV, Khuyết tật, sức khỏe tâm thần…mà cộng đồng hay các tổchức chính phủ, phi chính phủ đang thực hiện
(2) Nhân viên CTXHTH thúc đẩy sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình trong quá trình trợ giúp các vấn đề xảy ra ở học sinh
- Xây dựng nhóm hợp tác giải quyết vấn đề trong đó bao gồm các thành viên củanhà trường, các thành viên của gia đình và các tổ chức cộng đồng
- Xác định trách nhiệm và nhiệm vụ cho từng thành viên của gia đình, nhà trường
và cộng đồng trong việc trợ giúp vấn đề của học sinh
- Thúc đẩy sự chia sẻ thông tin về học sinh giữa các thành viên trong gia đình vànhà trường
- Kết nối gia đình với các nguồn lực, các dịch vụ của cộng đồng
8. Công tác xã hội với một số vấn đề nảy sinh trong trường học
Trang 398.1 Công tác xã hội trong trường học với vấn đề bạo lực học đường
Khái quát chung về bạo lực học đường (BLHĐ)
Khái niệm
BLHĐ là “ hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính miệt thị, đe dọa,khủng bố người khác (thường xảy ra giữa trò với trò, giữa thầy với trò hoặc ngượclại), để lại thương tích trên cơ thể, thậm chí dẫn đến tử vong, đặc biệt là gây tổnthương đến tư tưởng, tình cảm, tạo cú sốc về tâm sinh lý cho những đối tượng trựctiếp tham gia vào quá trình giáo dục trong nhà trường, cũng như đối với những aiquan tâm tới sự nghiệp giáo dục”
“Bạo lực” hay “gây hấn”, “xâm kích”, “bắt nạt” là việc làm tổn thương ngườikhác về thể chất, tinh thần một cách cố ý (ngay cả khi không đạt được mục đích).Bạo lực học đường còn được gọi là gây hấn học đường, bắt nạt học đường là hiệntượng học sinh lớn hơn, mạnh hơn đe dọa học sinh yếu hơn và không có khả năngchống trả
Nói đến BLHĐ là nói đến Bắt nạt trong học đường Bắt nạt là dạng hành vi trong
đó một cá nhân được chọn làm mục tiêu của sự gây hấn tái diễn nhiều lần bởi mộthay nhiều người khác; mục tiêu (nạn nhân) nói chung có ít quyền lực hơn nhữngngười tham gia vào gây hấn - người bắt nạt Bắt nạt mang đặc trưng của một hành
vi cá nhân lặp đi lặp lại theo thời gian, nhằm mục đích thể hiện “sức mạnh” đối vớingười khác Bắt nạt bao gồm ba loại cơ bản của lạm dụng – lạm dụng tâm lý, lạmdụng lời nói và lạm dụng thể chất
Bắt nạt không giống như những vụ ẩu đả ngẫu nhiên của hai người hoặc hainhóm do khích bác hoặc do bất đồng mà chúng bao gồm ba đặc điểm:
(1) Người thực hiện hành vi bắt nạt cố ý gây hại cho người bị bắt nạt
Trang 40(2) Hành vi bắt nạt được lặp đi lặp lại, vì thế thường làm nạn nhân sợ sệt và lo lắngthường xuyên;
(3) Luôn có sự chênh lệch về quyền lực Kẻ bắt nạt thường to lớn hơn, đông hơn về
số lượng, khéo léo nhanh nhẹn hơn, học giỏi hoặc học kém hơn, đến từ gia đìnhgiàu có thế lực hơn hoặc cũng có thể đến từ gia đình nghèo hơn
2010 đến nay, cả nước đã xảy ra 1.600 vụ học sinh đánh nhau, làm chết 7 học sinh,nhiều em phải mang thương tật suốt đời Các nhà trường đã xử lý kỷ luật khiển trách
881 học sinh, cảnh cáo 1.558 học sinh, buộc thôi học có thời hạn (3 ngày, 1 tuần, 1năm học) 735 học sinh Tính theo tỷ lệ, cứ 5.260 học sinh thì xảy ra một vụ đánhnhau; 9 trường thì có 1 vụ học sinh đánh nhau
Bạo lực tinh thần:
Việc sử dụng lời nói, hành vi dọa nạt, trấn át, đe dọa, ép buộc, chế nhạo, mỉa mai,chỉ trích … người khác trong môi trường học đường, liên quan tới các vấn đề xảy ratrong trường học chính là bạo lực tinh thần Bạo lực tinh thần khó nhận biết hơn bạolực thể xác vì nó không biểu hiện bằng những vết thương có thể trực tiếp nhìn thấy.Mặt khác, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa hiểu rõ hành vi nào là biểu hiện củabạo lực tinh thần Những lời chỉ trích của thầy cô, những lời phê bình gay gắt, haynhững xúc phạm lẫn nhau… lặp đi lặp lại nhiều lần dễ gây nên những vết thương về