TGPL được thể hiện tại Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 của Chủ Tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quy định trong các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình,
Trang 1ĐÀO CÔNG HAI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ DỰA TRÊN MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2ĐÀO CÔNG HAI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ DỰA TRÊN MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN LONG
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3học luật kinh tế chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế
TP.Hồ Chí Minh, là tác giả Luận văn thạc sĩ luật với đề tài “Hoàn thiện pháp luật
về Trợ giúp viên pháp lý dựa trên mô hình luật sư công từ thực tiễn tại tỉnh Bến Tre” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một
số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Đào Công Hai
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN 1
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Câu hỏi nghiên cứu 7
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Mục đích nghiên cứu 8
3.2 Đối tượng nghiên cứu 8
3.3 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa ứng dụng của đề tài 8
5.1.Ý nghĩa về mặt khoa học 8
5.2 Ý nghĩa về mặt ứng dụng 9
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ CÔNG VÀ MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 10
1.1 KHÁI NIỆM NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ CÔNG 10
1.1.1 Nghề luật sư 10
1.1.2 Luật sư công 12
1.2 VAI TRÒ CHẾ ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ CÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP 12
1.3 MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 14
1.3.1 Luật sư công tại Israel 14
1.3.1.1 Lĩnh vực hình sự 14
1.3.1.2 Lĩnh vực dân sự 15
1.3.2 Luật sư công ở Argentina 16
1.3.3 Luật sư công ở Canada 18
Trang 51.3.3.1 Kinh phí cho luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý luôn tốn ít 18
1.3.3.2 Luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý tốn ít thời gian 19
1.3.3.3 Chất lượng vụ việc luật sư công cao 20
1.4 SO SÁNH GIỮA MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG VÀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 21
1.4.1 Giống nhau 21
1.4.2 Khác nhau 22
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI VIỆT NAM 23
2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ 23
2.1.1 Sự ra đời văn bản pháp luật quy định trong hoạt động trợ giúp pháp lý 23
2.1.2 Luật Trợ giúp pháp lý quy định về hoạt động trợ giúp pháp lý 27
2.2 TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ TRONG QUY ĐỊNH LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 32
2.2.1 Tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý (Điều 19) 32
2.2.1.1 Khái niệm 32
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý (Điều 18) 34
2.2.2.1 Quyền Trợ giúp viên pháp lý 34
2.2.2.2 Nghĩa vụ Trợ giúp viên pháp lý 34
2.2.3 Mối quan hệ giữa Trợ giúp viên pháp lý với người được trợ giúp pháp lý 34
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI BẾN TRE VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ TRONG MÔ HÌNH TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ 36 3.1 THỰC TIỄN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI TỈNH BẾN TRE 36
3.1.1 Tổng quan về công tác trợ giúp pháp lý 36
3.1.1.1 Hoạt động của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ 38
3.1.1.1.Về hoạt động trợ giúp pháp lý tại trung tâm 39
3.1.2 Hạn chế, vướng mắc trong hoạt động trợ giúp pháp lý 41
3.1.2.1 Về mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở 41
Trang 63.1.2.2 Về công tác trợ giúp pháp lý lưu động 41
3.1.2.3 Về công tác phối hợp với cơ quan tố tụng 42
3.2 NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ TRONG MÔ HÌNH TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ 43
3.2.1 Tên gọi chức danh Trợ giúp viên pháp lý 43
3.2.2 Tiêu chuẩn, điều kiện Trợ giúp viên pháp lý 43
3.2.3 Quy định hoàn thành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng 44
3.2.4 Đối tượng được trợ giúp pháp lý 45
CHƯƠNG 4 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ THEO MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG 47
4.1 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ 47
4.1.1 Tên gọi chức danh Trợ giúp viên pháp lý 47
4.1.2 Tiêu chuẩn, điều kiện Trợ giúp viên pháp lý 48
4.1.3 Quy định hoàn thành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng 50
4.1.4 Đối tượng được trợ giúp pháp lý 51
4.1.5 Trách nhiệm các cơ quan có liên quan hoạt động trợ giúp pháp lý 53
4.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ 55
4.2.1 Hình thức đào tạo nghề luật sư cho nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý 55
4.2.2 Xây dựng hành lang pháp lý 57
4.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ 59
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trợ giúp pháp lý là hoạt động từ thiện mục đích nhằm hỗ trợ pháp lý miễn phí cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, người có công với cách mạng, người yếu thế trong xã hội khi phải vướng mắc vấn đề về pháp luật Khi vụ việc xảy ra họ không thể tự bảo vệ mình mà cần phải có một cá nhân hoặc một tổ chức am hiểu về pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ Trước khi pháp luật về hoạt động TGPL chưa ra đời họ phải bỏ ra một khoảng phí nhất định để thuê một luật sư tham gia bảo vệ cho họ Đảng và Nhà nước ta nhận thấy được vấn đề này nên đã ban hành những văn bản luật liên quan hoạt động TGPL Hoạt động TGPL hiện nay đang được điều chỉnh bởi Luật TGPL năm 2017 và các văn bản pháp luật có liên quan Hoạt động TGPL được quản lý trực tiếp là các chi nhánh, Trung tâm TGPL nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp tỉnh và Cục TGPL trực thuộc Bộ Tư pháp Hoạt động TGPL được chính thức hình thành và phát triển bắt đầu
từ năm 1995 Đã hơn 20 năm hoạt động TGPL đã đạt được nhiều kết quả đáng kể và giải quyết được hàng triệu vụ việc mà người dân vướng mắc pháp luật
Để hoàn thiện pháp luật về TGVPL dựa trên mô hình luật sư công trước hết cần phải nhận biết được nghề LSC và mô hình hoạt động TGPL của LSC mà ở một số nước trên thế giới đã thực hiện Nghề luật sư được hình từ sự phát triển không đồng đều cả về vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã hội nào cũng có sự ức hiếp, bị đối xử không công bằng Khi họ có những hành vi trái pháp luật bị buộc tội hoặc quyền lợi của họ
bị xâm phạm thì luôn mong muốn có người am hiểu về pháp luật đứng ra bảo vệ và luật sư là người bảo vệ cho họ Nghề luật sư hoạt động theo sự được điều chỉnh bởi Luật Luật sư và thực hiện vụ việc được trả thù lao theo quy định Nghề LSC ở Việt Nam không có quy định nghề nghiệp chức danh này nhưng ở một số nước như Canada, Israel, Argentina thì nghề LSC được quy định bởi Luật LSC ở nước sở tại (Israel có Luật LSC năm 1995, Argentina có Luật LSC liêng bang 1988) Nghề LSC hoạt động chủ yếu thực hiện TGPL miễn phí cho các đối tượng được TGPL mà Luật LSC quy định Mô hình LSC một số nước hoạt động mang tính chất từ thiện, nhân đạo Mục tiêu hoạt động phục vụ TGPL miễn phí cho các đối tượng như người nghèo,
Trang 8ly hôn yêu cầu nuôi con nhỏ, người có khả năng bị buộc tội, các vụ án hình sự, người
có khó khăn về tài chính và yếu thế trong xã hội Mỗi nước đều có loại hình hoạt động TGPL đặc trưng riêng của nó như Israel LSC thực hiện gồm 02 lĩnh vực hình
sự và dân sự Lĩnh vực hình sự LSC thực hiện khi đương sự bị bắt ở đồn cảnh sát và đượng sự không cần phải xuất trình các giấy tờ chứng minh là mình thuộc đối tượng được TGPL Lĩnh vực dân sự chủ yếu phục vụ cho người có khó khăn về tài chính thông qua việc kiểm tra thu nhập, tài sản và có cơ sở pháp lý vững chắc (khả năng thắng kiện) 1Mô hình LSC nước Argentina hoạt động TGPL do các Văn phòng LSC Liêng bang và chịu sự điều chỉnh của Luật về văn phòng LSC Liên bang năm 2015 trách nhiệm bảo vệ nhân quyền cho những người dễ bị tổn thương trong lĩnh vực hình
sự, dân sự và hành chính Ngoài ra, văn phòng LSC Liên bang thực hiện TGPL về lĩnh vực nhà ở, y tế, hỗ trợ cho tù nhân trong tù; cho trẻ em và vị thành niên; nạn nhân
về bạo lực giới, người bị tị nạn.2 Mô hình LSC Canada hoạt động rất hiệu quả như kinh phí cho LSC thực hiện TGPL luôn ít tốn kém hơn luật sư tư chỉ tốn 235USD còn trong khi đó luật sư tư thực hiện tốn mất 264 USD; LSC thực hiện TGPL với thời gian ít hơn như vụ án hành hung thì LSC chỉ thực hiện trong 4 giờ còn luật sư tư phải mất tới 8 giờ; Vụ án sử dụng vụ khí LSC mất 5 giờ còn luật sư tư mất gần 10 giờ Ngoài ra, đối với chất lượng vụ việc LSC đa số đạt chất lượng hơn như theo đánh giá tại dự án Burnaby khoảng 60% đối tượng bị kết án thì có 40% đối đượng luật sư
tư bào chữa bị phạt tù còn đối LSC chỉ chiếm khoảng 30% hoặc bang Saskatcgwa đối tượng LSC bị phạt tù chiếm 14% còn luật sư tư lại chiếm 32%.3 Tiêu chuẩn, điều kiện
1 Theo Phan Hà (2013)“Trợ giúp pháp lý ở Israel”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/tro-giup-phap-ly-o- israel, truy cập ngày 5/6/2018
2 Theo Trịnh Thị Thanh (2015) “Giới thiệu trợ giúp pháp lý Argentina”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/nghien-cuu-trao- doi/gioi-thieu-tro-giup-phap-ly-argentina, truy cập ngày 5/6/2018
3 Theo báo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh ngày 12/01/2006 “Trợ giúp pháp lý ở Canada: Luật sư công - hiệu quả”, Trang thông tin điện tử Tuổi trẻ oline, tại https://tuoitre.vn/tro-giup-phap-ly-o-canada- luat-su-cong -hieu-qua-118155.htm , truy cập ngày 5/6/2018.
Trang 9trở thành LSC thông qua thi tuyển LSC là công chức nhà nước và lãnh lương ổn định
từ ngân sách nhà nước Ở một số nước quy định điều kiện LSC là phải có thời gian công tác pháp luật ít nhất 6 năm, có kinh nghiệm bào chữa luật sư, tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp Từ sự phân tích đánh giá hoạt động TGPL của các mô hình LSC nước Canada, Israel, Argentina tác giả đã so sánh với mô hình TGVPL ở Việt Nam Qua phân tích tác giả nhận thấy cả hai mô hình này có hình thức hoạt động khá giống nhau về đối tượng được TGPL, hình thức hoạt động TGPL nhưng chỉ khác nhau LSC là công chức nhà nước còn TGVPL chỉ có Giám Đốc Trung tâm TGPL là công chức còn lại viên chức nhà nước Một số đối tượng được TGPL miễn phí được quy định ở mô hình LSC nhưng ở Việt Nam không có như người có khả năng bị buộc tội, các vụ án hình sự, ly hôn yêu cầu nuôi con nhỏ, người tị nạn và một số đối tượng được TGPL khác
Có cơ sở so sánh hoạt động TGPL của mô hình LSC một số nước trên thế giới với mô hình TGVPL ở Việt Nam tác giả đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển
về TGPL qua những kết quả đã đạt được Hoạt động TGPL ở Việt Nam trước năm
1975 tuy chưa có quy định TGVPL, LSC thực hiện TGPL nhưng vẫn có sự tồn tại TGPL miễn phí TGPL được thể hiện tại Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 của Chủ Tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quy định trong các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ tòa án tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho họ và nếu bị can không có ai bênh vực thì ông Chánh án có thể tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can cử một người ra bào chữa cho bị can; người đứng ra bênh vực không được nhận tiền thù lao hay của thân nhân bị can Bộ luật tố tụng hình sự 1988 cũng thể hiện hoạt động có TGPL tại điểm
a, b khoản 2 Điều 37 đối với bị can, bị cáo về tội khung hình phạt có mức án cao nhất
tử hình được quy định Bộ luật hình sự; những bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ mà chưa mời được người bào chữa thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư cử người tham gia bào chữa cho họ Các bị can,
bị cáo được bào chữa miễn phí không phải trả thù lao cho luật sư Đến năm 1995,
Trang 10hoạt động TGPL bắt đầu được nghiên cứu mãi đến cuối thế kỷ thứ XX (năm 1997) TGPL mới hình thành đi vào hoạt động Năm 2006, Luật TGPL đầu tiên ra đời quy định về đối tượng, phạm vi, hình thức hoạt động TGPL Sau hơn 10 thi hành Luật TGPL năm 2006 Đảng và Nhà nước ta nhận thấy cần phải bổ sung thêm đối tượng được TGPL và điều chỉnh một số Điều Luật cho phù hợp điều kiện thực tế hiện nay nên năm 2017 Quốc Hội đã ban hành Luật TGPL năm 2017 (có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày 01/01/2018)
Tác giả đã phân tích đánh những điểm mới, khó khăn vướng mắc khi áp dụng triển khai, thi hành Luật TGPL năm 2017 Bên cạnh kết quả đạt được tác giả cũng đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động TGPL như về mạng lưới TGPL
cơ sở; về công tác TGPL lưu động; về công tác phối hợp với cơ quan liên quan hoạt động TGPL; tiêu chuẩn, điều kiện TGVPL; quy định hoàn thành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng của Bộ Tư pháp; đối tượng được TGPL Qua những khó khăn, vướng mắc tác giả đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm để hoàn thiện pháp luật về TGVPL theo mô hình LSC
Trang 11TỪ KHÓA LUẬN VĂN
1 Trợ giúp pháp lý
2 Luật sư công
3 Hoàn thiện pháp luật
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở một số nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nhu cầu của người dân mong được tiếp xúc dịch vụ pháp lý là rất cần thiết nhưng đối tượng có điều kiện được tham gia dịch vụ này thì còn hạn chế với lý do về điều kiện kinh tế còn khó khăn, ở vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc ít người, đi lại khó khăn Để giải quyết vấn đề trên một số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã quan tâm tạo thuận lợi cho họ để được tiếp cận pháp lý vì lẻ đó Chính phủ trích ra một nguồn ngân sách nhà nước để ký hợp đồng luật sư hoặc tuyển dụng đào tạo LSC (nước ngoài), TGVPL (tại Việt Nam) để thực hiện TGPL Từ đó, những đối tượng yếu thế trong xã hội, người dân khó khăn về tài chính sẽ được tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí Người thực hiện TGPL là luật sư tư, LSC, TGVPL hoạt động TGPL dưới sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật hiện hành như ở Việt Nam TGVPL chịu sự điều chỉnh của Luật TGPL
2018 và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan
Ở các nước trên thế giới tổ chức thực hiện TGPL được sự quản lý của Bộ Tư pháp còn ở Việt Nam có Cục TGPL (Trực thuộc Bộ Tư pháp) và mỗi tỉnh có 01 Trung tâm TGPL (trực thuộc sở Tư pháp), Chi nhánh TGPL (trực thuộc Trung tâm) Tất cả các tổ chức này hoạt động từ nguồn ngân sách nhà nước Ở Việt Nam tổ chức TGPL được hình thành từ năm 1997 Qua nhiều năm hoạt động tổ chức đã lớn mạnh phát triển rộng rãi xuống tận nông thôn nghèo Bến Tre là một trong những tổ chức pháp
lý được hình thành sớm nhất tại 63 tỉnh thành ở Việt Nam (sau tỉnh Cần Thơ) Bến Tre thuộc tỉnh nghèo ở khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long, một vùng quê sông nước, kinh tế chủ yếu là ngành nghề nông nghiệp là chính Đối tượng yếu thế trong xã hội
và khó khăn về kính tế rất nhiều Toàn tỉnh đối tượng hộ nghèo, cận nghèo; đối tượng
bị bạo lực gia đình hàng năm khá cao Từ sự khó khăn đó, Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Bến Tre được thành lập với 01 Trung tâm đặt tại thành phố Bến Tre, 04 chi nhánh được bố trí các huyện xa trung tâm và 15 TGVPL, 19 tổ chức hành nghề luật sư phục vụ thực hiện TGPL
Hình thức hoạt động TGPL của các TGVPL so với mô hình LSC một số nước
Trang 13trên thế giới khá giống nhau Tuy nhiên, so với mô hình LSC các nước trên thế giới
có sự chênh lệch hơn về chuyên môn đào tạo nghiệp vụ Đối với TGVPL tại Việt Nam cũng như TGVPL đang thực hiện TGPL ở Bến Tre cần phải học hỏi nhiều hơn
về chuyên môn, nghiệp vụ
Mô hình người thực hiện TGPL là LSC đã có từ lâu như Canada, Israel, Argentina Mục đích của họ là thực hiện TGPL miễn phí cho đa số đối tượng là người dân nghèo, người yếu thế trong xã hội Tổ chức hoạt động mô hình LSC một
số nước trên thế giới rất hiệu quả Vụ việc tham gia đạt chất lượng cao hơn so với luật sư tư
Từ những nhận định mô hình LSC một số nước trên thế giới hoạt động có hiệu quả Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm để xây dựng tổ chức và hoạt động TGPL tại Việt Nam theo hướng trở thành mô hình LSC Để đạt được mô hình LSC ở Việt Nam ta cần phải hoàn thiện pháp luật về TGVPL nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ nhằm mục đích đưa chức danh TGVPL thành chức danh LSC giống
mô hình LSC một số nước trên thế giới Do đó, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật
về Trợ giúp viên pháp lý dựa trên mô hình luật sư công từ thực tiễn tại tỉnh Bến Tre”
2 Câu hỏi nghiên cứu
1 Nghề LSC và mô hình LSC ở các nước quy định ra sao?
2 Pháp luật hiện nay quy định về TGVPL như thế nào?
3 Thực tiễn tại Bến Tre TGVPL gặp khó khăn, vướng mắc gì?
4 Pháp luật về TGVPL so với mô hình LSC cần hoàn thiện như thế nào?
Trang 143 Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu ở đây là phân tích đánh giá việc thực hiện TGPL có hiệu quả về mô hình LSC của một số nước trên thế giới cho người dân Từ đó, rút ra một
số kinh nghiệm để hoàn thiện, xây dựng văn bản luật TGPL áp dụng tại Việt Nam
Xây dựng đội ngũ TGVPL để từ “Trợ giúp viên pháp lý” thành “Luật sư công”
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản pháp luật quy định TGPL (Luật TGPL năm 2006, Luật TGPL năm
2017, Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật
Tố tụng hành chính năm 2015)
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Mô hình LSC thực hiện TGPL ở nước Canada, Israel, Argentina
- TGVPL thực hiện TGPL ở Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Bến Tre
4 Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát, nghiên cứu nghề LSC và mô hình LSC nước Canada, Israel, Argentina
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện TGPL của các TGVPL tại Bến Tre
- Hoàn thiện pháp luật về TGPL để chuyển từ TGVPL có đủ điều kiện trở thành LSC
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa ứng dụng của đề tài
5.1.Ý nghĩa về mặt khoa học
Luận văn nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam Luật TGPL năm 2006; Luật TGPL năm 2017 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan về hoạt động TGPL và so sánh hoạt động TGPL của mô hình LSC của một
số nước trên thế giới Qua đó, xác định những điểm tương đồng, khác biệt một cách
có hệ thống của mô hình LSC về hoạt động TGPL và rút ra kinh nghiệm thực hiện có hiệu quả từ mô hình LSC để áp dụng hoàn thiện pháp luật TGPL ở Việt Nam xây dựng đội ngũ TGVPL đủ điều kiện chuyển thành LSC
Trang 155.2 Ý nghĩa về mặt ứng dụng
Các nước trên thế giới thực hiện TGPL với người thực hiện TGPL là LSC Mô hình LSC phát triển rất mạnh mẽ và họat động có hiệu quả so với luật sư tư Chính phủ luôn tạo điều kiện về vật chất, lẫn kinh phí cho hoạt động của LSC Luật LSC được quy định chặt chẽ, rõ ràng và có vai trò rất quan trọng trong tham gia tố tụng Việt Nam ta nên học hỏi theo các mô hình của họ vì vậy Luật TGPL nên điều chỉnh
chuyển đổi mô hình LSC thay cho mô hình TGVPL và một số văn bản luật khác Từ
đó Tư pháp Việt Nam sẽ tồn tại hai loại hình luật sư là LSC và Luật sư tư Hình thức
và hoạt động như nhau mục tiêu phục vụ cho những người dân có điều kiện khó khăn
về tài chính và yếu thế trong xã hội Tên chức danh LSC sẽ được nhiều người dân biết và hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ hơn so với chức danh TGVPL
Luận văn này được viết với mục đích học hỏi từ thực tiễn mô hình LSC một số nước trên thế giới để từ đó xây dựng, hoàn thiện pháp luật quy định TGVPL tại Việt Nam Điều chỉnh một số quy định pháp luật Việt Nam về TGPL để chuyển thành mô hình LSC hoạt động TGPL có hiệu quả
Trang 16CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ CÔNG VÀ MÔ HÌNH
LUẬT SƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1 KHÁI NIỆM NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ CÔNG
1.1.1 Nghề luật sư
Do sự phát triển không đồng đều cả về vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã hội nào cũng có sự ức hiếp, bị đối xử không công bằng Những người nghèo, người có vị thế yếu kém trong xã hội và kém hiểu biết về pháp luật luôn bị đối xử bất công, không được bảo vệ Khi họ có những hành vi trái pháp luật bị buộc tội hoặc quyền lợi của
họ bị xâm phạm thì luôn mong muốn có người am hiểu về pháp luật đứng ra bảo vệ cho họ Do đó, để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tư vấn pháp luật của cá nhân, tổ chức nên nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về luật
sư và nghề luật sư bắt đầu ra đời
Pháp lệnh luật sư năm 1987 và Nghị định số 15/HĐBT ngày 21 tháng 12 năm
1989 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chế Đoàn luật sư đã xác định luật sư thực hiện TGPL không thu phí
Bộ luật hình sự năm 1988 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/6/1988 cũng đã
có quy định về luật sư trong các trường hợp bị can, bị cáo bị xử về tội có khung hình phạt cao nhất tử hình hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nếu họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời được người bào chữa thì cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người tham gia bào chữa cho họ
Ngày 25 tháng 7 năm 2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh
số 37/2001/PL-UBTVQH10 quy định luật sư Từ khi Pháp lệnh luật sư ban hành cho đến nay Quốc Hội đã ban hành và sửa đổi nhiều văn bản pháp luật quy định về nghề luật sư như Luật Luật sư năm 2006, Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 và văn bản hợp nhất của Văn phòng Quốc hội Luật Luật sư năm 2015 Kể từ thời điểm này nghề luật sư đóng vai trò quan trọng và phát triển mạnh mẽ trong xã hội Góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã
Trang 17hội chủ nghĩa Luật Luật sư năm 2006 và văn bản hợp nhất của Văn phòng Quốc hội
có quy định:
Điều 10 Tiêu chuẩn luật sư
Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư 4
Điều kiện để bổ nhiệm luật sư cũng quy định rõ là người phải có bằng cử nhân luật và đăng ký đào tạo tại một khóa đào tạo nghề luật sư Sau khi hoàn thành khóa học và được cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư thì phải đăng ký tập
sự tại một tổ chức hành nghề luật sư Hết thời gian tập sự phải được Liên đoàn luật
sư Việt Nam tổ chức kiểm tra nếu đạt yêu cầu thì mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư Luật Luật sư cũng có quy định rõ quyền của luật sư là được ký hợp đồng thực hiện dịch vụ pháp lý với các đương sự và được hưởng phí dịch vụ từ hợp đồng vụ việc chỉ trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải có luật
sư tham gia bào chữa Hình thức hoạt động pháp lý của Luật sư là thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức Luật sư hoạt động dịch vụ pháp lý phải luôn tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, trung thực, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của mình Đối với khách hàng luôn tận tâm trong công việc và hạn chế rủi ro cho khách hàng
Đối với quy định luật sư ở các nước trên thế giới nhìn chung cũng không khác
gì quy định luật sư ở tại Việt Nam Luật sư thực hiện pháp lý là tư vấn pháp luật, bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người dân Luật sư được quyền ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với người yêu cầu cần luật sư bảo vệ, bào chữa Sau khi kết thúc vụ việc luật sư được nhận thù lao do người có yêu cầu chi trả (Thù lao của luật sư nhận theo khung giá quy định mà pháp luật tại nước sở tại cho phép) Luật sư hoạt động luôn tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp và pháp luật quy định nghề luật sư Mục tiêu chung luật sư là phục vụ dịch vụ pháp lý cho người có nhu cầu trợ giúp pháp luật
4 Trích Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 “Tiêu chuẩn luật sư”
Trang 181.1.2 Luật sư công
Ở Việt Nam nghề LSC chưa có quy định chức danh này mà chỉ có Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm TGPL Nhà nước làm cộng tác viên thực hiện TGPL miễn phí cho người dân thuộc đối tượng được hưởng dịch vụ pháp lý theo quy định Luật TGPL (Điều 17 Luật TGPL năm 2017) Luật sư cộng tác viên Trung tâm sau khi thực hiện xong vụ việc thì được nhà nước trả thù lao trích từ nguồn ngân sách và người dân không phải trả bất kỳ khoảng phí nào cho luật sư.5
Theo một số nước trên thế giới (Canada, Israel, Argentina) quy định về LSC thì LSC là người thực hiện TGPL đó là luật sư làm việc tại các cơ quan nhà nước theo biên chế hoặc theo hợp đồng lao động LSC sẽ phải tuân thủ việc chỉnh thị, báo cáo
về nội dung công việc của mình với thủ trưởng cơ quan, của đơn vị mà mình đang công tác Hoạt động mang tính chất từ thiện, miễn phí cho đối tượng được thụ hưởng dịch vụ TGPL LSC được tuyển dụng vào làm việc trong cơ quan nhà nước là công chức nhà nước được hưởng lương ổn định từ ngân sách nhà nước và các chính sách khác LSC hoạt động thực hiện pháp lý theo sự điều chỉnh của Luật LSC của mỗi nước và tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Mọi hoạt động TGPL của LSC đều chịu sự quản lý, giám sát của Cục TGPL, Bộ Tư pháp.6
1.2 VAI TRÒ CHẾ ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ CÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
Từ những nhu cầu thực tế đối với những đối tượng có trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết pháp luật, yếu thế trong xã hội và điều kiện khó khăn về tài chính nên việc tiếp cận dịch vụ pháp lý là rất khó khăn đối với họ Để được bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp cho mình thì họ phải bỏ ra một khoảng phí ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư Điều kiện này thì quá khó khăn Do đó, để phục vụ cho những đối tượng yếu thế này nên một số nước trên thế giới như Israel, Canada, Argentina và một số nước khác đã triển khai thực hiện thí điểm mô hình LSC thực hiện miễn phí cho đối tượng
5 Trích Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 “Người thực hiện trợ giúp pháp lý”
6 Theo Trịnh Thị Thanh (2015) “Giới thiệu trợ giúp pháp lý Argentina”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/nghien-cuu-trao- doi/gioi-thieu-tro-giup-phap-ly-argentina, truy cập ngày 5/6/2018
Trang 19trên và luật LSC đã được ban hành Kết quả qua một thời gian hoạt động của LSC thì nhận thấy rất có hiệu quả và LSC đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch
vụ pháp lý miễn phí cho người dân Từ khi có LSC hoạt động TGPL miễn phí đã góp phần cải cách hệ thống tư pháp Tạo điều kiện thuận lợi cho những người nghèo, người có khó khăn về tài chính, người trình độ văn hóa thấp, yếu thế trong xã hội được tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí nhanh chóng, kịp thời LSC thực hiện TGPL
ít tốn kém hơn về nguồn lực, thời gian và có sự hợp tác trong các cơ quan Tòa án, cơ quan Tư pháp nhằm giúp họ tăng cường, mở rộng ảnh hưởng đối với hệ thống pháp luật tư pháp Đối với chi phí phục vụ cho hoạt động LSC thì lại luôn thấp hơn luật sư
tư, chất lượng vụ việc không thua kém gì đối với việc thực hiện pháp lý của luật sư
tư LSC luôn có tâm trong công tác và thực hiện hết trách nhiệm của mình Mỗi quốc gia hoạt động TGPL của của LSC đều được sự điều chỉnh của Luật nơi sở tại (LSC Israel có Luật LSC năm 1995; nước Argentina Luật về văn phòng LSC Liên bang năm 1988)7
LSC được tuyển dụng vào nhà nước để thực hiện TGPL là một công chức hưởng lương hàng tháng từ ngân sách nhà nước, có trách nhiệm trong công việc Họ được quan tâm cho đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng nhiều chính sách (bảo hiểm
y tế, phụ cấp, nghĩ phép…) và hoạt động LSC chịu sự điều chỉnh của các quy tắc đạo đức nghề nghiệp Đối với những đối tượng được thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí như đối tượng bị thiệt thòi, có trình độ văn hóa thấp, yếu thế trong xã hội không tiếp cận được thông tin pháp lý dễ gây mất ổn định xã hội và thường hay bị lợi dụng thì được LSC kịp thời tiếp cận thực hiện TGPL Những đối tượng này không phải chờ đợi, bỏ tiền thuê luật sư (Luật sư tư) Sự tham gia thực hiện TGPL của LSC trong các
cơ quan tố tụng đã góp phần khắc phục sự lạm quyền của các cơ quan xét xử, cố ý làm sai lệch sự thật vụ án, gây oan sai trong hoạt động tư pháp LSC là một công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên họ xác định được trách nhiệm của họ
7 Trích từ Phan Hà (2013) “Chế định luật sư nhà nước ở một số nước”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/che-dinh-luat-su-nha- nuoc-o-mot-so-nuoc , truy cập ngày 5/6/2018
Trang 20trong công việc Họ luôn cố gắng thực hiện tốt và phấn đầu hoàn thành nhiệm vụ được giao đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của người dân
1.3 MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Luật sư công tại Israel
Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý về TGPL tại Israel cũng giống như ở Việt Nam là Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm về nhà nước và quản lý sử dụng nguồn ngân sách cho việc thực hiện TGPL Hoạt động TGPL ở nước này chỉ chủ yếu tập trung hai lĩnh vực hình sự và dân sự còn ở Việt Nam thực hiện các lĩnh vực trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại
1.3.1.1 Lĩnh vực hình sự
Tại Israel mô hình LSC hoạt động theo sự được điều chỉnh của luật LSC ban hành năm 1995 Các tổ chức Văn phòng LSC thực hiện TGPL do Văn phòng LSC cấp quốc gia thành lập Văn phòng này chịu trách nhiệm tuyển dụng và trả phí cho người thực hiện TGPL trong các vụ án hình sự Tổ chức Văn phòng LSC là các ban thực hiện các công việc như Ban vị thành niên, Ban trại giam và tù nhân, Ban tranh tụng, Ban tạm giam……
Hoạt động TGPL của LSC là thực hiện khi đương sự bị bắt tại đồn cảnh sát Đương sự này không cần phải xuất trình các giấy tờ thể hiện mình là đối tượng được TGPL miễn phí Quá trình TGPL thì được thực hiện 24/24h và trong tất cả các ngày trong tuần Hình thức tham gia tư vấn tại nơi đương sự bị tạm giam, giam giữ trong quá trình điều tra, tham gia tại phiên tòa trong giai đoạn xét xử, hỗ trợ cho việc kháng cáo bản án và thực hiện các công việc sau bản án Ngoài ra còn đại diện pháp lý thực hiện các thủ tục hành chính trong quá trình tố tụng như đơn xin giảm án và các công việc khác liên quan đến vụ án
Đối với các tù nhân được TGPL thực hiện TGPL thường xuyên LSC mỗi tuần được vào nhà tù hai lần để thực hiện TGPL LSC được quyền hỏi, theo dõi các tù nhân có bị đối xử trái quy định của pháp luật hay không Hướng dẫn các tù nhân gửi những yêu cầu TGPL thông qua các nhân viên làm việc tại nhà tù
Trang 21Nguyên tắc thực hiện TGPL theo quy định pháp luật nước Israel luôn đảm bảo tính độc lập Giữa công tố viên và LSC đều ở vị trí ngang bằng nhau không có sự phân biệt cao thấp LSC luôn tuân thủ trung thành với khách hàng của mình và đảm bảo lợi ích cho thân chủ Không né tránh mà phải chịu trách nhiệm với những công việc mà mình đã thực hiện đối với khách hàng.8
Ở Israel LSC là công chức nhà nước được nhận lương từ ngân sách nhà nước
và chịu sự điều chỉnh nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của người luật sư (Ở Việt Nam TGVPL đa số là viên chức chỉ có giám đốc trung tâm TGPL là công chức) Theo đó, đối tượng được nhận sự TGPL của LSC bao gồm các đối tượng thiệt thòi và dễ bị tổn thương như trẻ vị thành niên, người có khả năng bị phạt tù, người khuyết tật, người có vấn đề về tâm thần, người có khó khăn về điều kiện tài chính Những đối tượng được TGPL này cũng được quy định tương tự tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017 của Việt Nam
Người thực hiện TGPL ngoài LSC còn có luật sư tư Luật sư tư ký hợp đồng với Văn phòng LSC và được trả thù lao theo quy định pháp luật hiện hành LSC chỉ thực hiện một số vụ án nhất định còn lại là chỉ định và giám sát hoạt động TGPL của luật sư tư LSC và luật sư tư được trả lương theo tháng hoặc thù lao cho từng vụ án
1.3.1.2 Lĩnh vực dân sự
Năm 1972, hoạt động TGPL về lĩnh vực dân sự được điều chỉnh bởi luật TGPL năm 1972 và quy chế kèm theo là Quy chế TGPL năm 1973 Để quản lý, theo dõi quá trình hoạt động TGPL Bộ Tư pháp đã thành lập Cục TGPL Cục TGPL có chức năng, nhiệm vụ quản lý các vụ án lĩnh vực dân sự và các việc có liên quan TGPL Cục TGPL thực các công việc TGPL, bảo vệ các đượng sự như các công ty, văn phòng luật sư tư Ngoài ra, Cục TGPL còn có nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng các văn bản luật quy định về chính sách TGPL và xét duyệt đơn xin yêu cầu TGPL của người dân Giám sát mọi hoạt động TGPL là do Cục TGPL đảm nhận và chịu trách nhiệm xét duyệt đơn yêu cầu TGPL Người đứng đầu Cục TGPL có Cục trưởng và các phòng
8 Theo Theo Phan Hà (2013)“Trợ giúp pháp lý ở Israel”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/tro-giup- phap-ly-o-israel, truy cập ngày 5/6/2018
Trang 22ban nghiệp vụ chuyên môn Các phòng ban nghiệp vụ này chịu trách nhiệm nhận án
và phân công án
Hình thức hoạt động TGPL chỉ phục vụ cho người có nhu cầu và có khó khăn
về tài chính vướng mắc pháp luật theo quy định luật TGPL dân sự Điều kiện được hưởng dịch vụ TGPL là người yêu cầu TGPL phải có nơi cư trú, nội dung yêu cầu TGPL, có cơ sở pháp lý vững chắc (khả năng thắng kiện) và khả năng tài chính phải khó khăn thông qua kiểm tra về thu nhập và tài sản của người yêu cầu
Người thực hiện TGPL là LSC và luật sư tư ký hợp đồng với cơ quan TGPL Văn phòng TGPL khu vực thì được quyền ký hợp đồng các luật sư tư Quá trình thực hiện TGPL của luật sư tư ký hợp đồng luôn được giám sát chắc chẽ và thường xuyên
Để từ đó việc tham gia vụ việc luật sư tư sẽ đảm bảo chất lượng hơn cho người được TGPL Luật sư tư ký hợp đồng được trả thù lao và các chi phí khác như photo, in ấn tài liệu, thu thập chứng cứ… Mô hình LSC Israel khá giống hình thức hoạt động TGPL của TGVPL tại Việt Nam Hoạt động TGPL theo sự điều chỉnh Luật TGPL (có Cục TGPL trực thuộc Bộ Tư pháp).9
1.3.2 Luật sư công ở Argentina
Argentina chức năng TGPL thuộc hệ thống cơ quan tư pháp Hoạt động TGPL
do các văn phòng LSC Liên bang và chịu sự điều chỉnh của Luật về văn phòng LSC Liên bang năm 1988 LSC Liên bang được thay thế bởi Luật Tổ chức về Văn phòng LSC Liên bang năm 2015 Đây là cơ quan thực hiện bào chữa và bảo vệ quyền con người, đảm bảo việc tiếp cận pháp lý một cách có hiệu quả Mục tiêu hoạt động TGPL
là bảo vệ và bào chữa cho những quyền cơ bản của con người đặc biệt là những người yếu thế (Quy tắc này tương tự Luật TGPL tại Việt Nam – phục vụ cho người yếu thế) Văn phòng LSC Liên bang là một cơ quan có trách nhiệm bảo vệ nhân quyền cho những người dễ bị tổn thương trong lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính Các dịch vụ được cung cấp bởi văn phòng LSC là miễn phí cho những người đủ tiêu chuẩn
9 Theo Theo Phan Hà (2013)“Trợ giúp pháp lý ở Israel”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/tro-giup- phap-ly-o-israel, truy cập ngày 5/6/2018
Trang 23theo luật và các quy định hiện hành Văn phòng LSC đặt ra những mục tiêu và tiêu chuẩn về mức thu nhập kinh tế hoặc sự yếu thế để cung cấp dịch vụ LSC ngoài những
vụ án bắt buộc phải tham gia Ngoài ra, văn phòng LSC Liên bang thực hiện TGPL
về lĩnh vực nhà ở, y tế… cho người nghèo, người dễ bị tổn thương nhằm thúc đẩy những biện pháp hỗ trợ chức năng bảo vệ quyền con người Đứng đầu văn phòng LSC Liên bang là Chủ tịch Chủ tịch phải là người Argentina, tốt nghiệp luật sư và
có 8 năm kinh nghiệm, đáp ứng được những yêu cầu để trở thành thượng nghị sĩ quốc gia và được bổ nhiệm dựa trên biểu quyết của 2/3 thành viên có mặt của Thượng viện quốc gia Ngoài ra, LSC Liên bang có thể thành lập những cơ quan cần thiết để thực hiện hiệm vụ của mình Văn phòng LSC Liên bang phát triển những Ủy ban hỗ trợ chức năng chung của văn phòng LSC Liên bang để tiếp cận với những nhóm người khác nhau một cách có hiệu quả như hỗ trợ cho tù nhân trong tù; cho trẻ em và vị thành niên; nạn nhân về bạo lực giới, người bị tị nạn……Hiện nay, có 16 Ủy ban hoạt động với chức năng hỗ trợ, các nhân viên làm việc tại các Ủy ban này đều được trả lương từ văn phòng LSC Liên bang
Các LSC được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển Quy định bổ nhiệm, lương và chế độ chính sách đối với LSC Liên bang cũng giống giống như Thẩm phán, công tố viên họ cũng được bổ nhiệm đến năm 75 tuổi trừ trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp hoặc vi phạm pháp luật nghiêm trọng Mỗi LSC có các nhân viên
hỗ trợ đều có một văn phòng làm việc riêng, đóng rải rác theo các khu vực nhất định Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết với sự nhất trí của người thực hiện TGPL (LSC) thì LSC được quyền điều chuyển vị trí công tác của họ để thực hiện các công việc có cùng tính chất, vị trí mà họ thực hiện trong cùng quận hoặc thậm chí khác quận Đối với vụ án hình sự LSC hỗ trợ theo yêu cầu của người dân hoặc do không có người bào chữa thì sau kết thúc vụ án thẩm phán quyết định chi phí tham gia tố tụng
mà họ phải trả cho LSC nếu họ có điều kiện chi trả (nếu họ không có điều kiện để thuê luật sư vào thời điểm kết án thì họ được miễn phí) Trong những vụ án khác (không phải vụ án hình sự) chi phí được trả bên thua kiện, sau khi thắng kiện nhận được toàn bộ tài sản của mình hoặc khi có một sự tăng lên đáng kể trong của cải của
Trang 24họ Các phí thu được này sẽ đưa vào một khoản thu đặc biệt của văn phòng LSC Liên bang dùng để đào tạo cán bộ, kinh phí dành cho bảo hiểm xã hội của bị cáo, những người được bào chữa và cho tất cả các hoat động nhằm phát triển dịch vụ theo quy định
Tại Argentina Bộ Tư pháp có chức năng phục vụ công lý và bảo vệ xã hội có nhiệm vụ xây dựng và phổ biến pháp luật, tư vấn các vấn đề về chính sách pháp luật cho Tổng thống, TGPL cho người dân Hiện nay, Bộ tư pháp có 82 trung tâm tiếp cận công lý cho người dân Các trung tâm này hình thức hoạt động tư vấn, cung cấp thông tin pháp luật, đại diện ngoài tố tụng.10
Ngoài ra, cộng tác viên của các trung tâm này là cán bộ, ngành khác trong các lĩnh vực được xã hội quan tâm được cơ quan đó trả lương và làm việc tại các trung tâm này để giúp người dân tiếp cận pháp luật (Mô hình này giống Trung tâm TGPL Nhà nước tại Việt Nam)
1.3.3 Luật sư công ở Canada
Trong 20 năm qua, Canada có nhiều tranh cải về 12 chương trình thực hiện TGPL tại 10 bang, 02 vùng lãnh thổ Một số nơi chỉ sử dụng LSC thực hiện TGPL
và một số khác chỉ sử dụng luật sư tư Tuy mỗi nơi sử dụng mô hình luật sư thực hiện TGPL khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng là muốn được giảm chi phí và có chất lượng vụ việc để đối tượng được TGPL miễn phí thụ hưởng Hoạt động TGPL tại Canada đạt hiệu quả cao như giảm chi phí, thời gian, nguồn lực cho cơ quan nhà nước
1.3.3.1 Kinh phí cho luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý luôn tốn ít
Tranh luận về các mô hình TGPL tại Canada ban đầu bằng những so sánh hệ thống TGPL sử dụng LSC và với sử dụng luật sư tư Nghiên cứu mô hình TGPL ở thị trấn Burnaby từ năm 1981 cho thấy chi phí trung bình một vụ án của luật sư tư là
235 USD trong khi đo nếu thuê luật sư tư là 264 USD
10 Theo Trịnh Thị Thanh (2015) “Giới thiệu trợ giúp pháp lý Argentina”, Nghiên cứu – Trao đổi, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/nghien-cuu-trao- doi/gioi-thieu-tro-giup-phap-ly-argentina, truy cập ngày 5/6/2018
Trang 25Để đánh giá hiệu quả hoạt động các mô hình thực hiện TGPL tại Canada bằng cách so sánh quá trình hoạt động thực hiện TGPL giữa LSC và luật sư tư Kết quả chi phí trung bình cho một vụ án đối với LSC chỉ tốn 235USD còn trong khi đó luật
sư tư thực hiện tốn mất 264 USD Việc so sánh này được thực hiện tại thị trấn Burnaby
từ năm 1981
Ngoài nghiên cứu hai mô hình luật sư ở Thị trấn Burnaby tại bang Maitoba và bang Saskatchewa, bang Alberta cũng tiếp tục nghiên cứu so sánh chi phí hoạt động LSC, luật sư tư thực hiện TGPL như Bang Manitoba LSC tốn phí 197 USD, luật sư
tư tốn phí 307 USD; Bang Saskatchewan tốn phí cho thực hiện TGPL có thể tăng 30% nếu 1/3 vụ việc giao cho luật sự tư và tăng 64% nếu giao hết vụ việc cho luật sư
tư
Năm 2003, Hiệp hội TGPL Bang Alberta thử nghiệm thực hiện dự án TGPL cho trẻ em vị thành niên vi phạm pháp luật tại hai trung tâm TGPL của hai thành phố Calgry và Edmonton Qua đánh giá kết quả trung bình chi phí cho một vụ án cho LSC tốn phí 353 USD còn luật sư tư tốn 5.000 USD So sánh mức chi phí thì luật sư tư cao hơn LSC là khoảng 30%
LSC thực hiện nhiệm vụ của luật sư nghĩa vụ tại cơ quan tòa án thực hiện thường xuyên hơn nên hoạt động hiệu quả hơn ngay từ giai đoạn đầu với tư cách luật sư nghĩa
vụ Qua đó đã tiết kiệm được 2,4 triệu USD cho gần 5.000 vụ kết thúc sớm từ giai đoạn đầu và không phải tiếp tục cấp giấy chứng nhận cho các gai đoạn tiếp theo TGPL Mang lại nhiều lợi ích cho người dân
1.3.3.2 Luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý tốn ít thời gian
Quá trình thực hiện TGPL ở một số nơi như Burnaby, bang Nova Scotia, British Columbia và số nơi khác nhận thấy LSC thực hiện TGPL tốn thời gian ít hơn luật sư
tư như đối với việc hành hung thì LSC chỉ thực hiện trong 4 giờ còn luật sư tư phải mất tới 8 giờ; Vụ án sử dụng vụ khí LSC mất 5 giờ còn luật sư tư mất gần 10 giờ; Vụ
án trộm cắp tài sản 200 USD LSC tốn 4 giờ còn luật sư tư tốn đến hơn 7 giờ
Đánh giá kết quả thực hiện vụ án tuy luật sư tư tốn khá nhiều thời gian hơn so với LSC nhưng chất lượng vụ việc LSC đạt hiệu quả hơn Nguyên nhân chủ yếu là
Trang 26luật sư tư cho rằng chi phí thù lao trả cho luật sư tư quá thấp so với nhận một vụ án thông thường trên thị trường nên kéo theo chất lượng vụ việc đạt không cao Từ những suy nghĩ đó luật sư tư thường hay kê thời gian để nhận trả chi phí tthù lao luôn ở mức
tối đa cho phép Bang Alberta thường gọi cách làm này của luật sư tư là “Kê khai
chiến lược” còn ở Quebec gọi là “Độn hóa đơn”
1.3.3.3 Chất lượng vụ việc luật sư công cao
LSC thực hiện công việc ít tốn kém về kinh phí, thời gian so với luật sư tư nhưng lại bị phản bác với lý do các vụ án mà LSC đảm nhận thực hiện ít phức tạp hơn, chất lượng vụ việc kém hiệu quả nhưng thực tế qua các thử nghiệm mô hình thì sự phản bác này là không chính xác
LSC thực hiện TGPL được đánh giá cao hơn luật sư tư về chất lượng vụ việc Đối với các vụ án hình sự tuyên phạt tù thì LSC tham gia bào chữa mức án tù bị cáo phải nhận thấp hơn so với luật sư tư bào chữa Theo đánh giá tại dự án Burnaby khoảng 60% đối tượng bị kết án thì có 40% đối đượng luật sư tư bào chữa bị phạt tù còn đối LSC chỉ chiếm khoảng 30%
Ngoài Burnaby đánh giá tỉ lệ phạt tù thì tại bang Brtitish Columbia, bang Saskatcgwa cũng nhận định như vậy Đối tượng LSC bào chữa bị tuyên phạt tù chiếm 42%, đối tượng của luật sư tư bào chữa thì chiếm tỉ lệ cao hơn 42% Tại bang Saskatcgwa đối tượng LSC bị phạt tù chiếm 14% còn luật sư tư lại chiếm 32% Phản bác đối việc thực hiện TGPL của LSC có những lập luận rằng nguồn chi phí cho hoạt động LSC ít nên LSC chỉ nhận những vụ án đơn giản ít phức tạp nhưng thực tế nghiên cứu tại Burmaby những vụ việc thuộc đối tượng TGPL LSC nhận và thực hiện hết không có sự phân biệt vụ án lớn hay vụ án nhỏ Đối với những vụ án giao cho luật sư tư tham gia là những vụ án do quá tải LSC không đảm nhận hết Việc giao vụ án cho luật sư tư ngẫu nhiên không có sự phân biệt án phức tạp hay không phức tạp Luật sư tư cho rằng vụ án mình đảm nhận toàn là án phức tạp là không chính xác
Một sự tranh cải khác là LSC nhận các vụ án có tội nhiều hơn luật sư tư nên việc bào chữa yếu hơn nhưng theo chương trình TGPL bang British Columbia thì
Trang 27nhận định LSC và luật sư tư bào chữa kết quả tuyên vô tội, đình chỉ vụ án hoặc rút lại đơn buộc tội đều gần như nhau Cụ thể LSC bào chữa chiếm tỉ lệ tuyên vô tội, đình chỉ hoặc rút yêu cầu buộc tội là 27,2%, luật sư tư 27,8% và về phán quyết có tội LSC chiếm tỉ lệ 72,8%, luật sư tư 72,2% Trong quá trình thực hiện TGPL LSC tham gia sớm hơn trong quá trình tố tụng so luật sư tư Kết quả, kết án LSC ở mức thấp hơn so luật sư tư.11
Qua khảo sát nghiên cứu mô hình LSC tại các nước trên nhận thấy rằng LSC thực hiện TGPL rất hiệu quả so với luật sư tư Ở Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm
mô hình để từ đó hoàn thiện pháp luật TGPL cũng như TGVPL hoạt động có hiệu quả
1.4 SO SÁNH GIỮA MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG VÀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP
LÝ Ở VIỆT NAM
1.4.1 Giống nhau
Qua phân tích đánh một số nước về người thực hiện TGPL là LSC và so sánh với mô hình TGPL tại Việt Nam TGVPL thực hiện TGPL so với LSC một số nước trên thế giới thực hiện TGPL đều giống nhau về mục đích hoạt động là hỗ trợ pháp
lý cho các đối tượng yếu thế, trình độ văn hóa thấp và khó khăn về tài chính không
có điều kiện tiếp cận pháp lý (giống mô hình LSC nước Israel, Argentina) Hai mô
hình hoạt động đều được điều chỉnh của Luật TGPL
Người thực hiện TGPL LSC và TGVPL đều được tuyển dụng và hưởng lương được trích từ ngân sách nhà nước, hưởng thêm nhiều chế độ khác (Bảo hiểm, nghĩ theo quy định, được cử tham gia các khóa học, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ……) Hình thức hoạt động của LSC là thông qua tư vấn, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, thu thập tài liệu, chứng cứ làm sáng
tỏ trong vụ án Hình thức hoạt động của TGVPL là tham gia bào chữa, bảo vệ cho các đối tượng được TGPL tại các cơ quan tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ) Ngoài ra, TGVPL sau khi tiếp nhận vụ việc thì tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung vụ việc, tiếp xúc đối tượng bị can, bị cáo, đương sự
11 Theo Theo báo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh ngày 12/01/2006 “Trợ giúp pháp lý ở Canada: Luật sư công - hiệu quả”, Trang thông tin điện tử Tuổi trẻ oline, tại https://tuoitre.vn/tro-giup-phap-ly-o- canada-luat-su-cong -hieu-qua-118155.htm , truy cập ngày 5/6/2018.
Trang 28trong vụ án dân sự…Tham gia các vụ án từ tiền tố tụng cho đến khi tham gia vụ án
và kết thúc án TGVPL được hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên không có nhận bất kỳ phí nào từ người dân
TGVPL tại Việt Nam đóng vai trò rất trọng trong hoạt động TGPL Từ khi có quy định về TGPL và Luật TGPL ra đời TGVPL đã trợ giúp được hàng ngàn vụ án cho người dân và đã tạo được niềm tin trong nhân dân Cũng giống như LSC TGVPL thực hiện TGPL rất ít tốn kém chi phí, thời gian và chất lượng vụ việc đạt hơn so với luật sư tư Trình độ học vấn chuyên môn của TGVPL được đào tạo bài bản, đủ năng lực tham gia thực hiện TGPL như người được đào tạo chuyên môn về ngành pháp luật (cử nhân luật, qua đào tạo nghề luật sư…) cũng như những LSC phải qua đào tạo ngành luật Ngoài ra, giống như một số nước thì cơ quan chịu trách nhiệm về hoạt động TGPL là Cục TGPL Cục TGPL do Bộ Tư pháp thành lập
1.4.2 Khác nhau
Người thực hiện TGPL ở mô hình LSC là công chức nhà nước còn ở Việt Nam
là đa số viên chức nhà nước chỉ có Giám Đốc Trung tâm TGPL Nhà nước là công chức Ở Việt Nam có Trung tâm TGPL Nhà nước và cơ quan quản lý trực tiếp là Sở
Tư pháp của mỗi tỉnh và Cục TGPL theo dõi thuộc Bộ Tư pháp Đối với mô hình LSC ở nước ngoài quản lý trực tiếp hoạt động TGPL là Cục TGPL trực thuộc Bộ Tư pháp hoặc một số nước là Bộ Tư pháp Đa số các nước trên thế giới mỗi nước luôn tồn tại hai mô hình luật sư là mô hình luật sư tư và LSC còn đối với Việt Nam chỉ có một mô hình là luật sư, một hình TGVPL
Qua đánh giá sự giống nhau và khác nhau của hai mô hình hoạt động LSC và TGVPL tại Việt Nam thì cả hai mô hình hoạt động khá giống nhau về hình thức và mục đích hoạt động Đối tượng được hưởng dịch vụ TGPL thì tương tự như quy định Luật TGPL năm 2017 tại Việt Nam Hình thức thực hiện giữa hai mô hình đều là tham gia tư vấn, tố tụng tại các cơ quan tố tụng và từng vụ việc tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu phục vụ cho vụ án Kết quả hoạt động rất hiệu quả ít tốn kinh phí
và chất lượng vụ việc đạt yêu cầu không thua kém luật sư tư Đối tượng vướng mắc pháp luật theo quy định được hưởng TGPL miễn phí luôn có điều kiện tiếp cận pháp luật nhanh chóng và thường xuyên
Trang 29CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ VÀ
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI VIỆT NAM
2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ
2.1.1 Sự ra đời văn bản pháp luật quy định trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Thời điểm trước năm 1975, tuy không có luật riêng hay một chế định cụ thể về chức danh TGVPL hay LSC nhưng các hoạt động TGPL miễn phí cho người nghèo, các đối tượng đặc biệt khó khăn, các bị can, bị cáo cần có người bào chữa vẫn được quy định trong văn bản luật như Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 của Chủ Tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quy định trong các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ tòa án tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho họ và nếu bị can không có ai bênh vực thì ông Chánh án có thể tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can cử một người ra bào chữa cho bị can; người đứng ra bênh vực không được nhận tiền thù lao hay của thân nhân
bị can12 Đến năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 37 đối với bị can, bị cáo về tội khung hình phạt có mức án cao nhất tử hình được quy định Bộ luật hình sự; những bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ mà chưa mời được người bào chữa thì cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư cử người tham gia bào chữa cho
họ Các bị can, bị cáo được bào chữa miễn phí không phải trả thù lao cho luật sư Qua việc quy định Sắc lệnh năm 1949, Bộ luật hình sự năm 1988 trên đã chứng minh được rằng trước năm 1975 và trước khi hoạt động TGPL được Đảng và nhà nước quan tâm nghiên cứu (1995) đã có sự tồn tại của hoạt động TGPL miễn phí cho người dân Họat động TGPL bắt đầu được nghiên cứu vào năm 1995 và mãi đến cuối thế kỷ thứ XX (năm 1997) TGPL mới hình thành đi vào hoạt động TGPL ra đời muộn so với sự ra đời lịch sử nền Tư pháp Việt Nam Thời điểm này, ở Việt Nam
12 Trích Sắc lệnh ngày 18/6/1949, Trang thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tại http://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=236, truy cập ngày 07/6/2018
Trang 30điều kiện kinh tế rất khó khăn, cuộc sống chủ yếu nhờ vào ngành nông nghiệp, trình
độ dân trí thấp, thất nghiệp, hộ nghèo đông nên việc tiếp cận dịch vụ pháp lý của người dân còn nhiều hạn chế Dưới sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối với những đối tượng yếu thế trên nên đã ban hành những văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực hoạt động TGPL để TGPL miễn phí đi vào lòng dân Từ khi có sự quan tâm của nhà nước về hoạt động TGPL thì những đối tượng như người nghèo, đối tượng chính sách người có công với cách mạng và những đối tượng khác được tiếp cận dịch vụ pháp lý thường xuyên, kịp thời Hoạt động TGPL đã góp phần tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, hạn chế tranh chấp khiếu kiện vượt cấp không đúng quy định pháp luật Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân, góp phần nâng cao ý thức pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, giảm bớt các vụ khiếu kiện trái pháp luật, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Hoạt động TGPL đã góp phần thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về việc đưa pháp luật vào cuộc sống người dân Góp phần xóa đói giảm nghèo, gắn
bó với cơ sở và huy động được sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội trong hoạt động TGPL Hoạt động TGPL đã được triển khai sâu rộng trong mọi tầng lớp, phục vụ cho đông đảo quần chúng nhân dân, thể hiện bản chất, tính ưu việt của pháp luật Hoạt động TGPL mang tính chất từ thiện xã hội nhằm mục tiêu tạo điều kiện nâng cao ý thức tuân theo pháp luật của người dân, sống và làm việc theo pháp luật Đảng và nhà nước đã chú trọng quan tâm đến những đối tượng khó khăn về tài chính, đối tượng người có công với cách mạng và yếu thế trong xã hội vào diện thuộc đối tượng được hưởng dịch vụ TGPL miễn phí Để thực hiện được vấn đề này, Đảng
và nhà nước ta đã nghiên cứu nhiều phương pháp, đề án, hình thức TGPL để triển khai pháp luật TGPL được đi sâu vào trong dân Do đó, ngày 31/5/1995 Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành văn bản số 485/CV-VPTW chỉ đạo cần phải mở rộng
tư vấn pháp luật phổ thông đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của nhiều tầng lớp nhân dân, cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí không thu tiền từ người dân Tư vấn, hướng dẫn người dân sống và làm việc theo pháp luật Triển khai chủ trương cho hoạt động TGPL miễn phí theo chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng Bộ Tư pháp và Ban
Trang 31Tổ chức trung ương đã tập trung triển khai thí điểm thành lập tổ chức TGPL Tổ chức TGPL đầu tiên được thành lập là tại tỉnh Cần Thơ (7/1996) và Hà Tây (01/1997) Tên
tổ chức là Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Cần Thơ, Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh
Hà Tây Mô hình hoạt động của hai trung tâm này hoạt động mang tính chất từ thiện, nhân đạo và là chính sách lớn của nhà nước ta 13Trên cơ sở thí điểm hoạt động để nghiên cứu, rút kinh nghiệm nhà nước ta đã mạnh dạng mở rộng thêm nhiều Trung tâm TGPL ở các tỉnh khác Trên cơ sở thí điểm Bộ Tư pháp và Ban tổ chức Trung ương đã đề xuất lập Đề án và xây dựng hệ thống TGPL Đề án đưa ra nhanh chóng được Thủ Tướng Chính phủ đồng ý và cho chủ trương Ngoài tư vấn pháp luật còn
mở thêm hình thức hoạt động là đại điện, bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người được hưởng TGPL tại các cơ quan tố tụng
Năm 1997, tại kỳ họp lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định cần phải có tổ chức tư vấn pháp luật phục vụ cho các cơ quan nhà nước và nhân dân Đặc biệt phải luôn quan tâm hướng đến đối tượng người nghèo, đối tượng chính sách đều phải được hưởng dịch vụ TGPL miễn phí Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đối tượng chính sách, thành lập Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp Cục TGPL vừa có chức năng giúp Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về TGPL, vừa thực hiện TGPL trong trường hợp cần thiết Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Trung tâm TGPL do Sở Tư pháp nơi đó thành lập
Ngày 01/3/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 05/2000/CT-TTg và
Bộ Tư pháp ban hành 16 văn bản hướng dẫn thi hành với nội dung tăng cường cho công tác TGPL nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động TGPL Trên cơ sở tạo điều kiện cho người dân thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí Ngày 21/5/2002, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm
nghèo đến năm 2010 nhằm mục đích chung là “Tạo môi trường tăng trưởng nhanh,
bền vững và xóa đói, giảm nghèo” trong đó xác định rõ “Hoàn thiện khuôn khổ pháp
13 Theo Cục trợ pháp lý “Quá trình hình thành và phát triển của công tác trợ giúp pháp lý ở Việt Nam”, Lịch sử phát triển, Trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam, tại http://trogiupphaply.gov.vn/lich-su-phat-trien, truy cập ngày 07/6/2018.
Trang 32luật, tăng cường TGPL và khả năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo” Ngày
06/6/2003, Chính phủ ban hành tiếp Nghị định số 62/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của tổ chức Bộ Tư pháp trong đó có quy định
Bộ Tư pháp có nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về TGPL cho người nghèo và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật Để thực hiện TGPL hoạt động trên toàn quốc nên tháng 6/2006 cả nước thành lập 63 Trung tâm TGPL ở 63 tỉnh, 199 chi nhánh, tổ chức TGPL, 4.345 Câu lạc TGPL ở cấp xã, phường, thị trấn Người thực hiện TGPL có 483 người, 1.055 cộng tác viên là luật sư, luật gia và những người công tác pháp luật đã về nghĩ hưu14 Hoạt động TGPL đã trưởng thành và bắt đầu đi vào
ổn định trên toàn quốc
Ngày 29/6/2006, Quốc hội đã ban hành Luật TGPL Luật này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2007 quy định về đối tượng TGPL, tiêu chuẩn điều kiện bổ nhiệm TGVPL (Người thực hiện TGPL) và những quy định khác có liên quan Tạo
ra bước ngoặc lịch sử trong hoạt động TGPL tại Việt Nam Sau 10 năm hoạt động Đảng và nhà nước ta đã nhận thấy vẫn còn thiếu một số đối tượng chưa được đưa vào đối tượng được hưởng TGPL nên cần mở rộng thêm như hộ cận nghèo bị buộc tội, người cao tuổi khó khăn về tài chính, trẻ em từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội Quá trình thực hiện các vụ việc TGPL chất lượng còn thấp, năng lực trình độ chuyên môn các TGVPL; các tổ chức, cá nhân ký hợp đồng TGPL chưa chuyên sâu, sự tin tưởng của người được TGPL chưa cao Do đó, ngày 20/6/2017 Quốc hội đã ban hành Luật TGPL năm 2017 và luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018 Luật này quy định về người được TGPL; tổ chức thực hiện TGPL; hoạt động TGPL; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động TGPL
Ngoài ra, hoạt động TGPL còn có một số văn bản luật có liên quan quy như Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động TGPL; Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định tại điểm b khoản 2 Điều 61 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (TGVPL người thực hiện TGPL); Bộ Luật tố tụng dân sự
14 Theo Tlđd như trên.
Trang 33năm 2015 quy định tại điểm b khoản 2 Điều 75 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đương sự (TGVPL thực hiện TGPL) và Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định tại điểm d khoản 2 Điều 72 người bào chữa (TGVPL thực hiện TGPL)
2.1.2 Luật Trợ giúp pháp lý quy định về hoạt động trợ giúp pháp lý
Quy định về phạm vi, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL Phạm vi thực hiện TGPL lý chỉ được thực hiện trên địa phương nơi có vụ việc xảy ra tranh chấp, khiếu kiện, bị can, bị cáo nơi người được TGPL cư trú hoặc vụ việc TGPL mà cơ quan có thẩm quyền về TGPL Trung ương có yêu cầu thực hiện TGPL(Điều 26) Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL vì
có những vụ việc tranh chấp xảy ra nơi không thuộc nơi cư trú của người được TGPL nếu yêu cầu tổ chức thực hiện TGPL nơi có xảy tranh chấp thì sẽ tiện, thuận lợi hơn
và tổ chức TGPL dễ dàng thực hiện TGPL (xác minh, thu thập chứng cứ, nắm rõ được địa bàn đang tranh chấp, tập tục địa phương đó) Quy định lĩnh vực, hình thức TGPL là chỉ thực hiện TGPL đối với các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại và hình thức thực hiện TGPL tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật (Điều 27) Lý do trừ lĩnh vực kinh doanh thương mại vì lĩnh vực này thuộc đối tượng có điều kiện về tài chính, có thể thuê luật sư, tổ chức luật sư để tham gia bảo vệ trong vụ án của mình Trụ sở của tổ chức thực hiện TGPL phải được bố trí nơi để tiếp người được TGPL Có thể tiếp họ tại trụ sở trợ hoặc ngoài trụ sở nhưng phải đảm bảo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL Nơi đặt trụ sở TGPL phải được niêm yết lịch tiếp, nội quy tiếp người được TGPL, danh sách người thực hiện TGPL, số điện thoại đường dây nóng của tổ chức TGPL và các mẫu giấy tờ liên quan hoạt động TGPL (Điều 28) Để được tổ chức thực hiện TGPL cử người tham gia thực hiện TGPL thì người được TGPL phải có đơn yêu cầu TGPL và có nghĩa vụ cung cấp các giấy tờ chứng minh mình là đối tượng được TGPL, các giấy tờ, tài liệu liên quan
vụ việc TGPL Thông tin, tài liệu, các giấy tờ liên quan yêu cầu TGPL phải chính xác, không được giả mạo, gian dối và nộp hồ sơ này trực tiếp tại trụ sở tổ chức TGPL Nếu không biết viết thì có thể trình bày trực tiếp đối với người tiếp nhận vụ việc TGPL để họ có thể ghi lại nội dung mà mình yêu cầu, sau đó sẽ được nghe đọc lại rồi
Trang 34đồng ý ký tên vào đơn yêu cầu TGPL (Điều 29) Ngoài ra, người được TGPL có thể gửi đơn yêu cầu TGPL thông qua đường bưu điện, fax Với quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL đỡ mất thời gian, chi phí đi lại Vụ việc TGPL
đủ điều kiện để được tổ chức TGPL thụ lý khi vụ việc TGPL có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL; nếu không liên quan trực tiếp người được TGPL hoặc trái pháp luật thì tổ chức TGPL sẽ từ chối thụ lý vụ việc Ngoài ra, tổ chức TGPL từ chối thực hiện TGPL trong trường hợp khi người được TGPL chết, vụ việc đang được một tổ chức thực hiện TGPL khác thụ lý, giải quyết (Điều 30) Người được TGPL chỉ được quyền chọn một tổ chức thực TGPL cho mình
và đây là quy định bắt buộc
Hoạt động TGPL thực hiện có 03 hình thức như tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng Hình thức tham gia tố tụng là người thực hiện TGPL(TGVPL, Luật sư cộng tác viên) tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định luật
tố tụng Khi có đơn yêu cầu của người được TGPL nếu đủ điều kiện thụ lý thì trong thời gian không quá 03 ngày hoặc 12 giờ đối người bị bắt, bị giam giữ; 24 giờ đối với
bị can, bị cáo, người bị hại thì trách nhiệm của tổ chức thực hiện TGPL là ra quyết định cử người thực hiện TGPL để tham gia cho người được TGPL kịp thời, đúng lúc (Điều 31) Với quy định này sẽ tạo điều kiện cho người được TGPL nhanh tiếp xúc được người thực hiện TGPL và họ được TGPL ngay từ giai đoạn đầu vụ án Hình thức tham gia tư vấn TGPL là người thực hiện TGPL được tiếp xúc đối tượng TGPL ngay từ đầu xảy ra vụ việc Họ sẽ thực hiện TGPL bằng cách tư vấn pháp lý, hướng dẫn, soạn thảo các loại đơn liên quan vụ việc tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật cho người được TGPL, tổ chức cho hai bên hòa giải, thương lượng thống nhất
vụ việc được TGPL Trong thời hạn 10 kể từ ngày thụ lý hoặc nhận đủ hồ sơ của vụ việc người thực hiện TGPL có nhiệm vụ nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho người được TGPL Nếu cần phải xác minh làm rõ vụ việc thì không quá 30 ngày, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với người được TGPL Đối với những vụ việc TGPL vướng mắc pháp luật đơn giản thì người thực hiện TGPL có thể tư vấn trả lời ngay cho người
Trang 35được TGPL(Điều 32) Hình thức đại diện ngoài tố tụng là người thực hiện TGPL(TGVPL, luật sư cộng tác viên) thực hiện TGPL đại diện ngoài tố tụng trước
cơ quan có thẩm quyền Người thực hiện TGPL có thể cùng người được TGPL tham gia hòa giải vụ việc giải quyết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn hoặc hỗ trợ pháp lý yêu cầu thi hành án tại cơ quan thi hành án và các công việc khác liên quan TGPL Thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ việc thì tổ chức thực hiện TGPL ra quyết định cử người thực hiện TGPL đại diện ngoài tố tụng (Điều 33) Quá trình thực hiện TGPL nếu cần có sự phối hợp xác minh đối với tổ chức TGPL khác thì tổ chức TGPL gửi yêu cầu bằng văn bản cho tổ chức TGPL đó để tổ chức nhận được yêu cầu thực hiện việc xác minh Tổ chức TGPL khi nhận được yêu cầu phối hợp xác minh thì có nghĩa vụ trong thời hạn 10 ngày phải thực hiện việc xác minh và gửi cho tổ chức TGPL yêu cầu Nếu không xác minh được nội dung yêu cầu trong vụ án thì phải có văn bản trả lời Tất cả các văn bản yêu cầu xác minh, văn bản thông báo kết quả thực hiện và các giấy tờ có liên quan vụ việc TGPL phải được lưu trữ trong hồ sơ vụ việc TGPL (Điều 34)
Trường hợp không đủ nguồn lực để thực hiện TGPL, tổ chức tham gia TGPL
có thể chuyển yêu cầu TGPL đến Trung tâm TGPL Nhà nước tại địa phương khác và thông báo cho người có yêu cầu được biết để tiện liên hệ làm việc (Điều 35) Trong quá trình thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL nhận thấy cần phải có kiến nghị đến các cơ quan, ban ngành liên quan đến vụ việc mà đang được TGPL để yêu cầu
cơ quan, ban ngành đó giải quyết Hình thức kiến nghị phải bằng văn bản đến các cơ quan có thẩm quyền liên quan vụ việc TGPL Thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị từ tổ chức thực hiện TGPL thì cơ quan nhận kiến nghị đó phải trả lời bằng văn bản trong phạm vi, quyền hạn của mình Trường hợp có lý do chính đáng được gia hạn không quá 45 ngày, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Nếu cơ quan yêu cầu kiến nghị không trả lời bằng văn bản thì tổ chức thực hiện TGPL có thể kiến nghị đến cơ quan cấp trên cơ quan đã nhận yêu cầu kiến nghị để cơ quan đó xem xét, giải quyết (Điều 36)