LÊ NGỌC HÂN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ NHÃN HIỆU TẬP THỂ TẠI BẾN TRE - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC TP... Hồ Chí Minh, là tác giả củ
Trang 1LÊ NGỌC HÂN
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ NHÃN HIỆU TẬP THỂ TẠI BẾN TRE - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2LÊ NGỌC HÂN
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ NHÃN HIỆU TẬP THỂ TẠI BẾN TRE - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107 Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN HƯNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 3Cao học Luật Bến Tre Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài
"Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể tại Bến Tre - Thực trạng và các giải pháp" (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Lê Ngọc Hân
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu 2
2.1 Giả thuyết nghiên cứu: 2
2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Tình hình nghiên cứu 2
3.1 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ nhất 2
3.2 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ ba 3
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết 3
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 3
6.1 Ý nghĩa khoa học 3
6.2 Giá trị ứng dụng của đề tài 4
7 Kết cấu của luận văn: 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: 5
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ NHÃN HIỆU TẬP THỀ 5
1.1 Lý luận về quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL và NHTT 5
1.1.1 Khái niệm về CDĐL và NHTT 5
1.1.1.1 Khái niệm về CDĐL: 5
1.1.1.2 Khái niệm về NHTT: 6
1.1.2 Bảo hộ CDĐL và NHTT 6
Trang 51.1.4 Các điều ước quốc tế về SHCN 12
1.2 Các quy định của pháp luật về quyền SHCN đối với CDĐL và NH 14
1.2.1 Quy định về điều kiện bảo hộ CDĐL và NH 14
1.2.1.1 Điều kiện bảo hộ CDĐL 14
1.2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL và NHTT 16
1.2.2.1 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL 16
1.2.2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với NH 18
1.2.3 Nội dung quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT: 21
1.2.3.1 Sử dụng đối tượng SHCN: được quy định tại điều 124 Luật sở hữu trí tuệ 2005: 21
1.2.3.2 Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp 21
1.2.3.2 Hành vi xâm phạm đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được quy định tại điều 126 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 như sau: 22
1.2.4 Quy định hành vi xâm phạm CDĐL và NHTT 23
1.2.3.1 Hành vi xâm phạm CDĐL 23
1.2.3.2 Hành vi xâm phạm NHTT 23
1.2.5 Quy định về các biện pháp bảo hộ CDĐL và NHTT 24
Chương 2: 27
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI CDĐL VÀ NHTT TẠI BẾN TRE 27
2.1 Thực trạng 27
2.1.1 Khái quát về tỉnh Bến Tre 27
2.1.2 Cở sở pháp lý của việc xây dựng giải pháp bảo hộ CDĐL và NHTT tại Bến Tre: 28
Trang 6bàn tỉnh Bến Tre 36 2.1.5 Thực trạng bảo hộ CDĐL và NHTT tại Bến Tre 37
2.1.5.1 Những mặt đạt được: 37 2.1.5.1.1 Về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL và NHTT 38 2.1.5.1.2 Việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL và NHTT 39 2.1.5.1.3 Việc quản lý nhà nước 40 2.1.5.2 Những hạn chế, bất cập: 40 2.1.5.3 Nguyên nhân của những bất cập: 43 2.2 Giải pháp tăng cường bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT tại Bến Tre: 44
2.2.1 Nâng cao nhận thức về xây dựng nhãn hiệu hàng hóa nói chung và NHTT nói riêng trong cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX: 44 2.2.2 Đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao năng lực xây dựng nhãn hiệu hàng hóa nói chung và NHTT nói riêng trong cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX: 45 2.2.3 Đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức có liên qua đến quản
lý, xây dựng, phát triển nhãn hiệu hàng hóa 49 2.2.4 Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ về CDĐL và NHTT 49
2.3 Phương hướng nâng cao hoạt động SHTT nói chung trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới: 50
PHẦN KẾT LUẬN 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Trang 7SNN&PTNN Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 8
Thương mại thế giới, trong môi trường sản xuất, kinh doanh toàn cầu hóa và thị trường ngày càng đông đúc, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải tìm ra cách thức làm cho sản phẩm của mình trở nên khác biệt nhằm thu hút khách hàng tiềm năng Việc giới thiệu các sản phẩm mang đặc tính vùng miền của địa phương được chú trọng Trong khi đổi mới, sáng tạo và tri thức đang trở thành các nhân tố chính của sức mạnh cạnh tranh, thì các đặc sản chủ lực của địa phương cũng đang phải đối mặt với nhu cầu tìm ra cách thức quản lý có hiệu quả hoạt động đổi mới, sáng tạo
và tri thức của họ một cách hữu hiệu Vì thế, ngoài việc đổi mới thiết bị, nâng cao công nghệ sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, các hiệp hội, Hợp tác xã còn phải quan tâm đến thương hiệu của sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mang tính chất là đặc sản của địa phương thì vấn đề đăng ký quyền sở hữu công nghiệp càng được chú trọng
Ngày nay, tăng cường bảo hộ quyền SHTT nói chung và đăng ký nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý không chỉ là cái tên, mà còn biểu hiện sự thành công của sản phẩm mang tính chất địa phương, ẩn sâu trong đó là niềm tin của người tiêu dùng Vì vậy, việc xây dựng và bảo vệ quyền SHCN ở địa phương cần phải được coi trọng hơn nữa, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Đối với Bến Tre, diện tích đất nông nghiệp khoảng 180.000 ha, chiếm gần 80% diện tích đất tự nhiên; chủ yếu trông cây ăn trái như dừa, sầu riêng, hoa kiểng, chôm chôm, nhãn, bưởi da xanh, được xem như là sản phẩm chủ lực của tỉnh nhưng việc quan tâm và bảo vệ thương hiệu của các loại nông sản này vẫn chưa được chú trọng Chính vì thế, những năm gần đây tỉnh Bến Tre đã quan tâm đến việc xác lập quyền cho một số đặc sản của địa phương Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý
và nhãn hiệu tập thể cho một số sản phẩm truyền thống và các đặc sản của địa phương từng bước được coi trọng Các nhãn hiệu tập thể thường do các Hợp tác xã, các hiệp hội, các tổ hợp tác kiểm soát và quản lý Còn đối với chỉ dẫn địa lý thì do
Trang 9cho người lao động ở địa phương
Đến nay, tỉnh cũng đã hỗ trợ xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm chủ lực của địa phương với 13 nhãn hiệu tập thể và 02 chỉ dẫn địa lý được cấp giấy chứng nhận Số lượng các sản phẩm được cấp giấy chứng nhận còn rất ít so với các sản phẩm đặc thù của địa phương Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng nhãn hiệu cũng phù hợp với các chương trình phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh, Chương trình đồng khởi khởi nghiệp, góp phần nâng cao uy tín, chất lượng và hiệu quả sản xuất
Trong khuôn khổ của luận văn này, tôi xin khái quát về các quy định của pháp luật Việt Nam, các khái niệm về nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý; quá trình xây dựng chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể; nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể, nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý và nhãn hiệu tập thể Nêu các thực trạng của pháp luật về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể tại Bến Tre, đồng thời đưa
ra các giải pháp hoàn thiện
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) ra đời năm 2005 đã đánh dấu một bước phát triển mới cho lĩnh vực SHTT ở Việt Nam, đã tạo nên hệ thống bảo hộ pháp lý về sở hữu trí tuệ của Nhà nước Luật SHTT đã đóng vai trò cơ sở pháp lý cho việc xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đạt mục tiêu tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, qua đó góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo, thu hút đầu tư trong và ngoài nước Luật SHTT cũng đóng vai trò nền tảng, đưa hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ của Việt Nam đạt chuẩn mực phổ biến của thế giới theo Hiệp định TRIPS của WTO, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Để đảm bảo chức năng quản lý nhà nước về SHTT, Nhà nước quy định Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm quản lý chung về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước
về quyền đối với giống cây trồng Tương ứng với bộ máy quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ ở Trung ương, phân cấp quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tỉnh Bến Tre gồm có 03 cơ quan; trong đó, Sở Khoa học và Công nghệ đóng vai trò là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước chung về sở hữu trí tuệ và chịu trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong lĩnh vực giống cây trồng
Để thực thi Luật SHTT, trong những năm gần đây tỉnh Bến Tre đã xây dựng nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ xây dựng và bảo hộ quyền SHCN đối với các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của tỉnh, trong đó tỉnh đã hướng dẫn các doanh nghiệp, HTX và các hiệp hội xây dựng CDĐL và NHTT cho các sản phẩm chủ lực
Trang 11của địa phương Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền SHCN đối với các các sản phẩm được cấp giấy chứng nhận CDĐL và NHTT còn nhiều khó khăn, bất cập
Vì vậy việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL và NHTT cho các sản phẩm của địa phương được xem là rất quan trọng, do đó tôi xin chọn đề án
"Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể tại Bến Tre - Thực trạng và các giải pháp" để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp là
rất thực tiễn và cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu
2.1 Giả thuyết nghiên cứu:
- Các khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp; chỉ dẫn địa lý; nhãn hiệu tập thể; hoạt động xây dựng và bảo hộ;
- Thực trạng xây dựng và bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT tại Bến Tre;
- Các giải pháp tăng cường bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT tại Bến Tre
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Quyền SHCN là gì? NHTT? CDĐL? Việc xây dựng và bảo hộ CDĐL và NHTT được thực hiện như thế nào?
- Tỉnh Bến Tre đã xây dựng và bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT như thế nào? Nêu những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng và bảo hộ?
- Theo bạn, Các giải pháp nào tăng cường bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT tại tỉnh Bến Tre? Nêu các giải pháp và số liệu cụ thể?
3 Tình hình nghiên cứu
3.1 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ nhất
Tìm hiểu và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành để đưa ra các khái niệm rỏ ràng nhất
Trang 123.2 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ hai
Căn cứ vào vị trí địa lý của địa phương, các báo cáo về các sản phẩm được bảo hộ, các quy định của pháp luật về SHTT; có khó khăn vướng mắc trong việc triển khai thực hiện pháp luật
3.2 Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ ba
Từ thực trạng trên để đưa ra các giải pháp phù hợp ở địa phương
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở khoa học về bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với CDĐL và NHTT Đồng thời, thu thập một số thông tin cần thiết để phân tích, đánh giá thực trạng việc xây dựng và bảo hộ đối với CDĐL và NHTT tại tỉnh Bến Tre và đưa ra các giải pháp phù hợp
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích hiện trạng về bảo hộ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể trên địa bàn tỉnh Bến Tre thông qua các quy định pháp luật của Việt Nam và đưa ra một số giải pháp cải thiện phù hợp với từng địa phương
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết
Đề tài này được thực hiện dựa trên các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu và thông tin;
- Phương pháp thống kê các số liệu liên quan đã thu thập từ Cục Sở Hữu trí tuệ và các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh;
- Phương pháp phân tích: tổng hợp các thông tin có được để đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn nghiên cứu dựa trên các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp như Luật Sở hữu trí tuệ; Luật
Trang 13Dân sự, Luật Hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan về việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý của địa phương, đồng thời tìm hiểu các quy định về luật pháp quốc tế có liên quan Qua đó để so sánh và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống các quy định về nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý cho địa phương
6.2 Giá trị ứng dụng của đề tài
Hiện nay, vấn đề về Sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm công nghiệp ngày càng được người dân quan tâm Đặc biệt là đối với nhãn hiệu mang tính tập thể và các đặc sản theo vùng miền ngày càng được chú trọng Đến nay các văn bản pháp lý
về bảo hộ sản phẩm công nghiệp tương đối chặc chẽ, đồng bộ từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện ở các địa phương còn nhiều bất cập, việc hướng dẫn xây dựng và xác lập CDĐL và NHTT còn gặp rất nhiều khó khăn Luận văn này sẽ giúp tìm ra các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp thực tế ở địa phương để nâng cao giá trị sản phẩm đặc sản của tỉnh
7 Kết cấu của luận văn:
Luận văn được chia làm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung bao gồm 02 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT;
Chương 2 Thực trạng và những giải pháp tăng cường bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ NHÃN HIỆU TẬP THỀ 1.1 Lý luận về quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL và NHTT
1.1.1 Khái niệm về CDĐL và NHTT
1.1.1.1 Khái niệm về CDĐL:
Theo Luật pháp Việt Nam, quy định của Luật Sở Hữu trí tuệ năm 2005, thì
1"CDĐL là dấu hiệu có thể nhận biết được dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc được xác định, hoặc là từ khu vực, hoặc là từ địa phương, hoặc là từ vùng lãnh thổ
hay quốc gia cụ thể"
Chỉ dẫn địa lý có các đặc điểm sau đây:
"- Theo quy định tại Điều 88 luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, thì Quyền SHCN đối với CDĐL ở Việt Nam là “quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý thuộc về nhà nước Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó”
- Phạm vi bảo hộ CDĐL trong lãnh thổ Việt Nam, trong trường hợp giấy chứng nhận đăng ký do Cục SHTT Việt Nam cấp
- Thời gian của giấy chứng nhận đăng ký CDĐL có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp
- Về phạm vi quyền, chủ sở hữu CDĐL của Việt Nam là Nhà nước Nhà nước trao quyền sử dụng CDĐL cho tổ chức ác nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang CDĐL tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý CDĐL cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng CDĐL."2
1 Luật SHTT, Điều 4;
2 Luật SHTT, Điều 88
Trang 151.1.1.2 Khái niệm về NHTT:
Theo pháp luật Việt Nam, quy định của Luật Sở Hữu trí tuệ năm 2005, thì
"NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó"3
thị trường
+ Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các yêu cầu nhất định của các thành viên đã có trong quy chế trong việc sử dụng nhãn hiệu
tập thể
+ Được sử dụng nhằm khuếch trương sản phẩm của một vùng nhất định mà
sản phẩm mang đặc trưng của vùng đó
+ Nhãn hiệu tập thể cũng có thể được sử dụng cùng với các nhãn hiệu riêng của người sản xuất hàng hóa nhất định
+ Việc chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể có
những điểm lưu ý là quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể không
được cấp giấy chứng nhận cho tổ chức hoặc cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó (Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 14 tháng 02 năm 2007, quy định hướng dẫn thực hiện Nghị
Trang 16Thông qua chỉ dẫn địa lý, có thể nhận biết một khu vực địa lý cụ thể gắn liền với chất lượng, danh tiếng và những đặc tính riêng có của sản phẩm mà chỉ ở nơi ấy mới có Bảo hộ chỉ dẫn địa lý mang lại nhiều lợi ích, từ phát triển kinh tế, quảng bá sản phẩm của một vùng miền cho đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Cụ thể:
- Góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế: Người tiêu dùng tin rằng
khi mua sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, họ đã lựa chọn được sản phẩm, có chất lượng, an toàn Đồng thời các sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý được đảm bảo rằng các sản phẩm có tính chất đặc thù của địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia; bảo vệ được bí quyết công nghệ, thúc đẩy phát triển nông thôn và du lịch Chỉ dẫn địa lý cũng là một nhân tố quan trọng góp phần trong bình ổn chất lượng và danh tiếng của các sản phẩm chỉ dẫn địa lý được coi là công cụ marketing quan trọng trong cạnh tranh thị trường trong thời gian tới Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý đóng vai trò quan trọng để phát triển hình ảnh tốt đẹp của sản phẩm tới người tiêu dùng
- Cải thiện nền nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại hóa: Kinh nghiệm
của các nước phát triển và thực tế tại Việt Nam cho thấy việc xây dựng hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã góp phần cải thiện nền nông nghiệp nông thôn vì nó là điều kiện phát huy các lợi thế riêng có của địa phương đó để phát triển sản phẩm đặc sản Đây được coi là cách thức hiệu quả nhất để có được sự thành công trong việc phát triển sản phẩm nông nghiệp
- Nâng cao giá trị kinh tế cho đặc sản địa phương: Việt Nam sở hữu vùng
nông nghiệp nhiệt đới, phong phú, đa dạng sinh học, 50-60% người dân tham gia vào sản xuất nông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp chiếm 20-30% GDP, nên có đầy
đủ điều kiện phát triển nền nông nghiệp dựa trên cơ chế bảo hộ chỉ dẫn địa lý…Trong những năm gần đây, xu hướng của người tiêu dùng đang chuyển sang sử dụng các sản phẩm tự nhiên, dẫn tới mức thu nhập của người nông dân được cải thiện Đã có rất nhiều tấm gương nông dân làm giàu nhờ trồng vải thiều Thanh Hà, xoài cát Hòa Lộc, nho Ninh Thuận, thanh long Bình Thuận,… hoặc mở xưởng sản xuất nước mắm Phan Thiết, nước mắm Phú Quốc, Rõ ràng là, bảo hộ chỉ dẫn địa
Trang 17lý cho các sản phẩm đặc sản đang là một hướng đi có hiệu quả nhằm bảo vệ tên tuổi
và nâng cao giá trị hàng hoá trong nước, xúc tiến xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài làm tăng kim ngạch xuất khẩu Thiết nghĩ, nếu triển khai tốt việc xây dựng, quản lý, khai thác càng nhiều sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho hàng nông sản, đặc biệt đối với Việt Nam, một trong các nước hàng đầu trên thế giới về xuất khẩu nông sản
- Đảm bảo quyền và lợi ích cho người sản xuất và tiêu dùng: Chỉ dẫn địa lý
đang được xem là một công cụ quan trọng cung cấp sự đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng Bên cạnh đó, khi một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, cơ chế quản lý
và kiểm soát việc sử dụng chỉ dẫn địa lý cũng như việc duy trì, đảm bảo chất lượng sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý sẽ tạo ra công ăn việc làm cho số lượng lớn người lao động của địa phương đó, khắc phục tình trạng thất nghiệp Khi chỉ dẫn địa lý đã được thừa nhận và biết đến một cách rộng rãi trên thị trường, nó sẽ là phương tiện nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho không chỉ người sản xuất của địa phương
mà cả những nhà kinh doanh, nhà sản xuất nguyên liệu thô, phụ phẩm, các công ty vận tải… Ngoài ra, địa phương có chỉ dẫn địa lý được bảo hộ còn có thể phát triển ngành công nghiệp du lịch sinh thái nhằm đem lại nguồn lợi kinh tế cao cho cư dân địa phương Chẳng hạn, các tour du lịch Phú Quốc hiện nay thường kèm theo tham quan các cơ sở sản xuất nước mắm, điều này sẽ thúc đẩy phát triển du lịch
1.1.2.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ NHTT:
Việc bảo hộ NHHH nói chung và NHTT nói riêng mang ý nghĩa rất quan trọng cũng là chức năng chính của một NHHH là dùng để phân biệt một sản phẩm (hàng hóa, hoặc dịnh vụ) cùng loại hoặc tương tự của một danh nghiệp này với danh nghiệp khác Ngoài ra NH còn có một số ý nghĩa quan trọng khác:
"- Thứ nhất, nhãn hiệu giúp doanh nghiệp đăng ký xác lập quyền chủ sở hữu duy nhất đối với nhãn hiệu, điều này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm việc sử dụng an toàn trong thực tế như: giảm thiểu nguy cơ bị bên chủ thể khác sao chép, làm giả đồng thời không rơi vào trường hợp xâm phạm quyền của chủ thể khác
Trang 18- Thứ hai, việc đăng ký nhãn hiệu giúp hàng hóa dễ dàng lưu thông trong thị trường với sự đa dạng và phong phú hiện nay Do văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là một trong những tài liệu rất quan trọng dùng để chứng minh nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa nhờ vậy tạo sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với chủ sở hữu trong hoạt động kinh doanh
- Thứ ba, tài sản sở hữu trí tuệ cũng có những đặc điểm giống như các tài sản thông thường khác như hàng tiêu dùng, sinh hoạt, … nó cũng có thể làm phát sinh lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu khi được mua bán, trao đổi, nhượng quyền hay chuyển quyền sử dụng."5
1.1.3 Một số quy định trong việc bảo hộ quyền SHCN ở Việt Nam:
- Ở Việt Nam, các quy định pháp luật về thực thi và bảo hộ quyền SHCN gồm:
Bộ luật Dân sự (phần sở hữu trí tuệ); Bộ luật Hình sự (phần sở hữu trí tuệ), Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Cạnh tranh; Luật Thương mại; Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn các luật trên.6
- Quyền SHCN là một quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, do vậy việc bảo
vệ quyền sở hữu tài sản này bằng biện pháp hành chính cùng với các biện pháp hình sự, dân sự có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ trật tự xã hội, trật tự kinh doanh,
xử lý người vi phạm và bảo vệ chủ văn bằng, bảo vệ người tiêu dùng Cụ thể như sau:
+ Biện pháp hành chính
Cụ thể hoá các quy định tại Điều 211 khoản 1,2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp để hướng dẫn một cách cụ thể các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nói riêng và quyền
sở hữu nói chung Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP xử phạt
vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp do Chính phủ ban hành thì trong trường hợp các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, thì cá nhân, tổ chức đó bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp
5 Nguồn tài liệu tập huấn về SHTT do Cục SHTT ban hành năm 2012, NXB khoa học và kỹ thuật;
6 Nguồn tài liệu tập huấn về SHTT do Cục SHTT ban hành năm 2012, NXB khoa học và kỹ thuật;
Trang 19dụng một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền Nghị định
số 99/2013 quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hình thức phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm, khung, mức tiền phạt khi phạt tiền đối với từng hành vi vi phạm
Ngoài ra, đối với các hành vi xâm phạm, tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: (i) Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ; (ii) Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm
Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác thì còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: (i) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, phương tiện kinh doanh và tiêu huỷ yếu tố vi phạm; (ii) buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ Quy định này phù hợp với Điều 33 Luật Xử lý vi phạm hành chính; (iii) buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về
sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá Biện pháp này phù hợp với quy định tại Điều 32 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; (iv) buộc tiêu huỷ hàng hoá giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý; nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý; tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm gắn trên tang vật, phương tiện vi phạm đó; hàng hóa vi phạm gây hại cho sức
Trang 20khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; tem, nhãn, vật phẩm mang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý giả mạo; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm khác mang yếu tố vi phạm; văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận hoặc tài liệu khác bị sửa chữa, tẩy xóa hoặc giả mạo; (v) buộc sửa đổi, bổ sung chỉ dẫn về sở hữu công nghiệp; (vi) Buộc cải chính công khai đối với các hành vi chỉ dẫn sai về quyền sở hữu công nghiệp; (vii) buộc thu hồi tang vật, phương tiện vi phạm bị tẩu tán; (viii) buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái quy định của pháp luật
+ Biện pháp dân sự
Giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự được hiểu
là việc tòa án giải quyết những tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về sở hữu trí tuệ Giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ tại tòa án, các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm
Biện pháp dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân
sự như: Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật dân sự năm 2005; Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, sửa đổi bổ sung Nghị định 119/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTTDL-BKHCN-BTP ngày 3/4/2008 của Tào án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền Sở hữu trí tuệ tại tào án nhân dân
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyề sở hữu trí tuệ: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
Trang 21Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc bồi thường thiệt hại vật chất/tinh thần; Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại; Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời: thu giữ, kê biên, niêm phong
+ Biện pháp hình sự
Các biện pháp hình sự được áp dụngSHCN đối với CDĐL và NHTT trong trường hợp có hành vi nguy hiểm, có dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự về sở hữu trí tuệ theo quy định của Bộ luật hình sự Cơ sở pháp luật của Bộ luật hình sự là: Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật dân sự năm 2005;
Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, sửa đổi bổ sung Nghị định 119/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP về hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Tòa án là cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các hình phạt tù, phạt tiền và các biện pháp ngăn chặn khác
1.1.4 Các điều ước quốc tế về SHCN
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp: “Công ước Pari được ký ngày 20/3/1883 tại Paris, Công ước Paris gồm 46 điều, áp dụng cho sở hữu công nghiệp theo nghĩa bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mậu hữu ích (tương đương với giải pháp hữu ích trong pháp luật Việt Nam), tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ và chống cạnh tranh không lành mạnh Các quy định của Công ước Paris đề cập đến các vấn đề lớn là nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền
ưu tiên, nguyên tắc lãnh thổ của quyền sở hữu công nghiệp”
- Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu: hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu (hệ thống Madrid) được điều chỉnh bởi thỏa ước Madrid (có hiệu lực năm 1891) và Nghị định thư Madrid (có hiệu lực từ ngày 01/12/1995 và hoạt động từ 01/04/1996) Tính đến giữa năm 2010, có 56 nước tham gia Thỏa ước Madrid và 81 nước tham gia Nghị định Madrid Việt Nam tham gia
Trang 22thỏa ước Madrid ngày 08/3/1949 và tham gia Nghị định thư Madrid ngày 11/7/2006 Thông qua hệ thống Madrid, công dân hay pháp nhân của tất cả các nước thành viên có thể đạt được sự bảo hộ nhãn hiệu của mình cho hàng hóa và dịch vụ tại các nước khác tham gia hệ thống khi nhãn hiệu đó đã được đăng ký hoặc nộp đơn đăng ký tại nước xuất xứ, bằng việc nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu (đơn quốc tế) tại văn phòng quốc tế của WIPO thông qua sự trung gian củ Cơ quan Nhãn hiệu tại nước xuất xứ (cơ quan xuất xứ) Ưu điểm nỗi bật của việc nộp đơn thông qua hệ thống Madrid là sau khi nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc được nộp đơn đăng ký với cơ quan xuất xứ (nước sở tại), chủ nhãn hiệu chỉ phải nộp một đơn bằng một ngôn ngữ (tiếng Anh hoặc tiếng Pháp) cho một cơ quan (văn phòng quốc
tế của WIPO), trong đơn chỉ ra các nước mà nhãn hiệu cần được bảo hộ, thay cho việc phải nộp nhiều đơn riêng biệt cho nhiều cơ quan khác nhau của các bên tham gia, bằng các ngôn ngữ khác nhau và phải trả các khoản lệ phí riêng biệt cho từng
cơ quan Lợi thế này cũng được hưởng khi có sự sửa đổi hay gia hạn đăng ký Đối với các cơ quan nhãn hiệu của các nước thành viên thì việc đăng ký quốc tế cũng có lợi, đó là không phải thẩm định hình thức, không phải phân loại hàng hóa, dịch vụ
và không phải công bố nhãn hiệu
- Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ dược ký kết ngày 13/7/2000 Hiệp định điều chỉnh quan hệ song phương trong bốn lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Nội dung về sở hữu trí tuệ được quy định trong chương II của Hiệp định Về cơ bản, các quy định trong Hiệp định này tương tự các quy định của Hiệp địng TRIPS, với một số thay đổi nhất định như quy định thêm về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trính đã được mã hóa, quy định thời hạn bảo hộ một số quyền tác giả dài hơn…
- Hiệp định về các khía cạnh liên đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS): Hiệp định TRIPS được ký kết ngày 15/4/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1995, trở thành các quy tắc về sở hữu trí tuệ trong hệ thống các quy tắc thương mại quốc tế của WTO Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO ngày 11/1/2007 Phần II của Hiệp định TRIPS quy định các tiêu chuẩn tối thiểu đối
Trang 23với việc bảo hộ các đối tượng của SHTT, bao gồm tám mục liên quan tới bản quyền tác giả và các quyền liên quan, nhãn hiệu, CDĐL, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin không được tiết lộ và kiểm soát thực tiễn chống cạnh tranh trong hợp đồng lixăng Đặc biệt, Hiệp định TRIPS quy định
hệ thống các chế tài đối cới các thành viên không bảo đảm sự bảo hộ tối thiểu quyền SHTT kể cả thực thi quyền, nếu thành viên nào không đạt được sự tối thiểu
đó thì sẽ không được hưởng các lợi ích của WTO."7
1.2 Các quy định của pháp luật về quyền SHCN đối với CDĐL và NH
1.2.1 Quy định về điều kiện bảo hộ CDĐL và NH
1.2.1.1 Điều kiện bảo hộ CDĐL
Theo quy định tại khoản 22, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 như sau "CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể"8
Theo Điều 79 Luật Sở hữu trí tuệ thì CDĐL được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
"1 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
2 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định."9
Theo Điều 80 Luật Sở hữu trí tuệ thì các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa CDĐL:
"1 Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa ở Việt Nam;
2 Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng;
7 Tài liệu tập huấn về SHTT do Cục SHTT ban hành;
8 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009
9 Điều 79, Luật SHTT năm 2005;
Trang 243 Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhằm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;
4 Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó."10
1.2.1.2 Điều kiện bảo hộ NH:
Theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ thì NH được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
"1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
2 Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác."11
Theo Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ thì các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:
"1 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;
2 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
3 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
4 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không
10 Điều 80, Luật SHTT năm 2005;
11 Điều 72, Luật SHTT 2005;
Trang 25được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
5 Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ."12
1.2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL và NHTT
1.2.2.1 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL
- Thứ nhất: Điều kiện để đăng ký chỉ dẫn địa lý: Điều kiện được bảo hộ đăng
ký CDĐL được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 2005 như sau:
“+ Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
+ Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định”.13
- Thứ hai: Điều 88 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định chủ thể đăng ký CDĐL như sau:
"Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước
Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý,
tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó."14
- Thứ ba: Đơn đăng ký CDĐL được quy định tại điều 100 và 106 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 như sau:
+ Tại điều 100 quy định như sau:
"1 Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm các tài liệu sau đây:
a) Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
12 Điều 73, Luật SHTT 2005;
13 Luật SHTT 2005;
15 Luật SHTT 2005; www.baothuonghieu.com
Trang 26b) Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng sở hữu công nghiệp đăng ký bảo hộ quy định tại các điều từ Điều 102 đến Điều 106 của Luật này;
c) Giấy uỷ quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện;
d) Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền
đó của người khác;
đ) Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên; e) Chứng từ nộp phí, lệ phí
2 Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và giấy tờ giao dịch giữa người nộp đơn
và cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp phải được làm bằng tiếng Việt, trừ các tài liệu sau đây có thể được làm bằng ngôn ngữ khác nhưng phải được dịch ra tiếng Việt khi cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp yêu cầu:
a) Giấy uỷ quyền;
b) Tài liệu chứng minh quyền đăng ký;
c) Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên;
d) Các tài liệu khác để bổ trợ cho đơn
3 Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm:
a) Bản sao đơn hoặc các đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;
b) Giấy chuyển nhượng quyền ưu tiên nếu quyền đó được thụ hưởng từ người khác."15
+ Tại điều 106 quy định đơn đăng ký CDĐL như sau:
"1 Tài liệu, mẫu vật, thông tin xác định chỉ dẫn địa lý cần bảo hộ trong đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý bao gồm:
a) Tên gọi, dấu hiệu là chỉ dẫn địa lý;
b) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
15 Điều 100 luật sở hữu trí tuệ 2015
Trang 27c) Bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý và các yếu tố đặc trưng của điều kiện tự nhiên tạo nên tính chất, chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm đó (sau đây gọi là bản mô tả tính chất đặc thù);
d) Bản đồ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
đ) Tài liệu chứng minh chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại nước có chỉ dẫn địa lý đó, nếu là chỉ dẫn địa lý của nước ngoài
2 Bản mô tả tính chất đặc thù phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Mô tả loại sản phẩm tương ứng, bao gồm cả nguyên liệu thô và các đặc tính
lý học, hoá học, vi sinh và cảm quan của sản phẩm;
b) Cách xác định khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
c) Chứng cứ về loại sản phẩm có xuất xứ từ khu vực địa lý theo nghĩa tương ứng quy định tại Điều 79 của Luật này;
d) Mô tả phương pháp sản xuất, chế biến mang tính địa phương và có tính ổn định;
đ) Thông tin về mối quan hệ giữa tính chất, chất lượng đặc thù hoặc danh tiếng của sản phẩm với điều kiện địa lý theo quy định tại Điều 79 của Luật này; e) Thông tin về cơ chế tự kiểm tra các tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm."16
1.2.2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với NH
- Thứ nhất: Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định quyền đăng ký NH như sau:
"1 Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp
2 Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng
ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó
16 Điều 106 Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trang 283 Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký
là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó
4 Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
đó
5 Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:
a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc
sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;
b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ
6 Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này, kể
cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng
7 Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng
ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được
sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng."17
- Thứ hai: Quyền của chủ sở hữu NH
Khi nhãn hiệu được bảo hộ nó sẽ đem đến cho chủ sở hữu các quyền sau:
17 Luật SHTT 2005, Điều 87
Trang 29- Có các quyền tài sản sau đây:
+ Sử dụng, cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu; + Ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu;
+ Định đoạt nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu (chuyển nhượng quyền; chuyển giao quyền sử dụng)
- Sử dụng nhãn hiệu
"+ Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; + Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;
+ Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ."18
- Thứ ba: Nội dung của NH
"Hiện nay, chưa có nhiều tài liệu đề cập đến việc xây dựng một nhãn hiệu phải thực hiện theo trình tự hay những nội dung gì cụ thể Tuy nhiên, theo Tài liệu “Tạo dựng một nhãn hiệu”, thuộc Bộ sách SHTT dành cho các doanh nghiệp, số 1, do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và công nghệ xuất bản theo bản quyền của WIPO thì xây dựng một nhãn hiệu phải đảm bảo các nội dung:
- Hình thành nhãn hiệu (lên ý tưởng, thiết kế nhãn hiệu - đây là mẫu nhãn hiệu doanh nghiệp dự định sử dụng cho sản phẩm của mình, hoặc dùng để đăng ký bảo hộ)
- Bảo hộ (bảo vệ) nhãn hiệu (là việc tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu với
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền)
- Sử dụng nhãn hiệu (nhãn hiệu sau khi được bảo hộ phải được sử dụng, nếu không sử dụng thì theo quy định đến một mức thời gian nhất định, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ bị đình chỉ hiệu lực)
- Bảo vệ (thực thi) quyền đối với nhãn hiệu (thực hiện các biện pháp ngăn chặn khi nhãn hiệu của doanh nghiệp bị người khác sử dụng bất hợp pháp)."19
18 Luật SHTT 2005, khoản 5, Điều 124
19 www.baothuonghieu.com;
Trang 301.2.3 Nội dung quyền SHCN đối với CDĐL và NHTT:
1.2.3.1 Sử dụng đối tượng SHCN: được quy định tại điều 124 Luật sở hữu trí tuệ 2005:
"- Sử dụng kiểu dáng công nghiệp là việc thực hiện các hành vi sau đây: a) Sản xuất sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ; b) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm a khoản này; c) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm a khoản này
- Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây: a) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ; c) Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ
- Sử dụng chỉ dẫn địa lý là việc thực hiện các hành vi sau đây: a) Gắn chỉ dẫn địa lý được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hoá có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ; c) Nhập khẩu hàng hoá có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ."20
1.2.3.2 Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
“1 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nếu việc sử dụng đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
2 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc các trường hợp sau đây:
a) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân
20 Luật SHTT 2005, Điều 124;
Trang 31tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm;
b) Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải
do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa
ra thị trường nước ngoài;
c) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trong lãnh thổ Việt Nam;
d) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp do người có quyền sử dụng trước thực hiện theo quy định tại Điều 134 của Luật này;
đ) Sử dụng sáng chế do người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của Luật này;
e) Sử dụng thiết kế bố trí khi không biết hoặc không có nghĩa vụ phải biết thiết
1.2.3.2 Hành vi xâm phạm đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được quy định tại điều 126 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 như sau:
“Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí: Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép
21 Luật SHTT 2005, Điều 125;
Trang 32của chủ sở hữu; Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định tại Điều 131 của Luật này."22
Trang 33nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ
c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch
vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ
d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ,
kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc
sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng."24
1.2.5 Quy định về các biện pháp bảo hộ CDĐL và NHTT
Theo điều 198 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định quyền tự bảo vệ như sau:
"1 Chủ thể quyền SHTT có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền SHTT của mình:
a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
24 Luật SHTT 2005, Điều 129;