Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo Một số lý thuyết về nghèo đói Cơ sở thực tiễn Nghiên cứu thực nghiệm giảm nghèo ở nước ngoài Nghiên cứu thực nghiệm giảm nghèo ở một số địa phương trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐINH PHI HỔ
Tp Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Phi Hổ
Các số liệu và những kết luận nghiên cứu thực hiện trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Đỗ Hiền Trí
Trang 4
Câu hỏi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Công cụ thu thập dữ liệu
Qui mô mẫu
Kết cấu Luận văn
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
Trang 5Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo
Một số lý thuyết về nghèo đói
Cơ sở thực tiễn
Nghiên cứu thực nghiệm giảm nghèo ở nước ngoài
Nghiên cứu thực nghiệm giảm nghèo ở một số địa phương trong nước Một số công trình phân tích định lượng về nghèo đói trên thế giới và trong nước
Các công trình phân tích định lượng về nghèo đói trên thế giới và trong nước
Tổng quan về kinh tế-xã hội ở thành phố Bến Tre
Công tác giảm nghèo trên địa bàn thành phố Bến Tre
Nguyên nhân nghèo
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu chính thức
Khung phân tích
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu, khảo sát
Trang 6Mô hình nghiên cứu định tính
Mô hình định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo
Ý nghĩa mô hình
Mô tả các biến và kỳ vọng dấu trong mô hình hồi quy
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả thống kê
Hộ nghèo
Mối quan hệ giữa nghèo và các yếu tố tác động
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo của hộ gia đình
Kết quả hồi qui mô hình Binary logistic xác định các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất nghèo của hộ gia đình có tiêu chuẩn Sig.<0.05
Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình
Kiểm định mức độ giải thích của mô hình
Mức độ dự báo tính chính xác của mô hình
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
Gợi ý một số giải pháp liên quan đến các yếu tố có ảnh hưởng đến
nghèo tại thành phố Bến Tre
Giới hạn nghiên cứu
Trang 7Lĩnh vực làm việc chính của chủ hộ phân theo nhóm
Tình trạng hộ nghèo theo từng tiêu chí
Các nguồn thu nhập hộ gia định
Mối liên hệ giữa nghèo và giới tính của chủ hộ
Mối liên hệ giữa nghèo và học vấn của chủ hộ
Mối liên hệ giữa nghèo và kỹ năng của chủ hộ
Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình lựa chọn
Tóm tắt mô hình hồi quy
Mức độ dự báo tính chính xác của mô hình
Kiểm định về mức độ phù hợp của mô hình
Trang 8Đồ thị nghèo đói theo quan điểm WB
Số liệu hộ nghèo phân loại theo tiêu chí
Trang 91 Lý do thực hiện đề tài
Lịch sử phát triển xã hội chỉ ra rằng không thể có tiến bộ xã hội thật sự nếu vẫn còn tình trạng bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo Thực tế không phủ nhận cho thấy hiện nay, tình trạng bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo đang ngày càng gia tăng, người nghèo ở nông thôn hay ở thành thị nói chung
là đối tượng dễ bị tổn thương và chịu nhiều tác động của quá trình phát triển kinh tế Kinh tế phát triển đã mang đến cho họ nhiều cơ hội nhưng cũng nảy sinh những vấn đề bất lợi, hạn chế, mất công bằng trong các mối quan hệ xã hội, cũng như trong hoạt động sản xuất, nhất là trong việc phát triển kinh tế
hộ gia đình
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được thành tích lớn về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Đi cùng với sự tăng trưởng kinh tế là sự bất bình đẳng về thu nhập và các cơ hội khác đang tăng, do chênh lệnh về phát triển giữa nông thôn và thành thị đang tiếp tục mở rộng, cũng như chênh lệnh trong hưởng thụ các dịch vụ về y tế, văn hóa, giáo dục, cơ sở hạ tầng xã hội,
cơ sở hạ tầng về thông tin…đang ngày càng gia tăng Trong đó, thu nhập là vấn đề then chốt để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống trong bối cảnh kinh tế - xã hội không ngừng phát triển như hiện nay Đó không những
là vấn đề cần quan tâm của cá nhân, hộ gia đình, mà còn là vấn đề bức xúc của toàn xã hội cần phải có biện pháp giải quyết
Thành phố Bến Tre là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh Bến Tre, với tổng diện tích tự nhiên 6.749 ha, quy mô dân số 117.700 người, gồm 17 đơn vị hành chính cấp xã, phường Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương đã có những bước chuyển biến tích cực, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, đã xóa hẳn tình trạng đói; tỷ lệ hộ nghèo năm
Trang 102016 là 2,34%, đến cuối năm 2018 giảm còn là 1,38% Có nhiều yếu tố ảnh hưởng và tác động đến nghèo, tuy nhiên nguồn lực giảm nghèo có hạn nên cần phải xem xét, sàng lọc lựa chọn để có những quyết sách ưu tiên nhất định, tập trung các giải pháp cho công tác giảm nghèo để mang lại hiệu quả cao.
Trước thực trạng đó, tác giả chọn đề tài “Phân tích tác động của vốn con người đến tình trạng nghèo ở thành phố Bến Tre” với mục đích phân
tích tác động của vốn con người đến tình trạng nghèo trên địa bàn thành phố Bến Tre, qua đó đánh giá thực trạng nghèo và đưa ra khuyến nghị, giải pháp
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hộ nghèo trên địa bàn thành phố Bến Tre?
- Vốn con người tác động như thế nào đến tình trạng nghèo trên địa bàn thành phố Bến Tre như thế nào?
Trang 11- Những giải pháp cụ thể nào để thoát nghèo bền vững của hộ nghèo trên địa bàn thành phố Bến Tre?
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nghèo và khác nghèo trên địa bàn
thành phố Bến Tre
- Không gian nghiên cứu: 17 xã, phường trên địa bàn thành phố Bến
Tre
- Thời gian: Tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu từ năm 2015-2018
- Nội dung nghiên cứu: phân tích tác động của vốn con người đến tình
trạng nghèo trên địa bàn thành phố Bến Tre
- Số liệu phục vụ nghiên cứu: các tài liệu, số liệu từ năm 2015 – 2018
và tác giả điều tra 200 mẫu quan sát
5 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.1.1 Công cụ thu thập dữ liệu
Sử dụng bảng khảo sát thiết kế sẵn, bao gồm các câu hỏi đóng, mở, cả định tính và định lượng
5.1.2 Qui mô mẫu
Phương pháp chọn mẫu theo phương pháp chọn ngẫu nhiên
Kích thước mẫu phụ thuộc vào phương pháp phân tích:
Theo Hair và cộng sự (2006), Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) thì:
kích thước mẫu tối thiểu gấp 5 lần tổng số biến quan sát:
n = 5 * m
Trang 12cỡ mẫu tối thiếu cần đạt được:
n = 50 + 8*m = 50 + 8x4 (biến độc lập) = 82 mẫu
Trên cơ sở đó, đề tài quyết định chọn 200 mẫu
Sử dụng bảng khảo sát thiết kế sẵn, bao gồm các câu hỏi đóng, mở, cả định tính và định lượng
- Dữ liệu thứ cấp: báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Bến Tre, giai đoạn 2015 – 2018; Niên giám thống kê 2015, 2016, 2017 (Cục Thống kê tỉnh Bến Tre, 2015, 2016, 2017)
- Dữ liệu sơ cấp: được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 200 hộ gia đình để khảo sát về hộ nghèo và hộ không nghèo trên địa bàn thành phố Đồng thời phỏng vấn lấy ý kiến 17 công chức Lao động – Thương binh và Xã hội xã, phường về nguyên nhân ảnh hưởng đến nghèo; thu thập ý kiến của những người có kinh nghiệm trong công tác quản lý nhằm đưa ra các kết luận một cách xác đáng, có căn cứ khoa học nhằm đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững
6 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm:
Chương 1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu: Đặt vấn đề về đến tính cấp thiết của đề tài, trình bày các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn: Trình bày cơ sở lý luận về vốn con người để phân tích thực trạng hộ nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo trên địa bàn thành phố Bến Tre, kinh ngiệm một số nước và địa phương trong việc giảm nghèo
Trang 13Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Trình bày nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu thực hiện trong đề tài
Chương 4 Kết quả nghiên cứu: Trình bày và thảo luận các kết quả phân tích từ số liệu sơ cấp với các ý kiến tham vấn từ các chuyên gia, ý kiến
cá nhân và các nghiên cứu khác có liên quan, đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững phù hợp với điều kiện thành phố Bến Tre
Chương 5 Kết luận, kiến nghị: Trình bày những kết luận và khuyến nghị rút ra được từ kết quả phân tích và thực tế để vận dụng, giảm nghèo nghèo bền vững cho thành phố Bến Tre
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Một số khái niệm về vốn con người
Sinh kế bao gồm các tài sản: vốn con người, vốn tài nguyên, vốn tài sản, vốn vật chất và vốn xã hội, các hoạt động và khả năng tiếp cận các yếu tố này (được các thể chế và các quan hệ xã hội hỗ trợ), mà tất cả cùng với nhau quyết định cuộc sống mà một cá nhân hoặc một hộ đạt được
Vốn con người là loại vốn quan trọng nhất trong ngũ giác sinh kế của một hộ gia đình và một cộng đồng (Karim Hassein, 2002) Nguồn vốn con người thể hiện qua kỹ năng, kiến thức, năng lực để lao động và sức khỏe giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được sinh kế của mình Muốn giảm nghèo bền vững thì việc đầu tư vào con người là nhân
Trang 15con người gồm tri thức, thông tin, ý tưởng, kỹ năng, sức khỏe là nguồn vốn quan trọng trong nền kinh tế hiện đại khi mà yếu tố kỹ thuật công nghệ đang chiếm lĩnh
Vốn con người hay nguồn nhân lực được xác định là tài sản vô hình của mỗi quốc gia Vốn con người được đo lường bằng kết hợp giữa trí thức và sức khỏe của người dân Các nhà kinh tế cho rằng khi định giá tài sản quốc gia cần phải tính toán phần giá trị của vốn con người vào tổng tài sản Vai trò của vốn con người trong việc thúc đẩy kinh tế được ghi nhận trong các lí thuyết về tăng trưởng nội sinh
Theo Mincer, J (1981), vốn con người cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người, nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng trong sản xuất
Từ điển kinh tế học Penguin định nghĩa vốn con người là “các kỹ năng, năng lực và khả năng của một cá nhân giúp người đó kiếm được thu nhập cho mình” Theo OECD (2001) khi nghiên cứu về vốn con người cũng nhấn mạnh đến các kỹ năng và phẩm chất quan trọng trong việc phát triển vốn
con người, bao gồm: khả năng giao tiếp, khả năng số học, khả năng làm việc theo nhóm
Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động của hộ; yếu tố này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình độ giáo dục, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trang sức khỏe
Học vấn đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của một cá nhân, một tổ chức cũng như một quốc gia (Foster & Rosenzweig, 1996; Yang,
Trang 162004) Học vấn quyết định lợi thế của mỗi người trong việc tạo ra thu nhập bởi học vấn cao sẽ dễ tiếp thu, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác, đồng thời, học vấn giúp tăng cường khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường để tạo cơ hội đa dạng hóa nghề nghiệp,
dễ có cơ hội tìm được việc làm góp phần gia tăng thu nhập hộ gia đình
2.1.2 Một số khái niệm về nghèo
2.1.2.1 Khái niệm nghèo của thế giới
Ngân hàng thế giới cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo:
- Theo Ngân hàng thế giới (1990), cho rằng nghèo bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng Đến năm 2000/2001, báo cáo này đã bổ sung thêm và làm cho khái niệm về nghèo được cụ thể và chi tiết hơn “Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế Người nghèo đặc biệt dễ tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tồi tệ, bị gạt ra bên lề xã hội nên không
có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó”
- Theo Ngân hàng thế giới (2008), “Nghèo là tình trạng đói, nghèo là thiếu nơi cư trú Nghèo là bị bệnh và không thể gặp bác sĩ Nghèo là không thể đi học và không biết cách đọc như thế nào Nghèo là không tìm được việc làm, lo lắng cho tương lai”
Hình 1.1: Đồ thị nghèo đói theo quan điểm của WB
Trang 17Nguồn: TS Nguyễn Hoàng Bảo (2013)
2.1.2.2 Khái niệm nghèo của Việt Nam
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2003), “Nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh, không có đủ đất đai, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền khám chữa bệnh”
Tiêu chí nghèo và sử dụng ngưỡng nghèo theo quy định theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Quyết định này là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016-2020 Theo đó, Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020:
Hộ nghèo: Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
Trang 18 Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Hộ cận nghèo: Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ
số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Hộ có mức sống trung bình: Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình
quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng
Hộ “khác nghèo”: là hộ thuộc hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung
bình Do hạn chế về điều kiện và thời gian nên đề tài nghiên cứu chọn khảo sát hộ khác nghèo là những hộ thuộc hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung bình
Tất cả những tiêu chí về nghèo đói nêu trên đều phản ảnh 02 khía cạnh chủ yếu của người nghèo: (i) có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; (ii) thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản tại cộng đồng (y tế, giáo dục; nhà ở, nước sạch và vệ sinh; thông tin)
2.1.2.3 Nghèo tuyệt đối
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống Nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường Nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc gia và cũng được mở rộng dần
Theo Đinh Phi Hổ (2006), nghèo tuyệt đối được hiểu là một người hoặc một hộ gia đình khi có mức thu nhập thấp hơn mức thu nhập tối thiểu được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định
Trang 192.1.2.4 Nghèo tương đối
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định Nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định
Theo Đinh Phi Hổ (2006), nghèo tương đối là tình trạng mà một người hoặc hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định Như vậy, nghèo tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập với nhóm người Ở bất kỳ xã hội nào, luôn luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong
xã hội, người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế nào
2.1.2.5 Giảm nghèo
Giảm nghèo tức là tạo điều kiện cho bộ phận dân cư nghèo tiếp cận được với các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống làm cho mức sống chung của toàn bộ cộng đồng được nâng lên Giảm nghèo là quá trình chuyển một bộ phân dân cư nghèo lên mức sống cao hơn nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và sự nỗ lực vươn lên của bản thân hộ nghèo
Giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo
Theo nhóm Van de Walle, Dominique & Dileni, Gunewardena (2001), trích trong Đinh Phi Hổ (2008) thì các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói ở nông thôn bao gồm 8 nhóm yếu tố chính: nghề nghiệp, tình trạng việc làm;
Trang 20trình độ học vấn; giới tính của chủ hộ; quy mô hộ và số người sống phụ thuộc; quy mô diện tích đất của hộ gia đình; quy mô vốn vay từ định chế chính thức; những hạn chế của người dân tộc thiểu số; khả năng tiếp cận cơ sở
hạ tầng
Tuy nhiên, ở mỗi địa phương khác nhau, mức độ tác động của các yếu
tố khác nhau Theo tác giả, các nguyên nhân dẫn đến nghèo của người dân sinh sống trong khu vực này có thể bao gồm các yếu tố:
2.1.3.1 Nghề nghiệp, tình trạng việc làm
Ở Việt Nam, nền nông nghiệp chưa phát triển bền vững, còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết; giá các sản phẩm nông nghiệp thường không ổn định Vì vậy, những người làm nghề nông thường có thu nhập thấp và dễ lâm vào cảnh nghèo khó Người nghèo thường không có việc làm hoặc làm thuê, làm nghề nông
Theo nghiên cứu nghèo tại 152 hộ thuộc huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang của Hồ Duy Khải (2010), nghề nghiệp chính của chủ hộ có ảnh hưởng đến tình trạng nghèo, tỷ lệ hộ có chủ hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thuộc nhóm nghèo nhất là 93,1%, nhóm khá nghèo có 78,3% số hộ có chủ hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Trong tỷ lệ này thuộc nhóm khá giàu và giàu chiếm lần lượt là 45,5% và 42,9% (xem bảng 1.4) Như vậy, đa phần những hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở vùng Gò Công là những hộ thuộc nhóm nghèo hoặc khá nghèo
Bảng 2.1: Lĩnh vực làm việc chính của chủ hộ phân theo nhóm
Trang 21Những người nghèo thường có trình độc học vấn thấp, điều này đã dẫn
họ đi vào vòng luẩn quẩn không thể thoát “ít học – nghèo đói” Từ sự nghèo khó dẫn đến việc họ không đủ tiền, kinh phí để đầu tư cho việc học, kéo theo là họ không đủ kiến thức và trình độ để vận dụng khoa học, kỹ thuật vào trong sản xuất để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm cho nên sản phẩm của họ làm ra
có giá thấp Vì vậy, họ có thu nhập thấp dẫn đến họ nghèo thường xuyên
Theo số liệu thống kê khảo sát mức sống dân cư năm 2010, trình độ học vấn của nhóm người nghèo không được đi học chiếm 26,7%, bậc tiểu học chiếm 29,7%, bậc trung học cơ sở chiếm 28,7%, bậc trung học phổ thông chiếm 12,3% Từ kết quả trên cho thấy, trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo, trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ nghèo càng giảm Học vấn thấp buộc chặt người nghèo với những công việc có thu nhập thấp trong nông nghiệp và hạn chế khả năng tìm việc trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định hơn
2.1.3.3 Sức khỏe
Ốm đau, bệnh tật thì chi phí chữa trị cao càng làm cho người nghèo trở nên bần cùng hơn Người nghèo có thu nhập thấp và thường tập trung ở vùng khó khăn nên ít có điều kiện để chăm lo sức khỏe, bệnh tật phát sinh, sức lao động suy giảm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của họ
Họ phải gánh chịu hai gánh nặng, một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho khám chữa bệnh Kết quả là phải vay mượn, cầm cố
Trang 22tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi nghèo
2.1.3.4 Kỹ năng cụ thể
Nguồn vốn con người là thường là tài sản duy nhất của người nghèo
và việc phát triển nguồn vốn này có tầm quan trọng cơ bản trong việc giảm nghèo Trình độ học vấn cũng như mức độ được đào tạo nghề nghiệp có mối quan hệ mạnh tới khu vực hoạt động kinh tế của mỗi cá nhân Để có được trình độ học vấn và có tay nghề, ngoài sự cố gắng của mỗi cá nhân, mức sống gia đình và mạng lưới trợ giúp của xã hội đóng vai trò quan trọng Đây là một vòng tương đối luẩn quẩn khó thoát ra Nếu không có kỹ năng cụ thể, không biết cách áp dụng các tiến bộ khoa học vào công việc sản xuất, chăn nuôi trồng trọt thì năng suất sẽ không cao và thu nhập thấp
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Nghiên cứu thực nghiệm giảm nghèo ở nước ngoài
2.2.1.1 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Trung Quốc
Theo Nguyễn Đăng Minh Xuân (2009), qua hơn 30 năm cải cách, mở cửa, từ năm 2010 Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, đời sống của người dân không ngừng được thay đổi và nâng cao Theo số liệu thống kê, GDP bình quân đầu người tính theo giá hiện hành của Trung Quốc
đã tăng từ 46 USD (năm 1979) lên tới khoảng 5.000 USD (năm 2011)
Trước khi thực hiện chính sách cải cách mở cửa, Trung Quốc có khoảng 250 triệu người nghèo Ngay từ những năm 1980, Chính phủ đã đưa
ra chương trình XĐGN với những bước đi phù hợp, đến những năm 1990 số nghèo còn 125 triệu, đến năm 1995 còn 65 triệu Trong khi tập trung phát triển kinh tế thì Trung Quốc đã dành lượng lớn nhân lực, nguyên liệu và nguồn tài chính cho người nghèo để giải quyết vấn đề nghèo đói
Trang 23Để thực hiện mục tiêu và quan điểm về xóa đói giảm nghèo, ngay từ những năm đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc đã hết sức chú trọng tới việc khuyến khích, thúc đẩy những vùng, những doanh nghiệp, những cá nhân có điều kiện giàu lên trước; mặt khác thông qua các công cụ như thuế, chi ngân sách, chuyển giao tài chính, trợ cấp v.v từng bước giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa những đối tượng được phép giàu lên trước với những vùng, những doanh nghiệp, những người không có điều kiện làm giàu Nhờ đó, Trung Quốc đã đạt được mục tiêu, vừa thúc đẩy tối đa sức sản xuất, vừa duy trì sự ổn định của xã hội, đảm bảo môi trường xã hội thuận lợi cho việc thực hiện những cải cách quan trọng về kinh tế và hội nhập
Chính sách giảm nghèo ở Trung Quốc thể hiện qua các bước:
- Giảm bớt khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền
và tầng lớp dân cư: Trong giai đoạn đầu, tập trung và tạo điều kiện tối đa cho
các vùng, miền có điều kiện thuận lợi phát triển với tốc độ cao, nhằm tăng nhanh tiềm lực kinh tế; tuy nhiên cũng tạo chênh lệch rất lớn về khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền và tầng lớp dân cư Để khắc phục, Trung Quốc đã có những giải pháp chuyển giao tài chính, thực hiện liên kết giữa các doanh nghiệp thuộc miền duyên hải với các doanh nghiệp thuộc các vùng khác, tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
- Giải quyết việc làm cho người lao động: Tình trạng thất nghiệp gia
tăng do áp lực từ cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp nông thôn… đe doạ sự ổn định của xã hội, làm tăng thêm số người nghèo khổ cần phải giúp đỡ Đứng trước áp lực này, từ giữa những năm 90, chính sách của Trung Quốc đã tập trung vào giải quyết và hỗ trợ việc làm cho người lao động thông qua hàng loạt các giải pháp: Đẩy mạnh điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế tư nhân; đẩy mạnh phát triển thị trường trong và ngoài nước để
Trang 24tạo điều kiện cho hàng hoá của Trung Quốc thâm nhập trên toàn thế giới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, để hỗ trợ đời sống cho cán bộ, công nhân viên chức bị thất nghiệp, lao động nông nghiệp dôi dư, Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh cải cách hành chính, chế độ bảo đảm và cứu trợ
xã hội
- Giảm bớt số lao động sống dưới mức nghèo khổ ở nông thôn: Khu vực
nông nghiệp nông thôn của Trung Quốc luôn là điểm nóng trong cải cách của Trung Quốc Những năm qua, chính sách của Trung Quốc đã và đang chú trọng đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Việc hình thành hàng loạt các thị trấn, các đô thị nhỏ, sự phát triển và lớn mạnh của các doanh nghiệp hương trấn đã cho thấy chính sách công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của Trung Quốc đã phát huy tác dụng Bên cạnh đó, để hỗ trợ, tăng mức sống cho nông dân trong thời gian dài, Trung Quốc đã và đang thực hiện chính sách trợ giá nông nghiệp, chính sách đầu tư xây dựng hạ tầng nông nghiệp nông thôn và hàng loạt các chính sách bổ trợ khác nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
- Thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy mở cửa hội nhập:
Thông qua đó tăng cường giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho người lao động Từ chính sách vĩ mô thông thoáng, Trung Quốc đã tạo ra môi trường đầu tư tương đối thuận lợi để thu hút được lượng vốn FDI và ODA cho xây dựng và phát triển đất nước
- Tiếp tục tăng đầu tư cho các vùng khó khăn: Thông qua việc cho vay
xóa đói giảm nghèo với lãi suất ưu đãi để tiến tới biến các khoản cho vay dưới hình thức này thành những khoản đầu tư hỗ trợ xóa đói giảm nghèo; Có chính sách ưu đãi về tài chính và thuế để khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đến đầu tư tại các vùng khó khăn; Tăng cường hợp tác giữa các vùng, miền thông qua biện pháp cho phép được hưởng quyền ưu tiên
Trang 25trong các dự án để các doanh nghiệp ở các vùng phát triển đầu tư vào các vùng kém phát triển
2.2.1.2 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Thái Lan
Theo Nguyễn Đăng Minh Xuân (2009),Thái Lan là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Châu Á, diện tích của quốc gia này rộng hơn 1,5 lần diện tích nước ta nhưng dân số chỉ bằng khoảng 2/3 Thái Lan vốn là quốc gia xuất phát từ nông nghiệp và có điều kiện sản xuất tương đối tương đồng so với Việt Nam Năm 1960, Thái Lan bắt đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội mới Thập niên 1970, Thái Lan thực hiện chính sách hướng về xuất khẩu; công nghiệp và thương mại dần dần đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn, trong khi tỷ trọng của nông nghiệp giảm dần trong cơ cấu kinh tế Trong những năm 1985-1995, Thái Lan là một trong những nước đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới và đã trở thành một nước công nghiệp mới Dù là nước công nghiệp, nhưng nền nông nghiệp Thái Lan vẫn phát triển rất mạnh, nhiều sản phẩm nông nghiệp đứng thuộc nhóm đầu của thế giới về
số lượng và chất lượng, đặc biệt trong hàng chục năm Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới
Đối với Thái Lan, tỉ lệ nghèo trong thập kỷ 80 là 30% dân số, đến năm
1996 giảm xuống còn 3% Điều đó cho thấy một sự nỗ lực rất lớn của Chính phủ Thái Lan và bản thân người nghèo ở đất nước họ để vượt qua cảnh nghèo đói Kinh nghiệm về giảm nghèo của Thái Lan là một bài học bổ ích cho các quốc gia đang phát triển trong chiến dịch chống đói nghèo Một số chính sách mà Chính phủ Thái Lan thực hiện có thể xem là kinh nghiệm cho các nơi khác áp dụng:
- Đối với người nghèo, Chính phủ cho vay bằng hiện vật để sản xuất, cho vay vật tư giá rẻ, chất lượng tốt Bằng cách đó, Chính phủ đảm bảo nguồn vốn vay vẫn còn tồn tại, không bị hao tổn nhiều qua tiêu dùng của người nghèo Mặt khác, qua chính sách này cũng góp phần nâng cao ý thức của cộng
Trang 26đồng người nghèo nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ (nguyên, vật liệu,
tư liệu sản xuất) để phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo
- Thu mua các sản phẩm ngũ cốc rẻ, ngân hàng cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp (3%/năm) và cho nông dân dùng thóc để thế chấp Khi thóc được giá người dân bán thóc và hoàn vốn cho ngân hàng Bằng chính sách tín dụng có ưu đãi, người nông dân có thể bán được hàng hóa nông sản với giá cao khi giá trên thị trường tăng lên Điều đó người nông dân được tự chủ trong quyết định giá bán cần thiết, mang đến thu nhập lớn hơn, cơ hội thoát nghèo cao hơn
- Chính phủ Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc gia với phát triển nông thôn Thông qua việc phát triển nông thôn xây dựng những xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển mô hình kinh doanh vừa và nhỏ,
mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm tỉ lệ thất nghiệp Thời kỳ
mà lao động ở nông thôn còn nhiều, đa số người nghèo ở khu vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp, Chính phủ Thái Lan thực hiện chính sách như vậy để nâng cao trình độ, tay nghề, giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động nghèo, là một trong những chính sách có hiệu quả nhất trong thực hiện công tác giảm nghèo
- Chính phủ Thái Lan còn ban hành chính sách cải cách ruộng đất, qua
đó người dân có quyền làm chủ ruộng đất Nhà nước tạo điều kiện cho nông dân mở rộng quy mô, hướng nông dân đi theo con đường sản xuất hàng hoá Trên cơ sở chính sách và định hướng như vậy, nông dân Thái Lan đã mạnh dạn đầu tư, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng hàng nông sản, khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Đây là thời điểm số người nghèo ở Thái Lan giảm đi đáng kể
2.2.2 Nghiên cứu thực nghiệm giảm nghèo của một số địa phương trong nước
2.2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 27Theo Phạm Xuân Bách (2013), Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo từ năm 1992 Tính đến cuối năm 2008, Chương trình đã trải qua 2 giai đoạn từ 1992-2003 và 2004-2009, với 6 lần điều chỉnh nâng mức chuẩn nghèo cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đến năm 1995, Thành phố đã cơ bản hoàn thành mục tiêu xóa hộ đói và chuyển sang giai đoạn giảm nghèo, chống tái nghèo, tái đói Đến cuối năm 2008, đánh dấu cột mốc quan trọng khi Thành phố hoàn thành cơ bản mục tiêu xóa nghèo 100% theo chuẩn thu nhập bình quân 6 triệu đồng/người/năm
Giai đoạn 2009 – 2015, chương trình đổi tên thành “Giảm hộ nghèo, tăng hộ khá” với chuẩn thu nhập 12 triệu đồng/người/năm Chương trình này của thành phố Hồ Chí Minh đã đi được hơn một phần hai chặng đường, với kết quả tỷ lệ hộ nghèo của thành phố đang giảm dần thấy rõ Nếu thời điểm năm 2009, thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ hộ nghèo nằm ở mức 8,4%, thì sau một năm thực hiện chương trình đã giảm xuống còn 5,77% vào cuối 2010
và dưới 5,5% năm 2011 Mục tiêu đến cuối năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo của thành phố sẽ còn dưới 4% tổng số dân
Bài học thành công của thành phố Hồ Chí Minh trong thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo trong các giai đoạn này gồm ba vấn đề lớn được tập trung giải quyết là: trợ vốn cho xóa đói giảm nghèo; có phương hướng trợ vốn và các chính sách ưu đãi người nghèo Chăm lo cho hộ gia đình chính sách, có công với cách mạng gặp phải hoàn cảnh khó khăn là một phần quan trọng trong chủ trương xóa đói giảm nghèo của Thành phố; vốn vay cùng nhiều chương trình hỗ trợ cũng nhanh chóng tiếp cận và ý nghĩa hơn nữa là việc phụng dưỡng, chăm sóc gia đình neo đơn Công tác quan trọng góp phần thành công của Chương trình là thực hiện dạy nghề và tạo công ăn việc làm cho người nghèo, công tác này cũng đạt nhiều kết quả đáng khích lệ Chương trình luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện ở cấp cao
Trang 28nhất của Thành phố, được bố trí nguồn lực rất lớn để thực hiện, tổng nguồn vốn giảm nghèo hàng năm luôn lên đến hàng ngàn tỉ đồng, trong đó phần lớn tập trung giải ngân cho hộ nghèo vay vốn làm ăn Các cơ chế thủ tục đã không ngừng cải thiện, dần loại bỏ sự “rườm rà” và tính quan liêu để đồng vốn đến tay người dân nhanh hơn, hiệu quả hơn Một ưu điểm trong cơ cấu vận hành chương trình giảm nghèo mà Thành phố đã xây dựng là mang tính liên kết cao; cụ thể, mỗi ban xóa đói giảm nghèo và việc làm ở từng cấp quận, huyện lẫn phường, xã, luôn bao gồm đầy đủ các ban ngành chức năng: hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, hội nông dân , điều này đảm bảo mọi tầng lớp dân cư đều được quan tâm, mặt khác giúp cơ quan chức năng nắm bắt hiệu quả tình hình đời sống thực tế của người dân Một yếu tố quan trọng giúp cho chương trình giảm nghèo ở Thành phố thành công chính là sự linh hoạt, nhạy bén trong quản lý, chỉ đạo thay đổi kịp thời để thích ứng với tình hình mới, khả năng không ngừng cải tiến chương trình xuất phát từ sự đồng thuận và sâu sát đời sống người dân
Chương trình Thành phố thực hiện đến năm 2015 với mục tiêu: tạo sự chuyển biến tích cực hơn về mức sống, điều kiện sống và chất lượng cuộc sống của các bộ phận dân nghèo; tăng dần tỷ lệ hộ khá nhằm thu hẹp khoảng cách giữa hộ giàu và hộ nghèo, giữa các tầng lớp và các nhóm dân cư trong xã hội; bảo đảm cho người nghèo Thành phố được đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe và có cơ hội học hành, được giới thiệu việc làm phù hợp với khả năng để có thể tự lao động, sản xuất làm ăn, vươn lên, tích lũy, giảm nghèo, ổn định cuộc sống; phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống còn khoảng 1% tổng hộ dân Thành phố
2.2.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo ở tỉnh Tiền Giang
Theo Phạm Xuân Bách (2013), Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 29Phía Bắc và Đông Bắc tỉnh Tiền Giang giáp Long An và thành phố Hồ Chí Minh Tỉnh có diện tích tự nhiên là 2.481,77 km2; dân số năm 2010 là 1,681 triệu người (mật độ dân số 677 người/km2) Tiền Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện (8 huyện, 01 thành phố, 01 thị xã) và 169 đơn vị hành chính cấp xã
Tiền Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua, thích hợp cho nhiều loại giống cây trồng và vật nuôi; Tiền Giang cũng
có điều kiện thuận lợi trong phát triển công nghiệp và thương mại – dịch vụ, trong đó, du lịch sinh thái đang là thế mạnh của tỉnh Năm 2010, trong cơ cấu kinh tế của tỉnh khu vực nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản chiếm tỷ trọng 44,7%, công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 28,3% và thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng 27,1%; GDP bình quân đầu người đạt 1.094 USD
Tiền Giang đã đạt được một số kết quả tích cực trong phát triển kinh tế -
xã hội Tuy nhiên, nhìn chung kinh tế của tỉnh cũng còn khó khăn, đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn thấp Kết quả tổng điều tra hộ nghèo theo chuẩn mới giai đoạn 2011 - 2015 (theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ), toàn tỉnh có 48.135 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 10,96% tổng số hộ dân cư toàn tỉnh; huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Tân Phú Đông 52,18%; toàn tỉnh có 08 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên (huyện Tân Phú Đông: 06 xã)
Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh như vậy là còn cao, nhưng đã giảm đáng kể so với trước đây Tiền Giang đã đạt được một số thành công trong thực hiện công tác giảm nghèo, nhất là thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn (2006 - 2010) trên địa bàn tỉnh với kết quả: giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 17,89% năm 2005 xuống còn 6,4% năm 2010 (theo tiêu chí giai đoạn 2006-2010); tạo điều kiện cho 227.994 lượt hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, tổng số dư nợ hộ nghèo vay hơn 1.638 tỷ đồng; mua bảo hiểm y
Trang 30tế cho hơn 1,2 triệu lượt người nghèo; miễn giảm học phí cho 157.292 lượt học sinh thuộc hộ nghèo; hỗ trợ hộ nghèo xây dựng 13.031 căn nhà; ngoài ra,
từ nguồn vốn của các hội, đoàn thể quản lý và nguồn vốn khác hàng năm cho vay hơn 239 tỷ đồng với gần 125 ngàn lượt hộ nghèo vay để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện cho hộ nghèo tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo
Trên thực tế, tỉnh Tiền Giang quan tâm và tập trung thực hiện một
số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, vì đây là khu vực chiếm tỷ trọng kinh tế lớn và là địa bàn có nhiều hộ nghèo; tăng cường dạy nghề, tạo việc làm, là điều kiện cơ bản, đảm bảo người nghèo thoát nghèo bền vững Tỉnh nắm chắc hoàn cảnh
cụ thể của lao động nông thôn qua đó hiểu được tâm tư, nguyện vọng của lao động để qua đó hướng dẫn nghề nghiệp, tạo việc làm Chính quyền các cấp luôn có sự tập trung nâng cao công tác tuyên truyền về chương trình giảm nghèo việc làm, tổ chức nhiều cuộc đối thoại trực tiếp với người nghèo để giải thích những chủ trương, chính sách, qua đó hiểu hoàn cảnh, động viên, hỗ trợ họ thoát nghèo; thực hiện kết hợp song song với các chương trình mục tiêu, các chương trình, dự án đầu tư khác; thực hiện đầy
đủ chế độ hỗ trợ theo quy định cho hộ nghèo (bảo hiểm y tế, giáo dục,…); đồng thời, tỉnh luôn đặt vấn đề chất lượng đánh giá hộ nghèo lên hàng đầu, không chạy theo thành tích, công khai, dân chủ để tạo ý thức chung của cộng đồng trong công tác giảm nghèo
2.2.3 Các công trình phân tích định lượng về nghèo đói trên thế giới
Theo Country Economic Report (2005), Các yếu tố quyết định nghèo ở Lào Nghiên cứu này trên nước Lào là một phần của một loạt các nghiên cứu hàng năm, được thực hiện bởi các trường đại học Thụy Điển khác nhau và các
Trang 31viện nghiên cứu khoa học trong sự phối hợp với Sida Mục đích chính của những nghiên cứu này là nhằm tăng cường kiến thức và sự hiểu biết về phát triển kinh tế hiện nay và thách thức trong nước đối tác chính của Thụy Điển cho phát triển hợp tác Nghiên cứu phân tích các yếu tố quyết định nghèo Lào thông qua mô hình kinh tế của các hộ gia đình dựa trên toàn diện từ bộ tộc Lào và Khảo sát tiêu dùng 2002/2003 Nó cũng cung cấp một bản đồ duy nhất của nghèo chia nhỏ trên khu vực cũng như các nhóm dân tộc chính Các phân tích xác định năm lĩnh vực rất quan trọng để giảm nghèo: (i) giảm số người phụ thuộc trong hộ gia đình, (ii) đầu tư vào giáo dục, không ít nhất là cho trẻ
em gái, (iii) thúc đẩy tinh thần kinh doanh, (iv) nâng cao nông nghiệp năng suất, và (v) cải thiện cơ sở hạ tầng
* Mô hình hồi qui đa biến phân tích những yếu tố tác động đến khả năng nghèo của hộ gia đình nông thôn
Xi: Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo
Lấy log phương trình (1): Ln Y = lna+ β1lnX1 + … + βklnXk (2) Như vậy, lnY là hàm tuyến tính với Xi Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) trong kinh tế lượng để ước lượngβ1
Khi Xk tăng thêm 1% (với các biến khác không đổi), Y sẽ thay đổi β1 (%)
* Mô hình hồi qui Binary logistis phân tích những yếu tố tác động đến xác suất rơi vào ngưỡng nghèo của hộ gia đình
Trang 32Pi: xác suất nghèo của một hộ gia đình
Xi: các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất nghèo của hộ gia đình
Đánh giá tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc: Bằng
phương pháp tuyến tính hóa, phương trình (1) trở thành:
P P khongngheo
ban đầu, trong đó P0 là xác suất nghèo ban đầu
Từ phương trình suy ra:
0 0
01
Giả định rằng các yếu tố khác không đổi, khi ta tăng Xk lên một đơn
vị, hệ số chênh lệch nghèo mới (O1) là:
0 1 1 ( 1) 0 1 1
1 1
01
Trang 33Công thức này có nghĩa: Khi các yếu tố khác không đổi, nếu tăng yếu
tố Xk thêm một đơn vị thì xác suất nghèo của một hộ gia đình sẽ dịch chuyển
để ăn (tài sản tài chính), gia đình trẻ, thiếu kinh nghiệm làm việc, rời bỏ trường học sớm, mù chữ, chủ hộ lớn tuổi, đau ốm (tài sản con người) là các đặc trưng quan trọng của người nghèo
Dựa vào số liệu điều tra 640 hộ gia đình tại tỉnh Ninh Thuận, Nguyễn Trọng Hoài (chủ biên), Võ Tất Thắng và Lương Vinh Quốc Duy (2005), đã áp dụng mô hình hồi quy đa biến phân tích những yếu tố tác động đến chi tiêu bình quân đầu người và tìm ra các yếu tố có tác động gồm: hộ có thuộc nhóm dân tộc thiểu số, giới tính của chủ hộ, số thành viên của hộ, hộ có việc làm, nghề nghiệp chính của hộ trong nông nghiệp, hộ có đất, diện tích đất canh tác
và hộ có vay hơn 5 triệu đồng
Một số nghiên cứu sử dụng mô hình hồi qui Binary logistic phân tích những yếu tố tác động đến khả năng nghèo của hộ gia đình:
- Theo Võ Tất Thắng (2004), khi sử dụng mô hình Binary logistic phân tích những yếu tố tác động đến xác suất nghèo của 605 hộ gia đình thuộc 03 huyện và 01 thị xã của tỉnh Ninh Thuận thì có 08 yếu tố tác động đến xác suất nghèo (ở mức ý nghĩa 5%) gồm: hộ có thuộc nhóm dân tộc thiểu số, giới tính
Trang 34của chủ hộ, số nhân khẩu của hộ, hộ có việc làm, nghề nghiệp chính của hộ trong nông nghiệp, hộ có đất, diện tích đất canh tác và hộ có vay hơn 5 triệu đồng
- Theo Nguyễn Trọng Hoài (chủ biên), Võ Tất Thắng và Lương Vinh Quốc Duy (2005), khi áp dụng mô hình Binary logistic để nghiên cứu nghèo tại 640 hộ gia đình ở tỉnh Ninh Thuận và 619 hộ gia đình ở tỉnh Bình Phước thì có 08 yếu tố tác động đến xác suất nghèo ở tỉnh Ninh Thuận (ở mức ý nghĩa 5%) gồm: hộ có thuộc nhóm dân tộc thiểu số, giới tính của chủ hộ, số thành viên của hộ, hộ có việc làm, nghề nghiệp chính của hộ trong nông nghiệp, hộ có đất, diện tích đất canh tác và hộ có vay hơn 5 triệu đồng; có 05 yếu tố tác động đến xác suất nghèo ở tỉnh Bình Phước (ở mức ý nghĩa 5%) gồm: giới tính của chủ hộ, số thành viên của hộ, hộ có nghề nghiệp phi nông nghiệp, tổng diện tích đất và tổng số tiền hộ được vay
- Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam trước đây: Van de Walle, Minot, N (2004), Ngân hàng thế giới (2007), Đinh Phi Hổ và Nguyễn Trọng Hoài (2007), đã nhận diện có tám yếu tố ảnh hưởng đến nghèo như: nghề nghiệp, tình trạng việc làm, trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, quy mô hộ, số người sống phụ thuộc, quy mô diện tích đất của hộ, quy mô vốn vay và khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng
- Theo Hồ Duy Khải (2010), đã sử dụng mô hình kinh tế lượng Binary logistic để nghiên cứu nghèo tại 152 hộ thuộc huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang và tìm ra 05 yếu tố tác động đến xác suất nghèo vùng Gò Công, tỉnh Tiền Giang (ở mức ý nghĩa 5%) gồm: số nhân khẩu của
hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, nghề nghiệp chính của chủ hộ, diện tích đất nông nghiệp của hộ, số người di cư sinh sống hoặc làm ăn xa của hộ
2.4 Tổng quan về kinh tế - xã hội thành phố Bến Tre
2.4.1 Đặc điểm tự nhiên
Trang 35Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ Cửu Long, Thành phố Bến Tre là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Bến Tre và được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là đô thị loại II vào ngày 13 tháng 2 năm 2019
Thành phố Bến Tre có vị trí phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Châu Thành, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Giồng Trôm, phía Tây và Tây Nam giáp Mỏ Cày Bắc, ngăn cách bởi sông Hàm Luông, với tổng diện tích tự nhiên 6.749 ha, quy mô dân số khoảng 257.300 người, gồm 17 đơn vị hành chính cấp xã, phường: Phường 1, Phường 2, Phường 3, Phường 4, Phường 5, Phường 6, Phường 7, Phường 8, Phường Phú Khương, Phường Phú Tân, xã
Mỹ Thạnh An, xã Phú Nhuận, xã Nhơn Thạnh, xã Bình Phú, xã Phú Hưng, xã Sơn Đông và xã Mỹ Thành
2.4.1.2 Địa hình
Toàn thành phố Bến Tre, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ nghiêng khoảng 0,5 đến 1 độ ra phía các sông lớn, vì thế hiện tượng ngập úng vào mùa mưa và triều cường không xảy ra, do vậy rất thích hợp cho cây trồng chịu cạn
Trang 36sản xuất và chi tiêu gia đình, đồng nghĩa với nâng cao mức sống của người dân, góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo
2.4.2.2 Giao thông
Là nhân tố thuộc hạ tầng kỹ thuật, cùng với điện năng là “bà đỡ” cho
sự phát triển Thực tế đã cho thấy điều đó, quốc gia nào, địa phương nào mà
hệ thống giao thông chưa phát triển hay phát triển chậm so với nhu cầu thì nơi
đó có nền kinh tế thiếu thốn nhiều mặt Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của giao thông, kết hợp với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, thành phố Bến Tre như bước vào cuộc “Đồng Khởi” mới Hiện nay, có 100% xã, phường xe ôtô đến trung tâm, nơi tọa lạc trụ sở hành chính địa phương, đường mới được mở ra, đường cũ được nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cần thiết để người dân tăng gia sản xuất, giao thương với các vùng lân cận dễ dàng, góp phần giảm chi phí sản xuất đáng kể
Với sông ngòi chằng chịt tạo ra hệ thống giao thông đường thủy tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên chở hàng hóa có trọng lượng nặng, khối lượng lớn, nuôi trồng, khai thác thủy sản; hàng năm cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng đáng kể; đồng hành với hoạt động đó là giải quyết được nhiều việc làm, nâng cao thu nhập của người dân Tuy nhiên, gần đây vai trò của giao thông thủy trên địa bàn thành phố Bến Tre kém quan trọng hơn do sự phát triển của giao thông đường bộ
Tỉnh Bến Tre chưa có giao thông đường sắt và đường hàng không, do vậy nếu thành phố Bến Tre có thêm điều kiện đó sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh hơn
2.4.2.3 Viễn thông
Do thành phố Bến Tre là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh nên các nhà đầu tư tập trung tìm kiếm không gian định vị doanh nghiệp, triển khai các
Trang 37số lượng doanh nghiệp kinh doanh phương tiện, linh kiện…viễn thông và không thể biết có bao nhiêu người sử dụng phương tiện viễn thông như: Internet, cáp quang, điện thoại thông minh…nhưng có thể đánh giá hầu như gia đình nào cũng có sử dụng ít nhiều thiết bị có liên quan đến viễn thông Hệ thống viễn thông được xem là lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất, ngoài việc thông tin liên lạc tiện lợi, an toàn, nhanh chóng còn góp phần giảm cước phí vận chuyển…nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh
2.4.2.4 Ngân hàng-tín dụng
Lĩnh vực tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng-tín dụng được xem là
“cứu hộ” cho các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố Bến Tre, có nhiều ngân hàng phục vụ kịp thời cho khách hàng có nhu cầu Tuy vậy, từng ngân hàng hoạt động theo mỗi lĩnh vực gắn liền với tên và loại hình như: Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Sài Gòn, Ngân hàng Kiên Long, Sacom Bank… Ngoài ra, còn có Ngân hàng Chính sách-Xã Hội là ngân hàng sát với người nghèo, cứu cánh cho những học sinh, sinh viên có cơ hội học tập, xuất khẩu lao động
Tín dụng là một trong những nội dung hoạt động của lĩnh vực tiền tệ,
để mở rộng phạm vi hoạt động, cung cấp vốn kịp thời cho đối tượng có nhu cầu vốn không lớn, bên cạnh các ngân hàng các quỹ tín dụng nhân dân hình thành, cho đến nay trên địa bàn thành phố Bến Tre có 2 đơn vị là xã Mỹ Thạnh An và phường Phú Tân có quỹ tín dụng nhân dân hoạt động rất có hiệu quả
Hệ thống ngân hàng-tín dụng, trong thời gian qua đã góp phần xóa đói giảm nghèo đáng kể, tin rằng trong tương lai lĩnh vực này còn nhiều hứa hẹn
2.4.2.5 Doanh nghiệp
Trang 38Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tạo điều kiện căn cơ để xóa đói giảm nghèo, tạo nên diện mạo mới của thành phố Bến Tre
là vai trò vô cùng quan trọng của các doanh nghiệp Bến Tre được mệnh danh
là thủ phủ của dừa, vì thế đối tượng dừa, từ sản xuất đến sơ chế, chế biến được hàng chục sản phẩm phục vụ cho các lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ…cả dược phẩm và xuất khẩu, hàng năm mang về nhiều tỷ USD góp phần xây dựng quê hương Đồng hành cùng với các doanh nghiệp ngành dừa, các doanh nghiệp xản xuất khác cũng đua chen nhau mọc lên, tạo cơ hội việc làm cho lao động, là điều kiện tiên quyết để kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp, là con đường thoát nghèo bền vững nhanh nhất
2.4.2.6 Thương mại dịch vụ và du lịch
Với vị trí địa lý thuận lợi, vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh, với lợi thế tuyệt đối của thành phố Bến Tre đã tạo nên sức hấp dẫn các nhà kinh doanh trong và ngoài tỉnh, thậm chí ngoài nước Nắm lấy thời cơ đầu tư theo năng lực và sở trường của mình, giờ đây thành phố Bến Tre không những có một thành phố sầm uất, mua bán nhộn nhịp mà có cả các siêu thị, những tòa nhà, khách sạn cao tầng, hình thành hệ thống thương mại-dịch vụ chưa từng có Về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của hệ thống thương mại đã cung cấp có thể nói rằng từ trong nhà ra đến đường phố, dạ hội, vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi…chưa thấy thiếu một thứ gì, điều đó nói lên đã đáp ứng nhu cầu thỏa mãn của người dân từ vật chất đến tinh thần nếu điều kiện cho phép
Du lịch được xem là ngành “Công nghiệp không khói”, thế nhưng địa bàn thành phố Bến Tre lợi thế cho lĩnh vực này hầu như chưa có Tuy nhiên, các vùng lân cận lại phát triển nhiều loại hình: nào là du lịch sinh thái, du lịch
về nguồn, dã ngoại, … nhưng lại không có chỗ ở khang trang như thành phố,
vì vậy thành phố Bến Tre chia sẻ phần thu nhập của các đơn vị khác
Trang 392.4.2.7 Lao động
Là yếu tố con người không thuộc phạm trù kinh tế, nhưng sức lao động là một trong những yếu tố kinh tế, sức lao động là khả năng hoạt động tiềm tàng trong cơ thể của người lao động không thể tách rời, do vậy để thực hiện sức lao động tất yếu phải có lao động Sức lao động là hàng hóa đặc biệt
và giá trị của nó rất khác nhau ở mỗi cá nhân thông qua thước đo chất lượng lao động, muốn đạt chất lượng lao động cao yêu cầu hội đủ 2 điều kiện: đào tạo và có thời gian trải nghiệm thực tiễn lĩnh vực hoạt động của người lao động, để được đào tạo điều tiên quyết phải có trình độ học vấn nhất định
Nhiều nhà khoa học, không ít công trình nghiên cứu đã chỉ ra: sự nghèo đói có nhiều nguyên nhân, trong đó năng suất lao động thấp do trình độ học vấn không cao quyết định Thành phố Bến Tre tuy là thành phố của một tỉnh, nhưng năng suất lao động còn thấp được thể hiện qua thước đo thu nhập của người lao động
2.4.3 Đặc điểm xã hội
2.4.3.1 Lĩnh vực y tế
Được quan tâm nhiều nhất vì đây là sức khỏe gắn liền với con người, do vậy trong thời gian qua chính quyền địa phương ra sức tập trung cùng với các tổ chức nước ngoài, phi chính phủ…tạo nên hệ thống y tế từ cấp thành phố đến xã, phường đầy đủ y, bác sĩ với cơ sở khang trang, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân Bên cạnh đó, có đội ngũ thầy thuốc giỏi tay nghề, nhiều kinh nghiệm với cơ sở vật chất hiện đại của bệnh viện tuyến thành phố, tỉnh, bệnh xá ngành công an, quân đội …đã giúp cho ngành y
tế thành phố Bến Tre đông về số, mạnh về chất, tin rằng ngành y tế sẽ góp phần tích cực vào chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có xóa đói giảm nghèo
2.4.3.2 Giáo dục
Trang 40Là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng, vì thiếu kiến thức sẽ dẫn đến khó tiếp cận trình độ văn minh của nhân loại, thiếu cơ hội làm giàu không những cho cá nhân, gia đình mà còn đóng góp cho cộng đồng, xã hội Hệ thống giáo dục thành phố Bến Tre chưa có huyện nào sánh được: 100 % xã, phường đều
có trường, huy động 100% trẻ đến lớp đúng độ tuổi, có 23/33 trường đạt chuẩn quốc gia (69,70%), đủ các bậc học từ mẫu giáo mầm non đến trung học phổ thông và là nơi tập trung các trường trung học, cao đẳng, liên kết, liên thông đa ngành nghề của các trường đại học trong nước, đây là lợi thế để nâng cao dân trí thành phố Bến Tre
2.4.3.3 Công trình công cộng phúc lợi xã hội
Thành phố Bến Tre là nơi đại diện về hình ảnh văn hóa địa phương, là nhịp cầu nối với các tỉnh trong vùng, các quốc gia khu vực và các nước trên thế giới, do vậy bằng nội lực của mình thành phố Bến Tre trong những năm gần đây chỉnh trang lại đô thị, xây dựng, mở rộng, tôn tạo các nơi vui chơi giải trí, công viên, cây cảnh, biểu tượng được nhiều chính khách trong, ngoài nước ngợi khen đẹp nhất nhì phía Nam
2.4.3.4 Tôn giáo-tín ngưỡng
Là vùng đất địa linh, do vậy thành phố Bến Tre đã quy tụ nhiều giáo phái như: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Bà la môn, Tin lành, Cao đài cùng sinh sống trên phạm vi không rộng nhưng rất đổi đoàn kết, cùng nhau góp sức xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới, theo chủ trương đúng đắn của Đảng
và chính sách của Nhà nước; Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc được các tôn giáo nêu cao trong tâm thức và thực hiện nghiêm chỉnh, góp phần hình thành nên cốt cách của người Việt Nam
2.4.3.5 Hệ thống chính trị
Thực hiện theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân