1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh cà mau, giai đoạn 2019 2025

105 69 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước sức cạnh tranh của sản phẩm tôm trên thế giới ngày càng gay gắt và nguồn tôm nguyên liệu đôi lúc thiếu hụt, làm cho cụm ngành tôm của tỉnh Cà Mau nói riêng và nguồn tôm Việt Nam đố

Trang 1



NGUYỄN QUỐC THANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỤM NGÀNH TÔM TỈNH CÀ MAU,

GIAI ĐOẠN 2019 - 2025

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 2



NGUYỄN QUỐC THANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỤM NGÀNH TÔM TỈNH CÀ MAU,

GIAI ĐOẠN 2019 - 2025

Chuyên ngành : Quản lý công

Mã số : 8340403

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐINH CÔNG KHẢI

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Số liệu và các thông tin tham khảo được sử dụng trong bài viết đều được trích dẫn, dẫn nguồn chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi

Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 20 tháng 02 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Quốc Thanh

Trang 4

Trước sức cạnh tranh của sản phẩm tôm trên thế giới ngày càng gay gắt và nguồn tôm nguyên liệu đôi lúc thiếu hụt, làm cho cụm ngành tôm của tỉnh Cà Mau nói riêng và nguồn tôm Việt Nam đối mặt với nhiều vấn đề nan giải, tác động rất lớn đến đầu vào và đầu ra trên thị trường tôm thế giới Chính vì vậy, cụm ngành tôm trong tỉnh phải có khả năng đáp ứng và thích nghi nhanh chóng với yêu cầu người tiêu dùng và rào cản thị trường nhập khẩu ngày càng cao Hiện nay, cụm ngành tuy có phát triển những vẫn bộc lộ hạn chế, có dấu hiệu tụt dốc khi nhiều công ty chế biến trong tỉnh đôi lúc ngưng hoạt động Vì vậy, việc nghiên cứu cụm ngành tôm sú xuất khẩu trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết để tìm ra nguyên nhân và giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành

Với mục đích nghiên cứu như trên, tác giả đã dùng lý thuyết kết hợp cụm ngành của Michael Porter và chuỗi giá trị của Kaplinsky được soạn thảo bởi Vũ Thành Tự Anh để xét cụm ngành theo chiều ngang và chuỗi theo chiều dọc Qua khảo sát, nghiên cứu, cho thấy cụm ngành còn kém do các thành phần chưa phát triển đồng bộ, một số ngành hỗ trợ mới xuất hiện nên vai trò tương tác chưa cao Khi xem xét chuỗi giá trị, cho thấy ngành chế biến của tỉnh chỉ mới hoạt động và giữ vị trí chủ đạo ở bốn hoạt động chính trong chuỗi là: cung cấp nguyên liệu, chế biến, hậu cần xuất khẩu và marketing - quảng bá thương hiệu Vì vậy, các doanh nghiệp chưa thể khai thác các hoạt động có giá trị gia tăng cao của chuỗi như cung cấp con giống, thức ăn tôm và hệ thống bán buôn, bán lẻ

Bên cạnh đó, mối liên kết giữa doanh nghiệp chế biến, người nuôi và nhà khoa học chưa chặt chẽ; trở thành nguyên nhân cốt yếu cản trở cụm ngành phát

Trang 5

triển vì thiếu sự tương hỗ chặt chẽ giữa các thành phần Các giao dịch thương mại đều do cơ chế kinh tế thị trường quyết định, nên khi có khó khăn, các thành phần riêng lẻ tự bảo vệ quyền lợi riêng của mình và bỏ mặc các thành phần còn lại Hậu quả là hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền, thành phần này suy yếu nên chính nó đánh mất vai trò tương tác và hỗ trợ các thành phần khác, các thành phần khác cũng rơi vào khủng hoảng và suy yếu lan dần trong cụm ngành

Chính quyền địa phương đóng vai trò khá tích cực trong việc tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nuôi trồng, khuyến nông khuyến ngư Tuy nhiên, hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng, hệ thống thủy lợi còn kém do thiếu vốn đầu tư, tính liên kết giữa ba thành phần nông dân, doanh nghiệp và nhà khoa học còn lỏng lẻo Hiện nay, tỉnh có một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ở một số vùng nuôi trồng được qui hoạch Vì vậy, chính sách của tỉnh cần ưu tiên khắc phục các nhược điểm để thúc đẩy cụm ngành phát triển tốt

Từ đó, tác giả đề xuất các chính sách và biện pháp khắc phục các mặt hạn chế của cụm ngành, xoay quanh vai trò hỗ trợ của nhà nước trong việc nâng cấp cơ

sở hạ tầng cho vùng nuôi, hệ thống kênh thủy lợi để cung cấp nước tốt cho mùa vụ Ngoài ra, tỉnh cần chú trọng đến cơ sở hạ tầng xuất khẩu, giao thông Tỉnh cần thúc đẩy công tác của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng công nghệ tiên tiến; hướng dẫn quy trình kỹ thuật nuôi, an toàn, hiệu quả, hạn chế rủi ro, phòng ngừa dịch bệnh, bảo vệ môi trường; phối hợp với các đơn vị, tổ chức có liên quan hỗ trợ tổ chức lại sản xuất, xây dựng chuỗi liên kết theo hướng ổn định bền vững Vai trò của Sở Tài nguyên và Môi trường là quản

lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, đất

Bản thân cũng quan tâm đặc biệt đến mối liên kết rời rạc trong cụm ngành và

đề xuất lãnh đạo tỉnh tìm cách tuyên truyền cho các tác nhân nhận thức đúng vai trò

và ảnh hưởng tích cực giữa các thành phần trong cụm ngành Từ đó, đưa ra chính sách phù hợp để khắc phục nhược điểm

Trang 6

Before the competitiveness of shrimp products in the world is getting fiercer and sources of raw shrimp is sometimes deficient, making clusters shrimp industry

of Ca Mau province in particular and the source of shrimp Vietnam faces many difficult problems, impact significantly on the input and output on the world shrimp market Therefore, the shrimp industry clusters in the province must be able to respond and adapt quickly to the requirements of consumers and market barriers to increasing imports Currently, the industry cluster development but have limited but still revealing, signs of slowdown when many processing firms in the province sometimes stop working Therefore, the research cluster prawn export sector in the current context is very necessary to find the causes and effective solutions to enhance the competitiveness of the industry cluster

For research purposes as above, the authors used the combined cluster theory

of Michael Porter and the industry's value chain Kaplinsky was drafted by Vu Thanh Tu Anh to consider cluster horizontally and industry vertical chain Through surveys and research, shows an industry still low due to components not developed synchronously, some emerging industries should support interactive role is not high When considering the value chain, shows the processing industry of the province just operate and hold leadership positions, in four main activities in the series are: supply of raw materials, processing, export logistics and marketing - promotion trademark Therefore, enterprises can not exploit the activities of high value-added supply chain as seed, feed and system shrimp wholesale and retail

Besides, the link between the processing enterprises, farmers and scientists are not tight; become essential causes hinder cluster development sector because of

Trang 7

lack of strict reciprocity between components Transactions by commercial market mechanisms and economic decisions, so when there are difficulties, the individual components protect its own interests and neglect the rest Consequently, the effect broken lines, components weakened should itself lose roles interact and support other components, other components also fell into crisis and weakening gradually spread in the cluster industry

Local government plays a positive role in creating conditions to promote development of aquaculture, agricultural extension However, the base system infrastructure, irrigation systems is poor due to lack of investment capital and cohesion between the three components of farmers, businesses and scientists still loose Currently, the province has a number of investment projects in infrastructure

in some farming areas is planned So provincial policy priorities to overcome the disadvantages to promote cluster development industry well

Since then, the authors propose policies and measures to overcome the drawbacks of industries, and revolves around the supporting role of the state in upgrading infrastructure for farming, system irrigation canals to good water supply for the season In addition, the province should focus on export infrastructure, traffic The province should promote the work of the Department of Agriculture and Rural Development and research organizations transfer and application of advanced technologies; guide technical procedures, safety, efficiency, limit risks, disease prevention, environmental protection; coordination with other units and organizations concerned to support the reorganization of production, build link chain towards sustainable stability The role of the Department of Natural Resources and Environment is to manage and control water pollution, soil

Themselves also special attention to linkages in terms of discrete sectors and provincial leaders proposed seeks to promote the right perception agent role and positive influence between components in the industry cluster From that, given appropriate policies to overcome the drawbacks

Trang 8

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC TỪ CHUYÊN NGÀNH

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC PHỤ LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1- GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Khung phân tích 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Phạm vi nghiên cứu 4

1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn 4

CHƯƠNG 2- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 2.1 Lý thuyết về khung phân tích kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị 5

2.1.1 Khái niệm về cụm ngành 5

2.1.2 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu 5

2.1.3 Đường cong nụ cười 6

2.1.4 Cách tiếp cận kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị 7

2.2 Khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter 8

2.3 Phương pháp CCED 9

CHƯƠNG 3- PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH TÔM SÚ TỈNH CÀ MAU 9

3.1 Quá trình hình thành và lịch sử phát triển của cụm ngành 11

3.2 Phân tích bốn yếu tố cạnh tranh cụm ngành tôm theo mô hình kim cương 14

Trang 9

3.2.1 Điều kiện tự nhiên và nhân tố đầu vào 14

3.2.2 Điều kiện cầu 19

3.2.3 Trình độ phát triển của cụm ngành 23

3.2.3.1 Mạng lưới cung cấp nguyên liệu 23

3.2.3.2 Các doanh nghiệp chế biến 26

3.2.3.3 Mạng lưới hậu cần xuất khẩu 27

3.2.3.4 Marketing và thương hiệu 28

3.2.3.5 Ngành sản xuất tôm giống 23

3.2.3.6 Ngành thuốc - Thức ăn cho tôm 28

3.2.3.7 Ngành bao bì thực phẩm 32

3.2.3.8 Các ngành phụ gia, máy móc chế biến và hóa chất 32

3.2.3.9 Hạ tầng giao thông, vận tải, hậu cần 32

3.2.3.10 Hạ tầng thương mại, xuất nhập khẩu 33

3.2.4 Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức hỗ trợ đối với ngành tôm 36

3.2.4.1 Chi cục Thủy lợi 36

3.2.4.2 Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Cà Mau 36

3.2.4.3 Công ty bảo hiểm 37

3.2.4.4 Ngân hàng, các tổ chức tín dụng 38

3.2.4.5 Hiệp hội thủy sản 39

3.2.4.6 Trường Cao Đẳng Cộng đồng và Trường Đại học Bình Dương 40

3.2.5 Bối cảnh cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 40

3.2.5.1 Bối cảnh cạnh tranh trong nước 40

3.2.5.2 Chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp 41

3.2.5.3 Bối cảnh cạnh tranh thị trường toàn cầu 42

3.3 Mối liên kết giữa cụm ngành và chuỗi giá trị 48

3.4 Đo lường các nhân tố cạnh tranh của cụm ngành tôm Cà Mau so với cụm ngành tôm Thái Lan 51

CHƯƠNG 4- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 54

4.1 Kết luận 54

4.2 Kiến nghị chính sách 52

Trang 10

4.2.1 Điều kiện cầu và bối cảnh cạnh tranh 54

4.2.2 Các thảo luận và chính sách đối với cụm ngành 56

4.2.2.1 Mạng lưới cung cấp nguyên liệu 56

4.2.2.2 Ngành sản xuất tôm giống 57

4.2.2.3 Bảo hiểm tôm 57

4.2.2.4 Hệ thống thủy lợi 58

4.2.2.5 Thức ăn và thuốc cho tôm 58

4.2.2.6 Cụm ngành và chuỗi giá trị 58

4.2.3 Vai trò của các tổ chức hỗ trợ 58

4.2.4 Điều kiện đầu vào 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CN-BCN Công nghiệp - bán công nghiệp

Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

chain

Chuỗi giá trị toàn cầu

HOSO Head on shell on Đầu và đuôi nguyên vẹn

HLSO Headless shell on Phần đầu đã mất và phần thân (vỏ)

còn nguyên vẹn

ISO International

Organization for Standardization

Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá

Raw - PTO Raw – Peel tail

TTKNKN Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư

Trang 12

DANH MỤC TỪ CHUYÊN NGÀNH

1 HACCP: Phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn an toàn thực phẩm, đây là một hệ thống phân tích các mối nguy về an toàn thực phẩm và từ đó đưa ra các điểm kiểm soát tới hạn (giới hạn an toàn ở mức thấp nhất của các mối nguy để đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng)

2 Nhờ thu và LC: Hai hình thức thanh toán tiền tệ quốc tế cho hai bên giao dịch giữa hai ngân hàng ở hai nước khác nhau

3 Post: Tôm con (giống)

4 1 pound (viết tắt là: 1bl, 1bl= 453,6g): là đơn vị khối lượng theo hệ thống

đo lường của Mỹ

5 Hội chứng tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome - EMS): Là một dạng bệnh mới của tôm đã được phát hiện ở các trang trại nuôi tôm ở Châu Á Bệnh xuất hiện trong vòng 30 ngày sau khi thả giống và gây ra các triệu chứng lờ đờ, vỏ mềm sậm lại và phần đầu, ngực của tôm bị đốm vằn Các tác động sinh lý học của bệnh EMS xuất hiện ở gan tụy Ở giai đoạn cuối, bệnh gây chết cao, sự nhiễm khuẩn phái sinh tiếp tục gây tổn thương gan tụy

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 2-1 Đường cong nụ cười 6

Hình 2-2 Mô hình kim cương của Michael Porter 8

Hình 2-3 Sơ đồ kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị xuất khẩu tôm sú 10

Hình 3-1 Diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Cà Mau so với các vùng trong nước 11

Hình 3-2 Giá trị xuất khẩu thủy sản Cà Mau 12

Hình 3-3 GDP thủy sản so với GDP tổng của tỉnh 12

Hình 3-4 Sản lượng tôm nuôi của Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng 12

Hình 3-5 Sản lượng thủy sản các tỉnh ĐBSCL 13

Hình 3-6 Bản đồ vị trí địa lý và mối quan hệ liên vùng tỉnh Cà Mau 47

Hình 3-7 Bản đồ tỉnh Cà Mau 14

Hình 3-8 Lao động trong ngành thủy sản tỉnh Cà Mau 17

Hình 3-9 Thị trường nhập khẩu tôm tháng 4 năm 2017 19

Hình 3-10.Tiêu chuẩn cảm quan thành phẩm khách hàng Mỹ 20

Hình 3-11 Bảng giá mua tôm sú vỏ nguyên liệu 22

Hình 3-12 Một số chứng nhận chất lượng được yêu cầu 28

Hình 3-13 Diễn biến giá tôm sú nguyên liệu năm 2017 38

Hình 3-14 Phân tích chi phí từng công đoạn của qui trình chế biến tôm Raw – PTO 42

Hình 3-15 Các quốc gia đứng đầu về xuất khẩu tôm sang thị trường Mỹ 43

Hình 3-16 Việt Nam xuất khẩu tôm sang Mỹ năm 2016 - 2017 44

Hình 3-17 Việt Nam xuất khẩu tôm sang Úc năm 2016 – 2017 46

Hình 3-18 Môi trường kinh doanh ở tỉnh Cà Mau theo mô hình kim cương của Porter 45

Hình 3-19 Chuỗi giá trị tôm sú Raw PD-IQF xuất khẩu 45

Hình 3-20 Các nhân tố điều kiện đầu vào 51

Hình 3-21 Các nhân tố điều kiện cầu 51

Hình 3-22 Chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp 52

Hình 3-23 Các ngành hỗ trợ và vai trò của chính phủ 52

Trang 14

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp giá thuốc chuyên dùng cho tôm trên địa bàn tỉnh Cà Mau 30 Bảng 3.2 Tổng hợp giá thức ăn nuôi tôm sú trên địa bàn tỉnh Cà Mau 31 Bảng 3.3 Các trạm biến áp thuộc đường dây 110kV trên địa bàn tỉnh Cà Mau 314 Bảng 3.4 Các nước cung cấp tôm hàng đầu cho EU năm 2013-2017 45 Bảng 3.5 Quan hệ liên kết dọc trong chuỗi giá trị tôm sú xuất khẩu 49

Trang 15

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 - Diện tích mặt nước nuôi trồng so với cả nước 62

Phụ lục 2 - Sản lượng tôm nuôi của ba tỉnh qua các năm 62

Phụ lục 3 - Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm 63

Phụ lục 4 - Lượng mưa các tháng trong năm 63

Phụ lục 5 - GDP của thủy sản so với tổng GDP của tỉnh Cà Mau 62

Phụ lục 6 - Lao động ngành thủy sản trong tổng số lao động của tỉnh 62

Phụ lục 7- Tiêu chuẩn chất lượng thành phẩm khách hàng Mỹ 63

Phụ lục 8 - Danh mục chỉ tiêu hóa học (kháng sinh) chỉ định kiểm nghiệm đối với lô hàng thủy sản 65

Phụ lục 9- Danh mục chỉ tiêu vi sinh chỉ định kiểm tra đối với lô hàng thủy sản 68

Phụ lục 10- Phiếu phân tích kháng sinh 71

Phụ lục 11- Bảng giá mua tôm sú vỏ nguyên liệu 72

Phụ lục 12- Kết quả xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông tỉnh Cà Mau 72

Phụ lục 13- Sản phẩm phục vụ nuôi tôm công nghiệp chủ yếu của Cà Mau 72

Phụ lục 14- Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ nông dân 73

Phụ lục 15- Bảng câu hỏi phỏng vấn thương lái/doanh nghiệp mua tôm nguyên liệu 76

Phụ lục 16- Bảng câu hỏi phỏng vấn doanh nghiệp chế biến xuất khẩu 78

Phụ lục 17- Danh sách nông dân được phỏng vấn 80

Phụ lục 18- Danh sách thương lái/doanh nghiệp mua tôm nguyên liệu được phỏng vấn 80

Phụ lục 19- Danh sách doanh nghiệp chế biến được phỏng vấn 80

Phụ lục 20- Danh sách chính quyền tỉnh, Sở ban ngành được phỏng vấn 81

Phụ lục 21- Bảng đo lường nhân tố cạnh tranh trong mô hình kim cương của Porter 81

Phụ lục 22- Bảng câu hỏi đánh giá các nhân tố 83

Phụ lục 23- Danh sách chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp được phỏng vấn 85

Phụ lục 24- Bảng kết quả đánh giá các nhân tố cạnh tranh 86

Trang 16

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Cà Mau có tiềm năng, lợi thế rất lớn về phát triển thuỷ sản, đặc biệt là nuôi tôm, với ba mặt giáp biển, chiều dài bờ biển trên 254 km, có trên 80 cửa sông thông

ra biển chịu ảnh hưởng bởi hai chế độ triều đặc trưng của vùng Biển Đông và Biển Tây Phần lớn diện tích đất tỉnh Cà Mau đều có nguồn nước với chất lượng khá tốt, đáp ứng cho nhu cầu phát triển nuôi tôm Theo số liệu điều tra, tính đến đầu năm

2017, tỉnh Cà Mau có trên 300.000 ha nuôi trồng thuỷ sản, trong đó diện tích nuôi tôm nước lợ trên 278.000 ha với nhiều loại hình nuôi như: siêu thâm canh, thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến, quảng canh kết hợp Cà Mau hiện có 24 doanh nghiệp, 32 nhà máy chế biến tôm xuất khẩu với công suất trên 200.000 tấn thành phẩm/năm và hệ thống dịch vụ phục vụ nghề nuôi tôm phát triển khá mạnh; lực lượng cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản khá đông đảo; nguồn

lao động trong ngành tôm hiện chiếm tỷ lệ khá cao (trên 300.000 lao động)

Tuy nhiên, trong thời gian qua, cụm ngành tôm Cà Mau phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức như: ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; kết cấu hạ tầng phục vụ cho nuôi tôm chưa đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất; dịch bệnh trên tôm nuôi vẫn còn xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại không nhỏ cho người nuôi; môi trường nuôi tôm ngày càng ô nhiễm; đất đai bị bạc màu; tổ chức sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa có sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; chất lượng sản phẩm còn hạn chế, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, giá cả còn bấp bênh, sản phẩm làm ra chưa đáp ứng nhu cầu thị trường; nguồn nhân lực chưa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất; việc tiếp nhận, ứng dụng các quy trình kỹ thuật nuôi tôm còn hạn chế Quan trọng là việc xuất khẩu mặt hàng tôm Cà Mau còn nhiều thách thức như: sự gia tăng các rào cản kỹ thuật, thương mại

và an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc của các nhà nhập khẩu ngày càng cao;

sự cạnh tranh gay gắt của các nước đối thủ

Trang 17

Tại Hội nghị phát triển ngành tôm Việt Nam năm 2017, đã xác định rõ mục tiêu “Phát triển ngành tôm Việt Nam tiến lên thành ngành công nghiệp sản xuất quy

mô lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường”, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh về sản phẩm tôm Việt Nam; trong đó, tỉnh Cà Mau với định hướng xây dựng quy hoạch phát triển thành một trong những vựa tôm lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước; phấn đấu đến năm 2021 xuất khẩu tôm đạt 02 tỷ USD Vì thế, việc nghiên cứu đề

tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh Cà Mau, giai đoạn

2019 - 2025” là cần thiết và cấp bách Qua đó, xác định đúng các yếu tố ảnh hưởng

năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh và đề xuất, khuyến nghị những chính sách, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh Cà Mau; góp phần vào

sự phát triển bền vững của cụm ngành tôm, mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và kinh tế của tỉnh nhà

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung tìm hiểu nguyên nhân khiến cụm ngành tôm của tỉnh Cà Mau,

dù hội tụ các điều kiện về tự nhiên, địa hình, khí hậu cùng với định hướng, chủ trương của Tỉnh nhưng vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trên cơ sở vận dụng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh (NLCT) của Michael E Porter để đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành tôm của Tỉnh, từ đó xác định những bất cập trong sự phát triển, và đề xuất định hướng, chiến lược nhằm phát triển đồng bộ, nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2019 - 2025

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh Cà Mau?

Những chính sách và giải pháp nào cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh Cà Mau?

1.4 Khung phân tích

Trang 18

Khung phân tích được sử dụng là mô hình kim cương của Michael Porter là chủ yếu Tác giả đặt cụm ngành vào vị trí trung tâm và xem xét bốn yếu tố của mô hình tác động đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành như thế nào

Dùng lý thuyết kết hợp cụm ngành với chuỗi giá trị để đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành trong thị trường sản xuất trong nước và thế giới

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo phương pháp định tính, dựa trên mô hình kim cương của Michael E.Porter Phân tích số liệu thống kê cùng với kết quả phỏng vấn

từ hộ dân nuôi tôm; các doanh nghiệp, cơ sở thu mua; các doanh nghiệp chế biến; các cơ quan chuyên môn và những nhà làm chính sách cấp Tỉnh để tìm ra nguyên nhân khiến cho cụm ngành tôm tỉnh Cà Mau chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Từ đó, đưa ra các giải pháp tháo gỡ những tồn tại, bất cập nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành tôm tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2019 - 2025

Phương pháp phân tích mô tả, tổng hợp, so sánh dựa trên số liệu thu thập được Phân tích dữ liệu thứ cấp của đề tài được tổng hợp số liệu từ Niên giám Thống kê của tỉnh Cà Mau, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Cà Mau, Chi cục Thủy lợi, Hội Thủy sản tỉnh Cà Mau, các cơ quan liên quan và sách báo, tạp chí

Phân tích dữ liệu sơ cấp: phỏng vấn từ hộ dân nuôi tôm; các doanh nghiệp, cơ

sở thu mua; các doanh nghiệp chế biến; các cơ quan chuyên môn và những nhà làm chính sách cấp Tỉnh

Bước 1: Phỏng vấn doanh nghiệp chế biến trong tỉnh quanh những vấn đề khó

khăn hiện nay về khả năng sản xuất, tình hình biến động của thị trường cùng chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp và chính quyền địa phương có chính sách tác động gì?

Bước 2: Phỏng vấn hộ nông dân nuôi tôm về các khó khăn liên quan quy trình

kĩ thuật nuôi, tình hình biến động giá cả Tình hình tiếp cận chính sách hỗ trợ vay vốn của chính quyền địa phương và tính liên kết giữa “3 nhà” nhà nuôi tôm, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp

Trang 19

Bước 3: Phỏng vấn chính quyền tỉnh và cấp xã của tỉnh Cà Mau Sở, ban, ngành và chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ gì để thúc đẩy cụm ngành tôm phát triển

1.6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cụm ngành tôm sú xuất khẩu, phạm vi nghiên cứu là địa bàn tỉnh Cà Mau, giai đoạn từ năm 2.002 đến nay

1.7 Cấu trúc dự kiến của luận văn

Luận văn gồm 4 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài; Chương 2

sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của đề tài; Chương 3 tập trung phân tích môi trường kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành Chương cuối cùng nêu đề xuất kiến nghị chính sách và kết luận các vấn đề của luận văn

Trang 20

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

1.1 Lý thuyết về khung phân tích kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị

1.1.1 Khái niệm về cụm ngành

Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của một nhóm công ty và các thể chế liên quan, được nối kết với nhau bởi sự tương đồng và tương hỗ Phạm vi địa lý của một cụm ngành có thể là một thành phố, một vùng, một quốc gia hay có thể là một nhóm các quốc gia1 Cấu trúc của cụm ngành rất đa dạng gồm: Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng, các doanh nghiệp ở thượng nguồn và hạ nguồn, các doanh nghiệp cung ứng chuyên biệt, các đơn vị cung cấp dịch vụ và các ngành liên quan về sản xuất, công nghệ, quan hệ khách hàng, các thể chế hỗ trợ (tài chính, giáo dục, nghiên cứu và cơ sở hạ tầng)2

Cụm ngành ra đời và phát triển sẽ giúp cho các doanh nghiệp gia tăng ưu thế cạnh tranh nhờ vào khả năng thúc đẩy đổi mới, gia tăng năng suất và thúc đẩy thương mại hóa cũng như tạo cơ hội cho doanh nghiệp mới ra đời3 Cụm ngành gia tăng năng suất bằng cách tăng tiếp cận với các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, dịch

vụ, thông tin, kĩ năng, lao động …), giảm chi phí giao dịch, tăng động cơ và năng lực cạnh tranh, tăng sức ép đổi mới và nhu cầu chiến lược phân biệt hóa sản phẩm Cụm ngành tăng cường khả năng đổi mới nhờ sự hiện hữu của nhiều nhà cung ứng, các chuyên gia hàng đầu và các thể chế hỗ trợ Ngoài ra, cụm ngành phát triển thúc đẩy cơ hội đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường Cụm ngành khuyến khích các doanh nghiệp mới ra đời trong hệ thống cụm ngành nhờ các nguồn lực về tài chính

và kĩ năng, các mối quan hệ thương mại và sự gia tăng nhu cầu

1.1.2 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu

Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ các hoạt động cần thiết của một chu trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ từ các giai đoạn nghiên cứu đến các giai đoạn trong quá

1 Vũ Thành Tự Anh (2012, tr.11)

2 Porter, 2008, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012

3 Porter, 2008, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012

Trang 21

trình sản xuất, phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối, sau cùng là xử lý rác thải sau sử dụng4 Nếu một chuỗi giá trị sản phẩm có hoạt động diễn ra qua nhiều nước trên phạm vi toàn cầu thì được gọi là chuỗi giá trị toàn cầu, là chuỗi cho phép các công đoạn của nó được thực hiện tại các địa điểm, quốc gia khác nhau với hiệu quả cao nhất và chi phí thấp nhất Cấu trúc của một chuỗi giá trị điển hình rất phức

tạp, thường có bốn phân khúc: Thiết kế, sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng và tái chế

1.1.3 Đường cong nụ cười

Mức độ phân bố giá trị các khâu trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) của một

số mặt hàng được các nhà nghiên cứu mô phỏng qua dạng Parabol ngửa (còn gọi là đường cong nụ cười) như mô hình bên dưới:

Hình 0-1 Đường cong nụ cười

Nguồn: Vũ Thành Tự Anh, Lý thuyết kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị

(2012, tr.30)

4 Kaplinsky, 2000, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012

Trang 22

Theo mô hình trên, các khâu trong chuỗi có giá trị cao là các khâu thiết kế và khâu tiêu thụ Mục tiêu của các doanh nghiệp và các quốc gia là dịch chuyển sản xuất từ các khâu có giá trị thấp (ở giữa đường cong) sang các khâu có giá trị cao (hai bên của đường cong) Đây là một mục tiêu khó đạt được trong thời gian ngắn vì khâu thiết kế đòi hỏi nhiều kiến thức và thông tin, trong khi khâu tiêu thụ khá phức tạp gồm nhiều hoạt động khác nhau như: Thiết kế kênh tiêu thụ, chiến lược giá cả, quảng bá…

Các quốc gia khi tham gia vào chuỗi giá trị cần định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh để dịch chuyển lên các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn hoặc phòng bị để không bị loại ra khỏi chuỗi mà họ tham gia

1.1.4 Cách tiếp cận kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị

Hai cách tiếp cận cụm ngành và chuỗi giá trị dường như mâu thuẫn nhau nếu

ta xét riêng lẻ chúng Vì cụm ngành nhấn mạnh đến vai trò tương tác giữa các công

ty và thể chế ở địa phương, trong khi chuỗi giá trị lại xem xét tương tác giữa các thành viên trong chuỗi trên khắp thế giới

Tuy nhiên, nếu kết hợp hai cách tiếp cận này thì chúng có thể bổ sung ưu điểm và bổ khuyết cho nhau Cụ thể, các doanh nghiệp trong cụm ngành phải tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phụ thuộc vào các doanh nghiệp nhập khẩu và người mua toàn cầu trong khi các lý thuyết về cụm ngành không đề cập đến sự tương tác với môi trường bên ngoài Ngược lại, các thành viên trong chuỗi giá trị đều chịu tác động trực tiếp của các nhân tố địa phương như môi trường cạnh tranh, thị trường lao động, cơ sở hạ tầng sản xuất và giao thông công cộng nhưng lý thuyết chuỗi bỏ qua những tương tác này

Cách kết hợp trên giúp cho các nhà nghiên cứu có tầm nhìn tổng quan, xem xét sự hỗ trợ giữa các thành phần trong cụm ngành, định hướng doanh nghiệp tiến

xa hơn về hai đầu của đường cong nụ cười, tiếp cận các hoạt động trong chuỗi có giá trị gia tăng cao Đây là một công cụ hiệu quả để nâng cấp hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh toàn cầu

Trang 23

1.2 Khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter

Hình 0-2 Mô hình kim cương của Michael Porter

Nguồn: Porter (2008, tr.227)

Bốn thuộc tính của một quốc gia định hình môi trường kinh doanh và tạo thành liên kết “hình thoi” là: Điều kiện về yếu tố sản xuất, các điều kiện cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa (Hình 2-2)

Các điều kiện về yếu tố sản xuất gồm: Vị trí địa lý, nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất, nguồn kiến thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng Doanh nghiệp một nước được lợi thế cạnh tranh khi các yếu tố sản xuất tạo điều kiện thuận lợi với chi phí thấp và chất lượng cao5

Các điều kiện cầu gồm: Kết cấu, quy mô và hình mẫu tăng trưởng của cầu trong nước, mức độ đòi hỏi của khách hàng, cầu trong nước dự báo cầu ở các thị trường tiêu thụ Nếu cầu trong nước chậm phản ứng với những nhu cầu mới ở

5 Porter (2008)

Trang 24

nước khác thì các công ty nội địa sẽ bất lợi vì các quốc gia khác thích nghi sớm hơn

và dễ dàng chiếm lĩnh thị trường với ưu thế thay đổi và hoàn thiện chất lượng sản phẩm trước

Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc gia6 Điển hình như Thụy Điển lớn mạnh về sản phẩm thép chế tạo (vòng bi và máy cắt) nhờ vào sự phát triển của các ngành thép đặc biệt Porter cũng nêu trong “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” rằng lợi ích của các ngành phụ trợ nằm trong quá trình đổi mới và cải tiến Mối quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất giúp cho các công ty áp dụng các phương pháp và công nghệ mới từ nhà cung cấp địa phương Ngược lại, các công ty ảnh hưởng đến nỗ lực cải tiến kĩ thuật công nghệ của nhà cung cấp và trở thành người kiểm tra đầu ra sản phẩm

Nhân tố có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành là chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa Cụ thể, đó là hoàn cảnh mà các công ty được hình thành, tổ chức và quản lý cũng như bản chất cạnh tranh trong nước7 Ví dụ các công ty Ý đứng hàng đầu thế giới trong nhiều ngành bị phân đoạn, như: Đèn chiếu sáng, đồ nội thất, giày Công ty Ý cạnh tranh với chiến lược phân biệt hóa sản phẩm và chọn thị trường chuyên biệt, nhỏ với phong cách riêng của mình Cạnh tranh nội địa buộc công ty giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và sáng tạo quá trình sản xuất mới với công nghệ cải tiến

1.3 Phương pháp CCED

Tác giả sử dụng phương pháp CCED trong nghiên cứu về Phát triển kinh tế thành phố dựa vào cụm ngành (Cluster –based City Economic Development), một

hệ thống gồm 39 nhân tố để đo lường năng lực cạnh tranh của cụm ngành ở Châu

Á8 Các nhân tố được chia thành 5 nhóm theo mô hình kim cương của Porter: Các điều kiện về nhân tố sản xuất, các điều kiện cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ có

Trang 25

liên quan, chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh, vai trò của chính quyền9 Tác giả lấy ý kiến đánh giá mức độ cạnh tranh của 39 nhân tố theo thang điểm từ 1 đến

5 (thang đo Likert) từ một số chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp Nếu điểm trung bình tổng lớn hơn 3,75 thể hiện cụm ngành rất mạnh và có sức cạnh tranh quốc tế; điểm 3,0 cho thấy cụm ngành có sức cạnh tranh trong nước; điểm 2,5 chứng tỏ cụm ngành nhỏ, mới nổi và mạnh trong một vùng; điểm 2,0 trở xuống thể hiện cụm ngành yếu và mới được hình thành

Tốt Khá Trung bình Kém

Hình 0-3 Sơ đồ kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị xuất khẩu tôm sú

Nguồn: Tác giả tự vẽ

Chú thích:

Cụm ngành tôm sú xuất khẩu: Các thành phần trong khung gạch nối màu đỏ

Chuỗi giá trị tôm sú xuất khẩu: Các thành phần trong khung gạch nối màu xanh

9 Phụ lục 21

Trang 26

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH TÔM SÚ TỈNH CÀ MAU

3.1 Quá trình hình thành và lịch sử phát triển của cụm ngành

Hình 3-1 Diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Cà Mau

so với các vùng trong nước

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Cà Mau

Cụm ngành ban đầu hình thành từ điều kiện đất đai và khí hậu rất thích hợp với tôm sú (tên khoa học là: Penaeus monodon) Diện tích mặt nước nuôi Cà Mau

và Bạc Liêu cao nhất so với các vùng khác trong cả nước Diện tích nuôi của Cà Mau là 300,5 nghìn hecta (ha); Bạc Liêu có 126,9 nghìn ha và Sóc Trăng là 68,4 nghìn ha Diện tích mặt nước ưu ái cho nuôi trồng thủy sản nên vùng có nguồn thủy sản dồi dào cung cấp cho việc chế biến xuất khẩu Thiên nhiên ưu ái ngành tôm sú xuất khẩu và cụm ngành đã phát triển công nghệ ở trình độ cao tại ba tỉnh này Ban đầu, ngành thủy sản chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu rất

ít Cụm ngành tôm Cà Mau cũng như ngành chế biến thuỷ sản xuất khẩu các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bắt đầu phát triển khi nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh ở các thị trường như: Nhật, Mỹ, Châu Âu…

Trang 27

Hình 3-2 Giá trị xuất khẩu thủy sản Cà Mau

Nguồn: NGTK Cà Mau từ năm 2002 đến năm 2017

Theo nội dung thống kê cho thấy, từ năm 2002 - 2017, giá trị xuất khẩu tôm của tỉnh tăng dần từ hơn 60 triệu USD đến năm 2017 tăng lên đến 237 triệu USD

Hình 3-3 GDP thủy sản so với GDP tổng của tỉnh

Nguồn: Niên giám thống kê Cà Mau từ năm 2002 đến năm 2017

Sau 10 năm (2007 - 2017), GDP thủy sản tăng đáng kể và dao động từ 28% đến 35% GDP Điều này chứng tỏ ngành thủy sản đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao GDP của tỉnh và cải thiện thu nhập cho người dân

Trang 28

Hình 3-4 Sản lượng tôm nuôi của Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng

Nguồn: Niên giám thống kê Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng từ năm 2006 đến 2017

Năm 2017, sản lượng tôm nuôi của tỉnh Cà Mau là 170.302 tấn, điều này cho thấy Cà Mau có điều kiện thuận lợi về phát triển tôm hơn các tỉnh lân cận (Bạc Liêu

là 114.865 tấn, Sóc Trăng là 127.882 tấn) Các doanh nghiệp sản xuất tôm xuất khẩu có điều kiện sản xuất với nguồn tôm dồi dào, để tăng doanh thu Ngoài thuận lợi trên, bên cạnh đó do ảnh hưởng của thời tiết, môi trường có lúc làm nguồn tôm

bị thiếu hụt nghiêm trọng, gây khó khăn cho đầu ra xuất khẩu

Hình 3-5 Sản lượng thủy sản các tỉnh ĐBSCL

Nguồn: Niên giám thống kê Cà Mau 2015, 2016, 2017

Giai đoạn 2015 - 2017, sản lượng thuỷ sản của tỉnh Cà Mau dao động trong khoảng 500.000 - 550.000 tấn/năm trong khi Kiên Giang đạt sản lượng cao nhất, từ

Trang 29

570.000 - 600.000 tấn/năm Điều này cho thấy, tuy sản lượng thủy sản của tỉnh Cà Mau vẫn ở mức cao so với mặt bằng chung của vùng ĐBSCL (Hình 3.6) Nhìn chung, ngành chế biến thủy sản và tôm xuất khẩu của Cà Mau có tăng, nhưng vẫn chưa phát huy tối đa tiềm năng vốn có của tỉnh

3.2 Phân tích bốn yếu tố cạnh tranh của cụm ngành tôm theo mô hình kim cương của Porter

3.2.1 Điều kiện tự nhiên và nhân tố đầu vào

Hình 3-6 Bản đồ vị trí địa lý và mối quan hệ liên vùng tỉnh Cà Mau

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cà Mau (2017)

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc Phần đất liền có diện tích 5.211 km2, bằng 1,58% diện tích cả nước và bằng 13,1% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long Điểm cực Nam nằm ở 8033’ vĩ độ Bắc, điểm cực Bắc nằm ở 9033’ vĩ độ Bắc Khoảng cách từ cực Bắc tới cực Nam khoảng 100 km Điểm cực Đông nằm ở

105024’ kinh độ Đông, điểm cực Tây nằm ở 104043’ kinh độ Đông Khoảng cách từ cực Tây sang cực Đông khoảng 68 km

Là tỉnh duy nhất trong cả nước có cả bờ biển Đông (107 km) và bờ biển Tây (147 km) với tổng chiều dài bờ biển 254 km, chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước, rộng trên 71.000 km2, tiếp giáp với vùng biển của các nước: Thái Lan, Malaysia và Indonesia Vùng biển chủ quyền của tỉnh Cà Mau có nhiều cụm đảo:

Trang 30

Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối, Hòn Buông thuộc biển Tây, Hòn Khoai thuộc biển Đông Cụm đảo Hòn Khoai gồm 4 đảo: Đảo Đồi Mồi, Hòn Sao, Hòn Gò và lớn nhất là Hòn Khoai, cách đất liền khoảng 18 km, với diện tích xấp xỉ 5 km2 Cà Mau tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang ở phía Bắc, Bạc Liêu ở phía Đông, phía Tây giáp Biển Tây, phía Đông Nam và Nam giáp biển Đông Với 3 mặt giáp biển, tạo thành Cà Mau như một bán đảo Cà Mau cách thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) 300,9 km

về phía Bắc, cách Bạc Liêu 74 km, Sóc Trăng 120 km và Cần Thơ 151 km Với vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển ngành tôm, Cà Mau có điều kiện tương tác với các vùng kinh tế phát triển trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, Cà Mau có cơ hội tận dụng lợi thế cạnh tranh theo qui mô vùng để phát triển thuận lợi cụm ngành chế biến tôm sú xuất khẩu

Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều biển Đông (bán nhật triều không đều) và biển Tây (nhật triều không đều) Biên độ triều biển Đông tương đối lớn, từ 3,0 – 3,5 m vào ngày triều cường và từ 1,8 – 2,2 m vào các ngày triều kém Do ảnh hưởng của 2 chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển nên phần lớn diện tích đất liền của tỉnh đã bị nhiễm mặn và chế độ thủy triều rất phức tạp Chế độ thủy triều đã được người dân tận dụng trong đời sống, sản xuất như giao thông đi lại theo con nước, lấy nước và thoát nước cho các vùng đầm nuôi tôm… Tuy nhiên, do chế độ truyền triều không đều của biển Đông và vịnh Thái Lan

đã hình thành một số vùng giáp nước, là những khó khăn cho giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất Thủy triều đưa nước biển vào ra thường xuyên, mang theo một lượng phù sa lớn làm bồi lắng nhanh ở các sông, kênh thủy lợi Ngoài ra, trong mùa khô (mùa gió chướng) nước biển dâng cao, gây tình trạng tràn mặn, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống, vì vậy công tác ngăn mặn chống tràn là việc phải làm hàng năm của địa phương Thời tiết chia thành hai mùa: mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 (dương lịch), thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản; mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình là 1.800 mm thích hợp cho sản xuất

Trang 31

nông nghiệp10 Nhiệt độ trung bình năm là 28,50C, nhiệt độ thấp nhất là 210C (vào mùa mưa), nhiệt độ cao nhất là 360C (vào mùa nắng)

Đặc điểm địa hình Cà Mau là vùng đồng bằng, có nhiều sông rạch Địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ cao bình quân từ 0,5 m đến 1,5 m so với mực nước biển Những vùng trũng cục bộ của Thới Bình, Cà Mau nối với Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai (Bạc Liêu) thuộc vùng trũng trung tâm Bán đảo Cà Mau có quan hệ địa hình lòng sông

cổ Những ô trũng U Minh, Trần Văn Thời là những vùng “trũng treo” nội địa được giới hạn bởi đê tự nhiên của hệ thống các con sông Ông Đốc, Cái Tàu, sông Trẹm

và gờ đất cao ven biển Tây Địa hình của tỉnh còn bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng chịt đây là điều kiện cho nuôi trồng các loài thủy sản như: tôm, cá,

ốc, sò huyết

Quốc lộ 1A chạy thông suốt từ Cà Mau đến TP.HCM nên việc vận chuyển sản phẩm từ Cà Mau đến cảng ở TP.HCM khá thuận lợi Đặc biệt khi Tổ hợp Cảng biển nước sâu Trần Đề ở tỉnh Sóc Trăng được đầu tư đưa vào sử dụng thì việc vận chuyển sản phẩm sẽ rút ngắn đáng kể về cự ly và giảm chi phí vận tải Toàn tỉnh Cà Mau có 3 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài qua địa bàn tỉnh là 119,3 km, tỷ lệ nhựa hóa đạt 100%; 11 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài là 267,9 km, tỷ lệ nhựa hóa đạt 98,1%; 97 tuyến đường huyện với tổng chiều dài là 976,4 km, tỷ lệ nhựa cứng hóa đạt 64,8%; 287 tuyến đường đô thị dài 228,9 km bao gồm các tuyến đường nội ô thành phố Cà Mau và đường thị trấn đã được nhựa (cứng) hóa đạt 99,8%; đường giao thông nông thôn có 1.962 tuyến với tổng chiều dài 10.844,5 km, tỷ lệ cứng hóa đạt 35%

10 Phụ lục 4

Trang 32

Hình 3-7 Bản đồ tỉnh Cà Mau

Về đường thủy, Cà Mau có hệ thống sông ngòi chằng chịt nên hệ thống giao thông đường thủy khá phát triển Vận tải bằng đường thủy chiếm tỷ trọng lớn hơn

Trang 33

so với đường bộ Theo số liệu thống kê, hệ thống đường thủy trên địa bàn tỉnh có 57 tuyến với tổng chiều dài 1.161,8 km, trong đó: 12 tuyến do trung ương quản lý với tổng chiều dài 261,7 km; 12 tuyến do tỉnh quản lý với tổng chiều dài 349,0 km; 33 tuyến do huyện quản lý với tổng chiều dài 559,5 km Ngoài ra còn khoảng 7.000 km sông kênh có khả năng khai thác vận tải thủy, chủ yếu phục vụ vận chuyển nông sản hoặc hàng hóa nhỏ lẻ của người dân

Cà Mau được quy hoạch thành hai vùng sản xuất có hệ sinh thái đặc trưng,

đó là: Vùng Nam Cà Mau, nuôi tôm – lúa, được chia thành 18 tiểu vùng với diện tích 323.786 ha Vùng Bắc Cà Mau, nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, được chia làm

05 tiểu vùng với diện tích 206.214 ha (trong đó có 51.800 ha của dự án Quản lộ Phụng Hiệp) Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, tỉnh Cà Mau đã tập trung đầu tư nhiều dự án Từ các nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, vốn hạ tầng thủy sản, vốn ODA,… tỉnh đã bố trí thực hiện các dự án thuộc các Tiểu vùng Bắc Cà Mau và Nam Cà Mau để khép kín các tiểu vùng Thực tế, hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ở Cà Mau vẫn còn tồn tại như: Hệ thống thủy lợi không có hệ thống cấp nước, thoát nước riêng biệt; năng lực cấp thoát nước còn rất hạn chế nên vấn đề

ô nhiễm nguồn nước, lây lan dịch bệnh từ nuôi trồng thuỷ sản là rất lớn Các công trình thủy lợi phục vụ cho nuôi tôm chưa đồng bộ nên chưa thể đảm bảo chủ động lấy nguồn nước để phục vụ nuôi tôm và thiếu nguồn nước ngọt bổ sung cần thiết; trong quá trình cải tạo, một số hộ đã bơm bùn trực tiếp ra sông rạch cũng là nguyên nhân gây bồi lắng nhanh, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của nghề nuôi tôm

Lực lượng trong độ tuổi lao động ở tỉnh Cà Mau khá dồi dào là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển các doanh nghiệp chế biến thủy sản ở nơi đây Dân số tỉnh Cà Mau có trên 1.218.000 người, trong đó nam có 615.846 người và nữ có 612.975 người Nguồn nhân lực: hiện có 921.955 lao động, trong đó, tốt nghiệp cao đẳng trở lên: 17.198 người, tốt nghiệp trung cấp, dạy nghề: 42.802 người, đào tạo nghề: 133.965 người, còn lại là lao động phổ thông Hiện nay, tổng số cơ sở đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh là 22 cơ sở Trong đó có 3 trường cao đẳng, 1 trường trung cấp kinh tế kỹ thuật, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, 2 trung tâm giới

Trang 34

thiệu việc làm và 9 cơ sở dạy nghề thuộc các huyện và 4 cở sở dạy nghề ngoài công lập Ngoài ra trên địa bàn tỉnh có 2 chi nhánh của trường Đại học Bình Dương và Tôn Đức Thắng Đây là điều kiện thuận lợi để đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề cho lực lượng lao động trên địa bàn

Hình 3-8 Lao động trong ngành thủy sản tỉnh Cà Mau

Nguồn: Niên giám thống kê Cà Mau từ năm 2007 đến năm 2017

3.2.2 Điều kiện cầu

Trên cơ sở số liệu nhập khẩu của tháng 4 năm 2017, các thị trường nhập khẩu tôm của Việt Nam bao gồm: Mỹ chiếm 16,8% tổng giá trị nhập khẩu, Nhật chiếm 16,7%, Hàn Quốc 9,3%, Trung Quốc 10,7% Tuy nhiên, hiện nay số liệu này có sự thay đổi đáng kể, ở thị trường lớn EU, con tôm Việt Nam được hầu hết các nước trong khối này ưa chuộng và nhập khẩu với sản lượng lớn Trong đó, 3 thị trường chính tại khối EU là Hà Lan, Anh, Đức luôn tăng mạnh kim ngạch nhập khẩu tôm Việt Nam Hà Lan là nước nhập khẩu với số lượng lớn nhất, chiếm 6,6% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam Quốc gia này nhập khẩu tôm không chỉ để tiêu thụ trong nước mà còn chế biến và xuất khẩu sang các nước trong khối EU

Trang 35

Hình 3-9 Thị trường nhập khẩu tôm tháng 4 năm 2017

Nguồn: Vasep, xuất khẩu tôm tháng 4 năm 2017

Vì vậy, nhập khẩu tôm vào Hà Lan đang ngày một tăng Cơ cấu sản phẩm tôm Việt Nam xuất khẩu sang Hà Lan là tôm thẻ chân trắng chiếm tỷ lệ 86%, tôm sú chiếm 10% và tôm loại khác chiếm 4% Đứng thứ hai trong khối EU là thị trường Anh và 3 năm trở lại đây, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Anh tăng gần 84%, do nước này đẩy mạnh nhập khẩu tôm nước ấm, vì giá rẻ hơn để thay thế cho tôm nước lạnh (nhập khẩu từ Bỉ, Đức và Đan Mạch) Giá tôm nước lạnh tăng nhanh do các nước khai thác cắt giảm hạn ngạch EU có lợi thế đối với nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam về ưu đãi thuế, nhấ́t là khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực, trong khi nhu cầu nhập khẩu tôm vào EU về cuối năm càng tăng, nước xuất khẩu tôm lớn khác tại Châu Á là Ấn Độ có xu hướng giảm lượng tôm xuất sang EU Điều này là lợi thế lớn cho con tôm Việt Nam tại thị trường EU Những thị trường khác là Mỹ lại rất ưa chuộng tôm thẻ chân trắng, với lượng nhập khẩu lên đến 69% tổng sản lượng nhập khẩu tôm của quốc gia này Thị trường Nhật chuộng tôm sú và giá mua tôm sú của doanh nghiệp nhập khẩu Nhật cao Đây chính là lợi thế, bởi chất lượng tôm thẻ chân trắng của Việt Nam cao, sản

Trang 36

lượng lớn với 350.000 tấn/năm Đồng thời, Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng phát triển nuôi tôm sú, nên dư địa để xuất khẩu tôm Việt Nam vào Mỹ và Nhật còn rất lớn Đặc biệt là Chính phủ đang hành động quyết liệt để phát triển ngành tôm Việt Nam thông qua Quyết định 79/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025; xem đây là ngành công nghiệp sản xuất lớn, bền vững, mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và kinh tế đất nước Hiện nay, khu vực nuôi tôm lớn nhất cả nước là ĐBSCL đang đẩy mạnh khuyến khích thu hút doanh nghiệp đầu tư vào ngành tôm của địa phương, nhằm triển khai thực hiện chính sách khuyến khích phát triển các mô hình liên kết sản xuất, mô hình hợp tác xã hiệu quả trong sản xuất nuôi tôm địa phương, để đạt các mục tiêu mà Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm

2025 đã đề ra như, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm tôm đạt 10 tỷ USD; Tổng diện tích tôm nước lợ đạt 750.000 ha, diện tích nuôi tôm càng xanh tập trung đạt 50.000 ha Tổng sản lượng tôm nuôi đạt 1,153 triệu tấn

Tuy nhiên, tại các thị trường nhập khẩu lớn đặt ra yêu cầu rất cao đối với mặt hàng tôm sú Mỹ đặt ra các tiêu chuẩn chặt chẽ và tỉ mỉ từ chất lượng cảm quan bên ngoài đến cấu trúc, mùi vị sản phẩm trong và sau quá trình chế biến Các tiêu chuẩn thành phẩm bao gồm: Kích cỡ, số con trong 1 pound, độ đồng đều giữa các thân tôm, tỉ lệ áo băng bề mặt để bảo quản tôm khỏi hư hỏng11 Khách hàng thường quan tâm đến tiêu chuẩn cảm quan như: Màu sắc tôm, độ tươi, vỏ bị biến đen, mùi vị, cấu trúc sản phẩm khi nếm hay cắn thử (Hình 3-12)

Tiêu chuẩn về kháng sinh và vi sinh trong an toàn thực phẩm khá chặt chẽ và phụ thuộc vào yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu12 Chất kháng sinh bị hạn chế

sử dụng như: Chloramphenicol là 50 ppt/1g sản phẩm (ppt/1g: phần nghìn tỷ/1g sản phẩm); Trifluralin: 300 ppt/1g sản phẩm; Enpro hoặc Cipro: 1000 ppt/1g sản phẩm13

11 Phụ lục 7

12 Phụ lục 8 và Phụ lục 9

13 Phụ lục 10

Trang 37

Hình 3-10 Tiêu chuẩn cảm quan thành phẩm của khách hàng Mỹ

Nguồn: Lấy từ biểu mẫu kiểm tra chất lượng cảm quan của Công ty CP Chế biến

Thủy sản XNK Hòa Trung (theo yêu cầu của khách hàng Mỹ)

Các nhà máy luôn kiểm tra kháng sinh và vi sinh mỗi ngày trước khi chế biến để loại ra các lô tôm nguyên liệu không đạt yêu cầu Sau đó, nhà máy kiểm tra chất lượng thành phẩm được nhà máy kiểm tra trước khi xuất xưởng và được sự kiểm tra mẫu cuối cùng của tổ chức kiểm tra chất lượng thủy sản Vùng 5 (Nafivaqed) để đảm bảo đủ điều kiện xuất khẩu Chi phí sản xuất tăng do việc kiểm tra chất lượng từng lô hàng trước khi xuất khẩu làm giá tôm thành phẩm tăng cao hơn các nước khác

Nhật Bản là quốc gia kiểm tra chất lượng nhập khẩu thực phẩm rất nghiêm ngặt Đặc biệt, kháng sinh cấm Ethoxyquin đã làm cho việc xuất khẩu đến Nhật có lúc giảm mạnh Các công ty của Nhật kiểm tra Ethoxyquin trên 30% lô tôm từ Việt Nam với giới hạn cho phép là 0,01 ppm = 10 ppb (1 phần tỷ/1g tôm) Ý thức được vấn đề trên, Việt Nam không ngừng cải tiến chất lượng để đáp ứng tiêu chuẩn thị trường Nhật và những thị trường khó tính khác Theo thống kê, trong Quý I năm

Trang 38

2018, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật tăng 29.6% đạt 135.4 triệu USD Với mức tăng trưởng mạnh như trên đã đưa thị trường Nhật Bản trở thành thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam Trước đó, Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam Nguyên nhân đưa Nhật Bản trở thành thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, là do đồng Yên tăng đã khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu tôm Một nguyên nhân khác là do người tiêu dùng Nhật Bản hiện chuyển sang lựa chọn các sản phẩm thủy hải sản giá rẻ, khiến nhu cầu tôm tăng lên so với các loại hải sản khác như cá ngừ, cá hồi và mực ống Nhật Bản đang

là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam; giá tôm xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang Nhật là 12 USD/kg, trong khi giá của Indonesia là 11 USD/kg

và Thái Lan là 10 USD/kg

Việt Nam xuất khẩu tôm tới 68 thị trường, 10 thị trường lớn nhất gồm: Nhật,

EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Australia, ASEAN, Đài Loan, Thụy Điển Các thị trường này chiếm tới 95.4% kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam Mặc dù ngành sản xuất tôm có tiềm năng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, nhưng lĩnh vực này đối mặt với thách thức về sản xuất quy mô nhỏ và hạn chế

về giống tôm; có khoảng 1.800 cơ sở nuôi tôm trên cả nước nhưng rất ít trong số đó đáp ứng được tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn sinh học Hơn 90% các giống tôm nuôi chân trắng Việt Nam phải nhập khẩu, trong khi giống tôm lớn phụ thuộc vào đánh bắt tự nhiên

3.2.3 Trình độ phát triển của các ngành công nghiệp có liên quan

3.2.3.1 Ngành sản xuất tôm giống

Toàn tỉnh hiện có hơn 800 cơ sở sản xuất tôm giống Về trình độ, kỹ thuật viên có chuyên môn cao không nhiều (khoảng 20%), số còn lại chỉ được tập huấn ngắn hạn Việc hạn chế về trình độ kỹ thuật đã ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tôm giống trong tỉnh Về quy mô sản xuất, đến nay vẫn còn có hơn 80% là các cơ sở nhỏ lẻ, điều kiện sản xuất chưa đảm bảo Tỉnh đã khuyến khích các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ liên kết thành hợp tác xã hoặc có điều kiện mở rộng kinh doanh, hình thành các doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, áp dụng quy trình công nghệ

Trang 39

hiện đại, tuy nhiên đến nay số lượng cơ sở sản xuất lớn không nhiều Hiện tại, tỉnh

Cà Mau đã cấp phép cho Tập đoàn Việt Úc xây dựng khu sản xuất giống với quy

mô hơn 120 ha, công suất thiết kế hơn 14 tỷ con giống/năm, góp phần giải quyết nhu cầu về giống trong tỉnh

Toàn tỉnh hiện có 220 cơ sở kinh doanh giống thủy sản đang hoạt động Hàng năm các cơ sở kinh doanh được kiểm tra điều kiện kinh doanh Nguồn giống được nhập về từ các tỉnh Miền Trung Để quản lý nguồn giống nhập tỉnh có chất lượng tốt, hàng năm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ký kết phối hợp với các tỉnh về quản lý chất lượng giống, qua đó chất lượng giống cũng được đảm bảo Công tác kiểm dịch giống thủy sản tại các huyện luôn được quan tâm chỉ đạo, cơ quan chuyên môn, quản lý thường xuyên kiểm tra, kiểm soát trên khâu lưu thông, tập trung xử lý các phương tiện vận chuyển giống thủy sản không có giấy chứng nhận kiểm dịch và nhắc nhở cơ sở sản xuất phải chấp hành việc khai báo kiểm dịch trước khi xuất bán, nhằm tuyên truyền để người sản xuất tôm giống ý thức hơn nữa việc chấp hành các quy định về kiểm dịch giống thủy sản

Tuy nhiên, qua kết quả lấy ý kiến phỏng vấn của các chuyên gia hầu hết đều

có nhận định: tình trạng thất mùa do giống chưa kiểm dịch lẫn với giống đã kiểm dịch; Chi cục Thú y khó khăn kiểm dịch số lượng tôm giống ngoại tỉnh tràn vào tỉnh Do sợ bị tịch thu và tiêu hủy giống một số cơ sở kinh doanh giống trốn tránh kiểm dịch; vì không có cơ sở để nhận biết nên dẫn đến người nuôi phải chịu thiệt Trong khi trình độ và kĩ thuật của nông dân xử lý và chữa trị tôm giống hạn chế đã làm cho tôm khả năng chịu đựng rất kém Ngành nuôi và chế biến tôm xuất khẩu suy yếu, làm thất thoát GDP và ngân sách thu từ thuế do mùa vụ thất bát dẫn đến hoạt động của cụm ngành tôm giảm

3.2.3.2 Mạng lưới cung cấp nguyên liệu cho các công ty chế biến tôm

Cà Mau là một trong các vùng tôm sú rất dồi dào từ hai nguồn: tôm công nghiệp và quảng canh Do đặc thù địa bàn nuôi rộng lớn khắp tỉnh nên có hàng ngàn thương lái gom thu mua (không đăng ký) để giao lại cho các đại lý lớn, hiện có 353 đại lý đăng ký hoạt động cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến xuất

Trang 40

khẩu Đây là khâu trung gian nhưng thời gian qua không kiểm soát được nên gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm Để giải quyết tình trạng này, xây dựng mối liên kết giữa người nuôi với nhà máy chế biến là rất quan trọng Với bề dày kinh nghiệm trong ngành và sự nỗ lực mở rộng thị trường không ngừng của các doanh nghiệp, đồng thời việc áp dụng những chính sách xúc tiến thương mại theo hướng ngày càng chuyên nghiệp đã tạo cho Việt Nam trở thành một trong những quốc gia cung cấp tôm hàng đầu khu vực (trong đó có tỉnh Cà Mau) Đến nay thị trường xuất khẩu tôm Cà Mau đã có mặt trên hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, 05 thị trường chủ lực xuất khẩu tôm Cà Mau chiếm trên 65% là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc

Hình 3-11 Bảng giá mua tôm sú vỏ nguyên liệu

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp/vẽ từ bảng báo giá của doanh nghiệp

Theo kết quả phỏng vấn Doanh nghiệp Thành Đạt cho rằng các thương lái

hợp đồng thu trong dân với giá từ bằng đến cao hơn giá do công ty đưa ra là do nhiều nguyên nhân Thứ nhất, họ biết được hộ nuôi có ký hợp đồng với công ty là tôm sạch nên sẵn sàng trả giá ngang với mức giá do công ty đưa ra và không cần phải lấy mẫu kiểm nghiệm Từ đây, người nuôi cho rằng giá của công ty không cao Thứ hai là có trường hợp doanh nghiệp cần gấp một số lượng tôm nhất định để đủ hàng giao cho đối tác, nên sẵn sàng ra giá cao cho thương lái đi thu gom Người nuôi không nên lấy mức giá thu mua trước mắt do thương lái đưa ra, mà cần đo lường hết giá trị thực cũng như tính bền vững lâu dài giữa công ty so với thương lái

Cụ thể đối với thương lái, chỉ cần cỡ tôm rớt 1 con, người nuôi đã bị trừ 2.000 đồng/kg, còn dưới 1 con chỉ được cộng thêm 1.000 đồng/kg, mà chuyện lên xuống

Ngày đăng: 12/08/2019, 23:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Porter, Michael E. (2008), Lợi thế cạnh tranh quốc gia, NXB Trẻ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2008), Lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tác giả: Porter, Michael E
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2008
25. Vũ Thành Tự Anh (2012), Cơ sở lý thuyết về cụm ngành và chuỗi giá trị. 26. Website của VASEP.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý thuyết về cụm ngành và chuỗi giá trị
Tác giả: Vũ Thành Tự Anh
Năm: 2012
1. Porter, Michael E. (1990), The Competitive Advantage of Nations, Free Fress, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Competitive Advantage of Nations
Tác giả: Porter, Michael E
Năm: 1990
1. Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu (2013), Niên giám thống kê 2012 Khác
2. Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu (2014), Niên giám thống kê 2013 Khác
3. Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu (2015), Niên giám thống kê 2014 Khác
4. Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu (2016), Niên giám thống kê 2015 Khác
5. Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu (2017), Niên giám thống kê 2016 Khác
6. Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu (2018), Niên giám thống kê 2017 Khác
7. Cục thống kê tỉnh Cà Mau (2013), Niên giám thống kê 2012 Khác
8. Cục thống kê tỉnh Cà Mau (2014), Niên giám thống kê 2013 Khác
9. Cục thống kê tỉnh Cà Mau (2015), Niên giám thống kê 2014 Khác
10. Cục thống kê tỉnh Cà Mau (2016), Niên giám thống kê 2015 Khác
11. Cục thống kê tỉnh Cà Mau (2017), Niên giám thống kê 2016 Khác
12. Cục thống kê tỉnh Cà Mau (2018), Niên giám thống kê 2017 Khác
13. Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng (2013), Niên giám thống kê 2012 Khác
14. Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng (2014), Niên giám thống kê 2013 Khác
15. Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng (2015), Niên giám thống kê 2014 Khác
16. Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng (2016), Niên giám thống kê 2015 Khác
17. Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng (2017), Niên giám thống kê 2016 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm