HỒ CHÍ MINH *** PHẠM THỊ TUYẾT THANH CÁC YẾU TỐ CỦA Ý ĐỊNH PHÒNG NGỪA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI PHÒNG NGỪA TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP... HỒ CHÍ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
PHẠM THỊ TUYẾT THANH
CÁC YẾU TỐ CỦA Ý ĐỊNH PHÒNG NGỪA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI PHÒNG NGỪA TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
PHẠM THỊ TUYẾT THANH
CÁC YẾU TỐ CỦA Ý ĐỊNH PHÒNG NGỪA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI PHÒNG NGỪA TĂNG HUYẾT ÁPTẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115
Chuyên ngành: Kinh tế và Quản trị lĩnh vực sức khỏe
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐINH PHI HỔ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Học viên
Phạm Thị Tuyết Thanh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 4
1.7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 TỔNG QUAN VỀ TĂNG HUYẾT ÁP 7
2.1.1 Khái niệm tăng huyết áp 7
Trang 52.1.2 Phân loại tăng huyết áp 8
2.1.3 Nguyên nhân và biến chứng của tăng huyết áp 10
2.1.4 Điều trị tăng huyết áp 12
2.2 HÀNH VI 15
2.2.1 Khái niệm hành vi 15
2.2.2 Hành vi sức khỏe 16
2.3 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 17
2.3.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) 17
2.3.2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) 18 2.3.3 Mô hình sức khỏe của Grossman 18
2.4 NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 19
2.4.1 Nghiên cứu về tăng huyết áp 19
2.4.2 Nghiên cứu về ý định và hành vi 21
2.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 22
2.5.1 Khung phân tích 22
2.5.2 Giả thuyết nghiên cứu 23
2.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 25
3.2 XÂY DỰNG THANG ĐO 26
3.2.1 Đo lường hành vi phòng ngừa tăng huyết áp 26
3.2.2 Đo lường ý định phòng ngừa tăng huyết áp 26
3.3 ĐO LƯỜNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 28
3.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 29
Trang 63.4.1 Mẫu nghiên cứu 29
3.4.1.1 Quy mô mẫu nghiên cứu 29
3.4.1.2 Phương pháp chọn mẫu 30
3.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 30
3.4.2.1 Dữ liệu sơ cấp 30
3.4.2.2 Dữ liệu thứ cấp 30
3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 30
3.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 33
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 THỰC TRẠNG TĂNG HUYẾT ÁP 37
4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ 37
4.3 PHÂN TÍCH SO SÁNH 42
4.4 ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO 44
4.5 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ 48
4.5.1 Kiểm định tính thích hợp của EFA 48
4.5.2 Kết quả của mô hình phân tích nhân tố khám phá 49
4.6 KẾT QUẢ HỒI QUY 52
4.6.1 Phân tích các kiểm định 52
4.6.1.1 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 52
4.6.1.2 Kiểm định mức độ giải thích của mô hình 52
4.6.2 Kết quả hồi quy 53
4.7 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 56
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 57
5.1 KẾT LUẬN 57
Trang 75.2 KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 57
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59
5.3.1 Hạn chế của đề tài 59
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thang đo các yếu tố của ý định phòng ngừa tăng huyết áp 27
Bảng 3.2: Biến số trong mô hình nghiên cứu 28
Bảng 4.1: Đặc điểm người tham gia nghiên cứu 38
Bảng 4.2: Hành vi phòng ngừa 39
Bảng 4.3: Ý định phòng ngừa tăng huyết áp 41
Bảng 4.4: So sánh hành vi phòng ngừa theo đặc điểm nhân khẩu học 42
Bảng 4.5: So sánh hành vi phòng ngừa theo ý định phòng ngừa 43
Bảng 4.6: Đánh giá độ tin cậy thang đo Thái độ 44
Bảng 4.7: Đánh giá độ tin cậy thang đo Chuẩn chủ quan 45
Bảng 4.8: Đánh giá độ tin cậy thang đo Kiểm soát hành vi 46
Bảng 4.9: Thang đo ý định hành vi phòng ngừa tăng huyết áp sau khi kiểm định Cronbach’s Alpha 47
Bảng 4.10: Bảng tổng hợp các thang đo biến quan sát qua kiểm định Cronbach 48
Bảng 4.11: Kiểm định tính thích hợp của EFA 48
Bảng 4.12: Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố 49
Bảng 4.13: Ma trận xoay nhân tố 50
Bảng 4.14: Thang đo ý định phòng ngừa tăng huyết áp 51
Bảng 4.15: Kiểm định Omnibus 52
Bảng 4.16: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình 52
Bảng 4.17: Kết quả hệ số hồi quy 55
Bảng 4.18: Kết quả hệ số hồi quy sau khi loại biến không có ý nghĩa 56
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Nguyên nhân và hậu quả tăng huyết áp 11
Hình 2.2: Lý thuyết hành động hợp lý 17
Hình 2.3: Lý thuyết hành vi có kế hoạch 18
Hình 2.4: Khung phân tích 23
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 25
Trang 11Sau khi thực hiện kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định độ tin cậy của thang đo ý định phòng ngừa tăng huyết áp dựa trên mẫu khảo sát gồm 150 quan sát, đề tài tiến hành thực hiện các phân tích thống
kê so sánh và hồi quy Logistic Kết quả phân tích cho thấy, thái độ, chuẩn chủ quan
và khả năng kiểm soát hành vi là các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp Bên cạnh đó, kết quả hồi quy còn chỉ ra bình quân nam giới ít thực hiện hành vi phòng ngừa tăng huyết áp hơn so với nữ giới và những người lớn tuổi thường chú ý thực hiện phòng ngừa tăng huyết áp hơn so với những người trẻ tuổi Kết quả nghiên cứu này cũng là tương đồng với các nghiên cứu của Ajzen (1991), Dennison và cộng sự (2007), Nguyễn Văn Phát và cộng sự (2011), Laxmaiah và cộng sự (2015), Hoàng Cao Sạ và cộng sự (2015) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu không cho thấy ảnh hưởng của trình độ học vấn, dân tộc và thu nhập bình quân của người tham gia nghiên cứu đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Trang 12ABSTRACT
The main objective of the study was to determine the factors of intention to prevent hypertension and the effect of these factors on hypertensive behavior In order to address the research problem posed, Ajzen (1991) and Grossman's Health Model (1972) used the theory of planned behavior as a basis for the interpretation of hypo- Vol Accordingly, prevention behavior of hypertension is influenced by three factors: attitudes towards hypertension prevention behavior - expressed through the assessment, belief of the object of behavioral hypertension prevent the result of such act; subjective standards - the influence of those who are involved in thinking should do preventive behaviors; Behavioral control - demonstrates the ability to perform the behavior, including the resources that are required to perform preventative behaviors In addition, Grossman's health model (1972) and the results
of relevant empirical studies were added to supplement the personality traits that influence hypertension prevention behavior on the proposed research model
After performing Cronbach's Alpha screening and EFA exploratory factor analysis to verify the credibility of the hypertension prevention measure, based on a sample of 150 observations, Comparative statistics and Logistic regression The analysis showed that attitudes, subjective norms and behavioral control were factors that had a positive influence on hypertension prevention behavior In addition, regression results indicate that men are less likely to perform hypertension prevention than women and that older adults are more likely than men to do hypertension prevention young The results of this study are also consistent with studies by Ajzen (1991), Dennison and partners (2007), Nguyen Van Phat and partners (2011), Laxmaiah and partners (2015), Cao Sa Hoangand partners (2015)
In addition, the results of the study did not show the effects of education, ethnicity and average income of study participants on hypertensive behavior
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo báo cáo tại Hội nghị Tăng huyết áp Việt Nam lần thứ II năm 2016, tăng huyết áp là một vấn đề rất thường gặp trong cộng đồng, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và dẫn đến cái chết của hàng triệu người mỗi năm; đồng thời, tăng huyết
áp cũng chính là nguyên nhân dẫn đến suy tim, đột quỵ não và là nguyên nhân xếp hàng thứ hai gây Nhồi máu cơ tim cấp Hiện tỷ lệ người mắc tăng huyết áp ngày càng tăng và tuổi bị mắc mới cũng có xu hướng ngày càng trẻ hóa
Theo ước tính của WHO, ở thời điểm năm 2000, toàn thế giới có tới 972 triệu người bị tăng huyết áp và con số này được ước tính là vào khoảng 15,6 tỷ người vào năm 2025 Hiện nay, cứ trung bình 10 người lớn có 4 người bị tăng huyết
áp Cũng theo thống kê của WHO, mỗi năm có khoảng 17,5 triệu người chết về các bệnh tim mạch trên thế giới, trong đó, bệnh nhân tử vong vì tăng huyết áp và biến chứng của tăng huyết áp là trên 7 triệu người
Tại Việt Nam, năm 2000 có khoảng 16,3% người lớn bị tăng huyết áp, đến năm
2009 tăng lên 25,4% và năm 2016 tỷ lệ người lớn bị tăng huyết áp đang ở mức báo động là gần 48% Đặc biệt, trong những người bị tăng huyết áp, tỷ lệ không được phát hiện, phát hiện nhưng không được điều trị và bị tăng huyết áp nhưng chưa kiểm soát được chiếm tỷ lệ khá cao
Điểm đáng lưu ý là theo WHO, tăng huyết áp có thể phòng ngừa và điều trị được; có thể giảm thiểu được nguy cơ tiến triển tăng huyết áp và hậu quả xấu của tăng huyết áp bằng cách tạo ra các lựa chọn có lợi cho sức khỏe trong chế độ ăn uống, vận động, lối sống… Bên cạnh đó, một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra các đặc điểm nhân khẩu học, thái độ, kiến thức còn hạn chế về tăng huyết áp chính
là những rào cản đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp (Dennison và cộng sự, 2007; Nguyễn Văn Phát và cộng sự, 2011; Laxmaiah và cộng sự, 2015; Hoàng Cao
Sạ và cộng sự, 2015)
Trang 14Xuất phát từ lý do trên, việc nghiên cứu về các yếu tố của ý định phòng ngừa ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp để có cơ sở, căn cứ khoa học khuyến nghị một số chương trình can thiệp thích hợp tác động đến ý định và hành
vi phòng ngừa của người dân nhằm tăng cường hành vi phòng ngừa tăng huyết áp là hết sức cần thiết
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
(iii) Đề xuất những giải pháp tăng cường hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(i) Ý định phòng ngừa tăng huyết áp gồm những yếu tố nào? Đo lường các yếu tố này như thê nào?
(ii) Các yếu tố nào của ý định phòng ngừa có ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp?
Trang 15(iii) Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố của ý định phòng ngừa đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp như thế nào?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của các yếu tố của ý định phòng ngừa tăng huyết áp đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Đối tượng khảo sát : Đề tài sẽ tiếp cận các đối tượng ngẫu nhiên ở Bệnh viện Nhân dân 115 và đề nghị họ tham gia khảo sát Người chấp nhận tham gia khảo sát
sẽ được gửi bảng câu hỏi được chuẩn bị sẵn và trả lời các câu hỏi theo hướng dẫn
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố của ý định
phòng ngừa và hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân dân 115
Phạm vi về thời gian:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thực trạng tình hình tăng huyết áp trong giai đoạn 2015 - 2017
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trong năm 2018
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Theo đó, kiểm định Cronbach’s Alpha được sử dụng để độ tin cậy của thang đo ý định phòng ngừa tăng huyết áp Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA được vận dụng để kiểm định tính hội tụ và phân biệt của các yếu tố cấu thành nên thang đo ý định phòng ngừa tăng huyết áp Phương pháp hồi quy Binary Logistic được áp dụng để xác định và đo lường tác động của các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp Bên cạnh đó, phương pháp thống
Trang 16kê mô tả cũng được áp dụng để phân tích, so sánh đặc điểm nhân khẩu học của các đối tượng tham gia nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng để phân tích là dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hình thức khảo sát dựa trên bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn Bên cạnh đó, dữ liệu thứ cấp về tình hình tăng huyết áp những năm gần đây cũng được sử dụng để mô tả tổng quan về tình hình bệnh tăng huyết áp
1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung bằng chứng thực
tiễn về ảnh hưởng của các yếu tố của ý định phòng ngừa đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp ở Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp
giúp tăng cường hành vi phòng ngừa tăng huyết áp ở người dân
1.7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài có kết cấu 5 chương, gồm:
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Giới thiệu khái quát về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, ý nghĩa của nghiên cứu cũng như trình bày tổng quan về phương pháp thực hiện đề tài
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày tổng quan về bệnh tăng huyết áp, bao gồm các khái niệm và phân loại tăng huyết áp, nguyên nhân, biến chứng và cách điều trị tăng huyết áp Chương 2 cũng trình bày về các lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa ý định và hành vi để làm cơ sở cho nghiên cứu Bên cạnh đó, các nghiên cứu có liên quan cũng được lược khảo trong chương này để làm cơ sở xây dựng khung phân tích cho đề tài Dựa trên những kết quả trên, đề tài tiến hành xây dựng khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu của đề tài
Trang 18CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này chủ yếu xoay quanh các vấn đề như quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, xác định thang đo, phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu, phương pháp ước lượng và các kiểm định được sử dụng trong đề tài
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 4 tập trung vào phân tích kết quả ước lượng được từ mô hình nghiên cứu để xác định các yếu tố của ý định phòng ngừa ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp Bên cạnh đó, chương này cũng sẽ trình bày tổng quan về thực trạng bệnh tăng huyết áp
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Chương 5 sẽ tập trung trình bày tóm tắt lại kết quả đạt được của nghiên cứu; dựa trên kết quả này, đề xuất một số khuyến nghị, hàm ý chính sách có tác động tích cực đến ý định và hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Trang 19CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày tổng quan về bệnh tăng huyết áp, các lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa ý định và hành vi để làm cơ sở tiến hành nghiên cứu Bên cạnh đó, các nghiên cứu có liên quan cũng được lược khảo để làm cơ sở xây dựng khung phân tích cho đề tài
2.1 TỔNG QUAN VỀ TĂNG HUYẾT ÁP
2.1.1 Khái niệm tăng huyết áp
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tăng huyết áp hay còn gọi là “cao huyết áp” hay “tăng xông” là một trạng thái trong đó máu lưu thông dưới một áp suất tăng cao lâu dài Máu được mang từ tim đến tất cả các bộ phận của cơ thể qua các động mạch và tĩnh mạch Mỗi lần tim đập, tim sẽ bơm máu đi khắp cơ thể và huyết áp được tạo ra bằng lực của máu tác động lên thành trong của mạch máu khi máu được tim bơm đi khắp cơ thể
Huyết áp được đo bằng mi-li-mét thủy ngân (mm Hg) Huyết áp được xác định bằng hai chỉ số, thường được viết dưới dạng một tỷ số Chỉ số thứ nhất (hay chỉ số trên) là huyết áp tâm thu - là mức huyết áp cao nhất trong mạch máu, xảy ra khi tim co bóp Chỉ số thứ hai (hay chỉ số dưới) là huyết áp tâm trương - là mức huyết áp thấp nhất trong mạch máu và xảy ra giữa các lần tim co bóp, khi cơ tim được thả lỏng
Huyết áp ở người trưởng thành bình thường được xác định khi có huyết áp tâm thu là 120 mm Hg và huyết áp tâm trương là 80 mm Hg Tuy nhiên, trạng thái
có lợi cho tim mạch cũng vẫn được đảm bảo ở mức huyết áp tâm thu thấp hơn (105
mm Hg) và mức huyết áp tâm trương thấp hơn (60 mm Hg) Tăng huyết áp được xác định khi có huyết áp tâm thu từ 140 mm Hg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương
từ 90 mm Hg trở lên Các mức huyết áp tâm thu và tâm trương bình thường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chức năng hiệu quả của các cơ quan sinh tồn như
Trang 20tim, não và thận, cũng như đối với sức khỏe nói chung và trạng thái khỏe mạnh của con người
Theo Basile và Bloch (2017), định nghĩa tăng huyết áp được đưa ra vào năm
2017 bởi Hội Tim mạch Hoa Kỳ/ Hiệp hội Tim Hoa Kỳ (ACC/AHA) và dựa trên kết quả trung bình của ít nhất 2 lần đo chính xác huyết áp tại ít nhất 2 lần đi khám sau khi được tầm soát ban đầu như sau:
- Huyết áp bình thường: tâm thu <120 mmHg và tâm trương <80 mmHg
- Huyết áp cao: tâm thu 120-129 mmHg và tâm trương < 80 mmHg
2.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Theo Basile và Bloch (2017), chẩn đoán tăng huyết áp bằng cách áp dụng theo dõi huyết áp lưu động (ambulatory blood pressure monitoring - ABPM) hoặc theo dõi huyết áp tại nhà ngày càng phổ biến
Theo Hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ/ Hiệp hội Tim Hoa Kỳ (ACC/AHA) năm 2017, theo dõi huyết áp lưu động (ABPM) sẽ đủ tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp nếu đáp ứng được ít nhất một trong số các tiêu sau:
- Huyết áp trung bình 24 giờ ≥ 125/75 mmHg
Trang 21- Huyết áp trung bình vào ban ngày (khi tỉnh táo) ≥ 130/80 mmHg
- Huyết áp trung bình vào ban đêm (khi ngủ) ≥ 110/65 mmHg
Số đo huyết áp tại nhà nhiều lần đạt trung bình ≥ 130/80 mmHg sẽ được xem
là tăng huyết áp
Tăng huyết áp áo choàng trắng (white coat hypertension) là giá trị huyết áp cao được đo tại cơ sở y tế nhưng không đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp khi đo ngoài cơ sở y tế
Tăng huyết áp ẩn là giá trị huyết áp cao được đo ngoài cơ sở y tế nhưng không đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp khi đo tại cơ sở y tế
Bệnh võng mạc do tăng huyết áp mức độ vừa và nặng (trước đây gọi là “tăng huyết áp ác tính”) tương ứng bệnh võng mạc tăng huyết áp giai đoạn III và IV là những thay đổi sinh lý bệnh cụ thể có thể liên quan đến tăng huyết áp nặng, bao gồm xuất huyết võng mạc, quáng gà hoặc phù gai thị Những tổn thương này có thể liên quan đến bệnh não do tăng huyết áp và xơ hóa thận cấp tính do tăng huyết áp (trước đây gọi là "xơ hóa thận ác tính")
Tăng huyết áp ác tính thường liên quan đến huyết áp tâm trương trên 120 mmHg Tuy nhiên, nó có thể xảy ra khi huyết áp tâm trương dưới 100 mmHg ở những bệnh nhân có huyết áp bình thường trước đó nhưng mắc tăng huyết áp cấp tính do tiền sản giật hoặc viêm cầu thận cấp
Tăng huyết áp cấp cứu là tình trạng tăng huyết áp nặng (thường là huyết áp tâm trương trên 110 mmHg) có kèm theo tổn thương cấp tính cơ quan đích, có thể
đe doạ đến tính mạng và cần được điều trị ngay lập tức
Tăng huyết áp khẩn cấp là tình trạng tăng huyết áp nặng (thường là huyết áp tâm trương trên 110 mmHg) ở bệnh nhân không có triệu chứng
Trang 222.1.3 Nguyên nhân và biến chứng của tăng huyết áp
Tăng huyết áp nguyên phát
Mặc dù nguyên nhân chính xác của tăng huyết áp nguyên phát vẫn chưa rõ ràng nhưng có một số yếu tố nguy cơ có liên quan mạnh mẽ và độc lập với sự phát triển tăng huyết áp nguyên phát, bao gồm: Tuổi; Béo phì và tăng cân; Tiền sử gia đình; Chủng tộc; Số lượng ống thận giảm; Chế độ ăn nhiều muối; Uống nhiều rượu;
Ít hoạt động thể chất; Bệnh đái tháo đường và rối loạn lipid máu; Đặc điểm tính cách và trầm cảm
Tăng huyết áp thứ phát
Một số bệnh có thể làm tăng huyết áp và dẫn đến bệnh tăng huyết áp thứ phát Trong nhiều trường hợp, các nguyên nhân này có thể cùng tồn tại với các yếu
tố nguy cơ của tăng huyết áp nguyên phát (trước đây gọi là tăng huyết áp “vô căn”)
và là rào cản đáng kể để đạt được kiểm soát huyết áp thỏa đáng Các nguyên nhân chính của tăng huyết áp thứ phát bao gồm: Do các loại thuốc kê đơn hoặc không cần kê đơn (thuốc tránh thai đường uống, thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm cân…); Sử dụng ma túy; Bệnh thận nguyên phát; Cường aldosteron nguyên phát; Bệnh lý mạch thận; Ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn; U tủy thượng thận; Hội chứng Cushing; Các rối loạn nội tiết; Hẹp động mạch chủ
Biến chứng của tăng huyết áp
Tăng huyết áp liên quan đến rất nhiều bệnh lý nguy hiểm và khả năng xuất hiện các biến chứng càng tăng khi huyết áp càng cao Sự gia tăng nguy cơ bắt đầu xuất hiện khi huyết áp tăng trên 115/75 mmHg ở mọi lứa tuổi Bên cạnh đó, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn hình thành các bệnh lý tim mạch và thường gặp hơn
cả hút thuốc lá, rối loạn lipid máu hoặc đái tháo đường (là các yếu tố nguy cơ chính khác) Các biến chứng sau đây liên quan chặt chẽ tới tình trạng tăng huyết áp:
Trang 23- Phì đại thất trái là dấu hiệu sớm và phổ biến ở bệnh nhân tăng huyết áp; làm tăng nguy cơ suy tim, nhồi máu cơ tim, đột tử và đột quỵ
- Nguy cơ suy tim bao gồm cả suy tim tâm thu và suy tim tâm trương tăng lên theo mức độ tăng huyết áp
- Là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất và phổ biến nhất của đột quỵ thiếu máu não hoặc chảy máu não
- Là yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh tim thiếu máu cục bộ, bao gồm nhồi máu cơ tim và can thiệp mạch vành
- Là yếu tố nguy cơ của bệnh thận mạn tính và bệnh thận giai đoạn cuối; có thể trực tiếp gây ra bệnh thận gọi là xơ hóa thận do tăng huyết áp (hypertensive nephrosclerosis) và đẩy nhanh tiến triển của hàng loạt bệnh thận khác
Các yếu tố chính góp phần gây tăng huyết áp và hậu quả của tăng huyết áp được minh họa qua hình 2.1 dưới đây:
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ http://www.wpro.who.int
Hình 2.1: Nguyên nhân và hậu quả tăng huyết áp
Thuốc lá Lạm dụng rượu Thiếu vận động
Yếu tố nguy
cơ chuyển hóa
Tăng huyết áp
Béo phì Đái tháo đường Tăng lipip máu
Bệnh tim mạch
Nhồi máu cơ tim Đột quỵ
Suy tim
Bệnh thận
Trang 24Có thể nhận thấy, nhiều yếu tố có thể góp phần gây tăng huyết áp và theo cách tiếp cận của WHO thì chuyển đổi về cơ cấu dân số, đô thị hóa nhanh nhưng không có kế hoạch cùng với toàn cầu hóa chính là những nguyên nhân sâu xa của tăng huyết áp Những yếu tố kể trên đã góp phần gây ra những yếu tố nguy cơ về hành vi dẫn đến bệnh tăng huyết áp Bên cạnh đó, tăng huyết áp cũng là một trong nhóm các yếu tố nguy cơ chuyển hóa gây ra nhiều bệnh không lây nhiễm khác
2.1.4 Điều trị tăng huyết áp
Điều trị không dùng thuốc
Hạn chế ăn muối: Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên kiểm chứng tốt, tác động tổng thể của việc giảm lượng natri vừa phải là sự giảm huyết áp ở những người có tăng huyết áp và huyết áp bình thường lần lượt là 4,8/2,5 và 1,9/1,1 mmHg
Giảm cân: Ở những người thừa cân hoặc béo phì, giảm cân có thể dẫn tới giảm huyết áp đáng kể Giảm huyết áp do giảm cân cũng có thể xảy ra mà không cần chế độ ăn uống hạn chế natri, nhưng sự hạn chế natri vừa phải cũng có thể góp phần tạo ra tác dụng hạ huyết áp Giảm huyết áp do giảm cân thường trong khoảng
từ 0,5 đến 2 mmHg với mỗi 1 kg trọng lượng giảm đi hoặc khoảng 1 mmHg với mỗi 1 pound trọng lượng giảm đi
Chế độ ăn uống DASH: “Phương pháp tiếp cận chế độ ăn uống để ngăn ngừa tăng huyết áp” (Dietary Approaches to Stop Hypertension/DASH) bao gồm ăn uống nhiều rau, trái cây, sản phẩm từ sữa ít chất béo, ngũ cốc nguyên hạt, gia cầm, cá, các loại hạt… và giảm ăn uống đồ ngọt, các đồ uống có đường và thịt đỏ Chế độ ăn DASH bản chất là giàu kali, magiê, canxi, protein và chất xơ nhưng ít chất béo bão hòa, chất béo toàn phần và cholesterol Một thử nghiệm mà trong đó tất cả thực phẩm được cung cấp cho những người huyết áp bình thường hoặc tăng nhẹ đã cho thấy chế độ ăn DASH làm giảm thêm được 6/4 mmHg huyết áp so với chế độ ăn
Trang 25kiểu Mỹ điển hình chứa cùng lượng natri và calo Kết hợp chế độ ăn DASH với hạn chế natri vừa phải đã tạo ra một hiệu ứng hạ huyết áp bổ sung
Tập thể: Có thể làm giảm được huyết áp tâm thu và tâm trương trung bình từ
4 - 6 mmHg và 3 mmHg tùy theo mức độ giảm cân Hầu hết các nghiên cứu cho thấy việc tập thể dục với cường độ trung bình 3 - 4 buổi mỗi tuần, kéo dài khoảng
40 phút trong thời gian 12 tuần sẽ làm giảm huyết áp
Hạn chế uống rượu: Nữ giới uống ít nhất hai cốc đồ uống có cồn mỗi ngày
và nam giới uống từ ba cốc trở lên mỗi ngày có tỷ lệ tăng huyết áp gia tăng đáng kể
so với những người không uống, tác dụng này liên quan tới liều lượng và nổi bật nhất khi uống quá 5 cốc mỗi ngày Uống rượu vừa phải (một cốc mỗi ngày với nữ giới và một tới hai cốc mỗi ngày với nam giới) có tác dụng hạn chế tăng huyết áp và giảm nguy cơ tim mạch so với không uống rượu
Can thiệp toàn diện: Lợi ích của việc thay đổi lối sống toàn diện bao gồm chế độ ăn DASH và tăng cường tập thể dục đã được thử nghiệm trong nghiên cứu PREMIER Trong 18 tháng, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tăng huyết áp thấp hơn (22% so với 32%) và tỉ lệ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp thấp hơn (10 - 14% so với 19%), mặc dù sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Giáo dục bệnh nhân: Đã được chứng minh là làm tăng hiệu quả kiểm soát huyết áp Ngoài việc bác sĩ giáo dục bệnh nhân của họ, kiểm soát huyết áp có thể được cải thiện khi bệnh nhân tăng huyết áp nghe được những câu chuyện cá nhân của những người cũng mắc tăng huyết áp
Điều trị dùng thuốc
Hầu hết các bệnh nhân tăng huyết áp sẽ cần dùng tới ít nhất một loại thuốc điều trị tăng huyết áp để đạt được huyết áp mục tiêu Tùy theo đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân và thói quen của bác sĩ sẽ chọn các nhóm thuốc hạ huyết áp sẽ được sử dụng để điều trị
Trang 26Nếu không có chỉ định cụ thể, có 4 loại thuốc chính được khuyến cáo sử dụng với đơn trị liệu ban đầu trong tăng huyết áp không biến chứng: Thuốc lợi tiểu thiazid; Thuốc chẹn kênh calci tác dụng kéo dài (chủ yếu là dihydropyridin như amlodipine); Thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI); Thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARBs)
Tuy nhiên, thuốc lợi tiểu thiazid hoặc thuốc chẹn kênh calci tác dụng kéo dài nên được sử dụng là đơn trị liệu ban đầu cho bệnh nhân da đen, và thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARBs) nên được sử dụng là đơn trị liệu ban đầu cho bệnh nhân mắc bệnh thận đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn tính không do đái tháo đường có biến chứng protein niệu
Điều trị phối hợp
Trong hầu hết các trường hợp, thuốc đơn trị liệu sẽ không kiểm soát được huyết áp Điều trị phối hợp các loại thuốc ở các nhóm khác nhau có tác dụng hạ huyết áp đáng kể so với tăng gấp đôi liều thuốc đơn trị liệu Khi cần nhiều hơn một loại thuốc để kiểm soát huyết áp, việc điều trị bằng một ACEI tác dụng kéo dài hoặc ARBs phối hợp với một thuốc chẹn kênh calci loại dihydropyridin tác dụng kéo dài
Có thể kết hợp ACEI hoặc ARBs với thuốc lợi tiểu thiazid nhưng có thể đem lại ít hiệu quả hơn và không nên dùng đồng thời ACEI và ARBs
Mục tiêu huyết áp
Sau khi bắt đầu điều trị tăng huyết áp, bệnh nhân cần được đánh giá lại và nên được điều trị tăng dần hàng tháng cho đến khi kiểm soát được huyết áp phù hợp Ngay khi đạt được việc kiểm soát huyết áp, bệnh nhân cần được đánh giá lại mỗi ba đến sáu tháng để đảm bảo duy trì sự kiểm soát huyết áp
Hướng dẫn của ACC/AHA năm 2017 đề xuất huyết áp mục tiêu là < 130/80 mmHg đối với những bệnh nhân cần điều trị tăng huyết áp Huyết áp mục tiêu < 140/90 mmHg có thể phù hợp với những người tăng huyết áp giai đoạn 1 có nguy
Trang 27cơ biến chứng thấp và không cần phải dùng thuốc Ở bệnh nhân không đạt huyết áp như trên, các hướng dẫn đề xuất việc sàng lọc tình trạng tăng huyết áp áo choàng trắng bằng việc theo dõi huyết áp lưu động hoặc tại nhà
Tăng huyết áp kháng trị
Tăng huyết áp kháng trị được định nghĩa là huyết áp không kiểm soát được mặc dù tuân thủ theo phác đồ điều trị 3 loại thuốc (bao gồm cả thuốc lợi tiểu) mà trong đó tất cả các thuốc đều dùng tới liều bằng ít nhất 50% liều tối đa được khuyên cáo; hoặc huyết áp đòi hỏi dùng tới ít nhất 4 loại thuốc để đạt được sự kiểm soát
Khoảng 15% bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp dường như có tăng huyết áp kháng trị Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có biểu hiện tăng huyết áp kháng trị nhưng thực ra là kháng giả, không phải kháng thực sự, xuất phát từ một số nguyên nhân sau: Đo huyết áp không chính xác; Không tuân thủ điều trị thuốc điều trị tăng huyết áp; Không tuân thủ thay đổi lối sống và ăn uống để làm giảm huyết áp; Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc không tối ưu, do dùng thuốc không đạt liều hoặc không dùng thuốc lợi tiểu; Tăng huyết áp áo choàng trắng
Một số tình trạng sau đây có thể góp phần gây tăng huyết áp kháng trị thực sự: Tăng thể tích ngoại bào; Tăng kích thích giao cảm; Dùng các chất làm tăng huyết áp, ví dụ thuốc chống viêm không steroid (NSAID) hoặc chất kích thích; Các nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát
2.2 HÀNH VI
2.2.1 Khái niệm hành vi
Khi quan sát phản ứng của cá nhân trong tình huống nhất định đối với một mục tiêu nhất định,Ajzen (1991) cho rằng hành vi là một chức năng của ý định và nhận thức về kiểm soát hành vi Ajzen (1991) cho rằng một ý định tạo thuận lợi cho hành vi chỉ khi nhận thức kiểm soát hành vi mạnh mẽ
Trang 28Tất cả phản ứng của cá nhân khi bị bất cứ một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích (các yếu tố bên ngoài lẫn tình trạng bên trong) và tiến trình ứng
xử để thích ứng có định hướng, mục tiêu nhằm thích nghi với hoàn cảnh được gọi
Bên cạnh đó, hành vi của con người cũng được xem là một hành động, hay tập hợp nhiều hành động, và những hành động này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan Mỗi hành vi của một con người là sự biểu hiện cụ thể của các yếu tố cấu thành nên, đó là các kiến thức, niềm tin, thái độ và cách thực hành của người đó trong một tình huống hay trong một sự việc cụ thể nhất định
2.2.2 Hành vi sức khỏe
Theo Rosenstock (1974), hành vi sức khỏe là hành vi của cá nhân, gia đình, cộng đồng tạo ra các yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe của chính
họ, có thể có lợi hoặc có hại cho sức khỏe
Theo ảnh hưởng của hành vi, có thể phân ra 3 loại hành vi sức khoẻ như sau:
- Hành vi lành mạnh, có lợi cho sức khoẻ: Đó là những hành vi giúp bảo vệ
và nâng cao tình trạng sức khoẻ của con người
- Hành vi không lành mạnh: Đó là những hành vi gây hại cho sức khoẻ
Trang 29- Hành vi trung gian: Là những hành vi không có lợi cũng không có hại cho sức khoẻ hoặc chưa xác định rõ
2.3 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN
2.3.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)
Thuyết hành động hợp lý (Fishbien và Ajzen, 1975) cho rằng ý định thực hiện hành vi là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi Trong
đó, hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định chính là thái độ và chuẩn mực chủ quan Thái độ ở đây chính là niềm tin, sự đánh giá của chủ thể thực hiện hành vi đối với kết quả của hành vi mà mình thực hiện; còn chuẩn mực chủ quan là nhận thức của những người có ảnh hưởng đến chủ thể liên quan đến việc thực hiện hành vi
Hạn chế của cách tiếp cận theo Thuyết hành động hợp lý là giả định cứng nhắc rằng hành vi được quyết định bởi ý định Trong khi trên thực tế, rất nhiều hành
vi mà chủ thể rất muốn thực hiện nhưng do hạn chế về nguồn lực nên không thể thực hiện
Thuyết hành động hợp lý có thể được mô phỏng thông qua hình 2.2 dưới đây:
Nguồn: Fishbien và Ajzen (1975)
Trang 302.3.2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB)
Xuất phát từ những hạn chế của Lý thuyết hành động hợp lý, Ajzen (1991)
đã cho ra đời Lý thuyết hành vi có kế hoạch Theo đó, Ajzen (1991) đã bổ sung thêm yếu tố khả năng kiểm soát vào mô hình của Lý thuyết hành động hợp lý để khắc phục những hạn chế của mô hình Yếu tố khả năng kiểm soát được hiểu như là đánh giá của chủ thể thực hiện hành vi về mức độ khó/ dễ của việc thực hiện hành
vi, cũng như những hạn chế, kiểm soát khi thực hiện hành vi
Thuyết hành vi có kế hoạch được mô phỏng thông qua hình 2.3 dưới đây:
Nguồn: Ajzen (1991)
Hình 2.3: Lý thuyết hành vi có kế hoạch 2.3.3 Mô hình sức khỏe của Grossman
Theo Jafari và cộng sự (2014), trong nhiều năm qua, sự ảnh hưởng đến sức khỏe con người bởi các yếu tố như thực phẩm, nhà ở, môi trường làm việc… bên cạnh các phương pháp chuyên môn y tế là một vấn đề được cộng đồng khá quan tâm Hay nói cách khác, đó là sự quan tâm về những yếu tố kinh tế - xã hội (không phải là yếu tố liên quan đến chuyên môn y tế) ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Trang 31Và mô hình được phát triển bởi Grossman (1972) được xem là mô hình đầu tiên thể hiện mối quan hệ của những yếu tố kinh tế xã hội đối với sức khỏe
Mô hình của Grossman (1972) đã chỉ ra các yếu tố đầu vào được cá nhân sử dụng như thuốc men, dịch vụ y tế, chế độ ăn, vận động, hút thuốc… sẽ là các nguồn tạo ra sức khỏe Mô hình này đã giải thích cho việc những yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến nhu cầu tiêu dùng, sở thích, nguồn lực của cá nhân có ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân đó Mô hình của Grossman là một trong những mô hình quan trọng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi sức khỏe và cung cấp kiến thức về nhu cầu chăm sóc y tế cũng như kiến thức về những yếu tố khác có ảnh hưởng đến sức khỏe
2.4 NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
2.4.1 Nghiên cứu về tăng huyết áp
Nghiên cứu của Dennison và cộng sự (2007) nhằm tìm hiểu về các khía cạnh liên quan đến việc chăm sóc và kiểm soát việc tăng huyết áp ở Nam Phi Nghiên cứu được tiến hành trên 403 bệnh nhân tăng huyết áp (183 nam và 220 nữ) có độ tuổi từ 35 đến 65 Dennison và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về tăng huyết
áp xoay quanh các yếu tố như tiểu sử bệnh, hành vi sức khỏe, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chất lượng cuộc sống, sự hỗ trợ từ cộng đồng và việc tiếp xúc với bệnh tật cũng như các mối đe dọa khác trong cuộc sống Kết quả nghiên cứu cho thấy những rào cản ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe người bệnh tăng huyết áp bao gồm: kiến thức liên quan đến tăng huyết áp và chất lượng sống thấp, những việc dẫn đến căng thẳng (như sự mất đi các thành viên trong gia đình) Một lối sống không lành mạnh liên quan đến việc hút thuốc lá, lười vận động và sử dụng rượu quá mức sẽ ảnh hưởng đến tăng huyết áp Nghiên cứu cũng đã cho thấy một số yếu tố như một
ít thuốc hạ huyết áp, tuân thủ tốt các khuyến cáo liên quan đến tăng huyết áp, tuổi, giới tính, học vấn, không sử dụng rượu quá mức và sử dụng dịch vụ y tế tư nhân là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc kiểm soát tăng huyết áp
Trang 32Nghiên cứu của Laxmaiah và cộng sự (2015) nhằm ước tính tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp của người dân ở Ấn Độ và tìm hiểu những yếu tố có ảnh hưởng đến bệnh tăng huyết áp Đồng thời, Laxmaiah và cộng sự (2015) cũng nghiên cứu về nhận thức, cách thức điều trị và các hành vi nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp Nghiên cứu được tiến hành dựa trên phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên từ các bang của Ấn Độ và tổng số có 21.141 nam giới, 26.260 nữ giới tham gia nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao huyết áp ở nam là 27,1% và nữ giới là 26,4% Nguy cơ cao hyết áp ở người cao tuổi cao gấp 6-8 lần và 2-5 lần trong độ tuổi 35-59 tuổi so với độ tuổi 20-34 tuổi Dưới 10% những người tăng huyết biết bản thân đang bị tăng huyết áp và hơn một nữa số họ đang điều trị (55% ở nam và 68% ở nữ) Những người béo phì và béo bụng (cả nam lẫn nữ) đề có khả năng tăng huyết
áp cao hơn những người khác Bên cạnh đó, những người sử dụng rượu, thuốc lá cũng có khả năng tăng huyết áp cao hơn những người không dùng Tóm lại, nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố có ảnh hưởng đến tăng huyết áp như tuổi, trình độ học vấn, hoạt động thể chất, tiêu thụ rượu, thuốc lá và béo phì; đồng thời, nhận thức, kiến thức và hành vi phòng ngừa của người dân còn thấp
Nghiên cứu của Hoàng Thị Hải Vân và cộng sự (2014) nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức tăng huyết áp của người trưởng thành và đánh giá
độ tin cậy bộ câu hỏi đã áp dụng với thiết kế mô tả cắt ngang Tổng số 788 người trưởng thành tại Hải Phòng đã được phỏng vấn Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa trình độ học vấn, nhóm tuổi với kiến thức về bệnh tăng huyết
áp Bên cạnh đó, 21 biến được sử dụng trong bộ câu hỏi của nhóm tác giả về kiến thức tăng huyết áp thuộc 4 nhóm kiến thức 21 biến trong tổng số 30 biến giải thích 59,43% sự biến thiên của kết quả về kiến thức bệnh tăng huyết áp của mẫu nghiên cứu Hệ số Cronbach’s Anpha chung cho tất cả các biến là 0,732 và cho 4 nhóm lựa chọn đều lớn hơn 0,6 chứng tỏ bộ câu hỏi sử dụng có tính nhất quán và đảm bảo tin cậy
Trang 33Nghiên cứu của Nguyễn Văn Phát và cộng sự (2011) với mục tiêu đánh giá thực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Hà Giang Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số ảnh hưởng đến bệnh tăng huyết áp như giới tính, nhóm tuổi, học vấn, yếu tố gia đình và yếu tố truyền thông Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả
đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm phòng tăng huyết áp như thông qua công tác truyền thông và các hoạt động can thiệp, đặc biệt là đối với những người cao tuổi
Nghiên cứu của Hoàng Cao Sạ và cộng sự (2015) nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân tăng huyết áp khu vực nông thôn tại Hà Nội và Vĩnh Phúc Dựa trên mẫu nghiên cứu là 346 người, nghiên cứu đã chỉ ra đa số bệnh nhân tăng huyết áp là trên 60 tuổi (71,7%), 33,2% bệnh nhân không biết huyết áp thế nào là bình thường và 87,6% bệnh nhân không biết tăng huyết áp được phân thành mấy độ Bên cạnh đó, kiến thức về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp còn hạn chế; 28% người mắc tăng huyết áp không hiểu đúng về điều trị tăng huyết áp và 89,9% hiểu sai khi cho rằng bệnh tăng huyết áp có thể chữa khỏi hoàn toàn ; 38,7% người bệnh tăng huyết áp không điều trị hoặc điều trị không liên tục Từ kết quả nêu trên, nhóm tác giả đưa ra nhận định rằng kiến thức, thái độ
về tăng huyết áp của người dân nông thôn nhìn chung còn hạn chế, điều này đã dẫn đến việc bệnh nhân không tuân thủ khi điều trị
2.4.2 Nghiên cứu về ý định và hành vi
Các lý thuyết về khoa học hành vi đã được ứng dụng vào nghiên cứu trong lĩnh vực y tế, tiêu biểu là các nghiên cứu xem xét ý định tham gia bảo hiểm của người dân Có thể kể đến như nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) nhằm mục đích khám phá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ tại tỉnh Nghệ An Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 7 biến tác động có ý nghĩa thống
kê lên sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với tầm quan trọng lần lượt là: tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tự nguyện, ý thức sức khỏe, kiến thức về bảo
Trang 34hiểm xã hội tự nguyện, thái độ, kỳ vọng gia đình, trách nhiệm đạo lý và kiểm soát hành vi
Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự (2015) khi tìm hiểu những yếu tố dẫn đến ý định mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện của người dân ở TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu này dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) và xét thêm hai yếu tố tâm lý là tính phòng xa và mức độ chấp nhận rủi ro tài chính Kết quả nghiên cứu đã cho thấy thái độ đối với việc mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận, tính phòng xa có tác động tích cực và mức độ chấp nhận rủi ro tài chính tác động tiêu cực đến ý định
2.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.5.1 Khung phân tích
Đề tài vận dụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) làm căn cứ diễn giải cho hành vi phòng ngừa tăng huyết áp Theo đó, hành vi phòng ngừa tăng huyết áp sẽ chịu tác động bởi các yếu tố của ý định phòng ngừa: Thứ nhất, thái độ đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp - được thể hiện thông qua sự đánh giá, niềm tin của đối tượng thực hiện hành vi phòng ngừa đối với kết quả mà hành vi đó mang lại; Thứ hai, chuẩn chủ quan - ảnh hưởng của những người có liên quan đến suy nghĩ nên thực hiện hành vi phòng ngừa; Thứ ba, kiểm soát hành vi - thể hiện khả năng thực hiện hành vi, bao gồm các nguồn lực đảm bảo để thực hiện hành vi phòng ngừa
Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng mô hình sức khỏe của Grossman (1972) làm cơ
sở cho việc tìm hiểu các đặc tính của cá nhân ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp Tóm lại, khung phân tích của nghiên cứu được đề xuất như sau:
Trang 35Nguồn: Đề xuất của tác giả
Hình 2.4: Khung phân tích 2.5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) và kết quả lược khảo các nghiên cứu có liên quan, giả thuyết về ảnh hưởng của các yếu tố của ý định phòng ngừa ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp như sau:
Sự đánh giá tích cực về hành vi phòng ngừa, tin tưởng vào kết quả mà hành
vi phòng ngừa mang lại sẽ làm tăng khả năng thực hiện các hành vi phòng ngừa; do
đó giả thuyết về ảnh hưởng của thái độ đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp như sau:
H 1 : Thái độ đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp có ảnh hưởng tích cực đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Quan điểm của người thân, bạn bè về hành vi phòng ngừa sẽ có ảnh hưởng đến việc thực hiện các hành vi phòng ngừa; do đó giả thuyết về ảnh hưởng của chuẩn chủ quan về hành vi phòng ngừa tăng huyết áp đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp như sau:
Hành vi phòng ngừa THA
Trang 36H 2 : Chuẩn chủ quan về hành vi phòng ngừa tăng huyết áp có ảnh hưởng tích cực đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Nguồn lực về kiến thức, thời gian, tài chính sẽ giúp đảm bảo đủ khả năng thực hiện các hành vi phòng ngừa; do đó giả thuyết về khả năng kiểm soát hành vi phòng ngừa tăng huyết áp đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp như sau:
H 3 : Khả năng kiểm soát hành vi phòng ngừa tăng huyết áp có ảnh hưởng tích cực đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Theo mô hình sức khỏe của Grossman (1972), các đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế - xã hội sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân đó; do đó giả thuyết về các đặc điểm cá nhân đối với hành vi phòng ngừa tăng huyết áp như sau:
H 4 : Các đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
2.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Kết quả tổng quan tài liệu về tăng huyết áp đã giúp đề tài tiếp cận được khái niệm về tăng huyết áp, phân loại các loại tăng huyết áp, biết được nguyên nhân và các biến chứng của bệnh tăng huyết áp cũng như phương pháp điều trị Bên cạnh
đó, lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) và mô hình sức khỏe của Grossman (1972) đã được vận dụng làm cơ sở để đề tài xây dựng khung phân tích Dựa trên khung phân tích và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, các giả thuyết nghiên cứu đã được hình thành để đề tài tiến hành giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra ban đầu
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành thực hiện thông qua 2 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1 - Nghiên cứu sơ bộ: Dựa trên thang đo được nghiên cứu xây dựng và phát triển từ quá trình tổng quan tài liệu, tiến hành thảo luận nhóm về các thành phần thang đo và về bảng câu hỏi để hiệu chỉnh, bổ sung cho hoàn thiện thang
đo và bảng khảo sát Tiếp đó, tiến hành khảo sát sơ bộ trên nhóm mẫu nhỏ để tiếp tục hoàn thiện thang đo và bảng hỏi
Gia đoạn 2 - Nghiên cứu chính thức: Dựa trên kết quả của nghiên cứu sở bộ, tiến hành khảo sát trên diện rộng và tiến hành các bước phân tích, đánh giá về dữ liệu thu thập được Trên cơ sở của kết quả nghiên cứu từ việc phân tích dữ liệu, khuyến nghị một số hàm ý để can thiệp vào hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Trang 383.2 XÂY DỰNG THANG ĐO
3.2.1 Đo lường hành vi phòng ngừa tăng huyết áp
Để đo lường biến số phản ánh hành vi phòng ngừa tăng huyết, đề tài tiến hành hệ thống các hành vi được khuyến cáo giúp phòng ngừa tăng huyết áp Việc
có thực hiện các hành vi dưới đây được xem là có thực hiện hành vi phòng ngừa tăng huyết áp: (i) Ăn nhiều rau, quả; (ii) Giảm ăn chất béo; (iii) Giảm ăn muối (< 5gam/ ngày ~ 1 thìa cà phê); (iv) Vận động thể thao ( > 30 phút/ ngày); (v) Hạn chế uống rượu; (vi) Không hút thuốc lá Để thang đo có độ tin cậy cao, tác giả có thực hiện khảo sát xin ý kiến các chuyên gia trong các bệnh viện chuyên về tim mạch sau (Danh cách các chuyên gia) :
3.2.2 Đo lường ý định phòng ngừa tăng huyết áp
Để đo lường các yếu tố của ý định phòng ngừa tăng huyết áp, đề tài sử dụng thang đo Likert 5 mức (Rất không đồng ý - Không đồng ý - Bình thường - Đồng ý - Rất đồng ý) Những yếu tố cấu thành nên thang đó được phát triển từ cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu có liên quan và khung phân tích đề xuất của đề tài Tổng hợp các thành phần trong thang đo được thể hiện trong bảng 3.1 dưới đây:
Trang 39Bảng 3.1: Thang đo các yếu tố của ý định phòng ngừa tăng huyết áp
Thái độ
Hành vi phòng ngừa giúp huyết áp duy trì ổn định TD1 Hành vi phòng ngừa làm giảm nguy cơ tăng huyết áp TD2
Tin tưởng vào hiệu quả mang lại từ hành vi phòng ngừa TD4
Ảnh hưởng từ cộng đồng nơi sinh sống CCQ5 Ảnh hưởng của chính quyền nơi sinh sống CCQ6
Kiểm soát
hành vi
Đủ thời gian để thực hiện hành vi phòng ngừa KS1
Đủ điều kiện kinh tế để thực hiện hành vi phòng ngừa KS2
Đủ thông tin để thực hiện hành vi phòng ngừa KS3
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Trang 403.3 ĐO LƯỜNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Dựa trên cơ sở lý thuyết và khung phân tích, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:
Hanhviphongngua = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3+ β4X4 + β5X5 + β6X6 + β7X7 + β8X8 + β9X9 + ε
Các biến số trong mô hình nghiên cứu được mô tả cụ thể như sau:
Bảng 3.2: Biến số trong mô hình nghiên cứu
Biến số Ký hiệu Đơn vị Kỳ vọng
dấu Cơ sở lý thuyết
Hành vi
phòng ngừa HANH VI
1: Có phòng ngừa 0: Không phòng ngừa
Ajzen (1991),Laxmaiah
và cộng sự (2015), Hoàng Cao Sạ và cộng
Kiểm soát
Ajzen (1991), Hoàng Cao Sạ và cộng sự (2015)
Giới tính GIOI TINH 1: Nam
Grossman (1972), Dennison và cộng sự (2007)
Dennison và cộng sự