BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH DƯƠNG THÁI NGỌC CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN DỰA TRÊN CƠ SỞ DỒN TÍCH NHẰM MỤC ĐÍCH GIẢM THU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THÁI NGỌC
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN DỰA TRÊN CƠ SỞ DỒN TÍCH NHẰM MỤC ĐÍCH GIẢM THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THÁI NGỌC
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN DỰA TRÊN CƠ SỞ DỒN TÍCH NHẰM MỤC ĐÍCH GIẢM THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN PHÚC SINH
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính thưa quý thầy cô, tôi tên là Dương Thái Ngọc, học viên cao học khóa 26 ngành
Kế toán - Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả những tài liệu tham khảo đều được trích dẫn đầy
đủ trong danh mục tài liệu tham khảo Các thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Luận văn này chưa từng được công bố dưới bất
kỳ hình thức nào
Học viên
Dương Thái Ngọc
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT - ASTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
7 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 5
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 6
1.3 Nhận xét chung và xác định vấn đề nghiên cứu 10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13
2.1 Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận 13
2.1.1 Khái niệm lợi nhuận 13
2.1.2 Cơ sở đo lường lợi nhuận kế toán 13
2.2 Cơ sở lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận 14
Trang 52.2.1 Khái niệm hành vi điều chỉnh lợi nhuận 14
2.2.2 Phân loại hành vi điều chỉnh lợi nhuận 16
2.2.3 Động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận 16
2.2.4 Các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận 17
2.3 Các lý thuyết liên quan đến đề tài 18
2.3.1 Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory) 18
2.3.2 Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs theory) 19
2.4 Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp 19
2.4.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp 19
2.4.2 Cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp 20
2.4.3 Văn bản quy phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 21
2.5 Mối quan hệ giữa điều chỉnh thu nhập và thuế TNDN 23
2.6 Một số mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích 23
2.6.1 Mô hình Healy (1985) 23
2.6.2 Mô hình DeAngelo (1986) 24
2.6.3 Mô hình Jones (1991) 25
2.6.4 Mô hình Modified Jones (1995) 26
2.6.5 Mô hình Industry (1994) 26
2.6.6 Mô hình Friedlan (1994) 27
2.7 Lựa chọn mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích 28
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Quy trình nghiên cứu định lượng 31
3.1.1 Chọn mẫu 31
3.1.2 Thu thập dữ liệu 34
3.1.3 Xử lý dữ liệu 34
3.2 Thiết kế nghiên cứu 35
Trang 63.2.1 Định nghĩa các biến 35
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 37
3.2.3 Mô hình nghiên cứu 39
3.2.4 Xây dựng thang đo các biến 41
3.3 Công cụ nghiên cứu 43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 48
4.1 Kết quả nghiên cứu 48
4.1.1 Thống kê mô tả các biến 48
4.1.2 Phân tích hồi quy Binary Logistic 51
4.2 Bàn luận kết quả nghiên cứu 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Một số hàm ý chính sách nhằm hạn chế những vi điều chỉnh lợi nhuận có tác động xấu 61
5.2.1 Hàm ý nhằm hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua nhân tố quy mô công ty 61
5.2.2 Hàm ý nhằm hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua nhân tố thời gian ưu đãi thuế TNDN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AEM: Quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích
BCTC: Báo cáo tài chính
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
DN: Doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.4.3 Bảng tổng hợp văn bản chính sách thuế TNDN
Bảng 4.1 Bảng thống kê tần suất của biến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Bảng 4.2 Bảng thống kê tần suất của biến thời gian ưu đãi thuế TNDN
Bảng 4.3 Bảng thống kê tần suất của biến thay đổi thuế suất thuế TNDN
Bảng 4.4 Bảng thống kê mô tả biến quy mô công ty, thời gian hoạt động và lợi nhuận sau thuế của công ty
Bảng 4.5 Bảng kiểm định mức độ phù hợp tổng quát của mô hình
Bảng 4.6 Bảng đánh giá mức độ phù hợp của mô hình
Bảng 4.7 Bảng kiểm định mức độ dự báo tính chính xác của mô hình
Bảng 4.8 Bảng kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi quy
Bảng 4.9 Tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Bảng 4.10 Bảng tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết trong nghiên cứu
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.4.3 Sơ đồ mô tả về chính sách thuế TNDN
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu định lượng
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích
Trang 10TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi
nhuận dựa trên cơ sở dồn tích nhằm mục đích giảm thuế TNDN tại các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước.” nhằm xác định các nhân tố và đo lường mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích
nhằm mục đích giảm thuế TNDN của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Tác giả đã tập trung hệ thống các lý thuyết nền tảng và phân tích các bài nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp Từ đó, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định lại mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước Các dữ liệu được đưa vào để phân tích hồi quy đa biến dạng Binary Logistic thông qua công cụ SPSS 20.0
Kết quả phân tích hồi quy và kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu
5 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã tìm ra được 3 nhân tố có tương quan ý nghĩa với hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích, đó là nhân tố quy mô công ty, thời gian ưu đãi thuế TNDN
và Thời gian hoạt động của công ty Hai nhân tố còn lại là thay đổi thuế suất và lợi nhuận sau thuế không có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận xét về mặt ý nghĩa thống kê Do đó, phương trình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước có dạng như sau:
EM = - 15,689 + 2,763TIME_A + 0,142TIME_B + 1,303SIZE
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu đã xây dựng các giả thuyết và lựa chọn mô hình nghiên nghiên cứu phù hợp từ đó đã xác định được ba nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Trang 11Về mặt thực tiễn, thông qua việc nghiên cứu 5 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về hàm ý quản trị và hàm ý chính sách nhằm hạn chế những hành vi điều chỉnh lợi nhuận có tác động xấu, không tuân thủ quy định pháp luật tạo ra lợi ích nhóm hoặc cá nhân Từ đó kiến nghị cơ quan quản lý thuế cấp trên hoàn thiện việc xây dựng một bộ tiêu chí trong kiểm soát hoạt động tuân thủ thuế TNDN trong công tác quản lý thuế
Từ khóa: Điều chỉnh lợi nhuận; Cơ sở dồn tích; lợi nhuận
Trang 12ABSTRACT
Research topic: "Factors affecting earnings management behavior based on
accruals aim to reduce corporate income tax in companies in Binh Phuoc province." To identify factors and measure the influence of factors affecting earning
managements behavior on the accruals basis for the purpose of reducing corporate income tax of companies in Binh Phuoc province
The author has focused the system of foundational theories and analyzed the research papers in the world and in the relevant country on earnings management behavior to select the appropriate research model Since then, the author used a quantitative research method to re-examine the model of factors affecting earnings management behavior accruals basis of companies in Binh Phuoc province The data was included to analyze Binary Logistic multi-format regression through SPSS 20.0 tool
The results of regression analysis and testing hypotheses in the research model
of 5 factors affecting earnings management behavior in companies in Binh Phuoc province have found 3 correlative factors It means earnings management behavior on accruals basis, which is the factor of company size, duration of CIT incentives and duration of operation of the company The other two factors are the change in tax rates and profit after tax which have no effect on earning management behavior in terms of statistical significance Therefore, the equation of factors affecting earning management behavior of companies in Binh Phuoc province is as follows:
EM = - 15,689 + 2,763TIME_A + 0,142TIME_B + 1,303SIZE
Theoretically, the research has developed hypotheses and selected suitable research model from which has identified three factors affecting earnings management behavior of companies in the province of Binh Phuoc
Trang 13In terms of practice, through studying 5 factors affecting earnings management behavior of companies in Binh Phuoc province, the author has made some recommendations about the implication of administration and implication policies to limit earnings management behavior with negative impacts, non-compliance with legal regulations to create group or individual benefits Thereby proposing the superior tax administration agency to complete the construction of a set of criteria in controlling CIT compliance activities in tax administration
Keywords: Earning management, accruals basis, Profitability
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ tồn tại và phát triển khi tạo ra lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp là cơ sở để cơ quan thuế thu thuế TNDN phải nộp Tuy nhiên, các doanh nghiệp lại có khuynh hướng sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp mình Trên thế giới đã có nhiều doanh nghiệp sử dụng công cụ điều chỉnh lợi nhuận một cách khá phổ biến với nhiều mục đích khác nhau, trong đó có mục đích tránh thuế, trốn thuế (Verbruggen, J Christaens, and K.Milis 2008)
Tại Báo cáo Tổng kết nhiệm vụ công tác Thuế năm 2017, phương hướng nhiệm
vụ công tác thuế năm 2018 của Cục Thuế tỉnh Bình Phước: Cục Thuế tỉnh Bình Phước
đã kết luận thanh tra, kiểm tra đối với 272 doanh nghiệp; đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với 85/272 doanh nghiệp với tổng số tiền truy thu, phạt 47,523 tỷ đồng và giảm lỗ 105,084 tỷ đồng
Thông tin này đặt ra nghi vấn về hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước nhằm mục đích thuế
Theo quy định tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về Luật Đầu tư thì tỉnh Bình Phước có 10/11 huyện, thị xã thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn thuộc diện được hưởng ưu đãi về thuế TNDN
Xuất phát từ thực tế tại địa bàn, tác giả mong muốn kiểm định về sự tác động của các nhân tố đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhằm mục đích thuế, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách nhằm xây dựng một bộ tiêu chí trong kiểm soát hoạt động tuân
thủ thuế TNDN trong công tác quản lý thuế, tác giả thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh
Trang 15hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích nhằm mục đích giảm thuế TNDN tại các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá sự tác động của các nhân tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích nhằm mục đích giảm thuế TNDN phải nộp của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước Từ đó, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm xây dựng bộ tiêu chí kiểm soát những hành vi điều chỉnh lợi nhuận có tác động xấu, củng cố hoàn thiện cơ sở pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trong công tác quản lý thuế
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ
sở dồn tích nhằm mục đích giảm thuế TNDN phải nộp của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích nhằm mục đích giảm thuế TNDN phải nộp của các công
ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã đặt ra ở trên, nội dung chính của
đề tài cần phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Câu hỏi 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên
cơ sở dồn tích của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước?
- Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi điều chỉnh lợi
nhuận trên cơ sở dồn tích của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước như thế nào?
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty trên cơ sở dồn tích tại địa bàn tỉnh Bình Phước
- Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp, cụ thể là Báo cáo tài chính của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 3 năm 2015-2017
Giới hạn nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các công ty trên địa
bàn tỉnh Bình Phước Vì các công ty tài chính có đặc điểm rất riêng biệt nên sẽ bị loại trong quá trình chọn mẫu
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã tập trung hệ thống các lý thuyết nền tảng và phân tích các bài nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp Từ đó, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định lại mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện cụ thể như sau:
- Xây dựng các giả thuyết và biến nghiên cứu dựa trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước và những lập luận có logic về vấn đề hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Xác định và chọn mẫu nghiên cứu theo phương pháp phi ngẫu nhiên Trong
đó, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức: n=50+8*m (Tabachnick và Fidell, 1996), với m là số biến độc lập và n là cỡ mẫu Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu phải
là n = 50+8*5=90
Trang 17- Thu thập dữ liệu thứ cấp là BCTC của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ nguồn dữ liệu kê khai của doanh nghiệp tại cơ quan thuế Từ đó, lấy dữ liệu cho các biến trong mô hình nghiên cứu
- Xử lý dữ liệu và vận dụng mô hình của Friedlan (1994) để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng công cục excel
- Cuối cùng, các dữ liệu được đưa vào để phân tích hồi quy đa biến dạng Binary Logistic thông qua công cụ SPSS 20.0
- Từ đó, kiểm định các giả thuyết và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước thông qua mức ý nghĩa sig
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích của các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Phước, tác giả đưa ra một số kiến nghị về một số hàm ý chính sách nhằm xây dựng bộ tiêu chí kiểm soát những hành vi điều chỉnh lợi nhuận có tác động xấu, củng cố hoàn thiện cơ sở pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trong công tác quản lý thuế
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn được kết cấu thành các nội dung như sau:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Trong chương này sẽ giới thiệu tổng quan về các nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài qua đó tác giả sẽ tổng hợp đưa ra nhận định nhằm xác định khe hổng nghiên cứu để tiến hành thực hiện đề tài
1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới
Thuật ngữ “Earning Management” xuất hiện từ rất sớm trên thế giới Cho đến nay đã có nhiều các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên nhiều khía cạnh:
Mô hình đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận; Động cơ dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận; Các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận… Bằng phương pháp tổng hợp, phân tích các nghiên cứu được công bố, tác giả trình bày một số nghiên cứu trên thế giới liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận như sau:
Godfrey và Jones (1999) – “Political cost influences on income smoothing
via extraordinary item classification”: Bài nghiên cứu về việc nhà quản lý dàn đều lợi
nhuận qua các năm giảm chi phí chính trị Kết quả cho thấy công ty có khuynh hướng dàn đều lợi nhuận hoạt động giữa các năm thông qua việc phân loại chi phí
Tác giả S Verbruggen, GS.TS J.Christaens và GS.TS K.Milis (2008) đã
tiến hành khảo sát và tổng hợp 145 bài báo nghiên cứu được công bố trên 10 tạp chí khoa học có uy tín trong lĩnh vực kinh tế - tài chính từ năm 2000 đến năm 2006 về điều chỉnh thu nhập (Earning management) Nghiên cứu dẫn đến bốn loại nghiên cứu: động
cơ cho quản lý thu nhập, kỹ thuật quản lý thu nhập, hạn chế quản lý thu nhập và các vấn đề thiết kế nghiên cứu
Impact of firm size and capital structure on earning management Evidence
from Pakistan (2011) – Iram Naz et al Bài báo này nghiên cứu mức độ ảnh hưởng
của quy mô công ty và cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Tổng tài sản là đại diện cho biến công ty, tỷ lệ đòn bẩy tài chính sẽ được sử dụng để đo lường
Trang 19cấu trúc vốn và biến kế toán dồn tích là đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận Kết quả khảo sát đã chỉ ra cấu trúc vốn có ảnh hưởng nghịch biến đối với hành vi quản trị lợi nhuận
Corporate Governance, firm size, and Earning management: Evidence in
Indonesia Stock Exchange (2013) – Dwi Lusi Tyasing Swastika: Bài nghiên cứu khảo
sát mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, bao gồm: số lượng thành viên trong hội đồng quản trị, tính độc lập của các thành viên, quy mô công
ty và chất lượng công ty kiểm toán Tác giả đã sử dụng mô hình Jones (1991) để đo lường biến dồn tích Kết quả cho thấy rằng, các biến về hội đồng quản trị có mối quan
hệ thuận chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, còn biến chất lượng công ty kiểm toán
và quy mô công ty có quan hệ nghịch chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Effect of financial leverage and investment diversification on
income-increasing earnings management (2013) – Nasrollah Takhtaei et al Theo báo cáo,
lợi nhuận kế toán luôn là một trong những phương pháp đo lường để đưa ra các quyết định tài chính đối với nhà đầu tư và nhà quản trị Giám đốc dựa vào những lý do khác nhâu như là yêu cầu của báo cáo kiểm toán và tạo ra các điều kiện trong hợp đồng vay
nợ về cách ứng xử của chủ nợ tài chính, thông tin bất cân xứng giữa chủ nợ và giám đốc, đa dạng hóa đầu tư, nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận Kết quả cho thấy
xu hướng quản trị lợi nhuận tăng cùng với đòn bẩy tài chính và đa dạng hóa đầu tư
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Tác giả đã tiến hành khảo sát các nghiên cứu liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua cơ sở dữ liệu về Luận văn, luận án thực hiện tại Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Kinh tế Đà Nẵng… và một số tạp chí chuyên ngành trong nước (Tạp chí Kế toán & Kiểm toán, Tạp chí phát triển và hội nhập UEF, Tạp chí Kinh tế và phát triển, ) Một số đề tài đã được nghiên cứu liên quan như sau:
Trang 20 Nguyễn Thị Minh Trang (2012) – “Vận dụng mô hình của DeAngelo và
Friedlan để nhận dạng hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị” Qua số
liệu của 20 doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên tương ứng với 4 loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp nhà nước) đã kiểm định trên cho thấy: Hầu hết các doanh nghiệp tùy theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị có thể thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận, có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng hoặc giảm hơn mức thực tế Với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có các nguyên nhân điều chỉnh lợi nhuận khác nhau Thường đối với các công ty cổ phần, động cơ điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp không phải lúc nào cũng được ưu tiên lựa chọn mà có thể động cơ điều
chỉnh tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài chiếm ưu thế hơn
Huỳnh Thị Vân (2012) – “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các
công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Tác giả đã đưa ra 3 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với
doanh nghiệp niêm yết thông qua việc sử dụng mô hình DeAngelo (1986) và mô hình Friedlan (1994) bao gồm: năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế TNDN
và quy mô doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy thuế suất ưu đãi thuế TNDN có quan hệ thuận chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, trong khi quy mô công ty không
ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nguyễn Trí Tri (2013) – “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi phối
thu nhập trên báo cáo tài chính.” Bài báo đã hệ thống một số kết quả nghiên cứu về
các nhân tố tác động đến việc chi phối thu nhập trên báo cáo tài chính và đưa ra một số kiến nghị nhằm giảm thiểu hành vi chi phối thu nhập trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Cụ thể, hành vi chi phối thu nhập bị tác động bởi nhiều nhân tố: lương và thưởng cho nhà quản lý, giá cổ phiếu, hợp đồng vay vốn, chất lượng của hoạt động kiểm toán BCTC, sự độc lập của HĐQT và ủy ban kiểm toán và môi trường pháp lý
Trần Thị Mỹ Tú (2014) – “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi
quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên sàn
Trang 21giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh.” Tác giả sử dụng mô hình Friedlan (1994)
để kiểm định 04 nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán: tính độc lập của hội đồng quản trị, chất lượng kiểm toán, quy mô công ty và đòn bẩy tài chính Kết quả cho thấy: tính độc lập của hội đồng quản trị có ảnh hưởng lớn nhất trong việc hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận, tiếp đến là quy mô công ty và đặc điểm của công ty kiểm toán và cuối cùng là đòn bẩy tài
chính
Phan Thị Thanh Trang (2015) – “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi
nhuận các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả sử dụng mô hình Friedlan (1994) để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi
nhuận của các công ty niêm yết Sau đó, tác giả sử dụng mô hình hồi quy lượng hóa mối quan hệ giữa các biến độc lập và phụ thuộc để kiểm định 05 nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
TP HCM: Quy mô công ty, Công ty kiểm toán, Điều kiện kinh tế, Thời gian hoạt động của công ty, Ngành nghề kinh doanh Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công ty
cổ phần đều có hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong những năm trước niêm yết và sau niêm yết, Quy mô công ty càng lớn thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận càng tăng, Chất lượng và quy mô công ty kiểm toán có tác động nghịch chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, Các công ty năm đầu niêm yết trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế sẽ có hành vi điều chỉnh lợi nhuận cao hơn, và thời gian hoạt động của công ty có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, cụ thể theo kết quả nghiên cứu thì mối quan
hệ là thuận chiều nghĩa là công ty có tuổi đời càng lâu thì càng đễ thực hiện hành vi
điều chình lợi nhuận cao hơn
Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015) – “Các nhân tố quyết
định hành vi điều chỉnh thu nhập làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam” Thông qua biến dồn tích có thể điều chỉnh của mô hình DeAngelo
(1986) và dữ liệu thu thập từ 211 công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán
ở Việt Nam Bằng phương pháp ước lượng Logit, nghiên cứu đã kết luận các nhân tố
Trang 22ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập để làm giảm thuế TNDN phải nộp: hưởng chính sách ưu đãi thuế, ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến độ, ghi nhận số lượng các khoản dự phòng và ghi nhận chi phí thuế TNDN hoãn lại
Phan Thị Thùy Dương (2015) – “Sử dụng mô hình Jones để nhận diện
điều chỉnh lợi nhuận: Trường hợp các công ty niêm yết ở HOSE phát hành thêm cổ phiếu năm 2013.” Kết quả của các nghiên cứu trước đây cho thấy, vẫn tồn tại hiện
tượng điều chỉnh lợi nhuận vì các mục tiêu khác nhau của các công ty niêm yết như thu hút đầu tư, tiết kiệm thuế, … Đối với các công ty niêm yết trước khi phát hành thêm
cổ phiếu thường có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán để thu hút đầu tư
Nguyễn Thị Toàn (2016) – “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị
lợi nhuận – Nghiên cứu tại các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội” Tác giả sử dụng Mô hình Modified Jones (1995) để nhận diện hành vi điều chỉnh
lợi nhuận sau đó tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi quản trị lợi nhuận với các nhân tố liên quan đến đặc điểm thị trường từ đó, kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đều thực hiện quản trị lợi nhuận trong giai đoạn 2014-2015 và có xu hướng quản trị tăng lợi nhuận Nhóm nhân
tố liên quan đến đặc điểm thị trường tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận bao
gồm quy mô công ty, thời gian hoạt động của công ty, thời gian niêm yết của công ty, loại công ty kiểm toán và tính trì hoãn của báo cáo tài chính
Đinh Ngọc Tú (2016) – “Ảnh hưởng của giới tính nữ trong hội động quản
trị và ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận – Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP HCM.” Tác giả đã sử dụng mô hình
hồi quy Pooled OLS cho dữ liệu bảng để thực hiện các kiểm định thông qua công cụ hỗ trợ STATA 12 Kết quả cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa số lượng thành viên
nữ điều hành trong HĐQT với hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty, nghĩa là công
ty có số lượng thành viên nữ điều hành trong HĐQT càng cao thì làm tăng hành vi điều
chỉnh lợi nhuận
Trang 23 Nguyễn Thị Thủy Tiên (2017) – “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi
quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích của các công ty sản xuất kinh doanh trong ngành dầu khí tại Việt Nam” Tác giả đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu hành
vi quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích của các công ty SXKD trong ngành dầu khí ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra ba nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty SXKD trong ngành dầu khí ở Việt Nam là quy mô của công ty,
chất lượng kiểm toán độc lập và lĩnh vực kinh doanh
Lê Thị Yến Nhi (2017) – “Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận trên báo
cáo tài chính của các công ty niêm yết nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam.” Tác giả sử dụng Mô hình Modified Jones (1995) để nhận diện hành vi điều
chỉnh lợi nhuận thông qua biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được (DA), sau đó thực hiện kiểm định giá trị trung bình của biến DA so sánh với mức phần trăm sai lệch
có thể chấp nhận được trên BCTC Kết quả mô tả cho thấy các doanh nghiệp trong
nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng có xu hướng điều chỉnh giảm trong 2015
1.3 Nhận xét chung và xác định vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Nhận xét chung
Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam hiện nay đang tập trung vào những vấn đề cơ bản của hành vi điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích xuất hiện từ rất sớm và được phát triển một cách liên tục, xuyên suốt Từ giữa thập niên 80, các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo hướng cơ sở dồn tích, các nghiên cứu tiêu biểu như: Healy (1985), Sweeney (1994), DeFond (1994), Holthausen và cộng sự (1995)… Đối với các bài nghiên cứu tại Việt Nam, các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích chủ yếu tập trung vào việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận và kiểm định sự phù hợp của mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết Mỗi nghiên cứu thường tập trung vào một hoặc vài nhóm nhân tố như: quản trị công ty, đặc điểm công ty…
Trang 24Nhìn chung, đến nay vẫn chưa có bất kỳ tài liệu nào nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhằm mục đích thuế tại địa bàn tỉnh Bình Phước
1.3.2 Xác định khoảng trống nghiên cứu
Kết quả tìm hiểu tổng quan những nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở trong và ngoài nước cho thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và chủ yếu là nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bài nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích được thực hiện tại các công ty địa bàn tỉnh Bình Phước Vì vậy, tác giả xác định đây là một hướng nghiên cứu của đề tài
Trang 25Dựa trên các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả sẽ tiếp tục kế thừa nhận diện và phân tích, đánh giá các nhân tố để xem xét mức độ ảnh hưởng đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận
Trang 26CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Từ những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài được trình bày ở chương 1, tác giả xác định những lý thuyết học thuật có liên quan để giải thích sâu hơn về vấn đề cần nghiên cứu và trình bày trong chương này
2.1 Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận
2.1.1 Khái niệm lợi nhuận
Theo Chuẩn mực Kế toán số 01 – “Chuẩn mực chung”: Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó:
- Doanh thu và thu nhập khác: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường
và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản vốn góp của cổ đông và chủ sở hữu
- Chi phí: là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
2.1.2 Cơ sở đo lường lợi nhuận kế toán
Theo Chuẩn mực Kế toán số 01 – VAS 01 – “Chuẩn mực chung”, Lợi nhuận kế toán được đo lường dựa trên các cơ sở, nguyên tắc sau:
- Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi nhận
Trang 27vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu hoặc thực chi tiền hoặc tương đương tiền
- Hoạt động liên tục: Lợi nhuận kế toán theo nguyên tắc hoạt động liên tục được xác định căn cứ vào thời kỳ quy định liên quan đến hoạt động trong một khoảng thời gian xác định Nói cách khác, lợi nhuận được xác định trên cơ sở hoạt động liên tục
- Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí: Đó là việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng liên quan tới việc tạo ra doanh thu đó
- Nguyên tắc thận trọng kế toán: Phải trích lập dự phòng nhưng không quá lớn; không đánh giá cao hơn giá trị của tài sản và các khoản thu nhập; không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; doanh thu chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, trong khi đó chi phí được ghi nhân khi có bằng chứng về khả năng phát sinh
2.2 Cơ sở lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận
2.2.1 Khái niệm hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Cho đến nay vẫn chưa có một câu trả lời thống nhất cho câu hỏi điều chỉnh lợi nhuận (earning management) là gì Thuật ngữ điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện từ khá sớm Trong bài nghiên cứu của Schipper (1989): “Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có tính toán trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” Điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của ban giám đốc trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997) Trong khi đó, Healy and Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi ban giám đốc sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để nhằm thay đổi BCTC, đánh lạc hướng người sử dụng thông tin trên BCTC về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu kế toán trên BCTC
Trang 28Trong nghiên cứu của Ronen và Yaari (2008), tùy thuộc vào động cơ mà điều chỉnh lợi nhuận có thể được phân làm 3 nhóm:
- Điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): Ban giám đốc dựa
trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của DN trong tương lai (Ronen và Sadan, 1981; Demski, Patell, và Wolfson, 1984; Suh, 1990; Demski, 1998; Beneish,
2001, Sankar và Subramanyam, 2001) Loại này được xem là có lợi và làm gia tăng chất lượng BCTC Mục đích của ban giám đốc là muốn công bố nhiều thông tin với chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ về các dòng tiền mà DN sẽ mang lại trong tương lai (Beneish, 2011)
- Điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các ban giám đốc
lựa chọn các chính sách kế toán trong hoặc ngoài các giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của DN hoặc vì vụ lợi của họ (Watts và Zimmerman, 1990; Fields, Lys, và Vincent 2001)
- Điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): Là hành vi sử dụng
các thủ thuật của ban giám đốc để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của các BCTC (Schipper, 1989; Levitt, 1998; Healy và Wahlen 1999; Tzur và Yaari, 1999; Chtourou, Bédard, và Courteau, 2001; Miller và Bahnson, 2002)
Ở Việt Nam, thuật ngữ Earning Management (EM) được dịch ra với nhiều cách khác nhau như: điều chỉnh lợi nhuận, quản trị thu nhập… Dưới góc độ nghiên cứu của người kiểm soát hoạt động lợi nhuận của doanh nghiệp, tác giả tạm dịch Earning Management (EM) là điều chỉnh lợi nhuận
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, trong bài nghiên cứu này: Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng các phương pháp kế toán trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính dựa trên cơ sở dồn tích nhằm giảm thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế được hưởng các ưu đãi về
Trang 29thuế TNDN
2.2.2 Phân loại hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Theo Carmen Joosten (2012), lợi nhuận bao gồm dòng tiền từ hoạt động và dòng tiền tích lũy, ban giám đốc công ty có 2 phương thức để điều chỉnh lợi nhuận:
- Điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (Real earning management -
REM): Công ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình thường, vì vậy dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể bị ảnh hưởng Những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình thường để điều chỉnh BCKQHĐKD này được gọi là điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (REM) (Rowchowdhury, 2006)
- Điều chỉnh lợi nhuận bằng các ước tính kế toán (Accrual-based earning
management - AEM): Công ty có thể thay đổi mức độ dồn tích để có được lợi nhuận
như mong muốn Việc ban giám đốc sử dụng các ước tính để lập BCTC được gọi là điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở ước tính (AEM) (Healy and Wahlen, 1999)
REM có thể thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào trong năm và thường có ảnh hưởng trong dài hạn Vì vậy, REM sẽ khó phát hiện bởi vì nó lẫn vào sự thay đổi thông thường trong hoạt động doanh nghiệp (Beneish, 2001)
2.2.3 Động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận không phải là hoạt động không có rủi ro Do đó, các công ty chỉ thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi lợi ích mang lại sẽ cao hơn những rủi ro và chi phí liên quan Verbruggen, Christaens và Milis (2008) cho rằng có
5 động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp và nhà quản lý điều chỉnh thu nhập, bao gồm: động cơ thị trường chứng khoán (Stock market incentives), tiết lộ/che dấu thông tin cá nhân (Signalling or concealing private information), chi phí liên quan đến chính trị (Political costs), làm cho giám đốc điều hành có cái nhìn tốt (Making the CEO look good) và những động cơ nội bộ (Internal motives)
Trang 30Động cơ chi phí chính trị: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các quy định về pháp
luật và thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một trong những động cơ thúc đẩy nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Khi số liệu kế toán dùng làm căn cứ tính thuế thì các biện pháp điều chỉnh lợi nhuận để giảm tiền thuế phải nộp (Nomem, 2003) hoặc tối thiểu hóa chi phí chính trị (Watts và Zimmerman, 1986) Hành vi này xảy ra khi công ty không có nhu cầu tài chính công, không cần thiết huy động vốn thông qua vay nợ hay phát hành chứng khoán
2.2.4 Các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 – VAS 29 thì Chính sách kế toán: Là nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC Vận dụng chính sách kế toán để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể xem xét trên 2 khía cạnh:
Các kỹ thuật tác động đến doanh thu:
- Chính sách tính giá thành sản phẩm và xác định sản phẩm dở dang: Lựa chọn
phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có thể làm thay đổi giá thành, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán và lợi nhuận kế toán trong kỳ
- Chính sách tính giá trị hàng tồn kho: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02
– VAS 02 có các phương pháp tính giá trị hàng xuất kho: FIFO (nhập trước - xuất trước), thực tế đích danh và bình quân gia quyền Việc thay đổi phương pháp tính giá trị hàng xuất kho sẽ làm ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và lợi nhuận kế toán trong
kỳ
Các kỹ thuật tác động đến chi phí:
- Xét đoán của kế toán đối với TSCĐ: Lựa chọn thời điểm mua, phương pháp
khấu hao, thanh lý TSCĐ có thể điều chỉnh doanh thu, chi phí tác động đến lợi nhuận
kế toán trong kỳ của doanh nghiệp Do đó, nhà quản trị có thể tác động lên lợi nhuận thông qua việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Ngoài ra, nhà quản trị
Trang 31cũng có thể tác động đến việc vốn hóa chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định để tăng lợi nhuận
- Chính sách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Khi giá trị thuần có thể thực
hiện được của hàng tồn kho thấp hơn giá gốc thì công ty cần lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Khoản mực dự phòng giảm giá hàng tồn kho mang tính xét đoán cao vì vậy các nhà quản trị có thể lập dự phòng nhiều hơn hoặc thấp hơn nhằm tăng hoặc giảm giá vốn hàng bán để đạt được lợi nhuận kế toán mong muốn trong kỳ
- Chính sách kế toán về chi phí lãi vay: Việc doanh nghiệp xác định khoản chi
phí đi vay nào được vốn hóa trong kỳ, ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh hay thời điểm vốn hóa, tạm ngừng vốn hóa và chấm dứt vốn hóa có thể làm ảnh hưởng tới chi phí dẫn đến ảnh hưởng tới lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp
- Chính sách phân bổ chi phí trả trước: Đối với các chi phí cần phân bổ qua
nhiều kỳ, nhà quản trị có thể lựa chọn số kỳ phân bổ để điều chỉnh chi phí từng kỳ Chi phí trả trước là các chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng chưa tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ phát sinh trong doanh nghiệp
- Các khoản mang tính xét đoán khác: Ngoài ra, các khoản mục mang tính chất
ước tính khác cùng được để điều chỉnh lợi nhuận như lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính, chi phí bảo hành …
2.3 Các lý thuyết liên quan đến đề tài
2.3.1 Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory)
Lý thuyết các bên liên quan là một lý thuyết về quản lý tổ chức và đạo đức kinh doanh trong việc quản lý một tổ chức Ban đầu nó được chi tiết bởi Edward (1984) với cách tiếp cận nhằm giải quyết “nguyên tắc ai hay cái gì cần quan tâm nhất” (principle
of who or what really counts) Theo đó, sự thành công của một tổ chức phụ thuộc vào mối quan hệ giữa nhà quản lý với các bên liên quan như nhà đầu tư, chủ nợ, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, Nhà nước và các đối tượng khác có liên quan đến việc
Trang 32đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Lý thuyết các bên liên quan không đưa ra một cách thức ưu việt để giải quyết quyền lợi cho nhóm này mà bỏ qua nhóm kia
Khi một doanh nghiệp đang trong thời gian được hưởng các ưu đãi về thuế TNDN thì xu hướng sẽ điều chỉnh lợi nhuận để thực hiện hành vi giảm thuế TNDN phải nộp đối với cơ quan quản lý thuế Tác giả vận dụng lý thuyết các bên có liên quan
để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến ưu đãi thuế TNDN đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty
2.3.2 Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs theory)
Chi phí chính trị là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu thông qua một hành vi mang tính chính trị từ tác động bên ngoài (như Nhà nước, nghiệp đoàn hay các nhóm cộng đồng)
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các quy định về pháp luật và thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một trong những động cơ thúc đẩy nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Khi số liệu kế toán dùng làm căn cứ tính thuế thì các biện pháp điều chỉnh lợi nhuận để giảm tiền thuế phải nộp (Nomem, 2003) hoặc tối thiểu hóa chi phí chính trị (Watts và Zimmerman, 1986) Hành vi này xảy ra khi công ty không có nhu cầu tài chính công, không cần thiết huy động vốn thông qua vay nợ hay phát hành chứng khoán
2.4 Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
2.4.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) số 12 và chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 17, thuế TNDN là toàn bộ số thuế thu nhập tính trên thu nhập chịu thuế thu nhập của doanh nghiệp, bao gồm chi phí thuế TNDN hiện hành và chi phí thuế TNDN hoãn lại khi xác định lợi nhuận hoặc lỗ của DN trong một kỳ, trong đó:
Trang 33- Chi phí thuế TNDN hiện hành: Là số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp (hoặc được hoàn lại) tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của năm hiện hành
- Chi phí thuế TNDN hoãn lại: Là phần thuế TNDN mà doanh nghiệp sẽ phải
nộp trong tương lai hoặc khoản thuế TNDN doanh nghiệp đã nộp trước tính trên các khoản chênh lệch tạm thời chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm hiện hành
2.4.2 Cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Sự khác biệt về khái niệm thu nhập tính thuế giữa kế toán và thuế xuất phát từ các khoản thu nhập và chi phí được xác định trên các cơ sở khác nhau Kế toán ghi nhận các khoản thu nhập, chi phí theo các chuẩn mực và sự lựa chọn các chính sách kế toán phù hợp với doanh nghiệp Còn cơ quan thuế xác định thu nhập tính thuế, chi phí hợp lệ dựa trên cơ sở các luật thuế Do sự khác biệt giữa thu nhập tính theo theo chuẩn mực kế toán và thu nhập tính thuế theo luật thuế
Luật thuế TNDN hiện hành quy định về số thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch Trường hợp doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế xác định theo năm tài chính
Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được xác định theo công thức sau:
Thuế TNDN
phải nộp =
(Thu nhập tính thuế
- Phần trích lập quỹ KH&CN (nếu có)) x
Thuế suất thuế TNDN
Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:
Thu nhập
tính thuế =
Thu nhập chịu thuế -
Thu nhập được miễn thuế +
Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định
Trang 34Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:
Thu nhập
chịu thuế = Doanh thu - Chi phí được trừ +
Các khoản thu nhập khác
Sự khác biệt về thu nhập tính thuế giữa kế toán và thuế là thông thường; tuy nhiên, các doanh nghiệp có thể dựa trên ý nghĩa thông thường của sự khác biệt này để điều chỉnh thu nhập làm giảm thuế TNDN phải nộp Ví dụ: Thời gian khấu hao của tài sản theo cơ sở kế toán và thuế có sự khác biệt, trong khi kế toán dựa vào thời gian tài sản có khả năng mang lại giá trị thì cơ quan thuế căn cứ vào khung thời gian tối đa quy định sẵn cho từng loại tài sản Điều này dẫn đến chi phí khấu hao theo kế toán và thuế
sẽ khác nhau và dẫn đến thu nhập tính thuế theo cơ sở kế toán và thuế sẽ khác nhau Dựa vào khác biệt này, trong giai đoạn được hưởng ưu đãi về thuế, sử dụng một số thủ thuật (chẳng hạn: Ước tính thời gian khấu hao tài sản dài hơn thời gian khấu hao theo
cơ sở do cơ quan thuế căn cứ…) doanh nghiệp sẽ làm cho lợi nhuận trong giai đoạn này ở mức tối đa có thể, và như vậy, thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp trong suốt quá trình hoạt động sẽ giảm đi Bởi thế, trong các giai đoạn ưu đãi thuế, hoặc chuẩn bị chuyển qua các giai đoạn ưu đãi thuế khác nhau hoặc sắp áp dụng mức thuế suất thuế TNDN khác nhau thì doanh nghiệp có xu hướng sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm giảm thuế TNDN phải nộp (Ajay Adhikari, Chek Derashid and Hao Zhang, 2005; Bing-Xuan Lin, Rui Lu and Ting Zhang, 2011)
2.4.3 Văn bản quy phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Chính sách thuế TNDN được hiểu là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thuế TNDN Hệ thống văn bản pháp luật (được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) bao gồm văn bản luật (Luật, Bộ Luật, Nghị quyết của Quốc hội) và văn bản dưới luật (Nghị quyết của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư….) Dưới đây là sơ đồ mô
tả về chính sách thuế TNDN:
Trang 35Hình 2.4.3 Sơ đồ mô tả về chính sách thuế TNDN
(Nguồn do tác giả tổng hợp)
STT Tên Văn bản Ngày hiệu lực
01 Luật
14/2008/QH12 01/01/2009 32/2013/QH13 01/01/2014 71/2014/QH13 01/01/2015
02 Nghị định
218/2013/NĐ-CP 15/02/2014 91/2014/NĐ-CP 15/11/2014 12/2015/NĐ-CP 01/01/2015
03 Thông tư
78/2014/TT-BTC 02/08/2014
119/2014/TT-BTC 01/09/2014 151/2014/TT-BTC 15/11/2014 96/2015/TT-BTC 06/08/2015
Trang 36Bảng 2.4.3 Bảng tổng hợp văn bản chính sách thuế TNDN
(Nguồn do tác giả tổng hợp) 2.5 Mối quan hệ giữa điều chỉnh thu nhập và thuế TNDN
Mối quan hệ giữa điều chỉnh thu nhập và thuế TNDN được thể hiện thông qua
ba khía cạnh:
- Thứ nhất: Thuế TNDN hoãn lại, chi phí thuế TNDN hoãn lại được sử dụng
như là một cách thức để thực hiện việc điều chỉnh thu nhập nhằm giữ cho thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính không biến động so với cùng kỳ, so với kế hoạch (Dan S.Dhaliwal, Cristi A.Gleason and Lillian F.Mills, 2004; Kevin Holland and Richard H.G Jackson, 2003; John D Phillips, Morton Pincus and Sonja O.Rego, 2003)
- Thứ hai: Thuế TNDN hoãn lại, chi phí thuế TNDN hoãn lại là tín hiệu cho biết
doanh nghiệp sử dụng điều chỉnh thu nhập hoặc các khoản lỗ nhỏ phát sinh từ hoạt động kinh doanh (John D.Phillips, Morton Pincus, Sonja O Rego and Huishan Wan, 2004; Jeri K.Seidman, 2010)
- Thứ ba: Trong các giai đoạn ưu đãi thuế, hoặc chuẩn bị chuyển qua các giai
đoạn ưu đãi thuế khác nhau hoặc sắp áp dụng mức thuế suất thuế TNDN khác nhau thì doanh nghiệp có xu hướng sử dụng điều chỉnh thu nhập (Ajay Adhikari, Chek Derashid and Hao Zhang, 2005; Bing-Xuan Lin, Rui Lu and Ting Zhang, 2012)
Như vậy, mối quan hệ giữa điều chỉnh thu nhập và thuế TNDN thông qua các nội dung của thuế TNDN (chi phí thuế, thuế TNDN hoãn lại, mức thuế suất, ưu đãi thuế) đã xác định
2.6 Một số mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích
2.6.1 Mô hình Healy (1985)
Healy là người đầu tiên phát triển mô hình tổng dồn tích Mô hình này sử dụng
Trang 37giá trị trung bình của tổng dồn tích trong suốt kỳ đo lường như một đại diện cho biến
kế toán dồn tích không thể điều chỉnh, vì thế biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được đo lường bằng chênh lệch giữa biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh và tổng dồn tích
Mô hình Healy (1985) cho rằng biến dồn tích không thể điều chỉnh (NDAt) là trung bình của tổng dồn tích các năm trước:
NDAt = ∑ 𝑡
𝑇𝐴𝑡 𝑇𝐴𝑡−1
𝑛
Theo mô hình Healy (1985), giá trị của các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDAt) được kỳ vọng bằng 0 nên khoản dồn tích có thể điều chỉnh (DAt) cũng chính là tổng dồn tích (TAt) tại một thời điểm Nếu giá trị của biến tổng dồn tích (TA) không bằng 0 thì đó là biểu hiện của hành vi quản trị lợi nhuận
𝐴𝑡−1
Trong đó:
n: là số năm trong kỳ tính toán
t: là năm nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận
NDAt: Biến dồn tích không thể điều chỉnh năm t
DAt: Biến dồn tích có thể điều chỉnh năm t
Trang 38Biến dồn tích không thể điều chỉnh thời kỳ t:
NDAt = α1 1
Trong đó: NDAt là biến dồn tích không thể điều chỉnh được năm t
𝛥𝑅𝐸𝑉𝑡 = Doanh thu thuần t - Doanh thu thuần t - 1
𝑃𝑃𝐸 𝑡: nguyên giá tài sản cố định hữu hình cuối năm t
𝐴 𝑡 − 1: Tổng tài sản cuối năm t-1
T: kỳ nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận
α1, α2, α3: các tham số đặc biệt của công ty được tính bằng ước lượng của phương pháp bình phương bé nhất thông qua mô hình sau ở kỳ ước tính:
ℇ: phần dư đại diện cho biến dồn tích có thể điều chỉnh
Trang 39Công thức tính DA như sau:
2.6.4 Mô hình Modified Jones (1995)
Dechow, Sloan và Sweeney (1995) đã cải tiến mô hình Jones (1991) bằng cách
bổ sung thêm biến sự thay đổi của tài khoản nợ phải thu (ΔRECt) Mô hình được phát triển nhằm khắc phục hạn chế của mô hình gốc trong việc xác định biến dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) khi nhà quản lý chi phối doanh thu Mô hình Jones được cải tiến như sau:
ΔRECt = Phải thu khách hàng t - Phải thu khách hàng t-1
Dechow, Sloan và Sweeney (1995) đã chỉ ra rằng mô hình Jones cải tiến có khả năng phát hiện ra hành vi quản trị lợi nhuận tốt hơn so với mô hình Jones và các mô hình khác trước đó Đồng thời, nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng hai mô hình Jones và Jones cải tiến cho kết quả đáng tin cậy về biến dồn tích có thể điều chỉnh (Guay, Kothari và Watts, 1996)
2.6.5 Mô hình Industry (1994)
Tương tự như mô hình Jones, mô hình ngành của Dechow và Sloan (1991) cũng loại bỏ giả thuyết về tính ổn định của biến dồn tích không điều chỉnh (NDA) theo thời gian Mô hình này giả định rằng biến động của các yếu tố quyết định đến NDA là giống nhau giữa các công ty trong cùng một ngành
Trang 40NDAt = γ1 + γ2medianI (TAt/At-1)
Trong đó: γ1, γ2 được ước lượng bằng cách sử dụng bình phương bé nhất trong
kỳ ước tính
2.6.6 Mô hình Friedlan (1994)
Mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986) Mô hình ra đời đã khắc phục được nhược điểm của mô hình DeAngelo (1986) Mô hình Friedlan (1994) giả định rằng sự thay đổi trong tổng dồn tích giữa hai kỳ kế toán là do
sự ảnh hưởng của hai nhân tố: (1) sự thay đổi do tăng trưởng, và (2) sự thay đổi do lựa chọn chính sách kế toán của công ty Mô hình Friedlan (1994) cụ thể như sau:
Biến dồn tích có thể điều chỉnh (DAt) = 𝐵𝑖ế𝑛 𝑑ố𝑛 𝑡í𝑐ℎ (𝑇𝐴)𝑡
𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡−1
Theo Friedlan, phần biến dồn tích có thể điều chỉnh (DA) chính là lợi nhuận được điều chỉnh
Mô hình Friedlan sử dụng doanh thu đại diện cho mức độ hoạt động của công ty
để kiểm soát sự thay đổi của khoản tổng dồn tích qua hai năm Tuy nhiên, doanh thu không thể đại diện hết cho mức độ hoạt động của công ty Hơn nữa, doanh thu có thể bị tác động thông qua doanh thu chưa thu tiền Do đó, việc đo lường theo mô hình này sẽ không còn chính xác
Sau khi xác định phần biến dồn tích có thể điều chỉnh, tùy thuộc vào kết quả tính toán các nhà nghiên cứu có thể đưa ra kết luận:
Nếu:
DAt > 0: Điều chỉnh tăng lợi nhuận
DAt < 0: Điều chỉnh giảm lợi nhuận
DAt = 0: Không điều chỉnh lợi nhuận