Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu và vận dụng Thuyết hành vi dự định Theory of Planned Behavior - TPB của Ajzen 1991, thái độ, chuẩn chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi qua kiến thứ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH TIÊM PHÒNG VẮC XIN NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH TIÊM PHÒNG VẮC XIN NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Ngoài những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, không có sản phẩm, nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn mà không được trích dẫn theo quy định Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Học viên
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 12
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 14
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 14
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 14
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 14
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 15
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 15
1.5 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 15
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
1.7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 18
2.1 TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 18
2.1.1 Ung thư cổ tử cung 18
2.1.2 Human Papilloma virus (HPV) 19
2.1.3 Phương pháp phòng tránh ung thư cổ tử cung 20
2.1.4 Vắc xin phòng tránh 21
2.2 THUYẾT HÀNH VI DỰ ĐỊNH 21
2.3 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN 23
2.3.1 Nghiên cứu ở Việt Nam 23
Trang 52.3.2 Nghiên cứu ở nước ngoài 24
2.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 32
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 33
3.2 KHUNG PHÂN TÍCH 34
3.2.1 Thái độ về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung 35
3.2.2 Chuẩn chủ quan 35
3.2.3 Kiểm soát hành vi 35
3.2.4 Đặc điểm kinh tế xã hội 36
3.3 ĐO LƯỜNG CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG NGHIÊN CỨU 36
3.3.1 Thái độ về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung 36
3.3.2 Chuẩn chủ quan 39
3.3.3 Kiểm soát hành vi thông qua yếu tố về kiến thức về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung 40
3.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 42
3.5 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 46
3.5.1 Quy mô mẫu nghiên cứu 46
3.5.2 Phương pháp chọn mẫu 46
3.5.3 Đối tượng khảo sát 46
3.5.4 Phương pháp khảo sát 46
3.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU 47
3.7 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO 49
4.1.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha 49
4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá 59
4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ 65
4.3 PHÂN TÍCH HỒI QUY 69
4.3.1 Kết quả hồi quy 69
4.3.2 Thảo luận kết quả hồi quy 76
4.4 Ý NGHĨA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 77
4.4.1 Phổ biến kiến thức về ung thư cổ tử cung 79
4.4.2 Tăng cường tuyên truyền về việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung 79 4.4.3 Xây dựng lộ trình mở rộng việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
80
Trang 64.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 81
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 82
5.1 KẾT LUẬN 82
5.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 82
5.2.1 Hạn chế của đề tài 82
5.2.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 88
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Thuyết hành vi dự định TPB 22 Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 33 Hình 3.2: Các yếu tố ảnh hưởng quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung 34
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan 30
Bảng 3.1: Thái độ về vắc- xin phòng ung thư cổ tử cung 38
Bảng 3.2: Đo lường chuẩn chủ quan 39
Bảng 3.3: Kiến thức về vắc- xin phòng ung thư cổ tử cung 41
Bảng 3.4: Các biến số trong mô hình nghiên cứu 44
Bảng 4.1: Đánh giá độ tin cậy thang đo Thái độ về HPV 49
Bảng 4.2: Đánh giá độ tin cậy thang đo Thái độ về ung thư cổ tử cung 51
Bảng 4.3: Đánh giá độ tin cậy thang đo Thái độ đối với việc tiêm phòng vắc xin phòng ung thư cổ tử cung 52
Bảng 4.4: Bảng tổng hợp thang đo Thái độ 53
Bảng 4.5: Đánh giá độ tin cậy thang đo Chuẩn chủ quan 53
Bảng 4.6: Đánh giá độ tin cậy thang đo Kiến thức về HPV 54
Bảng 4.7: Đánh giá độ tin cậy thang đo Kiến thức về ung thư cổ tử cung 57
Bảng 4.8: Đánh giá độ tin cậy thang đo Kiến thức đối với việc tiêm phòng vắc xin phòng ung thư cổ tử cung 58
Bảng 4.9: Bảng tổng hợp thang đo Kiến thức 59
Bảng 4.10: Kết quả phân tích EFA thang đo Thái độ 60
Bảng 4.11: Kết quả phân tích EFA thang đo Chuẩn chủ quan 61
Bảng 4.12: Kết quả phân tích EFA thang đo Kiến thức 62
Bảng 4.13: Thang đo Thái độ, Chuẩn chủ quan và Kiến thức 63
Bảng 4.14: Thống kê mô tả các biến định tính 66
Bảng 4.15: Thống kê mô tả các biến định lượng 66
Bảng 4.16: Điểm số phản ánh Thái độ, Chuẩn chủ quan và Kiến thức 67
Bảng 4.17: Kết quả hồi quy 69
Bảng 4.18: Mô phỏng xác suất tiêm vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung 75
Trang 10TÓM TẮT
Mục tiêu chính của đề tài là xác định và đo lường tác động của các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu và vận dụng Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991), thái độ, chuẩn chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi qua kiến thức về ung thư cổ tử cung được xác định là 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Dữ liệu được sử dụng để phân tích gồm 209 quan sát là nữ giới trong độ tuổi từ 18 đến 26 tuổi đang sinh sống ở TP Hồ Chí Minh ở năm 2018 Để kiểm định chất lượng của các thang
đo trong mô hình, đề tài sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha và phương pháp phân tích nhân tố khám phá để đánh giá độ tin cậy của các thang đo này Sau khi đã xây dựng được bộ thang đo đã đảm bảo độ tin cậy, đề tài sử dụng phương pháp hồi quy Binary Logistic đa biến để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Kết quả nghiên cứu chỉ ra thái độ đối với căn bệnh ung thư cổ tử cung, thái
độ đối với việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là những yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Bên cạnh thái độ, kiến thức, sự hiểu biết về căn bệnh ung thư cổ tử cung, về HPV và về việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung cũng là những yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Ngoài thái độ
và kiến thức, đề tài cũng đã chỉ ra tác động từ phía người thân trong gia đình, bạn bè hoặc lời khuyên từ bác sĩ cũng chính là yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Không những vậy, trong số những đặc điểm kinh tế xã hội được đề xuất trong mô hình nghiên cứu, thu nhập bình quân đầu người cũng là một yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Trang 11ABSTRACT
The main objective of the study was to identify and measure the impact of factors affecting the decision to vaccinate against cervical cancer Based on Ajzen's (1991) Theory of Planned Behavior (TPB), attitudes, subjective norms, and behavioral control through knowledge of ancient cancer The uterus is defined as three main factors that influence the decision to vaccinate against cervical cancer The data used for the analysis included 209 observation that 18- to 26-year-old women are living in HCMC Ho Chi Minh City in 2018 To test the quality of the scales in the model, the subject used Cronbach's Alpha test and exploratory factor analysis to assess the reliability of these scales Once the scale has been established
to ensure reliability, the topic uses multivariate Binary Logistic regression to determine the factors that influence the vaccination against cervical cancer
Results of the study show that attitudes towards cervical cancer, attitudes toward vaccination against cervical cancer are factors that have a positive influence
on the decision to vaccinate against cervical cancer cervical cancer In addition to the attitude, knowledge, understanding of cervical cancer, HPV and vaccination against cervical cancer are also factors that have a positive influence on the vaccination vaccination for cervical cancer In addition to the attitude and knowledge, the topic also showed the impact of family members, friends or doctor's advice is also a factor that has a positive impact on the decision to vaccinate against cancer cervical cancer Moreover, among the socio-economic characteristics proposed in the research model, per capita income is also a factor that has a positive influence on the decision to vaccinate against cervical cancer
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo Bộ Y tế (2016), ung thư cổ tử cung là bệnh lý ác tính của biểu mô lát (biểu mô vảy) hoặc biểu mô tuyến cổ tử cung, thường gặp từ độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ hai trong các ung thư sinh dục ở nữ giới về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong Trong khi các nỗ lực trên toàn thế giới trong lĩnh vực làm mẹ an toàn đã giúp giảm tử vong mẹ xuống 45% trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2015 thì số phụ nữ
tử vong do ung thư cổ tử cung đã gia tăng 39% trong cùng thời gian, từ 192.000 trường hợp lên 366.000 trường hợp/năm Ở Việt Nam, với tỷ số tử vong mẹ khoảng
từ 50 đến 60 trường hợp trên 100.000 trẻ đẻ sống và hàng năm có khoảng từ 600 đến 700 trường hợp tử vong liên quan do thai nghén và sinh đẻ, trong khi tử vong
do ung thư cổ tử cung có thể lên đến từ 2.500 đến 2.700 trường hợp/năm Năm
2010, tại Việt Nam có 5.664 phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung, tỷ lệ mắc mới ung thư
cổ tử cung đã chuẩn hóa theo tuổi (ASR) là 13,6/100.000 phụ nữ Tỷ lệ này thấp hơn so với khu vực Đông Nam Á (15,8/100.000) nhưng đang có xu hướng gia tăng Ung thư cổ tử cung tạo ra các gánh nặng bệnh tật lớn cho người bệnh, gia đình, hệ thống y tế và toàn xã hội Năm 2012, tại Việt Nam, tổng gánh nặng trực tiếp của ung thư cổ tử cung khoảng 1.755 tỷ đồng, xếp thứ 4 và chiếm khoảng 0,015% tổng GDP; gánh nặng gián tiếp khoảng 418 tỷ đồng (Bộ Y tế, 2016)
Nguyên nhân tiên phát của ung thư cổ tử cung là do nhiễm một hoặc nhiều tuyp Human Papilloma virus (HPV) có nguy cơ cao (Bộ Y tế, 2016) Nguy cơ nhiễm HPV ít nhất 1 lần trong đời của người phụ nữ là khoảng 80%, với tỷ lệ nhiễm cao nhất trong độ tuổi từ 20 đến 30, có thể lên đến từ 20 đến 25% trong quần thể (Bộ Y tế, 2016) Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, một trong những giải pháp được lựa chọn để phòng ngừa ung thư cổ tử cung là tăng cường sử dụng vắc xin phòng ngừa HPV và nhiều nghiên cứu gần đây cũng đã chứng minh vắc xin HPV có tác dụng làm giảm sự lây nhiễm HPV ở phụ nữ
Trang 13Theo Bộ Y tế (2016), Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia (cùng với Ấn Độ, Peru
và Uganda) tham gia vào chương trình toàn cầu và toàn diện về ung thư cổ tử cung, giảm ung thư cổ tử cung qua tiêm vắc xin, sàng lọc và điều trị ung thư cổ tử cung Chương trình này được triển khai theo hai chiến lược: Tiêm chủng tại trường học và tiêm chủng tại trạm y tế cho trẻ em gái tuổi 11 ở khu vực thành thị, nông thôn và miền núi Tổng số có trên 6.400 trẻ em gái đã nhận được ít nhất 1 liều vắc xin Kết quả cho thấy khoảng 94% trẻ em gái được tiêm chủng đầy đủ trong năm thứ hai triển khai nếu tiêm tại trường học (năm đầu tiên đạt 83%) và 98% tại cơ sở y tế khi triển khai năm thứ 2 (93% trong năm đầu tiên) Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực từ chương trình tiêm phòng mang lại, kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở một số địa phương cụ thể vẫn cho thấy tỷ lệ nữ giới đã được tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hiện vẫn ở mức thấp (Bùi Thị Thu Hà và cộng sự, 2017; Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự, 2017)
Ngoài ra, mặc dù ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung nhưng các nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế Đối tượng khảo sát mà các nghiên cứu này nhắm đến là phụ huynh (Cover và cộng sự, 2012), nữ giới từ 15 đến
49 tuổi (Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự, 2017), chưa có nghiên cứu nhằm vào nhóm đối tượng trong độ tuổi phù hợp để thực hiện tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung theo khuyến cáo của Hội Y học Dự phòng Việt Nam cũng như nhiều
tổ chức khác trên thế giới Đặc biệt, ở khu vực TP Hồ Chí Minh, theo hiểu biết của tác giả thì nghiên cứu về chủ đề này đối với nhóm đối tượng là nữ giới trong độ tuổi
có nguy cơ cao từ 18 đến 26 tuổi cũng chưa được tiến hành
Từ kết quả phân tích trên có thể nhận thấy, ung thư cổ tử cung là một bệnh rất nguy hiểm và gây thiệt hại khá lớn về kinh tế Mặc dù trên thế giới lẫn ở Việt Nam đã có vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung nhưng tỷ lệ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung ở Việt Nam còn rất thấp Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này cũng còn khá ít ở Việt Nam Xuất phát từ những vấn đề nêu
Trang 14trên, việc nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là hết sức cần thiết, vừa mang ý nghĩa thực tiễn, vừa giúp
bổ sung bằng chứng thực nghiệm vào tổng quan tài liệu về chủ đề này Trên cơ sở
đã xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng, các giải pháp, chương trình can thiệp được đề xuất sẽ phù hợp và hiệu quả hơn, từ đó nâng cao khả năng đưa ra quyết định tiêm phòng, giúp cải thiện tỷ lệ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung trong cộng đồng
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định và đo lường tác động của các yếu tố
có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở kết quả xác định các yếu tố có tác động đến quyết định tiêm phòng vắc xin, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện việc thực hiện tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung đối với nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu cụ thể của đề tài gồm:
- Xác định những yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung; và mức độ tác động của các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện xác suất tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung đối với nữ giới trong độ tuổi thích hợp để tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung tại thành phố Hồ Chí Minh
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài cần đi tìm lời giải đáp cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
Trang 15- Các yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc ra quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung?
- Mức độ tác động của các yếu tố có ảnh hưởng đến việc ra quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung như thế nào?
- Giải pháp can thiệp nào là phù hợp, hiệu quả để cải thiện việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung đối với nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên kết quả khảo sát nữ giới trong độ tuổi từ
18 đến 26 tuổi đang sinh sống ở TP Hồ Chí Minh Theo Hội Y học Dự phòng Việt Nam (2018) Do đó, nhóm đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu trong đề tài là phù hợp, bởi vừa nằm trong độ tuổi thích hợp để tiêm phòng, vừa đảm bảo đã thành niên theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 Thời gian tiến hành khảo sát là tháng 7 năm 2018
1.5 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú tổng quan tài liệu các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ chỉ ra được các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, xác định được yếu tố nào
có ảnh hưởng tích cực, yếu tố nào có ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định tiêm phòng Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp can thiệp cụ thể nhắm vào những yếu tố này nhằm cải thiện tỷ lệ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Trang 16ở TP Hồ Chí Minh Việc các giải pháp được đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu này sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn bởi các giải pháp đều nhắm đến các yếu tố thật sự
có tác động đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung của người dân
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để nghiên cứu về đặc điểm kinh
tế xã hội của đối tượng tham gia nghiên cứu cũng như tỷ lệ người đã tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung trong mẫu nghiên cứu Bên cạnh đó, phương pháp hồi quy Logit được sử dụng để nghiên cứu về những yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
1.7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài có cấu trúc 5 chương, gồm:
Chương 1: Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu Theo đó, sẽ trình bày
sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu Chương này cũng sẽ giới thiệu sơ bộ về đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu áp dụng
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết để thực hiện nghiên cứu và đề xuất khung phân tích để nghiên cứu Chương 2 có nội dung trọng tâm là tổng quan về các khái niệm, lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu Ngoài ra, kết quả tóm lược các nghiên cứu trước có liên quan được trình bày trong Chương 2 cũng sẽ giúp cho
đề tài có được hướng nghiên cứu, cách tiếp cận để giải quyết các vấn đề nghiên cứu
mà đề tài đã đặt ra
Chương 3: Mô tả phương pháp, cách thức để nghiên cứu Nội dung trọng tâm
Trang 17của Chương 3 sẽ tiến hành xây dựng các khái niệm trong khung phân tích, xác định cách thức đo lường các biến số trong mô hình nghiên cứu Ngoài ra, Chương 3 cũng tập trung trình bày cách thức thu thập số liệu để tiến hành phân tích cũng như những
kỹ thuật thống kê, phân tích được vận dụng nhằm giải quyết các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đã đề ra
Chương 4: Trình bày những kết quả nghiên cứu được và thảo luận, so sánh, đánh giá kết quả nghiên cứu này Để đảm bảo độ tin cậy của thang đo dùng để đo lường các biến thái độ, chuẩn chủ quan, kiến thức về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, đề tài sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha và Phân tích nhân tố khám phá để kiểm định Sau khi xác định được các thành phần trong thang đo từng biến số, đề tài tiến hành phân tích thống kê, so sánh và hồi quy Binary Logistic để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
cổ tử cung
Chương 5: Tóm tắt kết quả chính của nghiên cứu và trình bày về hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
2.1.1 Ung thư cổ tử cung
Ung thư là một thuật ngữ nhằm chỉ sự phát triển ác tính, không kiểm soát của các tế bào và các mô Ung thư có hình dạng tăng trưởng như khối u, có thể xâm nhập vùng lân cận, vùng xa các bộ phận của cơ thể, cạnh tranh các chất dinh dưỡng, ôxy và phá hủy các mô bình thường Di căn xảy ra khi các nhóm nhỏ các tế bào tách
ra từ khối u gốc, di chuyển tới những vị trí khác thông qua đường máu và các hạch bạch huyết và sau đó bắt đầu hình thành khối ung thư mới tương tự như với các khối u gốc
Một trong những nguyên nhân của ung thư cổ tử cung biểu mô vẩy là nhiễm trùng dai dẳng hay mãn tính với một hoặc nhiều chủng vi rút gây u nhú ở người (HPV-Human Papilloma virus) ở nhóm vi rút nguy cơ cao và gây ung thư Chủng HPV phổ biến nhất gây ung thư là HPV16 và HPV18, được tìm thấy trong 70% của tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung Các chủng HPV gây ung thư khác, ví dụ HPV31, 33, 45, và 58, ít phổ biến hơn và có thể có tỷ lệ nhiễm khác nhau ở các vùng địa lý khác nhau Loại có nguy cơ thấp là HPV6 và HPV11, không có liên quan đến bệnh ung thư, nhưng gây ra mụn cóc sinh dục Các yếu tố nguy cơ nhiễm HPV cho cả nam và nữ giới được biết là có quan hệ tình dục, lứa tuổi bắt đầu có quan hệ tình dục, có nhiều bạn tình, bạn tình có quan hệ tình dục với nhiều người Nhiễm HPV nguy cơ cao phổ biến nhất ở phụ nữ trẻ, với tỷ lệ cao nhất là 25-30% ở phụ nữ dưới 25 tuổi Theo các báo cáo, tỷ lệ này giảm xuống theo độ tuổi
Ung thư cổ tử cung xâm lấn được xác định bởi quá trình xâm lấn của các tế bào bất thường vào sợi mô liên kết cơ bản của màng đáy Ung thư cổ tử cung xâm lấn bắt đầu với giai đoạn rất ngắn, không thể nhìn thấy bằng mắt thường khi kiểm tra và chẩn đoán mô học bằng cách sử dụng một mẫu mô sinh thiết hình nón hoặc
Trang 19cắt tử cung Sau đó phát triển thành tổn thương lớn hơn, có thể mở rộng đến âm đạo, vùng xương chậu, bàng quang, trực tràng và các bộ phận trong cơ thể khác Nếu không điều trị, ung thư cổ tử cung sẽ tiến triển thành bệnh nghiêm trọng và dẫn đến tử vong Liên đoàn Sản phụ khoa Quốc tế (FIGO) đã tìm hiểu và mô tả các mức
độ của ung thư xâm lấn, từ đó đề xuất chọn lựa phương pháp điều trị thích hợp
Có bốn giai đoạn mô tả quá trình phát triển của ung thư xâm lấn Ung thư xâm lấn thường chỉ giới hạn ở vùng chậu trong một khoảng thời gian dài, nơi mà nó
có thể tiếp cận để điều trị
- Trong cổ tử cung: Lây lan từ vị trí ung thư xâm lấn siêu nhỏ, cuối cùng đến toàn bộ cổ tử cung, đường kính có thể mở rộng tới 8 cm Ung thư có thể gây loét, exophytic (phát triển ra bên ngoài) hoặc xâm nhập (xâm nhập vào bên trong)
- Cấu trúc liền: Lây lan theo tất cả các hướng, lan xuống âm đạo, vào tử cung (bên trên), các mô tử cung trung gian trong khung chậu (parametrium) (bên cạnh), niệu quản, trực tràng (xuống dưới), và bàng quang (phía sau)
- Hạch bạch huyết: Lây lan đến các hạch bạch huyết ở vùng chậu, chiếm 15% trong các trường hợp khi ung thư còn giới hạn trong cổ tử cung Tỷ lệ này tăng lên khi ung thư đã di căn Tế bào ung thư di căn đầu tiên vào hệ thống hạch bạch huyết trong vùng chậu, sau đó là các chuỗi nút bạch huyết dọc theo động mạch chủ, cuối cùng có thể lên tới hố thượng đòn (phía trên xương cổ áo) Nếu ung thư giai đoạn muộn, có thể thấy tế bào ung thư di căn vào các hạch bẹn
- Di căn xa qua đường máu và hạch bạch huyết: Tế bào ung thư cổ tử cung
có thể lây lan theo đường máu và hệ bạch huyết để di căn vào gan, phổi, xương và não
2.1.2 Human Papilloma virus (HPV)
Human Papilloma virus là một loại vi rút gây u nhú ở người gọi tắt là HPV HPV là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất trên thế giới hiện nay Hầu như tất cả các ca ung thư cổ tử cung đều có liên quan đến HPV, một loại vi rút
Trang 20có DNA đặc thù theo mô, dễ lây lan và lây lan rộng rãi HPV là một viêm nhiễm lây qua đường tình dục phổ biến nhất và không có điều trị đặc hiệu cho nhiễm HPV
HPV là một tổ hợp các chủng vi rút khác nhau Người ta biết tới hơn 100 loại HPV Một số loại có khả năng gây ung thư cao hơn (các loại có nguy cơ cao), một
số loại khác có ít khả năng gây ung thư hơn (các loại có nguy cơ thấp) Các loại có nguy cơ cao gây ra hầu hết các bệnh ung thư vùng hậu môn - sinh dục, trong khi các loại có nguy cơ thấp có thể gây sùi mào gà sinh dục, tế bào cổ tử cung bất thường, bệnh u nhú đường hô hấp tái phát, hoặc phổ biến nhất là các viêm nhiễm không có triệu chứng và không thấy qua thăm khám lâm sàng Có ít nhất 13 kiểu gien HPV
có nguy cơ cao Hai loại HPV có nguy cơ cao có liên quan tới khoảng 70% tất cả các ca ung thư cổ tử cung là HPV16 và HPV18 HPV45 và HPV31 cũng có liên quan đến ung thư cổ tử cung, chiếm khoảng 4% số ca mỗi loại Các nghiên cứu cũng cho thấy sự khác nhau trong các loại HPV phổ biến tại mỗi vùng
2.1.3 Phương pháp phòng tránh ung thư cổ tử cung
Có thể phòng tránh ung thư cổ tử cung bằng cách phòng tránh viêm nhiễm từ đầu hoặc phát hiện yếu tố tiền ung thư cổ tử cung và cung cấp dịch vụ điều trị Phương pháp đầu tiên được gọi là dự phòng cấp 1 và có thể thực hiện bằng cách tránh phơi nhiễm với vi rút nhờ kiêng quan hệ tình dục hoặc tuân thủ quan hệ một
vợ một chồng, miễn là cả hai phía chứ không phải chỉ là một phía quan hệ thủy chung và trước đó cả 2 người đều không viêm nhiễm Khi luôn luôn sử dụng bao cao su thì cũng chỉ bảo vệ phòng tránh được HPV khoảng 70% Một dạng dự phòng cấp 1 khác là tiêm vắc xin phòng tránh ung thư cổ tử cung
Dự phòng cấp 2 được tiến hành thông qua sàng lọc và điều trị các tổn thương tiền ung thư Sàng lọc ung thư phải hướng tới các phụ nữ đang có quan hệ tình dục hoặc đã từng có để xác định xem họ có nằm trong nhóm có nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung hay không Có thể xác định thông qua xét nghiệm các tế bào được lấy ra từ cổ tử cung khi tiến hành làm Pap smear (phiến đồ âm đạo), kiểm tra bằng mắt thường lớp bề mặt cổ tử cung hoặc phát hiện DNA HPV
Trang 212.1.4 Vắc xin phòng tránh
Năm 2006, loại vắc xin chống nhiễm HPV đầu tiên - Merck’s Gardasil® - đã được cấp phép và đưa ra thị trường và tính đến năm 2007, loại vắc xin này đã được đăng ký tại trên 70 quốc gia Gardasil® phòng chống lây nhiễm hai trong số những loại HPV gây ung thư phổ biến nhất, loại 16 và 18 Khoảng 70% các ca ung thư cổ
tử cung liên quan đến hai loại HPV này Vắc xin này cũng giúp phòng chống hai loại HPV không gây ra ung thư - loại 6 và 11 - nhưng gây ra mồng gà sinh dục u sùi sinh dục Loại vắc xin này được tiêm bắp 3 liều 0.5 ml trong vòng 6 tháng, trong đó liều thứ hai được tiêm sau liều thứ nhất 2 tháng và liều thứ ba được tiêm cách liều thứ nhất khoảng 6 tháng Loại vắc xin thứ hai, GlaxoSmithKline’s Cervarix™ cũng giúp phòng chống nhiễm hai trong số những loại HPV gây ra ung thư phổ biến nhất
là loại 16 và 18 và cũng được tiêm thành 3 mũi với liều lượng 0,5 ml Trong trường hợp này, liều thứ hai được tiêm sau liều thứ nhất một tháng và liều thứ ba được tiêm sau liều thứ nhất sáu tháng
Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy cả hai loại vắc xin này có hiệu quả ít nhất 95% trong việc phòng chống các viêm nhiễm tái phát của HPV-16 và 18 và có hiệu quả 100% trong việc phòng chống các tổn thương cổ tử cung đặc thù của từng loại
vi rút khi được dùng cho các em gái trước khi có quan hệ tình dục hoặc cho các phụ
nữ không có tiền sử viêm nhiễm các loại HPV này Việc sử dụng rộng rãi vắc xin đơn thuần có khả năng giúp giảm 50% các ca tử vong do ung thư cổ tử cung trong vài thập kỷ và một số số liệu ước tính thậm chí còn đưa ra một tỷ lệ phòng chống là 71%, tuỳ thuộc vào tỷ lệ tiêm vắc xin Ở những quốc gia có điều kiện thực hiện tiêm phòng, việc tiêm phòng cho vị thành niên kết hợp với một chương trình khám sàng lọc hướng vào những phụ nữ trên 30 tuổi sẽ là biện pháp hiệu quả nhất
2.2 THUYẾT HÀNH VI DỰ ĐỊNH
Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991) là một trong những lý thuyết rất có ảnh hưởng trong lĩnh vực nghiên cứu về hành vi của con người và đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác
Trang 22nhau Thuyết này được phát triển từ thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) khi cho rằng hành động thực tế của con người chịu ảnh hưởng bởi ý định thực hiện hành vi đó Cụ thể trong trường hợp này, quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung sẽ chịu ảnh hưởng bởi ý định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Thuyết hành vi dự định cho rằng thái độ, chuẩn chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi là những yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi Theo đó, hành vi có thể dự báo được thông qua việc xem xét ảnh hưởng của các yếu tố này Trong trường hợp tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, thái độ đối với việc tiêm phòng được phản ánh qua lòng tin vào sự an toàn, hiệu quả của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, chuẩn chủ quan chính là tác động từ môi trường xung quanh như người thân, bạn bè, bác sĩ… và khả năng kiểm soát hành vi được phản ánh qua khả năng chi trả cho vắc-xin, sự hiểu biết về vắc-xin, quỹ thời gian để thực hiện tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung …
Trang 232.3 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN
2.3.1 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu của Cover và cộng sự (2012) là nghiên cứu định tính nhằm xác định tại sao phụ huynh lại đưa ra quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hoặc không tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung cho trẻ, đồng thời nghiên cứu về quá trình ra quyết định này Tổng cộng có 133 phụ huynh tham gia với 16 cuộc thảo luận nhóm và 27 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc được tiến hành Các câu hỏi trong phần thảo luận nhóm và phỏng vấn bán cấu trúc tập trung vào các vấn
đề như: Yếu tố nào (cá nhân, cộng đồng, gia đình, thông tin, truyền thông) tác động đến quyết định cho con gái của bạn tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung? Cách bạn ra quyết định tiêm phòng cho con gái? Ai là người đặt vấn đề tiêm phòng trước? Ai là người quyết định? Bạn có thảo luận với ai về việc tiêm phòng này không? Có ai giúp bạn đưa ra quyết định tiêm phòng này không? Ai tác động, bằng cách nào và khi nào? Tại sao bạn không cho con gái bạn tiêm phòng đầy đủ? Có mối lo ngại nào khiến bạn không cho con gái bạn tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
cổ tử cung không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung bao gồm nhận thức về rủi ro bệnh tật và lợi ích mang lại từ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, tin tưởng vào chương trình tiêm chủng của Chính phủ và lợi ích kinh tế mang lại từ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Các yếu tố chủ yếu dẫn đến không tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung bao gồm lo ngại độ an toàn của vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, lo ngại về các tác dụng phụ, sợ chất lượng thuốc không đảm bảo, cho rằng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là để thử nghiệm… Ngoài ra, nghiên cứu còn mô tả quá trình đi đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
cổ tử cung, theo đó, nhiều bậc phụ huynh đã đưa ra quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung dựa trên sự tác động của bạn bè, gia đình
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự (2017) được tiến hành tại 30
xã của tỉnh Bình Định trong năm 2017 Nhóm tác giả tiến hành khảo sát 1.200 phụ
Trang 24nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49) bằng bảng câu hỏi có cấu trúc đã được chuẩn bị trước Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ không có kiến thức về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là 68.6% và tỷ lệ phụ nữ đã được tiêm phòng HPV
là 2.3% Tỷ lệ phụ nữ chưa từng nghe về vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là 50% và chưa được cán bộ y tế tư vấn về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là 13.8% Yếu tố thiếu thông tin (63.8%) và giá thành của vắc - xin phòng HPV cao (26.3%) chính là hai rào cản lớn nhất khiến phụ nữ chưa tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Nghiên cứu cũng cho thấy kiến thức có ảnh hưởng đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Bên cạnh đó, nghiên cứu chưa tìm thấy có mối liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
cổ tử cung Song song đó, nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ người Kinh có kiến thức về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung tốt hơn đồng bào dân tộc
2.3.2 Nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của Songthap và cộng sự (2012) nhằm đánh giá kiến thức, thái
độ về vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung và ung thư cổ tử cung, nghiên cứu mối quan
hệ của những yếu tố này với sự chấp nhận tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung của học sinh, phụ huynh và giáo viên Trung học cơ sở ở Thái Lan Tổng cộng
có 644 học sinh từ 12 đến 15 tuổi, 644 phụ huynh và 304 giáo viên tham gia nghiên cứu Bảng câu hỏi đo lường kiến thức của đáp viên bao gồm các câu hỏi đánh giá kiến thức cơ bản về việc nhiễm và hậu quả của nhiễm HPV, kiến thức về ung thư cổ
tử cung bao gồm nguyên nhân, rủi ro bệnh, hậu quả và biện pháp sàng lọc, những câu hỏi về độ an toàn, hiệu quả và lợi ích của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
cổ tử cung Điểm số phản ánh kiến thức chính là số lượng câu trả lời đúng của người tham gia nghiên cứu Thái độ được đo lường thông qua các câu hỏi liên quan đến việc nhiễm HPV, ung thư cổ tử cung, hiệu quả và lợi ích của vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Các câu hỏi liên quan đến quy trình tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung như thủ tục, chi phí, lợi ích và mục tiêu của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Để đo lường điểm số Thái độ, Songthap và cộng sự (2012)
Trang 25sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (1 - Rất không đồng ý; 5 Rất đồng ý) Những người được xem là có thái độ tiêu cực đối với việc tiêm phòng nếu có điểm số bình quân dao động từ 1 đến 2.33, có thái độ trung lập nếu có điểm số bình quân từ 2.34 đến 3.67, nếu điểm số dao động từ 3.68 đến 5 thì được đánh giá là có thái độ tích cực về việc tiêm phòng Songthap và cộng sự (2012) sử dụng phương pháp so sánh giá trị trung bình để nghiên cứu sự khác biệt về kiến thức và thái độ đối với việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung giữa các nhóm đối tượng được phân loại theo giới tính, học vấn, tuổi… Kết quả nghiên cứu cho thấy, 41% phụ huynh muốn con của họ được tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Học sinh, phụ huynh và giáo viên được đánh giá có kiến thức trung bình về HPV, ung thư cổ tử cung và vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung với điểm số trung bình lần lượt là 6.91 (SD = 1.75), 6.82 (SD = 1.88) và 6.70 (SD = 1.89) Thái độ của học sinh, phụ huynh
và giáo viên về HPV đều khá tương đồng, dao động ở mức 3.46 (SD = 0.41), 3.52 (SD = 0.43) và 3.46 (SD = 0.47) trên thang điểm 5 Trong số mẫu nghiên cứu, 20% học sinh và 36% phụ huynh đồng ý trả từ 14.3 đến 28.5 USD cho mỗi liều vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung và 33% giáo viên đồng ý trả dưới 14.3 USD cho mỗi liều vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Khám phá của nghiên cứu đã chỉ ra chi phí thấp là yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, thái độ và kiến thức về HPV là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, và hai yếu tố này khá tương đồng giữa những phụ huynh
và giáo viên
Nghiên cứu của Chando và cộng sự (2013) tập trung xem xét ảnh hưởng của ngôn ngữ đến việc tiêm phòng HPV giữa những người có cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha so với những người có cha mẹ nói tiếng Anh ở Mỹ Bên cạnh ngôn ngữ, đặc điểm kinh tế xã hội được đo lường bằng trình độ học vấn và thu nhập bình quân cùng với yếu tố tiếp cận chăm sóc sức khỏe đo lường bằng bảo hiểm y tế kết hợp với nguồn lực thông thường trong chăm sóc sức khỏe cũng được xem xét trong mô hình nghiên cứu Phương pháp thống kê mô tả, so sánh giá trị trung bình và hồi quy Logit được vận dụng để phân tích Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng 1/3 mẫu
Trang 26nghiên cứu có cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha và ít trẻ có cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha được tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hơn so với trẻ có cha mẹ nói tiếng Anh (12% so với 20%) Kết quả so sánh giá trị trung bình cho thấy cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha ít cho con mình tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hơn so với cha mẹ nói tiếng Anh Khi phân tích đa biến, mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung đã không còn ý nghĩa thống kê khi
bổ sung vào mô hình yếu tố thu nhập và tiếp cận dịch vụ y tế Từ kết quả trên, Chando và cộng sự (2013) nhận định rằng sự can thiệp bằng cách giải quyết vấn đề tiếp cận chăm sóc y tế có thể làm giảm ảnh hưởng tiêu cực của ngôn ngữ đến hành
vi tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) được thực hiện ở Hồng Kông nhằm khám phá những nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ
tử cung Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định Chi-square, kiểm định test và hồi quy Logit đa biến, Lee và cộng sự (2014) chỉ ra 6.7% người tham gia nghiên cứu đã tiêm phòng HPV, 34.8% có ý định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
t-cổ tử cung và gần 60% trả lời đang suy nghĩ về việc tiêm phòng HPV (cần thêm thông tin về vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung) Những yếu tố được xem là rào cản chính của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung chính là chi phí vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, sợ tác dụng phụ, còn nhỏ tuổi, cho rằng bản thân không cần và sợ tiêm Song song đó, nhận thức về sự nguy hiểm của bệnh ung thư cổ tử cung, lời khuyên từ bác sĩ, sự ủng hộ của gia đình, nhận thức về hiệu quả của vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung và ý niệm rằng tất cả phụ nữ đều nên tiêm phòng (33.5%) chính là những yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Ngoài ra, những người có mẹ có trình độ học vấn trên Trung học cơ sở, có thu nhập hộ gia đình trên 30.000$ HK, người cho rằng chi phí vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là phù hợp hoặc được tiếp nhận thông tin về vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung từ người thân, người có kiến thức tốt, nhận thức được
sự nguy hiểm của bệnh ung thư cổ tử cung hoặc người sẵn sàng thay đổi thói quen sau khi biết cách phòng tránh ung thư sẽ có khả năng có ý định/ quyết định tiêm
Trang 27phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung cao hơn những người khác Kết quả hồi quy Logit cũng cho thấy những người nhận thức được sự nguy hiểm của bệnh ung thư, người có được thông tin về HPV từ người thân và người cho rằng trường học nên phổ biến thêm về vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung là những người có khả năng đưa
ra ý định/ quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung cao hơn những người khác
Nghiên cứu của Chiang và cộng sự (2016) nhằm mục tiêu tìm hiểu về thái
độ, khả năng chấp nhận và kiến thức về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung của sinh viên Đại học ở Hồng Kông Dẫn chứng nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014), nhóm tác giả chỉ ra rằng hầu hết những người tham gia trong nghiên cứu này đều nhận thức được sự nguy hiểm của căn bệnh ung thu cổ tử cung và sẵn sàng hành động để phòng tránh Thế nhưng, kết quả khảo sát lại cho thấy mặc dù 1/3 người tham gia nghiên cứu muốn tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, tuy nhiên có đến 60% người tham gia nghiên cứu vẫn đang suy nghĩ về việc tiêm phòng, chỉ 6.7% trong số họ thực sự đã tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Điều này cho thấy, bên cạnh nhận thức về rủi ro của căn bệnh ung thư cổ tử cung vẫn còn nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung ở người tham gia nghiên cứu Bên cạnh đó, khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ
tử cung, Chiang và cộng sự (2016) đã chỉ ra chi phí tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung chính là rào cản lớn ngăn người tham gia nghiên cứu đưa ra quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung (Kwan và cộng sự, 2008; Lee và cộng sự, 2011; Chan và cộng sự, 2012; Li và cộng sự, 2013; Choi và cộng sự, 2013) Song song với rào cản về chi phí thì sự lo ngại về tác dụng phụ của vắc - xin (Lee và cộng sự, 2007; Cover và cộng sự, 2012; Watson-Jones và cộng sự, 2012; Perkins và cộng sự, 2012), lo ngại về thời gian hiệu lực của vắc - xin, đánh giá nguy
cơ nhiễm HPV thấp, cho rằng không cần tiêm phòng ngay, hay sự cản trờ từ phía gia đình, sợ đau khi tiêm (Kwan và cộng sự, 2008), lo ngại nếu đã tiêm thì sẽ chủ quan và dẫn đến nguy cơ tình dục không an toàn (Olshen và cộng sự, 2005; Waller
Trang 28và cộng sự, 2006; Marshall và cộng sự, 2007; Constantine và cộng sự, 2007; Wu và cộng sự, 2010), hoặc việc tôn giáo không chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân nên cho rằng không cần tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung (Haesebaert và cộng sự, 2016) cũng là những rào cản ngăn việc tiêm phòng HPV ở những người tham gia nghiên cứu Bên cạnh những rào cản kể trên thì sự ủng hộ từ gia đình, đồng nghiệp, sự đảm bảo an toàn và hiệu quả của vắc - xin (Kwan và cộng
sự, 2008) hay lời khuyên của những chuyên gia y tế (Lee và cộng sự, 2007) chính là những yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Dựa trên nghiên cứu của Songthap và cộng sự (2012) được tiến hành ở Thái Lan, Chiang và cộng sự (2016) tiến hành xây dựng bảng câu hỏi để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu Bảng câu hỏi được thiết kế để thu thập các thông tin về đặc điểm nhân khẩu học và tiền sử sức khỏe (17 câu hỏi); đánh giá kiến thức về HPV, ung thư cổ tử cung và vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung (22 câu hỏi); đánh giá thái độ về HPV, ung thư cổ tử cung và vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung (21 câu hỏi); khả năng chấp nhận vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung (6 câu hỏi) Sử dụng phương pháp kiểm định t-test và hồi quy đa biến dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 437 quan sát, Chiang và cộng sự (2016) đã cho thấy tỷ lệ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung của sinh viên Đại học ở Hồng Kông là 13.3%, sinh viên càng có kiến thức tốt càng có thái độ tích cực về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung và các sinh viên nữ thường có thái độ tích cực về vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hơn sinh viên nam; đồng thời, những người chấp nhận trả giá cao (nếu vắc - xin đảm bảo hiệu quả 100% đối với bệnh ung thư cổ tử cung và mụn cóc sinh dục) và sẵn lòng tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung (nếu vắc - xin đảm bảo phòng được bệnh ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn và mụn cóc sinh dục) cũng có thái độ tích cực hơn đối với vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung so với những người khác
Nghiên cứu của Schülein và cộng sự (2016) nhằm nghiên cứu tỷ lệ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung trên trẻ từ 9 đến 17 tuổi ở Đức và xác định
Trang 29các yếu tố có ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng này Tổng số 4.747 bé gái trong các
hộ gia đình nhận được bảng câu hỏi điều tra, có 2.224 người (chiếm 46,9%) chấp nhận tham gia vào nghiên cứu và 1.906 người (chiếm 40,2%) có trả lời các câu hỏi tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Sử dụng phương pháp thống kê mô tả,
so sánh giá trị trung bình và đặc biệt là hồi quy Logit, Schülein và cộng sự (2016) tiến hành xem xét tác động của các yếu tố như tuổi, nơi sống, trình độ học vấn, thu nhập và tình trạng kinh tế xã hội (được tính toán từ sự kết hợp trình độ học vấn và thu nhập) đến tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Tổng cộng có 17.4% trẻ
em gái đã được chủng ngừa HPV, 61.5% cảm thấy có khả năng sẽ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, 4.7% cho biết họ sẽ không tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung và 16.3% không chắc chắn sẽ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
cổ tử cung hay không Kết quả phân tích hồi quy đơn biến cho thấy, khi tuổi tăng thì khả năng tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung cũng tăng, trẻ sống ở Đông Đức có xác suất tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung cao hơn Tây Đức Bên cạnh đó, nếu mẹ của trẻ có học vấn hoặc thu nhập cao thì khả năng trẻ được tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung cũng cao Kết quả phân tích hồi quy Logit với các biến giải thích gồm tuổi, học vấn, nơi sống và thu nhập cho thấy học vấn của người mẹ là yếu tố có ảnh hưởng đến tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Khi thay thế trình độ học vấn và thu nhập bằng tình trạng kinh tế xã hội, kết quả hồi quy cũng cho thấy tình trạng kinh tế xã hội tốt giúp cải thiện khả năng tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Ngoài ra, trong các mô hình hồi quy Logit
đa biến, tuổi tác là yếu tố luôn có tác động tích cực đến tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Trang 30Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan
Cronbach Alpha
Chấp nhận tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư
cổ tử cung, kiến thức về ung thư cổ tử cung, thái độ đối với ung thư cổ tử cung, giới tính, tuổi, học vấn, chi phí cho việc tiêm phòng ung thư cổ tử cung
Chi phí thấp là yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Thái độ và kiến thức về ung thư cổ tử cung là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Chando và cộng
sự (2013)
Kiểm định t-test
Hồi quy Logit
Biến phụ thuộc: Tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Biến giải thích: Ngôn ngữ, học vấn, thu nhập, khả năng tiếp cận y tế (bảo hiểm)
Kết quả so sánh giá trị trung bình cho thấy cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha ít cho con mình tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ
tử cung hơn so với cha mẹ nói tiếng Anh Khi phân tích hồi quy Logit đa biến, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung đã không còn
ý nghĩa thống kê khi bổ sung vào mô hình yếu tố thu nhập và tiếp cận dịch vụ y tế Lee và cộng sự
(2014)
Thống kê mô tả Kiểm định chi-square
Kiểm định t-test Hồi quy Logit
Biến phụ thuộc: Tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Biến giải thích: Học vấn, thu nhập, tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thu nhập,
Chi phí vắc - xin, sợ tác dụng phụ, còn nhỏ tuổi, cho rằng bản thân không cần và sợ tiêm là rào cản của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Trang 31Nguồn Phương pháp
chi phí tiêm phòng, ý kiến của người thân, bạn bè và bác sĩ, kiến thức và thái độ về ung thư cổ tử cung
Kiến thức và thái độ về ung thu cổ tử cung, lời khuyên từ bác sĩ, sự ủng hộ của gia đình, trình độ học vấn, thu nhập có ảnh hưởng tích cực đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Chiang và cộng
sự (2016)
Kiểm định t-test Cronbach Alpha Hồi quy
Biến phụ thuộc: Tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Biến giải thích: Đặc điểm cá nhân (tuổi, giới tính, thu nhập, chuyên ngành, chỗ ở, hôn nhân, tôn giáo, quan hệ tình dục), kiến thức
về ung thư cổ tử cung, thái độ về ung thư cổ
tử cung
Chi phí, lo ngại liên quan đến vắc - xin, chủ quan dẫn đến tình dục không an toàn, tôn giáo là rào cản tiêm phòng
Sự ủng hộ từ gia đình, đồng nghiệp, lời khuyên của những chuyên gia y tế, sự đảm bảo an toàn và hiệu quả của vắc - xin, thái
độ, kiến thức về ung thư cổ tử cung có ảnh hưởng tích cực đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Schülein và cộng
sự (2016)
Thống kê mô tả Kiểm định t-test Hồi quy Logit
Biến phụ thuộc: Tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Biến giải thích: Tuổi, học vấn, thu nhập, nơi sống, dân tộc, tình trạng kinh tế xã hội
Tuổi, học vấn, thu nhập, nơi sống có ảnh hưởng đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 322.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Kết quả nghiên cứu trong Chương 2 đã giúp đề tài xác định được nội hàm của các khái niệm chính sử dụng trong nghiên cứu như ung thư cổ tử cung, Human Papilloma virus (HPV) và vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung Thuyết hành vi
dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991) cùng những nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước là tiền đề để đề tài xác định được khung phân tích tiến hành nghiên cứu, cũng như xác định được những vấn đề cần tập trung giải quyết khi tiến hành nghiên cứu
Trang 33Tổng quan tài liệu
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Thu thập dữ liệu
Xử lý dữ liệu, kiểm định giả thuyết
Phân tích kết quả
Kết luận và hàm ý chính sách
Mục tiêu nghiên cứu
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung trọng tâm của Chương 3 sẽ tiến hành xây dựng các khái niệm trong khung phân tích, xác định cách thức đo lường các biến số trong mô hình nghiên cứu Ngoài ra, Chương 3 cũng tập trung trình bày cách thức thu thập số liệu để tiến hành phân tích cũng như những kỹ thuật thống kê, phân tích được vận dụng nhằm giải quyết các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đã đề ra
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình tiến hành nghiên cứu được tóm tắt như sau:
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Trang 34Trước tiên, tiến hành tổng quan các lý thuyết, khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như khái niệm ung thư cổ tử cung, vắc - xin phòng ung thư cổ tử cung, thuyết hành vi dự định TPB Đề tài cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong
và ngoài nước có liên quan đến đề tài để có được cái nhìn tổng quan và cách tiếp cận nghiên cứu phù hợp Dựa trên kết quả tổng quan tài liệu, đề tài xây dựng khung phân tích và đề xuất mô hình nghiên cứu và tiến hành thu thập dữ liệu Phương pháp hồi quy Logit được sử dụng để tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung
3.2 KHUNG PHÂN TÍCH
Đề tài dựa trên Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991) để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc ra quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Theo đó, thái độ, chuẩn chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi là 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung Bên cạnh đó, dựa trên kết quả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, đề tài còn bổ sung thêm vào khung phân tích các đặc điểm kinh tế xã hội của người tham gia nghiên cứu để xem xét liệu các yếu tố này có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hay không Khung phân tích của đề tài được trình bày trong hình 3.2 dưới đây:
Hình 3.2: Các yếu tố ảnh hưởng quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Thái độ
Chuẩn chủ quan
Kiểm soát hành vi
Quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa
Trang 353.2.1 Thái độ về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung
Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991) cho rằng thái độ là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến ý định hành vi, được phản ánh qua sự tin tưởng vào sự đúng đắn của việc thực hiện hành vi Trong các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, thái độ về vắc- xin phòng ung thư cổ tử cung được phản ánh qua các nhận định liên quan đến sự tin tưởng vào độ an toàn, hiệu quả, lợi ích của vắc- xin hay sự
lo ngại về tác dụng phụ, chất lượng vắc- xin…cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến việc tiêm phòng vắc- xin phòng ung thư cổ tử cung (Cover và cộng sự, 2012; Songthap
3.2.3 Kiểm soát hành vi
Theo Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991), khả năng kiểm soát hành vi bao gồm các yếu tố phản ánh năng lực, nguồn lực để cá nhân có thể thực hiện hành vi Trong phạm vi của đề tài, đề tài tập trung nghiên cứu yếu tố kiến thức về vắc-xin phòng ung thư cổ tử cung
Nghiên cứu của Songthap và cộng sự (2012), Chiang và cộng sự (2016), Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự (2017) đã chỉ ra kiến thức về vắc- xin phòng ung thư cổ tử cung là yếu tố có ảnh hưởng đến việc tiêm phòng vắc- xin phòng ung thư
cổ tử cung Sự hiểu biết về ung thư cổ tử cung, cách phòng tránh, vắc- xin phòng
Trang 36ung thư cổ tử cung… đã được chứng minh là có ảnh hưởng tích cực đến việc tiêm phòng ung thư cổ tử cung Bên cạnh đó, khả năng kiểm soát hành vi, yếu tố được đề cập trong Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991) cũng cho thấy kiến thức là một yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi
3.2.4 Đặc điểm kinh tế xã hội
Các đặc điểm kinh tế xã hội của một cá nhân, gồm: Thu nhập bình quân của
hộ sẽ có tác động đến quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung, lý giải cho vấn đề này, các nghiên cứu trước cho rằng thu nhập cao sẽ góp phần làm giảm rào cản về chi phí tiêm phòng, một yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến việc đưa ra quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung (Chiang và cộng sự, 2016; Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự, 2017); Tuổi tác (Lee và cộng sự, 2014; Schülein và cộng sự, 2016) cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng do có trường hợp không chấp nhận tiêm phòng bởi tuổi còn nhỏ hoặc chấp nhận tiêm phòng do nằm trong độ tuổi
có rủi ro nhiễm HPV cao; Sự khác biệt về dân tộc cũng là một yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung do khác biệt về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, khác biệt về nguồn lực sẵn có…Chando và cộng sự (2013) đã chỉ ra những người nói tiếng Tây Ban Nha ít có khả năng đưa ra quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung hơn so với những người nói tiếng Anh ở Mỹ; Tôn giáo cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung bởi trong nghiên cứu của Haesebaert và cộng sự (2016), Chiang và cộng sự (2016) thì một số người tham gia nghiên cứu cho rằng rào cản về tôn giáo (không quan hệ tình dục trước hôn nhân) là nguyên nhân cản trở việc đưa ra quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung
3.3 ĐO LƯỜNG CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Thái độ về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung
Trong nghiên cứu của Songthap và cộng sự (2012), để đo lường thái độ của người tham gia nghiên cứu đối với việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử
Trang 37cung, nhóm tác giả sử dụng 10 phát biểu liên quan đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung và sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach Alpha Những người được xem là có thái độ tiêu cực đối với việc tiêm phòng nếu có điểm số bình quân dao động từ 1 - 2.33, có thái độ trung lập nếu có điểm số bình quân từ 2.34 - 3.67, nếu điểm số dao động từ 3.68 - 5 thì được đánh giá là có thái độ tích cực về việc tiêm phòng Tương tự, nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) cũng sử dụng 5 nhận định
về ung thư cổ tử cung và sử dụng thang đo Likert 6 mức độ để đo lường mức độ đồng tình của đáp viên về từng nhận định để đo lường thái độ về tiêm phòng ung thư cổ tử cung Chiang và cộng sự (2016) sử dụng 21 nhận định, được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ để đo lường thái độ của người tham gia nghiên cứu
về ung thư cổ tử cung và thái độ về việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung
Từ kết quả lược khảo cách thức đo lường thái độ về việc tiêm phòng ung thư
cổ tử cung ở những nghiên cứu trước, có thể nhận thấy hầu hết các nghiên cứu đều
sử dụng thang đo Likert nhiều mức độ để đo lường cảm nhận của người tham gia nghiên cứu thông qua việc cho điểm mức độ đồng tình đối với các phát biểu liên quan đến ung thư cổ tử cung hoặc liên quan đến việc tiêm phòng ung thư cổ tử cung Đề tài này sẽ dựa chủ yếu trên nghiên cứu của Chiang và cộng sự (2016) để xây dựng bộ tiêu chí đo lường thái độ của người tham gia nghiên cứu về việc tiêm phòng vắc- xin phòng ung thư cổ tử cung Tổng cộng có 15 câu hỏi, đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ gồm: (1) Rất không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Không
có ý kiến; (4) Đồng ý; (5) Rất đồng ý Theo Chiang và cộng sự (2016), các câu hỏi trong phần này tập trung vào 3 nhóm vấn đề, thứ nhất là thái độ của người tham gia nghiên cứu về HPV, thứ hai là thái độ đối với ung thư cổ tử cung và thứ 3 là thái độ đối với vắc xin phòng ung thư cổ tử cung Chiang và cộng sự (2016) cho rằng, để có thể đi đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, người tham gia nghiên cứu cần phải xem xét một cách tổng quát các vấn đề liên quan đến ung thư
cổ tử cung, từ nguyên nhân gây nên ung thư cổ tử cung, sự nguy hiểm của căn bệnh
Trang 38này, cũng như quan điểm về sự an toàn của vắc xin phòng ngừa Tức là nếu người tham gia nghiên cứu mạnh dạn chia sẻ quan điểm, cảm nhận của bản thân về các vấn đề liên quan đến nguyên nhân gây bệnh, vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hay những vấn đề liên quan đến ung thư cổ tử cung chứng tỏ họ có thái độ cởi mở về vấn đề này Thái độ của người tham gia nghiên cứu về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung được phản ánh qua điểm số trung bình của từng nhóm câu hỏi này Nếu điểm
số càng cao thì chứng tỏ người này có thái độ tích cực đối với việc tiêm phòng ung thư cổ tử cung Ngược lại, nếu điểm số thấp thì người này có thái độ tiêu cực về việc tiêm phòng ung thư cổ tử cung
Bảng 3.1: Thái độ về vắc- xin phòng ung thư cổ tử cung
TD4 Những người chỉ có một bạn tình có nguy cơ bị nhiễm HPV
thấp TD5 Sử dụng bao cao su không thể bảo vệ 100% khỏi nhiễm
HPV TD6 Giáo dục về HPV nên được thực hiện tại trường học
TD7 Ung thư cổ tử cung là vấn đề lớn đối với phụ nữ
TD8 Đàn ông có thể tham gia để ngăn chặn bạn tình bị ung thư cổ
tử cung TD9 Phụ nữ không nên cảm thấy xấu hổ khi thử Pap (phương
pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung) TD10 Việc chủng ngừa HPV là cần thiết bởi vì xét nghiệm Pap
không thể loại trừ ung thư cổ tử cung
Trang 39phụ TD15 Tiêm phòng HPV không dẫn đến gia tăng hành vi tình dục
Kế thừa các nghiên cứu trên, đề tài xây dựng biến số đo lường chuẩn chủ quan, mà cụ thể là ảnh hưởng của người thân, bạn bè, chuyên gia y tế đến quyết định tiêm phòng ung thư cổ tử cung Người tham gia nghiên cứu sẽ được hỏi liệu người thân, bạn bè, chuyên gia y tế có khuyên họ tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung và liệu lời khuyên đó có ảnh hưởng đến họ Thang đo Liket 5 mức độ: (1) Rất không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Không có ý kiến; (4) Đồng ý; (5) Rất đồng ý được áp dụng để đo lường mức độ đồng ý của đáp viên về các câu hỏi liên quan đến vấn đề chuẩn chủ quan Điểm số phản ánh chuẩn chủ quan của một đáp viên là điểm
số trung bình của 3 câu hỏi được trình bày trong Bảng 3.2 dưới đây
Bảng 3.2: Đo lường chuẩn chủ quan
Trang 40Nguồn: Đề xuất của tác giả
3.3.3 Kiểm soát hành vi thông qua yếu tố về kiến thức về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung
Như trình bày ở mục 2.4.3, khả năng kiểm soát hành vi trong phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu yếu tố kiến thức về vắc-xin phòng ung thư cổ tử cung Để
đo lường kiến thức của người tham gia nghiên cứu về ung thư cổ tử cung và về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung, Songthap và cộng sự (2012) sử dụng bộ câu hỏi gồm
11 câu hỏi có liên quan đến ung thư cổ tử cung để khảo sát Kiến thức của đáp viên
về vấn đề này được đo lường bằng số câu trả lời đúng trên tổng số 11 câu hỏi Trong nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014), để đo lường kiến thức về ung thư cổ
tử cung, tác giả sử dụng 6 câu hỏi có liên quan đến vấn đề này để khảo sát Nếu đáp viên trả lời đúng 1 câu hỏi thì được tương đương 1 điểm Nếu đáp viên trả lời sai hoặc trả lời không biết thì không có điểm Kiến thức về ung thư cổ tử cung của 1 người chính là tổng điểm số người đó đạt được Tương tự, nghiên cứu của Chiang
và cộng sự (2016) sử dụng 22 câu hỏi liên quan đến HPV, ung thư cổ tử cung và vắc xin phòng ung thư cổ tử cung để đo lường kiến thức của 1 người Giống như cách làm của Lee và cộng sự (2014), nếu đáp viên trả lời đúng 1 câu hỏi sẽ được 1 điểm, trả lời sai hoặc không biết sẽ không có điểm Kiến thức của 1 người được đại diện bởi tổng số điểm mà người đó đạt được