Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn pháp lý cũng như thực trạng kinh doanh thực phẩm thủy hải sản trong mối quan hệ với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở tỉnh Bến Tre đã phát sinh
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VIÊN THẾ GIANG
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản qua thực tiễn tỉnh Bến Tre” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”) Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Võ Trí Thức
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu của Luận văn 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN 6
1.1 NGƯỜI TIÊU DÙNG – CHỦ THỂ KHÔNG THỂ THIẾU TRONG QUAN HỆ KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN, NHƯNG LUÔN Ở THẾ YẾU DO SỰ TÁCH BIỆT GIỮA SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG 6
1.1.1 Bản chất của hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải sản 6
1.1.2 Người tiêu dùng và các phương pháp tiếp cận bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật 8
1.1.2.1 Người tiêu dùng trong pháp luật các nước và Việt Nam 8 1.1.2.2 Các phương pháp tiếp cận bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật10
Trang 5thủy hải sản 13 1.2.1.1 Định nghĩa quan hệ pháp luật tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản 13 1.2.1.2 Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản 17 1.2.2 Thực phẩm thủy hải sản – đối tượng của quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản, đồng thời phải bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm rất chặt chẽ 20 1.2.3 Hình thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quan hệ tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26 CHƯƠNG 2 THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN TẠI TỈNH BẾN TRE 27
2.1 CÁC QUY PHẠM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN 27 2.1.1 Các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành áp dụng chung cho việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản 27 2.1.2 Các văn bản của tỉnh Bến Tre điều chỉnh quan hệ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản 29 2.2 Đánh giá việc thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản 32 2.2.1 Công tác học tập, tuyên truyền pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và
tư vấn, giải quyết khiếu nại người tiêu dùng Làm tốt nhưng chưa thực sự tạo được
sự chuyển biến 32 2.2.2 Công tác tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm, cấp giấy chứng nhận cơ sở kinh doanh đủ điều kiện an toàn thực phẩm thủy hải sản Mới chỉ làm tốt ở khâu cấp
Trang 6hải sản Chưa dung hòa được quyền lợi người tiêu dùng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của cơ sở kinh doanh thực phẩm thủy hải sản 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40 CHƯƠNG 3 TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN TẠI TỈNH BÊN TRE TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 41
3.1 TIỀN ĐỀ CHO VIỆC THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN Ở TỈNH BẾN TRE 41 3.2 Biện pháp bảo đảm tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản ở tỉnh Bến Tre 44 3.2.1 Truy xuất nguồn gốc thực phẩm thủy hải sản kênh thông tin bảo đảm chất lượng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản44 3.2.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước gắn với biện pháp xử lý hành vi vi phạm 46 3.2.3 Nâng cao vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng tỉnh Bến Tre trong bảo vệ người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản 47 3.2.4 Giáo dục và nâng cao ý thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm thủy hải sản 49 3.2.5 Xây dựng văn hóa, đạo đức kinh doanh thực phẩm thủy hải sản – điều kiện để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được toàn vẹn 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 53 KẾT LUẬN 54 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Trang 8phẩm thủy hải sản, là thực phẩm thiết yếu phục vụ cho đời sống con người Khi quyết định sử dụng thực phẩm thủy hải sản, người tiêu dùng quan tâm đến chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm Luận văn này chỉ ra thực trạng của hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải sản có ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, từ đó kiến nghị một số giải pháp bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản qua thực tiễn tại tỉnh Bến Tre hiện nay
Từ khóa
Pháp luật, thực phẩm thủy hải sản, bảo vệ người tiêu dùng
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là vấn đề trung tâm của phát triển nền kinh
tế thị trường ở mỗi quốc gia, bởi lẽ, việc bảo vệ tốt quyền lợi người tiêu dùng góp phần thúc đẩy việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Theo thời gian, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không chỉ là các “khẩu hiệu” chung chung mà dần từng bước mở rộng sang các loại hàng hóa dịch vụ cụ thể Tuy nhiên, thực tiễn nuôi dưỡng, chế biến, đánh bắt, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó theo đuổi những lợi ích trước mắt là một trong những nguyên nhân cơ bản mà việc sản xuất, kinh doanh thủy hải sản không đảm bảo yêu cầu về chất lượng Bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm đang trở thành yêu cầu bức thiết Thực phẩm nhiễm vi sinh vật độc hại, kim loại nặng, nhiễm các loại hoá chất bảo quản, chất kích thích tăng trưởng, chất tăng trọng, các loại phụ gia, chất hỗ trợ chế biến… vượt quá giới hạn cho phép, không rõ nguồn gốc, cấm hoặc ngoài danh mục cho phép trong thực phẩm nông sản đang ngày càng gia tăng, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng và các quyền lợi khác của người tiêu dùng
Thủy hải sản là một loại thực phẩm phổ biến ở nước ta Quá trình nuôi dưỡng, đánh bắt, chế biến, lưu thông trên thị trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà nếu ở khâu nào không tốt, không tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm thì
sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quy trình sản xuất, chế biến cũng như thương hiệu quốc gia (trong trường hợp xuất khẩu thủy hải sản) ra thị trường nước ngoài Nhận thức được tầm quan trọng này, khuôn khổ pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam đã được ban hành và không ngừng hoàn thiện với
kỳ vọng bảo vệ tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng ở khía cạnh chung cũng như ở từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể
Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản đã phát sinh nhiều vấn đề cần được làm rõ hơn như cơ chế, các phương thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm thủy hải sản; phương thức phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
Trang 10quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm thủy hải sản … song thời gian qua các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này vẫn còn nhiều hạn chế
Tỉnh Bến Tre là một tỉnh có sông ngòi chằng chịt và là tỉnh ven biển Tình hình hoạt động kinh doanh thủy hải sản rất sôi động với lượng hàng thủy hải sản rất lớn được tiêu thụ tại địa phương, bán ra ngoài tỉnh và xuất khẩu ra nước ngoài Trước tình hình đó vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thủy hải sản cần được bảo vệ nghiêm và quan trọng hơn hết, bởi vì thủy hải sản là thực phẩm tươi sống được người tiêu dùng làm thực phẩm chế biến sử dụng hàng ngày cho các bữa ăn để con người duy trì sự sống, phát triển tốt về thể lực, trí lực Nếu sử dụng thủy hải sản không bảo đảm chất lượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm không những sẽ ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ… của tỉnh
Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn pháp lý cũng như thực trạng kinh doanh thực phẩm thủy hải sản trong mối quan hệ với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở tỉnh Bến Tre đã phát sinh nhiều vấn đề cần cần phải được giải quyết không chỉ ở khía cạnh lý luận mà còn ở cả khía cạnh triển khai hiệu quả các quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thủy hải sản ở tỉnh Bến Tre
Tác giả lựa chọn chủ đề “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực
phẩm thủy hải sản qua thực tiễn tỉnh Bến Tre” làm nội dung nghiên cứu cho luận
văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung đã được nhiều nghiên cứu
đề cập như “Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các
cơ quan nhà nước tại Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Hoàng Mỹ
Linh, năm 2014; “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học của Bùi Thị Long, năm 2007; “Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn
Thạc sỹ của Võ Thị Hạnh, năm 2015; “Trách nhiệm của thương nhân trong việc
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học
Trang 11của Nguyễn Thị Thu Hiền, năm 2014;… Ngoài ra, còn có các bài viết như “Pháp
luật và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của TS Đặng Vũ Huân, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật số 11/2000; “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong pháp
luật cạnh tranh” của tác giả Ngô Vĩnh Bạch Dương, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật; “Giải pháp toàn diện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Phạm Thu Hằng, Tạp chí Dân chủ Pháp luật, số 3/2011; “Giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng
theo thủ tục rút gọn” của Đặng Thanh Hoa, Tạp chí Dân chủ Pháp luật, số 8/2013;
“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng các vụ kiện tập thể - kinh nghiệm nước
ngoài và các gợi ý hoàn thiện pháp luật” của Quách Thuý Quỳnh, Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 16/2013; luận án tiến sỹ luật học “Pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay” của
tác giả Phạm Văn Hảo, năm 2017…Một cách tổng quát có thể nhận thấy, bản chất nội dung, phương thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được các công trình nghiên cứu này luận giải ở nhiều khía cạnh khác nhau
Các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thủy hải sản hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống trong phạm vi khảo sát của tác giả, có một công trình nghiên cứu
có liên quan gần với đề tài của Luận văn là bài viết của tác giả Viên Thế Giang về chủ đề “Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm nông sản nhìn từ góc độ bảo vệ người tiêu dùng” đăng trên Tạp chí Pháp luật và phát triển số 12 năm 2017
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ những đặc thù trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thủy hải sản là cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực tiễn bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thủy hải sản tại tỉnh Bến Tre trên cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thủy hải sản thông qua việc làm rõ các khái niệm có liên quan
- Làm rõ vai trò và cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thủy hải sản và thực tiễn tại tỉnh Bến Tre
- Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện các cơ chế pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thủy hải sản phù hợp với thực tiễn tỉnh Bến Tre
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là
- Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thủy hải sản
- Thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thủy hải sản tại tỉnh Bến Tre
- Các chủ trương, chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thủy hải sản của tỉnh Bến Tre
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thủy hải sản và thực tiễn tại tỉnh Bến Tre dưới góc độ luật pháp và từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch được sử dụng linh hoạt
và xuyên suốt trong toàn bộ luận văn để làm rõ các luận điểm khoa học được đề cập
Trang 13- Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng để phân tích ở Chương
2 và kiến nghị khoa học ở Chương 3
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được áp dụng để phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thủy hải sản ở tỉnh Bến Tre
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Làm rõ được ở khía cạnh lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản, góp phần bổ sung phát triển ở khía cạnh lý luận
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Chỉ ra được một số bất cập, hạn chế trong thực tiễn bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản tại tỉnh Bến Tre
- Kiến nghị được một số giải pháp có tỉnh khả thi, phù hợp để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản tại tỉnh Bến Tre
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 03 chương như sau
Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản
Chương 2 Đánh giá việc thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải sản tại tỉnh Bến Tre
Chương 3 Tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kinh doanh
thực phẩm thủy hải sản tại tỉnh Bến Tre trong giai đoạn hiện nay
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY
HẢI SẢN
1.1 NGƯỜI TIÊU DÙNG – CHỦ THỂ KHÔNG THỂ THIẾU TRONG QUAN
HỆ KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN, NHƯNG LUÔN Ở THẾ YẾU DO SỰ TÁCH BIỆT GIỮA SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG
1.1.1 Bản chất của hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải sản
Sản xuất và tiêu dùng là hai mặt không thể thiếu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa trên thị trường Các hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật của hầu hết các quốc gia đều tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp được tự do trong việc gia nhập thị trường, sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua việc không ngừng cải thiện môi trường đầu tư
an toàn, lành mạnh Các chính sách, pháp luật về khuyến khích và bảo hộ tự do kinh doanh đã góp phần quan trọng vào việc làm gia tăng các chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường với sự đa dạng của các loại hàng hóa, dịch vụ Người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt nhất, song
sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng cộng với quá trình luân chuyển hàng hóa, người tiêu dùng không có cơ hội để xâm nhập và kiểm soát quá trình sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp Để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, Nhà nước ban hành các tiêu chuẩn
về chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các biện pháp chế tài xử lý đối với hành vi sản xuất cung ứng hàng hóa dịch vụ không bảo đảm chất lượng
Thực tiễn đã chứng minh, doanh nghiệp muốn tiêu thụ hết lượng hàng hóa, dịch vụ do mình cung ứng ngoài việc đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng thông qua việc quan sát mẫu mã, quy trình dịch vụ thì việc bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ cũng luôn được nhà sản xuất quan quan Mặc dù vậy, trong thực tiễn kinh doanh, vẫn còn nhiều hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, dịch vụ đã làm suy giảm nghiêm trọng niềm
Trang 15tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Một điều đáng buồn, số lượng hàng hóa, dịch vụ, nhất là hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng bị phát hiện đa phần là các doanh nghiệp trong nước Mức độ “phổ biến” của hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được bày bán công khai cộng với những hạn chế về khả năng nhận biết, phân biệt hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng của người tiêu dùng đã dẫn tới sự phản ứng “nói không với hàng Việt”, tự sản xuất hàng hóa, dịch vụ an toàn hoặc lợi dụng tâm lý lựa chọn
“sản phẩm sạch”, sản phẩm “an toàn” hoặc lựa chọn hàng hóa có nguồn gốc nước
ngoài (hàng nhập khẩu) hoặc tự cấp, tự túc là minh chứng cho sự thất bại thật sự
của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình cạnh tranh với hàng hóa, dịch vụ nước ngoài Nó hoàn toàn tương phản với nỗ lực lập pháp, sự vào cuộc tích cực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như làm suy giảm hiệu lực của hệ thống chế tài, xâm phạm quyền lợi của các doanh nghiệp làm ăn chân chính
Kinh doanh thực phẩm thủy hải sản, về bản chất là hành vi mua bán hàng hóa – một hành vi thương mại điển hình trong Luật thương mại, có đối tượng mua bán
là các loại thủy hải sản Giao dịch kinh doanh thực phẩm thủy hải sản phát sinh không chỉ giữa người kinh doanh sản phẩm thủy hải sản thành phẩm (sản phẩm hàng hóa thủy hải sản) mà còn có liên quan đến kỹ thuật nuôi trồng, quy trình chế biến để bảo đảm tiêu chuẩn an toàn thực phẩm Hoạt động kinh doanh thủy hải sản cần cân nhắc đến các ngoại lệ, bao gồm: trách nhiệm của toàn xã hội, của Nhà nước, của giới doanh nghiệp và cả những nỗ lực, cố gắng của chính giới người tiêu dùng có tổ chức và kiểm soát điều kiện giao dịch chung.1 Trách nhiệm của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản không chỉ nhằm đảm bảo sự cân bằng lợi ích và sự bình đẳng trên thực tế giữa người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng mà còn để bảo vệ lợi ích của người thứ ba hoặc lợi ích của xã hội Nói cách khác, Nhà nước chỉ can thiệp vào quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng
1 Nguyễn Như Phát, Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật số 2(262)/2010, tr.28-34
Trang 16của người tiêu dùng khi quyền lợi của chủ thể này bị người khác xâm phạm hoặc bị
Từ những phân tích trên có thể thấy, hoạt động kinh doanh thủy hải sản chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của hành vi kinh doanh và có một số điểm khác biệt là:
- Đối tượng kinh doanh là thực phẩm thủy hải sản, có thể là thủy hải sản tươi sống hoặc thủy hải sản đã qua chế biến thành các sản phẩm hàng hóa cụ thể
- Thực phẩm thủy hải sản dễ bị phân hủy theo thời gian, tức là khó bảo đảm được độ tươi cần thiết để làm thực phẩm Nói cách khác, thủy hải sản rất dễ bị biến đổi tính chất theo thời gian Do vậy, việc chế biến, kinh doanh thực phẩm thủy hải sản đòi hỏi phản nhanh chóng và phải có thời hạn sử dụng rõ ràng
- Trong quá trình chế biến thực phẩm thủy hải sản dễ lẫn các tạp chất tự nhiên cũng như các hóa chất nhân tạo do người chế biến cho vào trong quá trình chế biến nên dễ làm biến đổi tính chất, giá trị dinh dưỡng của thực phẩm thủy hải sản
- Từ quy định kinh doanh thực phẩm việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm3 thì kinh doanh thực phẩm thủy hải sản cũng bao gồm việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm thủy hải sản
1.1.2 Người tiêu dùng và các phương pháp tiếp cận bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật
1.1.2.1 Người tiêu dùng trong pháp luật các nước và Việt Nam
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Cương cho thấy, có nhiều quan
Trang 17- Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm
1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999, khái niệm người tiêu dùng không được giải thích một cách rõ ràng Tuy nhiên, theo bản hướng dẫn này người tiêu dùng được hưởng 8 quyền sau đây (1) quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, (2) quyền được an toàn, (3) quyền được thông tin, (4) quyền được lựa chọn, (5) quyền được lắng nghe, (6) quyền được khiếu nại và bồi thường, (7) quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng, (8) quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững
- Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1993 của Trung Quốc tuy không
có điều khoản riêng giải thích khái niệm người tiêu dùng như tại Điều 2 của Luật này có quy định “Trường hợp người tiêu dùng, vì nhu cầu cuộc sống, mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này và trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định khác có liên quan của pháp luật.” Điều luật này đã ngụ ý, người tiêu dùng theo quan niệm của pháp luật Trung Quốc chỉ là cá nhân (mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh hoặc hoạt động nghề nghiệp)
- Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng
và các bảo đảm có liên quan (Directive 1999/44/EC of the European Parliament and
of the Council of 25 May 1999 on certain aspects of the sale of consumer goods and associated guarantees) giải thích người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân (tức là cá nhân) nào … tham gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình
- Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2010 quan niệm người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức
Từ các quan niệm trên về người tiêu dùng cho thấy có sự giống nhau cơ bản
về cách luận giải người tiêu dùng là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích lợi nhuận Tuy nhiên, người tiêu dùng “không có nghĩa vụ phải chứng
Trang 18minh mục đích mua hoặc sử dụng hàng hóa của mình.”5 Đây chính là điểm “mờ” trong quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, khi mà người mua hàng hóa, dịch vụ không cung cấp rõ mục đích mua bán hàng hóa, dịch vụ về để kinh doanh hay tiêu dùng Mặt khác, trong thực tiễn, nhiều doanh nghiệp mua hàng hóa
về sử dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ thì cũng cần phải xem đó là hành vi tiêu dùng hàng hóa và nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những doanh nghiệp này bị xâm phạm thì cũng cần phải giải quyết theo cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.2.2 Các phương pháp tiếp cận bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật
Qua nghiên cứu có thể nhận thấy một số cách tiếp cận vấn đề điều chỉnh bằng
pháp luật đối với quan hệ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau
- Theo tác giả Nguyễn Như Phát, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là loại pháp luật mang tính can thiệp vào quyền tự do (do không nhận thức được quy luật) của các nhà cung cấp sản phẩm, hàng hóa dịch vụ và như thế, không có sự tự do và bình đẳng trong quan hệ pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng Cũng cần lưu ý rằng, các lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật cạnh tranh, pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, pháp luật về chất lượng sản phẩm và rộng ra là cả pháp luật dân sự, hình sự đều có thêm mục đích là bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, nếu như những pháp luật này bảo vệ người tiêu dùng theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa dịch vụ thông qua những hạn chế hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (với tính cách là một chế định pháp luật độc lập) lại xuất hiện ở phía người tiêu dùng Theo đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ tạo cho người tiêu dùng những khả năng và cơ hội
5 Lê Văn Sua, Quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và một số kiến nghị,
http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2144 , truy cập ngày 15/05/2017
Trang 19thuận lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh pháp luật quan hệ mua bán (theo luật dân sự)
- Nghiên cứu của Cục Quản lý Cạnh tranh Bộ Công thương cho thấy, có hai cách tiếp cận chủ đạo trên thế giới thông qua đó Nhà nước có thể bảo vệ lợi ích của
(i) xây dựng một hệ thống pháp lý trong đó quy định trách nhiệm
xây dựng một hệ thống pháp lý (regulation) điều chỉnh, ngăn chặn trước các hành vi
lý cạnh tranh - Bộ Công Thương thực hiện dưới sự hỗ trợ của Tổ chức CUTS tại Hà Nội, tr.10-12
8 Theo cách tiếp cận này, các bên liên quan phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng sau khi xảy ra thiệt hại thực sự Theo cách tiếp cận này, các cơ quan phân xử, trong đại đa số các trường hợp là các toà án, bao gồm cả các toà chuyên biệt, sẽ quyết định mức độ bồi thường thiệt hại, căn cứ trên bản chất và thực tế vụ việc Các bên liên quan sẽ phải chịu bồi thường thiệt hại do hành vi sai sót của họ gây ra, nhưng chỉ sau khi bên bị thiệt hại đã kiện ra toà hoặc khiếu nại đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền khác Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là việc bên bị thiệt hại kiện ra toà không có nghĩa là bên gây ra thiệt hại sẽ chịu bồi thường cho nạn nhân, ví dụ như trong trường hợp bên bị thiệt hại không thể chứng minh được rằng bên gây hại đã có hành vi sai sót Hệ thống quy định liên quan đến bảo vệ NTD thường bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn (standards), đo lường (measurement), chất lượng (quality), môi trường, hay sức khoẻ Ở nhiều quốc gia trên thế giới, hệ thống quy định này do các cơ quan chức năng giám sát thực thi Ví dụ như tại Ấn Độ, các vấn đề tiêu chuẩn do Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ (cơ quan tồn tại song song với Vụ Các Vấn đề Tiêu dùng thuộc Bộ Các Vấn đề Tiêu dùng, Lương thực thực phẩm và Phân phối các Hàng hoá công cộng) chịu trách nhiệm, tại Việt Nam cho đến nay là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường và Chất lượng (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ)
9 Cách tiếp cận thứ hai mang tính ngăn chặn, phòng ngừa, trước (ex ante) khi xảy ra vi phạm, theo
đó các bên liên quan phải chịu phạt kể cả trước khi có thiệt hại thực sự, do đã vi phạm các quy định về tiêu chuẩn Theo cách tiếp cận này, một hệ thống quy chuẩn phải được thiết lập, không liên quan đến việc có xảy
ra thiệt hại thực sự cho người tiêu dùng hay không Các vụ việc đơn lẻ, hay cả một nhóm các vấn đề, đều có thể được điều chỉnh bởi các quy định chuẩn chung này, giảm thiểu khả năng xảy ra việc phải phân định đúng sai, hay giúp tránh các phán quyết không nhất quán và thiếu công bằng trên cơ sở vụ việc Các bên liên quan
sẽ phải chịu phạt chỉ khi các cơ quan chức năng phát hiện được rằng họ không tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn Và trong đại đa số các trường hợp, các cơ quan chức năng sẽ sử dụng các thủ tục hành chính để xem xét các thông tin kỹ thuật có liên quan, nhằm đi đến kết luận cuối cùng hệ thống quy định trách nhiệm pháp
lý liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng thường bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các quyền cơ bản của người tiêu dùng, trách nhiệm sản phẩm (product liability), các hành vi thương mại không công bằng (unfair trade practices), giải quyết tranh chấp tiêu dùng (consumer redressal) và các chế tài áp dụng (remedies and corrective measures) Đây là các quy định thường gặp nhất trong bất kỳ một đạo luật hay
Trang 20Ở Đức, theo nghiên cứu của tác giả Juergen Erich Kessler (Giáo sư Trường
Đại học Kỹ thuật và Kinh tế Berlin) thì trong luật pháp Đức không có một “Luật
Bảo vệ người tiêu dùng” riêng chế định tất cả các vấn đề về quyền của người tiêu
dùng Các quy phạm pháp luật nhằm chủ yếu hoặc đồng thời cũng nhằm mục tiêu
bảo vệ người tiêu dùng nằm ở trong rất nhiều đạo luật riêng rẽ do có sự giao thoa
giữa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng với các mục tiêu khác Do vậy, chỉ trong
những mối quan hệ xã hội nhất định thì người tiêu dùng mới được xem là “người
tiêu dùng” Thông thường các quy định bảo vệ người tiêu dùng ở Đức thường liên
quan đến vấn đề sức khỏe Những luật này thường quy định nghĩa vụ của nhà sản
xuất và người buôn bán hàng hóa phải tuân thủ những tiêu chuẩn tối thiểu nhất định
liên quan đến nguyên liệu, cácloại vật liệu ban đầu khác cũng như các chất phụ gia
hoặc cũng liên quan đến công nghệ sản xuất hoặc bao gói Trong pháp luật của Đức,
quy phạm quan trọng nhất trong số này là Luật về việc lưu thông lương thực thực
phẩm, các sản phẩm thuốc lá, mỹ phẩm và các nhu yếu phẩm khác và chế định kế
tục luật này là Luật Lương thực thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi Trên cơ sở luật
này, một loạt các nghị định với những quy định rất chi tiết đã được ban hành, ví dụ
như Nghị định về Mỹ phẩm Một số luật quan trọng khác từ lĩnh vực này ví dụ như
bộ luật về bảo vệ người tiêu dùng nào trên thế giới Trong một số trường hợp, hệ thống quy phạm pháp lý
này cũng bao gồm các vấn đề liên quan đến hợp đồng hàng loạt (standard forms of contracts) (ví dụ, khi một
người bán hàng không đưa ra điều kiện bảo hành nào cho hàng hoá được bán, khi đó bản hợp đồng hợp đồng
hàng loạt mà người đó luôn sử dụng sẽ không có giá trị pháp lý và người mua hàng có quyền lấy lại tiền của
mình), hay bảo hành (warranty) (ví dụ, người bán phải chịu trách nhiệm đền bù cho người mua nếu hàng hoá
được bán bị lỗi - lỗi đó có thể do sản xuất, thiết kế lô hàng, hay do không cảnh báo đầy đủ về các điều kiện
bảo quản và sử dụng, hay do không theo dõi giám sát sau khi hàng đã được bán) Các vụ việc liên quan đến
trách nhiệm pháp lý thường do các toà án chung, các toà chuyên biệt về người tiêu dùng (consumer courts),
hay các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng có chức năng xét xử áp dụng và thực thi
10
Juergen Erich Kessler, Tổng quan pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng và thực trạng năng lực các
thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Cộng hòa Liên bang Đức, in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học
“Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và kinh
nghiệm của Đức” do Trường Đại học Luật Hà Nội và Viện FES Hà Nội tổ chức 26/03/2015, Hà Nội, 2015,
tr.1-3
Trang 21Qua các cách tiếp cận điều chỉnh quan hệ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật cho thấy, trong điều kiện Việt Nam, do ảnh hưởng của truyền thống kinh doanh, truyền thống đánh bắt thủy hải sản làm thực phẩm nên cần có sự kết hợp giữa việc tiếp cận mang tính phòng ngừa thông qua quy định biện pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào hoạt động đánh bắt, nuôi trồng, chế biến, kinh doanh thực phẩm thủy hải sản và bảo đảm quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng thủy hải sản Đồng thời, do thực phẩm thủy hải sản có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau nên trong thực tiễn thực thi cần tạo được cơ chế phối kết hợp giữa các cơ quan nhà nước và các bên liên quan để bảo vệ
hữu hiệu quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản
1.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT TIÊU DÙNG THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN –
CƠ SỞ XÁC ĐỊNH BIỆN PHÁP, CÁCH THỨC BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.2.1 Định nghĩa và các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản
1.2.1.1 Định nghĩa quan hệ pháp luật tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản
Ở khía cạnh lý luận, quan hệ pháp luật tiêu dùng là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội (trao đổi hàng hóa, dịch vụ) giữa người bán và người mua đối với hàng hóa, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thụ hưởng dịch vụ… được hình thành trên cơ sở các quy phạm pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể tham gia quan hệ với những mục đích cụ thể, được áp dụng khi phát sinh sự kiện pháp lý, trong đó quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được coi là trọng tâm trong nội dung quan hệ pháp luật tiêu dùng, các quy phạm pháp luật chuyên ngành khác có ý nghĩa bổ trợ trong từng mối quan hệ tương ứng.11
11
Nguyễn Trọng Điệp, Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam
hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam, Hà Nội, 2014, tr 21
Trang 22Khác với nhiều lĩnh vực pháp luật khác, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội nên một văn bản pháp luật không thể điều chỉnh tất cả các lĩnh vực, mà phải sử dụng một
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của hầu hết các nước trên thế giới đều cho thấy điều này Chẳng hạn tại Nhật Bản, ngoài Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn có gần 30 Luật chuyên ngành khác liên quan đến hoạt động bảo vệ người tiêu dùng như Luật hợp đồng tiêu dùng, Luật Giao dịch thương mại đặc định, Luật Vệ sinh thực phẩm, Luật Chú thích sản phẩm, Luật Khuyến khích các tổ chức phi lợi nhuận, Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, Luật Bình ổn giá, Luật bán hàng trả góp…12
Quan hệ pháp luật về tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản là một loại/dạng quan hệ pháp luật tiêu dùng cụ thể và có nhiều khác biệt về chủ thể, khách thể
và nội dung của quan hệ pháp luật này Quan hệ tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản phát sinh trực tiếp giữa người khai thác, nuôi trồng cũng như người chế biến thủy hải sản Do vậy, khi xác định quan hệ pháp luật tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản Tác giả Luận văn đồng ý với quan điểm của tác giả Nguyễn Như Phát khi xác định bản chất của quan hệ tiêu dùng và quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là quan hệ pháp luật tư, được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán, theo đó, người tiêu dùng mua và/ hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của người cung cấp mà không vì mục đích kinh doanh (bán lại) và nhấn mạnh “quan hệ tiêu dùng không phải là quan hệ thương mại, được điều chỉnh bởi Luật Thương mại mà chỉ có thể là quan hệ dân sự được điều chỉnh chung bởi Bộ luật dân sự Là văn bản pháp luật gốc
12
Nguyễn Trọng Điệp, Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam
hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam, Hà Nội, 2014, tr 33
Trang 23trong đời sống pháp lý dân sự.”13
Tác giả Nguyễn Như Phát phân tích thêm
“do tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng mà người tiêu dùng khó có thể có
cơ hội trở thành tự do, bình đẳng vì họ buộc luôn phải tham gia vào mối quan
hệ với đặc tính truyền kiếp là “thông tin bất cân xứng” nên người tiêu dùng có thể phải rơi vào tình trạng mất khả năng mặc cả khi họ buộc phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp độc quyền Vì vậy, mọi hệ thống pháp luật nhân đạo đều phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu và như thế, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ tựa hồ như một công cụ hỗ trợ từ bên ngoài quan hệ dân sự
để khắc phục những lổ hổng về khả năng tự do và bình đẳng của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp để quan hệ dân sự có thể trở lại với đúng nguyên tắc của nó.”14
Nói cách khác, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng góp phần khắc phục hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng như hạn chế mặt trái của quá trình sản xuất, tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường.15
Sự tham gia của Nhà nước vào quan hệ pháp luật bảo vệ người tiêu dùng góp phần bảo vệ niềm tin của người tiêu, bởi lẽ, niềm tin của người tiêu dùng và sự phát triển sản xuất, kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tiêu dùng cá nhân của người tiêu dùng, nhất là ở các nước kinh tế phát triển, chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc dân nên nếu nhu cầu tiêu dùng cá nhân tăng thì sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Nếu hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ không đảm bảo chất lượng và qua đó quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm hại thì người tiêu dùng sẽ mất niềm tin
và giảm bớt nhu cầu tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ Điều này sẽ cản trở
Trang 24sự phát triển của sản xuất, kinh doanh.16
Như vậy, trong quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nhà nước thực hiện trách nhiệm của tổ chức công bảo đảm môi trường, điều kiện kinh doanh thủy hải sản phù hợp với quy chuẩn an toàn thực phẩm thông qua việc cung cấp/ban hành các quy
định pháp luật để điều chỉnh
Từ những phân tích trên chúng ta có thể định nghĩa quan hệ pháp luật tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản như sau Quan hệ pháp luật tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chế biến, kinh doanh thủy sản làm thực phẩm giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm thủy sản với cá nhân, do các quy phạm pháp luật hoặc tập quán kinh doanh
thực phẩm thủy hải sản điều chỉnh Qua định nghĩa này có mấy đề cần lưu ý
- Cá nhân trong quan hệ pháp luật tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản mua, sử dụng thực phẩm thủy sản nhằm mục đích phục vụ cho mục đích tiêu
dùng cá nhân, không nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận
- Quan hệ pháp luật kinh doanh thực phẩm thủy sản chịu sự điều chỉnh đồng thời của nhiều loại quy phạm, trong đó pháp luật về an toàn thực phẩm, pháp luật thủy sản, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là quan trọng nhất Bên cạnh quy phạm pháp luật, quan hệ kinh doanh thực phẩm thủy hải sản cũng chịu sự điều chỉnh của các tập quán, đạo đức kinh doanh Vì thực phẩm thủy hải sản có liên quan trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng nên việc kinh doanh thực phẩm thủy hải sản cần đề cao đạo đức kinh doanh,
vì chỉ có đạo đức kinh doanh mới có đủ “sức mạnh” để kiểm tỏa lòng tham
trong mỗi tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm thủy hải sản
16 Nguyễn Đức Minh, Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí
Luật học số 12/2008, tr.39
Trang 251.2.1.2 Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản
Từ quan niệm về kinh doanh thực phẩm thủy hải sản là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm tại Khoản 8 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm cho thấy, hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải sản do nhiều chủ
thể khác nhau thực hiện
Trong phạm vi pháp luật Việt Nam, có thể xác định các chủ thể có liên
quan đến hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải sản bao gồm
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải
sản là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh thủy hải sản một cách liên tục, thường xuyên nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và có đăng ký kinh doanh Và như vậy, việc kinh doanh thủy hải sản của ngư dân trực tiếp đánh bắt thủy hải sản không thuộc đối tượng nghiên cứu của Luận văn Tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm có các quyền sau đây 17
- Quyết định các biện pháp kiểm soát nội bộ để duy trì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu thực phẩm hợp tác trong việc thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn;
- Lựa chọn cơ sở kiểm nghiệm để kiểm tra an toàn thực phẩm; lựa chọn
cơ sở kiểm nghiệm đã được chỉ định để chứng nhận hợp quy đối với thực phẩm nhập khẩu;
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật;
- Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
17 Khoản 1 Điều 8 Luật an toàn thực phẩm 2010
Trang 26Bên cạnh các quyền trên, tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm có các nghĩa vụ 18
- Tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm trong quá trình kinh doanh và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình kinh doanh;
- Kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm, nhãn thực phẩm và các tài liệu liên quan đến an toàn thực phẩm; lưu giữ hồ sơ về thực phẩm; thực hiện quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định tại Điều 54 của Luật an toàn thực phẩm
- Thông tin trung thực về an toàn thực phẩm; thông báo cho người tiêu dùng điều kiện bảo đảm an toàn khi vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm;
- Kịp thời cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của thực phẩm
và cách phòng ngừa cho người tiêu dùng khi nhận được thông tin cảnh báo của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu;
- Kịp thời ngừng kinh doanh, thông tin cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và người tiêu dùng khi phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn;
- Báo cáo ngay với cơ quan có thẩm quyền và khắc phục ngay hậu quả khi phát hiện ngộ độc thực phẩm hoặc bệnh truyền qua thực phẩm do mình kinh doanh gây ra;
- Hợp tác với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra ngộ độc thực phẩm để khắc phục hậu quả, thu hồi hoặc xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn;
- Tuân thủ quy định của pháp luật, quyết định về thanh tra, kiểm tra của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
18 Khoản 2 Điều 8 Luật an toàn thực phẩm 2010
Trang 27- Chi trả chi phí lấy mẫu và kiểm nghiệm theo quy định tại Điều 48 của Luật này;
- Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực phẩm mất an toàn do mình kinh doanh gây ra
Thứ hai, người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản là người mua thủy hải
sản để sử dụng phục vụ cho nhu cầu của mình Nếu nhìn dưới góc độ “tiêu dùng” thủy hải sản thì người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản chỉ là các cá nhân Trong quan hệ tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản, người tiêu dùng có các quyền sau đây 19
- Được cung cấp thông tin trung thực về an toàn thực phẩm, hướng dẫn
sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, lựa chọn, sử dụng thực phẩm phù hợp; được cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn, cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo đối với thực phẩm;
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật;
- Yêu cầu tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật;
- Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra
Người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản có các nghĩa vụ a) Tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn về an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm; b) Kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm với Ủy
19 Khoản 1 Điều 9 Luật an toàn thực phẩm 2010
Trang 28ban nhân dân nơi gần nhất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; c) Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng thực phẩm.20
Thứ ba, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia vào quan hệ pháp
luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản chủ yếu với vai trò bà đỡ, giám sát, ngăn cản các hành vi có khả năng, có nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản
1.2.2 Thực phẩm thủy hải sản – đối tượng của quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản, đồng thời phải bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm rất chặt chẽ
Thủy hải sản là thuật ngữ dùng để chỉ về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước (nước mặn, nước ngọt, nước lợ) Hải sản bao gồm các loại cá biển, động vật thân mềm (bạch tuộc, mực, tôm, nghêu, sò, ốc, hến, hàu ), động vật giáp xác (tôm, cua và tôm hùm), động vật da gai (nhím biển) Ngoài ra, các thực vật biển ăn được, chẳng hạn như một số loài rong biển và vi tảo Còn thủy sản bao gồm các nhóm nhóm cá (cá tra, cá bống tượng, cá chình,…); nhóm giáp xác (tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất); nhóm động vật thân mềm (nghêu, sò huyết, hàu, ốc hương, ); nhóm rong; nhóm bò sát và lưỡng cư (cá sấu, ếch, rắn…) Đối với Việt Nam, xuất phát từ đặc điểm địa lý với hệ thống hồ, ao, sông ngoài, đầm phá, biển rộng lớn nên việc sử dụng các thủy hải sản làm thực phẩm rất phổ biến và mang tính tự cấp, tục túc Khi thủy hải sản trở thành ngành kinh tế, hoạt động thủy sản phải tuân thủ theo quy trình nuôi trồng, đánh bắt, chế biến chặt chẽ vừa để bảo đảm chất lượng thủy sản, vừa gắn việc khai thác, chế biến với việc bảo vệ, phát triển nguồn thủy hải sản cũng như bảo vệ môi trường
Các sản phẩm thủy hải sản khi được nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản có liên quan trực tiếp đến quy
20 Khoản 2 Điều 9 Luật an toàn thực phẩm 2010
Trang 29định về hoạt động thủy sản theo Luật Thủy sản 2017.21 Khi sử dụng làm thực phẩm, thủy hải sản phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định, vì một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, vì thế an toàn thực phẩm trở thành vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt thực phẩm an toàn góp phần to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển giống nòi Chính vì vậy, an toàn thực phẩm là vấn đề được tất cả các quốc gia quan tâm không chỉ trong phạm vi lãnh thổ mình mà cả trên toàn thế giới, trong đó có thực phẩm là thủy hải sản, bởi
lẽ, an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe,
chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối
Từ quan niệm về kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp có thể nhận thấy, kinh doanh thủy hải sản là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn từ đánh bắt, sơ chế, chế biến thủy hải sản thành hàng hóa lưu thông trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Do đó, nếu nhìn hoạt động thủy sản là một chuỗi như Luật Thủy sản thì việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản cũng phải được bảo đảm trong cả chuỗi hoạt động thủy sản Tuy nhiên, vì hoạt động thủy hải sản có sự tách biệt tương đối giữa khâu đánh bắt với khâu chế biến nên việc bảo đảm đúng quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm thủy hải sản là tương đối khó khăn nên đây là cơ sở cho việc Liên minh Châu Âu đòi hỏi ngư dân Việt Nam phải ghi lịch trình (hồ sơ đánh bắt) thì mới đủ tiêu chuẩn
để được nhập khẩu vào thị trường Liên minh Châu Âu
Trong quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản, thủy hải sản là một loại hàng hóa lưu thông trên thị trường nên nó phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện để được lưu thông trên thị trường trên nguyên tắc, mọi
21
Khoản 1 Điều 3 Luật Thủy sản 2017 (Luật này có hiệu lực kể từ ngày 1/01/2019)
22 Khoản 1 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm 2010
23 Khoản 6 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm 2010
Trang 30thủy hải sản không bị cấm giao dịch đều có thể trở thành hàng hóa để giao dịch trên thị trường Khi thủy hải sản được sử dụng làm thực phẩm thì phải bảo đảm an toàn thực phẩm, tức là không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người Để bảo đảm an toàn, thực phẩm thủy hải sản phải bảo đảm các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, nghĩa là tuân thủ những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người Tuy nhiên, thực tế của các đội tàu tại các địa phương tại tỉnh Quảng Bình cho thấy, hầu hết tàu khai thác xa bờ hiện nay đều đóng bằng vỏ gỗ và vật liệu cách nhiệt của hầm bảo quản của các tàu chủ yếu là làm từ xốp ghép, chiếm trên 95% số lượng tàu, chỉ
có một số ít tàu thuyền sử dụng compozit để trát lớp xử lý hầm bảo quản nên thực hiện yêu cầu boong, hầm cá phải kín, sạch sẽ, hợp vệ sinh, không có khả năng nhiễm vi sinh; hầm muối cá phải đảm bảo kín, cách nhiệt tốt… là điều rất khó khăn đối với mỗi chủ tàu
Kết quả nghiên cứu ở Khánh Hòa của các tác giả Nguyễn Thuần Anh, Nguyễn Thị Lộc năm 2015 khảo sát 384 đối tượng làm việc tại các cơ sở thu mua hải sản và chợ cá đã được phỏng vấn bằng phương pháp trực tiếp có sử dụng bảng câu hỏi thiết kế sẵn cho thấy tỷ lệ nam, nữ lao động tại các cơ sở thu mua hải sản xấp xỉ bằng nhau (nam 51,8% và nữ 48,2%),nhưng ở chợ cá thì đa phần là nữ (96,2%), chủ yếu ở độ tuổi lao động (18-40 tuổi) Ở cơ sở thu mua tỷ lệ người làm việc 1-5 năm là cao nhất (47,6%), ở chợ những người làm việc trên 5 năm lại chiếm tỷ lệ cao nhất (61,5%) Kiến thức, thái độ, thực hành an toàn thực phẩm của người làm việc tại các cơ sở thu mua và các chợ cá ở Khánh Hòa cho thấy, đa số người làm việc tiếp xúc với hải sản cho biết họ có biết một số quy định liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm và buộc thực hiện theo qui định nhưng không thấy tự nguyện và
Trang 31thoải mái khi thực hiện (thái độ đối với vấn đề an toàn thực phẩm còn mang tính đối phó).24
Bà Marieke van der Pijl, Phó Chủ tịch Tiểu Ban Kinh doanh Nông nghiệp và
An toàn thực phẩm, Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam cho biết đòi hỏi của thị trường EU về chất lượng sản phẩm, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm lại rất khắt khe Việt Nam luôn vướng vào nhiều quy định cấm như hàm lượng quá cao hoặc sử dụng không đúng một số sản phẩm như chất phụ gia, dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, kim loại nặng… tồn tại trong sản phẩm nông sản, thực phẩm, thủy sản Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 9/2015, đã có tới hơn 25 sản phẩm của Việt Nam bị từ chối nhập khẩu; việc cấp phép nhập khẩu cho
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng ta có thể rút ra những
nhận định sau đây
- Thực phẩm thủy hải sản là đối tượng của giao dịch tiêu dùng thủy hải sản, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Khi đưa ra thị trường, thực phẩm thủy hải sản phải đáp ứng/tuân thủ các tiêu chuẩn, điều kiện do pháp luật quy định Các tiêu chuẩn bài bảo đảm tiêu chuẩn, kỹ thuật để không ảnh hưởng đến sức khỏe của
người tiêu dùng cũng như của cả cộng đồng
- Quá trình chế biến thực phẩm thủy hải sản chịu sự kiểm soát chặt chẽ bởi các quy trình kỹ thuật từ khâu đánh bắt, sơ chế, bảo quản, chế biến thủy hải sản thành thực phẩm Do thực phẩm thủy hải sản trải qua nhiều khâu nên việc kiểm soát chất
lượng thực phẩm là rất khó khăn
24
Nguyễn Thuần Anh, Nguyễn Thị Lộc, Đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ về an toàn thực phẩm
hải sản của người làm việc tại các cơ sở thu mua hải sản và chợ cá ở Khánh Hòa, Tạp chí Khoa học – Công
nghệ Thủy sản số 1/2016, tr 7
25 Thiện Trần, Xuất khẩu nông thủy sản sang EU An toàn thực phẩm là yếu tố quyết định Phỏng vấn bà Marieke van der Pijl, Phó Chủ tịch Tiểu Ban Kinh doanh Nông nghiệp và An toàn thực phẩm, Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam trong cuộc trao đổi với phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam bên lề Hội thảo “Đối thoại Việt Nam – EU Gia nhập thị trường Việt Nam cho các công ty châu Âu trong ngành thực phẩm và đồ uống”, vừa tổ chức tại Hà Nội, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2016-03- 17/xuat-khau-nong-thuy-san-sang-eu-an-toan-thuc-pham-la-yeu-to-quyet-dinh-29734.aspx, truy cập ngày 20/03/2016
Trang 32- Bảo đảm chất lượng thực phẩm thủy hải sản đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ từ cơ quan quản lý nhà nước cho đến các cơ sở đánh bắt, chế biến, kinh
doanh thực phẩm thủy hải sản
1.2.3 Hình thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quan hệ tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản
Một là, người tiêu dùng tự bảo vệ, đây là biện pháp đầu tiên, phổ biến, thường
xuyên được sử dụng nhưng không có hiệu quả Sở dĩ người tiêu dùng tự bảo vệ là biện pháp khó khả thi là do có sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng nên việc tiêu thụ hàng hóa của người tiêu dùng luôn ở trạng thái bất cân xứng về thông tin, năng lực tài chính, năng lực đàm phán, khả năng chịu rủi ro, khả năng tiếp cận pháp luật.26
Ngoài những nguyên nhân trên, tình trạng hám lợi, chạy theo những lợi ích của các đợt khuyến mại, các lợi ích vật chất, tinh thần khác cũng góp phần vô hiệu quả việc tự bảo vệ của người tiêu dùng Đối với lĩnh vực thực phẩm thủy hải sản, do
có liên quan nhiều đến các thông số kỹ thuật, các hóa chất được sử dụng hoặc không được sử dụng làm phụ gia trong chế biến thực phẩm thủy sản nên người tiêu dùng khó có thể biết được hết các thông tin này mà hoàn toàn phụ thuộc vào đạo đức kinh doanh của người kinh doanh thực phẩm thủy sản Ngoài ra, việc người tiêu dùng tự bảo vệ mình sẽ thất bại trước vô vàn các mánh lới gian lận của giới kinh
doanh thực phẩm thủy sản
Hai là, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua các quy định về trách
nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cũng như của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng; quy định
về hợp đồng với người tiêu dùng, trong đó đáng chú ý các điều khoản của hợp đồng
giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung không có hiệu lực; trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch; trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện,
26
Nguyễn Trọng Điệp, Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam
hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam, Hà Nội, 2014, tr 28-32
Trang 33phụ kiện; yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…27
Tuy nhiên, các quy định này chỉ là những quy định “trên giấy” nếu như không có sự
tự nguyện thi hành một cách chủ động, tự giác của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm thủy hải sản cũng như cần có sự vào cuộc tích cực của các cơ quan nhà nước
có chức năng hoặc có liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản
Ba là, sự vào cuộc mạnh mẽ, tích cực vừa mang tính bổ trợ, vừa mang tính
chủ thể đại diện của Hiệp hội thủy sản Việt Nam cũng như Hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam và của các tỉnh cũng như hệ thống truyền thông trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nghiên cứu của tác giả Viên Thế Giang (2011) chỉ rõ 28
Truyền thông có giá trị to lớn, nó là kênh quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp, nhưng nó cũng là “tấm gương phản chiếu” nhanh nhất những tấm “gương mờ” trong kinh doanh Truyền thông là công cụ để dư luận xã hội lên tiếng đối với những doanh nghiệp vi phạm đạo đức kinh doanh, kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp xây dựng, quảng bá những doanh nghiệp có đạo đức trong kinh doanh Các hiệp hội ngành nghề tạo ra các kênh thông tin nhằm quảng bá những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng đạo đức kinh doanh của mỗi thành viên, giúp cho các thành viên chủ động trong việc xây dựng giá trị đạo đức kinh doanh phù hợp với lĩnh vực
và đặc thù của doanh nghiệp Sự tham gia của các tổ chức này mang tính hỗ trợ, giám sát, yêu cầu, hỗ trợ cho người tiêu dùng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.29
2011, tr 570 – tr 581
29 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 các hoạt động
mà tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm
- Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng khi có yêu cầu;
- Đại diện người tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng;
- Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông tin về hành vi
vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải sản bao gồm nhiều khâu, nhiều
công đoạn mà ở đó, bảo vệ người tiêu dùng trong kinh doanh thực phẩm thủy hải
sản là “mắt xích” quan trọng trong chuỗi giá trị của thực phẩm thủy hải sản Nếu
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ
giữa người khai thác với người chế biến thì sẽ không bảo đảm giá trị dinh dưỡng
của thủy hải sản khi chế biến làm thực phẩm nên sẽ làm giảm giá thành và khả năng
cạnh tranh, người tiêu dùng sẽ nói không với thực phẩm thủy hải sản Hậu quả của
sự quay lưng này là tiềm năng nguồn lợi thủy hải sản của mỗi quốc gia không được
khai thác triệt để, tối đa
Trong quan hệ tiêu dùng thủy hải sản, người tiêu dùng luôn ở thế yếu do có sự
tách biệt giữa khai thác, chế biến và kinh doanh với tiêu dùng thực phẩm thủy sản
nên người tiêu dùng khó có khả năng kiểm soát chất lượng của thực phẩm thủy sản
Do vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là công cụ pháp lý để bảo vệ họ
trước các nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng
- Độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm chất lượng hàng hóa, dịch vụ
do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng, kế hoạch và biện pháp về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao theo quy định tại Điều 29 của Luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng;
- Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng.