Lý do chọn đề tài Đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao, điều này đã khiến cho du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Ngày nay, ở nhiều quốc gia, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng, những lợi ích mà ngành du lịch mang lại là vô cùng to lớn, không chỉ dưới góc độ đóng góp vào GDP của đất nước hay giải quyết các vấn đề xoá đói giảm nghèo, thất nghiệp… mà còn là phương thức để các quốc gia kết nối giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước mình với đông đảo bạn bè quốc tế. Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng luôn chú trọng đến khai thác tiềm năng thế mạnh của du lịch, phát triển kinh tế từ du lịch. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (121986), Đảng xác định: Phải nhanh chóng tận dụng các điều kiện thuận lợi của đất nước để mở mang du lịch bằng vốn trong nước và hợp tác với nước ngoài. Chỉ thị 46CTTW ngày 14 tháng 10 năm 1994, về đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới của Ban Bí thư cũng đã nêu rõ: “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn NN&PTNT
Văn hóa, Thể thao và Du lịch VH, TT&DL
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH LÂM ĐỒNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU
1.1 Những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm
Đồng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch (2006 - 2010) 121.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển
kinh tế du lịch (2006 - 2010) 271.3 Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo phát triển kinh tế du
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG LÃNH ĐẠO ĐẨY
MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH (2011 - 2015) 432.1 Những yếu tố mới tác động và chủ trương của Đảng bộ
tỉnh Lâm Đồng về đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch
2.2 Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo đẩy mạnh phát triển
kinh tế du lịch (2011 - 2015) 54
3.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo
phát triển kinh tế du lịch (2006 - 2015) 663.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh
đạo phát triển kinh tế du lịch (2006 - 2015) 78
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao, điều này đã khiếncho du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của conngười Ngày nay, ở nhiều quốc gia, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quantrọng, những lợi ích mà ngành du lịch mang lại là vô cùng to lớn, không chỉ dướigóc độ đóng góp vào GDP của đất nước hay giải quyết các vấn đề xoá đói giảmnghèo, thất nghiệp… mà còn là phương thức để các quốc gia kết nối - giao lưuvăn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước mình với đông đảo bạn bè quốc tế
Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng luôn chútrọng đến khai thác tiềm năng thế mạnh của du lịch, phát triển kinh tế từ dulịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng xác định: Phảinhanh chóng tận dụng các điều kiện thuận lợi của đất nước để mở mang dulịch bằng vốn trong nước và hợp tác với nước ngoài Chỉ thị 46-CT/TW ngày
14 tháng 10 năm 1994, về đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mớicủa Ban Bí thư cũng đã nêu rõ: “Phát triển du lịch là một hướng chiến lượcquan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nướcnhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm chodân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [2, tr.2]
Trong những năm qua, nhận thức về tầm quan trọng của KTDL đã đượcnâng lên không chỉ ở tầm vĩ mô mà đã lan tỏa đến mọi cấp, mọi ngành và cảcộng đồng Du lịch Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, từng bước thuhẹp khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và ngày càng khẳngđịnh vị trí, vai trò trong nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng thúc đẩyquá trình CNH, HĐH đất nước
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Nam Tây Nguyên, có khíhậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, nhiều di tích lịch sửvăn hóa có giá trị Không những vậy, Lâm Đồng còn là miền đất sinh sốngcủa nhiều dân tộc anh em với những nét văn hóa mang đậm bản sắc TâyNguyên, có sức hấp dẫn đối với du khách Quán triệt và thực hiện đường lối phát
Trang 4triển KTDL của Đảng, Nhà nước, việc phát triển KTDL luôn được Tỉnh chútrọng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII (Nhiệm kỳ 2006 -2010) đã xác định: “Đầu tư phát triển kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tếđộng lực” [10, tr.157].
Những năm qua, nguồn thu nhập từ KTDL đã góp phần thúc đẩy cơ cấukinh tế của tỉnh Lâm Đồng chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng dịch vụtrong GDP ngày một tăng cao Tuy nhiên, việc phát triển KTDL của Tỉnh vẫncòn một số hạn chế như: tốc độ phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
và thế mạnh vốn có của địa phương Sự tăng trưởng của KTDL còn chưa thực
sự bền vững; lượng khách khách quốc tế còn thấp; một số dự án đầu tư chophát triển KTDL chậm tiến độ và hiệu quả chưa cao Mặt khác, Lâm Đồngcòn thiếu các sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn; việc hợp tác, kết nối các tour,tuyến du lịch với các địa phương khác và giữa các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch chưa thực sự chặt chẽ…
Từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạophát triển KTDL trên địa bàn, đánh giá kết quả, rút ra những kinh nghiệm để vậndụng trong thời gian tới là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với Đảng bộ và
nhân dân tỉnh Lâm Đồng Với những ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2006 đến năm 2015”
làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, du lịch là lĩnh vực nhận được sự quan tâm đặc biệtcủa Đảng, Nhà nước, các địa phương, các cơ quan lãnh đạo, quản lý và nhiều nhàkhoa học Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch dưới nhiều góc độkhác nhau, có thể chia thành các nhóm như sau:
* Nhóm công trình nghiên cứu chung về phát triển
du lịch và kinh tế du lịch trên phạm vi cả nước
Cuốn sách Du lịch và kinh doanh du lịch của tác giả Trần Nhạn [32],
giới thiệu khái quát lý luận về du lịch và những hoạt động kinh doanh tronglĩnh vực du lịch Trong đó, tác giả đã tập trung làm rõ những tính chất, đặc
Trang 5điểm và nội dung về kinh doanh du lịch; nguồn lực để phát triển và các thểloại du lịch; phân tích mối quan hệ trao đổi giữa người mua với người bán,giữa cung với cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắnvới mối quan hệ đó trong lĩnh vực kinh doanh du lịch.
Cuốn sách Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam của tác giả PhạmTrung Lương [28], trình bày một số kiến thức về tài nguyên và môi trường dulịch; tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường; ứng dụngcông nghệ thông tin trong quản lý tài nguyên và môi trường du lịch; phát triển
du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường
Cuốn sách Quy hoạch du lịch của tác giả Bùi Thị Hải Yến [105], trình
bày tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy hoạch phát triểnKTDL Nêu bật các nhiệm vụ trong quy hoạch, làm rõ việc quy hoạch cácchương trình, kế hoạch, các dự án đầu tư phát triển KTDL phải phù hợp vớitừng vùng, từng địa phương và phù hợp với tổng thể trong quy hoạch chungcủa cả nước Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra trên thực tế, những địa phươngnào đã quan tâm đầu tư cho việc lập và thực hiện quy hoạch hợp lý thì pháttriển kinh tế du lịch hiệu quả, bền vững Đồng thời khuyến nghị các địaphương, cần có kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp công tác quy hoạch, khaithác có hiệu quả các kết quả quy hoạch đã được phê duyệt và triển khai trongthực tế để phát huy các giá trị khoa học trong quy hoạch
Luận án Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn của tác giả Vũ Đình Thụy [63], nêu bật
những cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũinhọn trong nền kinh tế quốc dân; tiềm năng và thực trạng của ngành du lịchViệt Nam; phân tích những điều kiện chủ yếu để du lịch phát triển thànhngành kinh tế mũi nhọn; đề ra các định hướng và giải pháp chủ yếu để pháttriển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Luận văn Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi mới (1986 - 2001) của tác giả Nguyễn Văn Tài [50], đã hệ thống
hóa các chủ trương trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng trong
Trang 6thời kỳ đổi mới (1986 - 2001), làm rõ quá trình phát triển về lý luận của Đảngtrong lĩnh vực phát triển kinh tế du lịch; phân tích rõ các yếu tố tác động đếnviệc hình thành chủ trương của Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch; phântích, luận giải quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng trong 15 năm kể
từ khi thực hiện công cuộc đổi mới; những thành tựu, hạn chế trong quá trìnhlãnh đạo của Đảng và đúc kết được các kinh nghiệm có giá trị khoa học vềthực tiễn Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch
Ngoài ra còn một số công trình như: Phát triển nhanh và bền vững du lịch Việt Nam của tác giả Đỗ Quang Trung [73]; Bàn về thu hút vốn đầu tư phát triển nghành du lịch tại Việt Nam của tác giả Trần Xuân Cảnh [07]; Phát triển du lịch trong tầm nhìn mới của tác giả Dương Vũ [104]; Để du lịch thực
sự là nghành kinh tế mũi nhọn của tác giả Bích Nhung [34]; Du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của tác giả Phạm Hưng [26]; Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam của tác giả Trần Đức Thanh [51]; Phát triển du lịch Việt Nam trong tình hình mới của tác giả Võ Thị Thắng [53]; Để du lịch Việt Nam không mãi là tiềm ẩn của tác giả
Phạm Hạnh [22] Các tác giả đã phân tích những điều kiện để Việt Nam cóthể trở thành một nước phát triển mạnh về du lịch Chỉ rõ việc phát triển du lịchkhông chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần làm lành mạnh xãhội thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, giữ vững chủ quyền quốc gia,quốc phòng, an ninh, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân
Để du lịch Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có,các tác giả đều nêu cao tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, quảng bá,xúc tiến du lịch, cho rằng ngành du lịch cần phải được quan tâm đồng bộ vàthiết thực hơn nữa
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển du lịch và kinh tế du lịch
ở các địa phương
Luận án Phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020 của tác giả Mai Thị
Ánh Tuyết [75], nghiên cứu những khái niệm cơ bản về du lịch, đặc tính của pháttriển du lịch, các loại hình du lịch chủ yếu; tổng hợp kinh nghiệm của một số nước
Trang 7trên thế giới đã thành công trong phát triển kinh tế du lịch, liên hệ với thực tiễn ViệtNam và tỉnh An Giang; thông qua đánh những giá tiềm năng và thực trạng củangành du lịch tỉnh An Giang, tác giả đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằmthúc đẩy phát triển kinh tế du lịch tỉnh An Giang trong thời gian tiếp theo.
Luận văn Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1997 đến năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Vân [101], nghiên cứu
toàn diện quá trình Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo phát triển kinh tế dulịch trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2009 Đánh giá những kết quả đạtđược, những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế du lịch ở Đà Nẵng, từ đóđúc kết những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố ĐàNẵng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1997 đến năm 2009
Luận văn Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2009 của tác giả Lê Diệu Linh [27], nghiên cứu quá trình
Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo phát triển KTDL trong các giai đoạn (2001
- 2005; 2006 - 2009) gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi giaiđoạn để thấy được sự phát triển trong nhận thức và quá trình lãnh đạo; đánhgiá, phân tích để làm rõ những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Quảng Bìnhtrong quá trình lãnh đạo phát triển du lịch; tìm hiểu nguyên nhân của những ưuđiểm, hạn chế để từ đó đúc kết những kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng bộtỉnh Quảng Bình trong phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2009
Luận văn Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010 của tác giả Phạm Thị Phương [35], luận văn đã tập
trung làm rõ những tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế du lịch ở tỉnhThanh Hóa Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước,luận văn đã đi sâu vào phân tích phương hướng, biện pháp của Đảng bộ tỉnhThanh Hóa về phát triển du lịch từ năm 2001 đến năm 2010; đánh giá nhữngthành công, hạn chế, đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo củaĐảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010
Một số bài viết như: Để du lịch trở thành ngành kinh tế động lực trong phát triển KT-XH ở tỉnh Ninh Bình của tác giả Trần Hữu Nam [30];
Trang 8Đưa du lịch Tiền Giang thành ngành kinh tế động lực của tác giả Trần Ngọc [31]; Kỷ yếu Phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn của các tỉnh, thành phía Nam, của Tỉnh ủy Bình Phước [70] đã góp phần hệ thống hoá các quan điểm,
chủ trương của Đảng bộ một số tỉnh về phát triển du lịch và lãnh đạo phát triểnkinh tế du lịch trong thời kỳ mới; đánh giá, phân tích những thành tựu, hạn chế,trong quá trình các Đảng bộ lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch; đề xuất nhiềugiải pháp và phương hướng phát triển kinh tế du trong thời gian tiếp theo
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển du lịch và kinh tế du lịch
ở tỉnh Lâm Đồng
Luận án Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng của tác giả Nguyễn Tấn Vinh [103], trình bày hệ thống hoá công tác
quản lý nhà nước về du lịch; đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về
du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Thông qua kết quả phát triển kinh tế dulịch, luận án đánh giá những thành công hạn chế, đề ra các phương hướng vàgiải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch để đưa ngành du lịch LâmĐồng thực sự trở thành ngành kinh tế động lực của Tỉnh
Luận văn Giải pháp phát triển ngành du lịch Lâm Đồng đến năm 2020
của tác giả Trần Thị Hồng Nhạn [33], phân tích tổng quan về du lịch ở LâmĐồng, thực trạng phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2008, trên cơ sở đó đề
ra các giải pháp phát triển du lịch của tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020
Luận văn Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015
của tác giả Nguyễn Thị Phương Anh [1], tập trung làm rõ những tiềm năng, thếmạnh để phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Lâm Đồng; thực trạng hoạt động của dulịch Lâm Đồng giai đoạn 2005 - 2009, trong đó nhấn mạnh những tác động củamôi trường đến hoạt động du lịch ở Lâm Đồng; đưa ra những dự báo pháttriển và các giải pháp cho sự phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2015
Luận văn Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2020 của tác giả Lê Thị Kim Phượng [36], luận văn đã tập trung làm rõ
một số khái niệm về: du lịch, các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch, khách
du lịch; vị trí, vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế đất nước;
Trang 9tổng hợp kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đã thành công trong pháttriển kinh tế du lịch; nêu bật những tiềm năng, thế mạnh về du lịch ở tỉnh LâmĐồng; thực trạng hoạt động của du lịch Lâm Đồng trước năm 2010; nêu ramột số giải pháp góp phần phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2020.
Ngoài ra còn có một số bài viết như: Du lịch Lâm Đồng trên hành trình trở thành ngành kinh tế động lực của tác giả Lê Hoa [24]; Lợi thế và tiềm năng phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Lâm Đồng của tác giả Lê Thanh [52]; Tỉnh Lâm Đồng: Phát triển du lịch hướng tới bền vững, trở thành ngành kinh tế động lực của tác giả Đoàn Văn Việt [102]… các bài viết đã tập trung nêu bật
những tiềm năng, lợi thế để phát triển KTDL ở Lâm Đồng, phân tích nhữngthành tựu, hạn chế trong phát triển KTDL của Tỉnh trong những năm vừa qua,qua đó góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đảng bộ tỉnh về lãnh đạophát triển KTDL, đề xuất nhiều giải pháp và phương hướng phát triển KTDLbền vững, hướng tới trở thành ngành kinh tế động lực
Như vậy, các nghiên cứu về phát triển du lịch và KTDL trên phạm vi cảnước cũng như từng địa phương cụ thể, thời gian gần đây nhìn chung làphong phú, đa dạng, với nhiều cách tiếp cận và phạm vi đề cập khác nhau.Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống
về quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển KTDL dưới gốc độkhoa học Lịch sử Đảng Vì vậy, đây là một “khoảng trống” khoa học để tác
giả quyết định lựa chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2006 đến năm 2015” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch
sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh LâmĐồng về phát triển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015
Hệ thống hóa, luận giải chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh LâmĐồng chỉ đạo phát triển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015
Nhận xét và đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh LâmĐồng lãnh đạo phát triển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về pháttriển KTDL từ năm 2006 đến năm 2015
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Lâm Đồng về phát triển KTDL trên địa bàn
Về thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2015 (năm 2006 là năm khởi đầu
nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII; năm 2015 là năm kếtthức nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IX), chọn mốc thờigian như vậy sẽ thể hiện rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triển KTDLqua hai kỳ đại hội Ngoài ra, để vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống và đạtđược mục đích nghiên cứu, luận văn có đề cập thêm các thông tin có liênquan trong thời gian trước năm 2006
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
về phát triển KTDL
* Cơ sở thực tiễn
Luận văn dựa vào thực tiễn hoạt động lãnh đạo phát triển KTDL củaĐảng bộ tỉnh Lâm Đồng; hoạt động của Hội đồng nhân dân, UBND, các sở, ban
Trang 11ngành, các địa phương cơ sở của Tỉnh về phát triển KTDL, được phản ánh trongcác chương trình, kế hoạch báo cáo sơ, tổng kết; các số liệu được công bố trongniên giám thống kê của Tỉnh; qua khảo sát thực tế một số khu, điểm du lịch trênđịa bàn tỉnh Lâm Đồng của tác giả Ngoài ra, các đề tài khoa học, các luận văn,luận án có liên quan cũng là cơ sở thực tiễn để tác giả tham khảo, kế thừa trongquá trình thực hiện luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh để làm rõ các nội dung của luận văn
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo phát triển KTDLcủa Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng; góp thêm các luận cứ khoa học cho việc bổsung, phát triển chủ trương của Đảng bộ tỉnh về phát triển KTDL trongthời gian tiếp theo
Những kinh nghiệm được đúc kết trong luận văn có thể tham khảo vàvận dụng vào thực tiễn phát triển TKDL ở tỉnh Lâm Đồng và một số địaphương khác trong cả nước
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch
sử Đảng cộng sản Việt Nam ở các cơ sở giáo dục đào tạo trong cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo, phụ lục và danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả
Trang 12Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG
* Quan niệm kinh tế du lịch
Ngay từ khi KTDL trở thành nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế, thìquan niệm KTDL cũng được quan tâm nghiên cứu và kiến giải với nhiều cáchthức tiếp cận khác nhau: Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) định nghĩa: “Kinh
tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù, mang tính dịch vụ và được xemnhư ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước;
có chức năng, nhiệm vụ tổ chức, khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đấtnước nhằm thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước; tổ chức buôn bán,xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch” [74, tr.35]
Trong cuốn Giáo trình kinh tế du lịch (2006) nhóm tác giả Nguyễn VănĐính, Trần Thị Minh Hòa đã đưa ra khái niệm KTDL “là một ngành kinh doanhbao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa vàdịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ănuống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch Cáchoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nướclàm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp du lịch” [21, tr.10]
Bàn về khái niệm KTDL, TS Lê Quang Đăng, Viện Nghiên cứu Phát triển
Du lịch cho rằng: Kinh tế du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liênngành, liên vùng và tính xã hội hóa cao, thuộc khối ngành dịch vụ trong nền kinh
tế quốc dân; có chức năng, nhiệm vụ tổ chức, khai thác các tài nguyên du lịch,sản xuất, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ du lịch, phục vụ nhu cầu đa
Trang 13dạng của khách du lịch trên thị trường; mang lại lợi ích kinh tế - chính trị - vănhóa - xã hội thiết thực và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.Mặc dù có những tiếp cận và cách lý giải khác nhau, tuy nhiên, từ nhữngnghiên cứu trên ta có thể thấy các nhà khoa học và học giả đều thống nhất ởnhận định: KTDL là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phầntham gia; hoạt động KTDL vừa có đặc điểm của một ngành kinh tế vừa có đặcđiểm của một ngành văn hóa - xã hội; là ngành kinh tế tổng hợp mang lại lợinhuận cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo,đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môitrường Chính vì vậy, toàn xã hội đều có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tưphát triển KTDL.
* Vị trí, vai trò của việc phát triển kinh tế du lịch đối với tỉnh Lâm Đồng Thứ nhất, phát triển kinh tế du lịch sẽ góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạo thêm việc làm cho người lao động
Xét ở phạm vi trong nước, từng địa phương cũng như ở Lâm Đồng, pháttriển KTDL sẽ đóng góp quan trọng cho thu nhập quốc dân Hoạt động KTDL
sẽ làm tăng thu nhập của dân cư, kéo theo cấu trúc chi tiêu cũng có sự thayđổi và phát triển Mặt khác, phát triển KTDL không chỉ thu hút nguồn vốncủa các thành phần kinh tế ở địa phương, mà còn có khả năng thu hút nguồnvốn các thành phần ở trong nước và nước ngoài thông qua liên doanh, liênkết, đầu tư trực tiếp qua đó góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địaphương, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương đầu tư cơ sở hạ tầng Phát triển KTDL sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác, vìsản phẩm du lịch mang tính liên ngành, liên vùng, có liên quan đến nhiềungành nghề khác nhau Mặt khác, du khách đến Lâm Đồng tạo ra thị trườngtiêu thụ sản phẩm lớn cho địa phương Điều này sẽ kích thích mạnh mẽ cácngành kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp, chế biến nông sản và các sảnphẩm tiểu thủ công nghiệp phát triển theo
Trang 14Kinh tế du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, phát triển KTDL không nhữngtạo thêm việc làm trực tiếp cho những người lao động trực tiếp trong ngành
mà còn tạo thêm nhiều việc làm gián tiếp có liên quan, qua đó thu hút mộtphần lao động dôi dư của Tỉnh có công ăn, việc làm, tăng thêm thu nhập đặcbiệt là đối với những người lao động là đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa
Thứ hai, phát triển kinh tế du lịch góp phần giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội
Phát triển KTDL ở Lâm Đồng, góp phần rất lớn trong giải quyết các vấn đềvăn hóa - xã hội nhất là ở các vùng sâu, vùng xa: tài nguyên du lịch tự nhiên củaTỉnh tập trung nhiều ở các vùng sâu, vùng xa việc khai thác, đầu tư phát triểnKTDL đòi hỏi phải đầu tư về giao thông, bưu điện, y tế vì vậy sẽ làm thay đổi
bộ mặt của khu vực đó, đồng thời, thu hút một bộ phận dân cư đến đầu tư, sinhsống góp phần làm giảm sự tập trung dân cư ở các trung tâm lớn
Phát triển KTDL, góp phần quảng bá, giữ gìn các giá trị văn hóa truyềnthống Xúc tiến, quảng bá du lịch là phương tiện quan trọng để tuyên truyền,quảng bá hình ảnh, văn hóa của các dân tộc bản địa ở Lâm Đồng, thông qua đócác giá trị văn hóa, các phong tục, tập quán truyền thống, các làng nghề truyềnthống của Tỉnh được nhân dân cả nước, với bạn bè quốc tế quan tâm, từ đó gópphần bảo tồn, giữ gìn các giá trị đó
Phát triển KTDL, cũng là một cơ hội giao lưu, học hỏi không những đốivới khách du lịch mà còn đối với cả người dân địa phương Du khách đến dulịch không chỉ mang đến ngoại tệ hay tiền bạc, mà họ còn mang đến nhữngphong tục tập quán từ các vùng khác nhau trên khắp thế giới Vì vậy, việc pháttriển KTDL của Tỉnh, mang theo những cơ hội để người dân địa phương tiếpcận những kiến thức về văn hóa - xã hội từ các vùng, miềm khác nhau trên đấtnước Việt Nam và thế giới
Thứ ba, phát triển kinh tế du lịch góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường
Trang 15Phát triển KTDL, giúp cho người dân Lâm Đồng nhận thức được tầmquan trọng của thiên nhiên, thấy được những giá trị mà thiên nhiên mạng lạicho cuộc sống của mình (thông qua các nguồn thu từ hoạt động kinh doanh dulịch), từ đó nâng cao ý thức giữ gìn môi trường tự nhiên xanh - sạch - đẹp.Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, đòi hỏi ngành du lịch và cácdoanh nghiệp du lịch phải có chiến lược bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, xâydựng các khu bảo tồn thiên nhiên, các rừng quốc gia nhằm mục đích vừa tổchức các hoạt động nghỉ ngơi giải trí, vừa bảo vệ cảnh quan tự nhiên có giá trị
và các nguồn gen quý
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng tác động đến việc phát triển kinh tế du lịch
* Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý, địa hình: Lâm Đồng là tỉnh miền núi ở phía Nam Tây
Nguyên và phía bắc vùng Đông Nam Bộ Phía bắc giáp tỉnh Đăk Lăk và ĐăkNông, phía đông giáp Khánh Hòa và Ninh Thuận, phía nam giáp tỉnh BìnhThuận, phía Tây và Tây Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai (Phụ lục 1).Lâm Đồng nằm trên ba cao nguyên (cao nguyên Bảo Lộc, cao nguyên DiLinh và cao nguyên Đà Lạt) ở độ cao trung bình từ 800 - 1000m so với mặtnước biển Địa hình chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng cónhững thung lũng nhỏ, bằng phẳng Địa hình phân bố theo quy luật giảm dần
độ cao từ đông bắc xuống tây nam, chia căt nhau bởi các sườn dốc có độchênh lệch khá cao từ 400 - 500m Đặc điểm này đã gây nên những biến đổi
về khí hậu, thảm thực vật, thổ nhưỡng… và tạo nên những cảnh quan thiênnhiên phong phú, đa dạng ở các tiểu vùng
Với vị trí địa lý và địa hình như vậy, Lâm Đồng có nhiều điều kiện để phát
triển KTDL: thứ nhất, vùng Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động, sẽ là thị
trường lớn đầu tư và cung cấp khách du lịch nội địa và là đầu cầu tiếp nhận
khách quốc tế cho Lâm Đồng; thứ hai, Tây Nguyên là vùng giàu tài nguyên
thiên nhiên, văn hóa bản địa độc đáo được nhà nước ưu tiên có các chính sách
Trang 16đặc thù riêng để hỗ trợ phát triển KT - XH, đặc biệt là du lịch; thứ ba, Lâm Đồng
là tỉnh nối giữa các tỉnh Tây Nguyên với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnhĐông Nam Bộ, nên hệ thống giao thông đường bộ được đầu tư có chất lượng
là điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của du khách Tuy nhiên do địa hình cónhiều đồi núi, đèo dốc… đã gây ra những khó khăn trong việc đầu tư cáccông trình giao thông đến các khu du lịch cũng như gây ra những khó khăncho việc di chuyển của du khách
Khí hậu, thổ nhưỡng: Thời tiết, khí hậu là tài nguyên hết sức quý giá và
đặc thù đối với tỉnh Lâm Đồng Do nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng củakhí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, nên trong năm có 2 mùa rõrệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 nămsau Lượng mưa trung bình 1.750 - 3.150mm, độ ẩm tương đối trung bình cảnăm 85 - 87%, số giờ nắng trung bình cả năm từ 1.890 - 2.500 giờ, nhiệt độtrung bình từ 18 - 25°C, thời tiết ôn hòa, mát mẻ và thường ít có những biếnđộng lớn trong chu kỳ năm, tạo cho Lâm Đồng có những lợi thế trong pháttriển kinh tế nói chung và phát triển KTDL nói riêng
Lâm Đồng cũng là tỉnh có những thuận lợi về thổ nhưỡng, theo thống kênăm 2006, trên địa bàn Tỉnh có 7 loại đất chính, trong đó có 3 nhóm đất quyếtđịnh đến sự phân bố khác nhau của hệ thống động, thực vật rừng và các vùngcanh tác khác nhau của Tỉnh là: nhóm đất nâu trên nền bazan, nhóm đấtFeralit đỏ vàng và nhóm đất phù sa Khí hậu kết hợp với thổ nhưỡng đã tạonên những điều kiện hết sức thuận lợi cho Lâm Đồng phát triển các loại câytrồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới nhất là rau và hoa Đà Lạt - Lâm Đồngđược mệnh danh là “Thành phố hoa” với hàng trăm loài từ hoa của xứ nhiệtđới đến các loài hoa của vùng lạnh giá phương Tây, tạo nguồn cảm hứng lớncho du khách mỗi khi đến Đà Lạt - Lâm Đồng
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất có rừng của Tỉnh tính đến năm 2005
là 607.280 ha, trong đó rừng tự nhiên là 557.857 ha Độ che phủ đạt 62,1%(Theo số liệu của Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng năm 2005) Rừng Lâm
Trang 17Đồng là nơi tập trung nhiều loài động, thực vật của Tây Nguyên (chiếmkhoảng 70%) với những loài thực vật đặc trưng như thông hai lá dẹt, thôngnăm lá, pơ mu, thông đỏ, các loài cây thuộc họ Dầu, họ Mộc lan, họ Na Bêncạnh đó, nơi đây còn là nôi của các loài cây họ Phong lan quý hiếm nhưHoàng thảo, Hài, Lan gấm, Lan nến Về động vật, Lâm Đồng cũng là nơi cưtrú của nhiều bộ thú quan trọng như Bộ Linh trưởng, Bộ Móng guốc, Bộ Cánh
da, Bộ ăn sâu bọ Chỉ tính riêng tại Vườn quốc gia BiDoup - Núi Bà huyệnLạc Dương đã có tới 1.468 loài thực vật thuộc 161 họ, 673 chi trong đó có 91loài đặc hữu, 62 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam; động vậtrừng có 382 loài, 95 họ thuộc 27 bộ, trong đó có 36 loài ghi trong sách đỏViệt Nam Rừng Lâm Đồng đã tạo nên một quần thể, có sức thu hút khách dulịch trong và ngoài nước đến thăm quan, thám hiểm và nghiên cứu
Tài nguyên thủy văn: Lâm Đồng là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống
sông suối lớn, nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phongphú, mạng lưới sông suối khá dày, mật độ trung bình 0,6 km/km2 Phần lớnsông suối chảy từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam Do đặc điểm địa hìnhđồi núi và chia cắt, nên hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ,ghềnh thác hùng vĩ, bên cạnh đó cũng có những hồ nước nổi tiếng trữ tình,thơ mộng (Phụ lục 8), là điều kiện để Tỉnh khai thác phát tiển du lịch
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư: Dân số của tỉnh Lâm Đồng tính đến cuối năm 2015 là 1.273.088
người, mật độ dân số đạt 130 người/km2, trong đó dân số sống tại thành thịkhoảng 496.157 người, dân số sống tại nông thôn khoảng 776.931 người Gồm
43 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm khoảng 77%, người K’Ho chiếm 12%,người Mạ chiếm 2,5%, người Nùng chiếm 2%, người Tày chiếm 2%, ngườiHoa chiếm 1,5%, người Chu Ru chiếm 1,5% còn lại là các dân tộc khác
Giáo dục - đào tạo: Giáo dục Lâm Đồng đạt mức trung bình cả nước Từ
năm 2006, Tỉnh đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Hiện nay, trên địabàn Tỉnh có 02 trường Đại học, 04 trường cao đẳng (có mã ngành đào tạo
Trang 18chuyên ngành du lịch), 01 trường Cao đẳng chuyên ngành Du lịch, hàng nămcung cấp hàng nghìn lao động du lịch cho địa phương.
Cơ sở hạ tầng: Lâm Đồng có hệ thống giao thông đường bộ phân bố
đều khắp, theo số liệu thông kê năm 2015, hệ thống giao thông đường bộ trênđịa bàn Tỉnh có tổng chiều dài khoảng 8510,76 km gồm: 19,2 km đường caotốc; 453,5 km đường quốc lộ; 400,7 km đường tỉnh, 616,84 km đường đô thị;khoảng 7020,6 km đường huyện và đường giao thông nông thôn Ngoài hệthống đường bộ, Tỉnh có sân bay quốc tế Liên Khương, tạo điều kiện khá thuậnlợi cho việc đi lại, lưu thông hàng hóa và liên kết phát triển với các địa phươngkhác trong nước cũng như hợp tác quốc tế Lâm Đồng còn có ngành bưu chính
- viễn thông phát triển, cùng với nguồn điện năng phong phú là điều kiện cơbản để Tỉnh phát triển KT - XH và TKDL
Di tích lịch sử, văn hóa và khảo cổ: Trong hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Lâm Đồng đã đoàn kết cùng nhândân cả nước làm đấu tranh và những chiến thắng vẻ vang, các khu căn cứcách mạng như: Lộc Bắc, chiến khu D, khu căn cứ cách mạng Núi Voi, khucăn cứ cách mạng Xuân Trường… là những di tích thăm quan quý giá LâmĐồng cũng là địa phương có nhiều di tích lịch sử văn hóa và khảo cổ Theothống kê năm 2010, toàn Tỉnh có khoảng 100 di tích, mật độ bình quân 01 ditích trên 100km2 Những di tích khảo cổ có giá trị về mặt du lịch điển hình như:Khu Thánh địa Bà La Môn Cát Tiên, Khu mộ cổ của dân tộc Mạ…
Công trình tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật: Một trong những tài nguyên du
lịch độc đáo của Đà Lạt - Lâm Đồng là kiến trúc cảnh quan của một thành phốcao nguyên Thiên nhiên Đà Lạt vốn là một cảnh quan tự nhiên đẹp, nhưng khiđược kết hợp với những công trình sáng tạo của con người thì nó thực sự trở nênhoàn mỹ và có sức hấp dẫn đặc biệt Về nhân tố này, trước hết phải kể đến cáccông trình kiến trúc tôn giáo như: Nhà thờ Con Gà, Nhà thờ Cam Ly, Chùa LinhSơn, Chùa Linh Phước, Thiền viện Trúc lâm… xen kẽ với đó là các công trình
Trang 19kiến trúc có giá trị như: Dinh Bảo Đại (gồm: Dinh I, Dinh II, Dinh III), Biệt điệnTrần Lệ Xuân, Ga Đà Lạt… Một điều khác biệt ở Đà Lạt, là nơi đây có tới hàngtrăm ngôi biệt thự cổ nằm rải rác trên những đồi thông khắp thành phố, với nhữngnét kiến trúc mang đặc trưng phong cách Pháp, tạo cho du khách một cảm giácmới lạ khi đến với thành phố này.
Lễ hội, văn hóa dân gian: Du khách đến với Lâm Đồng, ngoài việc được
thưởng ngoạn các danh thắng nổi tiếng, khí hậu mát mẻ, còn có dịp ghé thăm cácbuôn làng của đồng bào các dân tộc ít người như: K’ho, Churu, M’nông, Mạ… vàtìm hiểu các phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, đặc sắc của dân tộc TâyNguyên như: Lễ hội cồng chiêng, Lễ cúng cơm mới, Lễ hội đâm trâu… Ngoài các
lễ hội truyền thống trên, trong những năm gần đây một số lễ hội khác được tổ chứchết sức công phu và dần trở thành lễ hội truyền thống của Tỉnh như: Lễ hội văn hóatrà, Festival Hoa Đà Lạt thu hút một lượng lớn du khách trong nước và quốc tế đếnthăm quan, tìm hểu
Nghề thủ công truyền thống: Lâm Đồng cũng là nơi tập trung các làng
nghề thủ công truyền thống như: nghề dệt thổ cẩm (các huyện Lạc Dương,Đức Trọng, Cát Tiên, Bảo Lâm, Bảo Lộc), nghề thêu móc (thành phố Đà Lạt,Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, Bảo Lâm); nghề ươm tơ, dệt lụa (huyện Lâm Hà,
Di Linh, thành phố Bảo Lộc) hay các nghề thủ công bị thất truyền đang đượckhôi phục như: nghề chạm bút lửa (Đà Lạt); xâu chuỗi hạt cườm đá (LạcDương); đúc vòng tay, vòng cổ của người S’rê Thành phố Đà Lạt cũng lànơi tập trung nhiều nghệ nhân nghề thêu (XQ), nghề chạm khắc gỗ tinh xảo
đã tạo ra hàng trăm loại sản phẩm lưu niệm có giá trị mà bất cứ du khách nàokhi đến Lâm Đồng cũng muốn mua về làm quà kỷ niệm
Có thể nói, Tài nguyên du lịch Lâm Đồng đa dạng phong phú về cả tựnhiên và nhân văn, là tiền đề quan trọng để Tỉnh đầu tư phát triển KTDL.Tuy nhiên bên cạnh đó du lịch Lâm Đồng cũng đứng trước nhiều khó khăn
thách thức đòi hỏi phải được tháo gỡ: Thứ nhất, thiếu nguồn vốn vẫn là vấn
Trang 20đề nan giải của du lịch Tỉnh Là một tỉnh nghèo, thu nhập của người dâncòn thấp nên việc huy động vốn trong nhân dân cũng gặp nhiều khó khăn;
thứ hai, nhận thức cộng đồng dân cư nhất là ở vùng sâu vùng xa, của đồng bào dân tộc ít người về phát triển du lịch còn thấp; thứ ba, đội ngũ cán bộ
nhân viên phục vụ du lịch còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng
1.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lâm Đồng trước năm 2006
Phát triển KTDL, đã được Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng sớm quan tâm lãnh đạo,đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh LâmĐồng lần thứ VI (1996), xác định “tập trung đầu tư xây dựng kinh tế du lịch trởthành ngành kinh tế quan trọng” [8, tr.89] Trên cơ sở đó, trong nhiệm kỳ VI
Tỉnh đã có Nghị quyết số 02/NQ-TU, Về một số chủ trương quản lý, khai thác danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Trong nhiệm kỳ khóa VII (2001), Tỉnh tiếp tục có Nghị quyết số 03/NQ-TU (2001), Về phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 2001 - 2005 và định hướng đến năm 2010 Đồng
thời đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, cá nhân kinhdoanh du lịch trên địa bàn triển khai thực hiện có hiệu quả
Thứ hai, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế du lịch bước
Trang 21đầu được chú trọng đầu tư, mở rộng
Từ trước năm 2006, cùng với quá trình đầu tư phát triển KT - XH, thì hệthống hạ tầng, kỹ thuật như: Giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc đãđược Đảng bộ tỉnh quan tâm đầu tư phát triển Theo số liệu báo cáo hạ tầng
du lịch năm 2005, hệ thống giao thông đường bộ được đầu tư đều khắp,đường ô tô đã đến được 97% các điểm du lịch, sân bay Liên Khương đã mởtuyến bay thẳng từ Đà Lạt đến Hà Nội và ngược lại góp phần tăng lượngkhách từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc Tỉnh cũng đã không ngừng nâng cấp,xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch Năm 2001, toàn Tỉnh có
400 cơ sở lưu trú với tổng số 4.800 phòng đến năm 2005 số lượng cơ sở lưutrú tăng lên 690 cơ sở, với tổng số 8000 phòng Tốc độ tăng trưởng trung bìnhđạt 12,63% về cơ sở lưu trú và 15,81% về số phòng Cơ sở vật chất, trangthiết bị các cơ sở lưu trú cơ bản được cải tiến, nâng cấp và bổ sung thêm cácdịch vụ Các khu, điểm du lịch, dịch vụ du lịch cũng đã được Tỉnh quan tâmđầu tư, nâng cấp và cải tạo nên đã có chuyển biến tích cực cả về số lượng vàchất lượng
Thứ ba, công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực du lịch ngày càng được củng cố và đi vào hoạt động hiệu quả
Thể hiện: Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển KTDL đãđạt được những kết quả đáng kể, ngoài việc quy hoạch tổng thể, Tỉnh đã chútrọng đến việc quy hoạch chi tiết ở các khu du lịch để gọi vốn đầu tư
Công tác xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch trong và ngoài nước bướcđầu được quan tâm, nhiều sự kiện được tổ chức như: Kỷ niệm 110 năm ĐàLạt hình thành và phát triển (năm 2004), Festival Hoa Đà Lạt (năm 2005)
đã thu hút một lượng lớn khách du lịch nội địa và quốc tế đến với địa phương
Cơ chế chính sách thu hút đầu tư từng bước được cải thiện, tạo điều kiệnthu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư phát triển KTDL
Thứ tư, kinh tế du lịch của Tỉnh bước đầu đạt được những kết quả quan trọng, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người dân
Trang 22Theo thống kê của Sở Thương mại và du lịch Lâm Đồng, trong giaiđoạn 2000 - 2005, lượng khách du lịch đến với Lâm Đồng tăng ở mức khá,năm 2000 đạt 710.000 lượt khách (trong đó có 69.580 lượt khách quốc tế),đến năm 2005 đạt 1.560.972 lượt (trong đó có 100.657 lượt khách quốc tế);tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về khách du lịch đạt 17,2% Thời gianlưu trú bình quân tăng từ 2,1 ngày/năm 2001, lên 2,3 ngày/năm 2005 Lượngkhách du lịch tăng cao, doanh thu từ KTDL của Tỉnh cũng đã được nâng lênđáng kể, năm 2000 tổng thu nhập xã hội từ KTDL đạt 355,0 tỷ đồng, đến năm
2005 tổng thu nhập xã hội từ KTDL đạt 1,405 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởngbình quân là 25,65%
Giai đoạn 2000 - 2005, trên địa bàn Tỉnh có sự tăng trưởng đột biến vềlực lượng lao động trong ngành Du lịch Nguyên nhân chủ yếu là do chínhsách mở cửa, khuyến khích tham gia hoạt động kinh doanh du lịch của Tỉnh.Theo số liệu niên giám thông kê tỉnh Lâm Đồng 2005, số lao động làm du lịchđạt con số 10.700 người Cùng với sự tăng lên về số lượng, thì chất lượng laođộng bước đầu cũng đã được Đảng bộ tỉnh quan tâm đào tạo, bồi dưỡng
* Nguyên nhân ưu điểm
Thứ nhất, có sự nỗ lực, chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền các
ban ngành và địa phương của Tỉnh trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thựchiện phát triển KTDL
Thứ hai, hoạt động KTDL ngày càng được các doanh nghiệp và người
dân quan tâm và tham gia đầu tư, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa KTDL
Thứ ba, Lâm Đồng là tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài
nguyên du lịch nhân văn phong phú, đa dạng, có sức hấp dẫn cao đối với dukhách trong nước và quốc tế Trong những năm qua, việc phát triển KTDL ở tỉnhLâm Đồng đã nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên và có hiệu quả củaĐảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương cũng như sự liên kết, hợp tác tích cựccủa các địa phương trên cả nước
* Hạn chế
Trang 23Thứ nhất, KTDL phát triển chưa vững chắc, chưa tương xứng với tiềm
năng của địa phương và còn tụt hậu so với nhiều địa phương khác trong cả nước
Là ngành kinh tế tổng hợp, nhưng quá trình phát triển chưa có sự phối hợpchặt chẽ giữa các cấp, các ngành và địa phương Đầu tư cho phát triển KTDLcòn hạn chế, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng phát triển chưa cânđối: chủ yếu mới tập trung phát triển hạ tầng, vật chất kỹ thuật chưa chú trọngđầu tư để tạo ra các dịch vụ, các sản phẩm du lịch mới
Thứ hai, chất lượng các sản phẩm du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu thị
hiếu của du khách, loại hình sản phẩm còn nghèo nàn, khả năng cạnh tranhthấp Hầu hết các khu du lịch, điểm du lịch còn khai thác ở dạng tự nhiên,chưa chú trọng đầu tư tôn tạo
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực KTDL còn
hạn chế cả về chuyên môn và trình độ ngoại ngữ, chưa đáp ứng được nhu cầucủa du khách đặc biệt là các thị trường khách quốc tế; công tác đào tạo, đàotạo lại đội ngũ lao động trong ngành du lịch chưa được quan tâm đúng mức
Thứ tư, công tác quản lý còn những yếu kém nhất định: công tác phối kết
hợp triển khai thực hiện các đề án quy hoạch du lịch còn nhiều bất cập, quản
lý sau quy hoạch chưa tốt; chưa kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắctrong đầu tư kinh doanh du lịch
* Nguyên nhân hạn chế
Thứ nhất, tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, cạnh tranh về
thu hút vốn đầu tư, thu hút khách du lịch diễn ra gay gắt đã ảnh hưởng đến sựphát triển KTDL của cả nước nói chung và KTDL của tỉnh Lâm Đồng nóiriêng
Thứ hai, nhận thức của một bộ phận các cấp, các ngành và nhân dân
trong việc xác định KTDL là ngành kinh tế quan trọng đối với nền kinh tế củaTỉnh chưa thật sâu sắc, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp để phát triển KTDLcủa địa phương
Thứ ba, hành lang pháp lý tạo điều kiện cho phát triển KTDL, còn đang
Trang 24trong quá trình xây dựng nên thiếu đồng bộ Cơ chế chính sách chưa đầy đủ,thủ tục hành chính còn rườm rà, gây ra những khó khăn cho các nhà đầu tư.
1.1.4 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
về phát triển kinh tế du lịch
* Quan điểm
Một là, phát triển kinh tế du lịch phải bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường
Chỉ thị 46-CT/TW của Ban Bí thư nêu rõ: “Hoạt động kinh tế du lịchphải đồng thời đạt hiệu quả trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn và pháthuy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và nhân phẩm con người ViệtNam ” [2, tr.2] Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu: “Kết hợpkinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh theo phương châm: phát triển kinh tế
- xã hội là nền tảng để bảo vệ Tổ quốc; ổn định chính trị, củng cố quốc phòng,
an ninh vững mạnh là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội” [17, tr.227].Đây là quan điểm nhất quán của Đảng trong phát triển các ngành kinh tế nóichung và phát triển KTDL trong giai đoạn 2006 - 2010
Hai là, phát triển kinh tế du lịch phải đặt trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao
Đây là quan điểm được khẳng định trong Chỉ thị 46-CT/TW của Ban Bíthư: “Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hộihóa cao” [2, tr.2] Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Đảngđặt ra yêu cầu: “Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch
để đầu tư phát triển ” [3, tr.187] Quan điểm này khẳng định KTDL là ngànhkinh tế tổng hợp, có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, giữ các vùng và gắnchặt với đời sống xã hội
Ba là, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh
tế quốc dân
Trang 25Quan điểm này được nêu rõ trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010 của Đảng: “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn” [3, tr.187], và tiếp tục được Đảng khẳng định trong Đại hội X(2006) Đây là quan điểm định hướng lâu dài, là chìa khóa để phát triểnKTDL, cũng như khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của KTDL
* Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, Đảng xác định:
“Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,truyền thống văn hóa, lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triểnnhanh, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực” [3, tr.178] Đây làmục tiêu xuyên suốt trong phát triển KTDL của Đảng giai đoạn 2006 - 2010
* Nhiệm vụ và giải pháp
Một là, tập trung đầu tư du lịch và phát triển các sản phẩm du lịch
Văn kiện Đại hội X (2006) của Đảng chỉ rõ: “Khuyến khích đầu tư pháttriển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch, đa dạng hoá sảnphẩm và các loại hình du lịch” [17, tr.202] Theo đó, ngành Du lịch phải chủđộng phối hợp với các ngành liên quan trong xây dựng, thực hiện các kếhoạch phát triển và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là mạng lưới
hạ tầng giao thông Phải xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịchphù hợp với xu hướng thị trường và có sức cạnh tranh trong khu vực
Hai là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực du lịch
Trang 26Trong giai đoạn 2006 - 2010, một trong những nội dung quan trọngđược Đảng xác định là: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế trithức” [17, tr.187] Để phát triển nguồn nhân lực du lịch, Chương trìnhhành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2006 - 2010, xác định tập trungvào những vấn đề như: Xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo; phát triển độingũ giảng viên, đào tạo viên du lịch; đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, tăngcường năng lực quản lý của các cơ sở đào tạo du lịch; phát triển chươngtrình giáo trình, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
du lịch; thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội, thu hút sự tham của cácdoanh nghiệp trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch
Ba là, thực hiện tốt công tác xúc tiến, quảng bá du lịch
Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch có vai trò rất quan trọng đới với pháttriển du lịch Chỉ thị 46-CT/TW của Ban Bí thư chỉ rõ phải “đa dạng hóa, đaphương hóa quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch nhằm đẩy mạnhtuyên truyền quảng cáo du lịch ra nước ngoài, thu hút khách và vốn đầu tưnước ngoài, tranh thủ công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý để pháttriển du lịch” [2, tr.1] Đề cập đến vấn đề này, Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001 - 2010 nêu rõ: “Đầu tư thích đáng cho việc truyền bá ở trongnước giới thiệu đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với thế giới” [3,tr.210] Để quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ra thi trường quốc tế, ngành
Du lịch cần nghiên cứu, đầu tư nâng cao chất lượng công tác xúc tiến quảng
bá du lịch; sử dụng đa dạng các công cụ tuyên truyền, quảng bá du lịch, trong
đó đặc biệt chú ý vai vai trò của internet; xây dựng và hoàn thiện cơ chế tiếpnhận và sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ cho công tác xúc tiến, quảng bá dulịch; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến, quảng bá dulịch ở trung ương và các địa phương
Bốn là, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với việc phát triển kinh tế du lịch
Công tác quản lý của nhà nước đối với phát triển KTDL, là nội dung
Trang 27rất quan trọng, Chỉ thị 46 - CT/TW của Ban Bí yêu cầu: “Các cơ quan nhànước cần tăng cường việc quản lý; ban hành, sửa đổi, bổ sung các chínhsách, luật pháp về công tác du lịch, phù hợp với yêu cầu phát triển tronggiai đoạn mới, bảo đảm có hiệu quả kinh tế cao, giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc ” [2, tr.3] Trong giai đoạn 2006 - 2010, việc tăngcường công tác quản lý nhà nước trong đầu tư phát triển kinh tế du lịchđược ngành Du lịch hết sức quan tâm Chương trình hành động quốc gia về
du lịch giai đoạn 2006 - 2010 và Chương trình hành động quốc gia khi ViệtNam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) giai đoạn 2007 - 2012,đều nhấn mạnh: Phải tiến hành rà soát hệ thống văn bản pháp luật du lịchhiện hành, loại bỏ những quy định chồng chéo; soạn thảo các văn bản quyphạm pháp luật cụ thể, phù hợp, để đảm bảo môi trường kinh doanh du lịchthông thoáng; sửa đổi các thủ tục hành chính để loại bỏ các thủ tục, giấy tờkhông cần thiết cản trở việc đầu tư phát triển du lịch; tiếp tục hoàn thiện dựthảo văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Du lịch theohướng đẩy mạnh phân cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển KTDL trong tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển kinh tế
du lịch (2006 - 2010)
Quán triệt chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triểnKTDL, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII(2006 - 2010) đã xác định: “Đầu tư phát triển kinh tế du lịch trở thành ngànhkinh tế động lực” [10, tr.42] Để cụ thể hóa chủ trương trên, ngày 21/9/2006
Tỉnh ủy Lâm Đồng ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU, Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế du lịch - dịch vụ du lịch giai đoạn 2006 - 2010, trong đó đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp phát triển KTDL của Tỉnh như sau:
* Quan điểm
Một là, huy động mọi nguồn lực để tăng tốc phát triển kinh tế du lịch của địa phương
Trang 28Để tăng tốc phát triển KTDL cần huy động một nguồn lực rất lớn, vìvậy Đảng bộ Tỉnh xác định: “Phát huy triệt để nội lực, đồng thời tranh thủtối đa ngoại lực để tạo sự đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế du lịch của địaphương” [66, tr.4] Đây là quan điểm cơ bản được Đảng bộ tỉnh Lâm Đồngkhẳng định xuyên suốt trong quá trình phát triển KTDL, nhằm huy độngtổng hợp mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong Tỉnh, tranh thủcác nguồn lực đầu tư trong nước và ngoài nước để đầu tư phát triển, làmbật dậy tiềm năng du lịch, từng bước đưa KTDL trở thành ngành kinh tếđộng lực trong chiến lược phát triển KT - XH, góp phần thực hiện sựnghiệp CNH, HĐH của Tỉnh nhà
Hai là, phát triển nhanh nhưng phải đảm bảo tính bền vững
Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm nhất quán trong sự nghiệpđẩy mạnh CNH, HĐH của Đảng Phát triển nhanh và bền vững có mốiquan hệ biện chứng và bổ sung cho nhau, thúc đẩy sự phát triển có hiệuquả Đây cũng là xu thế trong chủ trương phát triển kinh tế nói chung vàphát triển KTDL nói riêng ở tỉnh Lâm Đồng Phát triển nhanh là nhằm khaithác lợi thế về du lịch của Tỉnh đem lại nguồn thu ngân sách, đóng góp vào
sự phát triển KT - XH của địa phương Đồng thời với phát triển nhanh phảibảo đảm tính bền vững, giữ gìn tài nguyên môi trường Chú trọng tôn tạo,bảo vệ, sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môitrường đảm bảo cho quá trình phát triển lâu dài Đây là quan điểm nhấtquán của Đảng bộ Tỉnh trong phát triển KTDL giai đoạn 2006 - 2010:
“Phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên thiênnhiên, đi đôi với bảo vệ, giữ gìn môi trường du lịch và bản sắc văn hóa của
các dân tộc trong Tỉnh” [66, tr.4].
Ba là, phát triển kinh tế du lịch phải đặt trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao
Trang 29Kinh tế du lịch, là ngành đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ, có tính liênngành vì các ngành nghề kinh doanh trong du lịch rất đa dạng, phong phú,liên quan đến hầu như tất cả các ngành kinh tế của địa phương Hơn nữa cácloại hình, các sản phẩm du lịch tiếp cận đến tất cả các mặt của đời sống xãhội, đối tượng phục vụ của ngành du lịch là mọi thành phần trong xã hội Phát triển KTDL nhất định phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các vùng,
có như vậy mới đảm bảo cho phát triển ổn định, vững chắc cả trước mắt vàtương lai Tính liên vùng trong phát triển KTDL thể hiện trong mọi khâu,bước của hoạt động du lịch, song rõ nét nhất là ở việc quy hoạch phát triểnsản phẩm và quy hoạch không gian phát triển Quy hoạch sản phẩm và khônggian phát triển hợp lý cho phép khai thác, phát huy hết tiềm năng, thế mạnhcủa mỗi vùng và liên vùng, tạo nên những khu, điểm du lịch có tầm cỡ
Quan điểm xã hội hóa trong phát triển KTDL, cho phép Tỉnh huy độngtổng thể các nguồn lực của địa phương cũng như trong nước và quốc tế cho đầu
tư phát triển KTDL Phát huy vai trò, tự chủ, năng động của từng doanh nghiệp
và toàn thể nhân dân, phát huy trách nhiệm chung của toàn xã hội, mặt khác,tranh thủ được vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm trong quản lý Đảng bộtỉnh Lâm Đồng nhất quán quan điểm “Phát triển kinh tế du lịch phải đảm bảotính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, kinh tế du lịch du lịch là động lực
để thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển và ngược lại” [66, tr.4]
* Mục tiêu
Mục tổng quát
Xây dựng Đà Lạt trở thành một trung tâm du lịch chất lượng cao của cảnước và khu vực Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triểncác loại hình du lịch có lợi thế của địa phương như du lịch sinh thái,nghỉ dưỡng - chữa bệnh, hội nghị - hội thảo đi đôi với đẩy mạnh pháttriển các cơ sở nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo; phát triển du lịchgắn với việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bản địa; phát
Trang 30triển nhiều sản phẩm, dịch vụ thúc đẩy tiêu dùng, tạo việc làm, gópphần nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn,vùng sâu, vùng xa [66, tr.4].
Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở nhận định: Giai đoạn 2006 - 2010, lượng khách du lịch tăng bìnhquân hằng năm từ 15 - 17%, Đảng bộ Tỉnh đó đặt mục tiêu: “Đến năm 2010, Tỉnhđón trên 3 triệu lượt khách, tăng gấp 2 lần so với năm 2005, trong đó khách quốc
tế đạt từ 300.000 đến 500.000 lượt Tăng thời gian lưu trú của khách lên 2,5 - 2,7ngày; tổng sản phẩm dịch vụ và du lịch chiếm tỷ trọng trên 50% GDP” [66, tr.5].Xây dựng và đưa vào khai thác các công trình trọng điểm về du lịch và pháttriển mạnh các khu du lịch hiện có của Tỉnh: “Phấn đấu có trên 10 khu, điểm thamquan du lịch được đầu tư, nâng cấp theo chủ đề để thu hút khách” [66, tr.5]
Nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở lưu trú đảm bảo: “Đến năm 2010 cókhoảng 15.000 - 17.000 phòng, trong đó có ít nhất 1.500 phòng đạt tiêu chuẩn từ 3đến 5 sao” [66, tr.5]
Đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2010: “Nguồn nhân lực của ngành du lịchtăng gấp 3 lần so với năm 2005, đạt 15.000 lao động trực tiếp và trên 30.000 laođộng gián tiếp” [66, tr.5]
Hai là, “tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh
tế du lịch” [66, tr.6] Tập trung huy động các nguồn lực của Tỉnh, tranh thủ sự
Trang 31hỗ trợ của Trung ương và các nguồn vốn ngoài ngân sách để tiếp tục hoàn thiện
hạ tầng giao thông, đưa vào khai thác hệ thống giao thông liên tỉnh phục vụ choyêu cầu liên kết, phát triển KTDL giữa Tỉnh với các địa phương khác Nângcấp hệ thống giao thông nội tỉnh, nội thị nhằm đáp ứng nhu cầu dân sinh và tạođiều kiện thuận lợi cho phát triển KTDL Đẩy nhanh tiến độ nâng cấp sân bayLiên Khương, đường cao tốc Liên Khương - Đà Lạt; hiện đại hóa và nâng caochất lượng phục vụ của các dịch vụ viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm,điện, cấp thoát nước tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KTDL
Ba là, “đa dạng hóa sản phẩm du lịch, từng bước hình thành các sản phẩm đặc thù của địa phương” [66, tr.6] Tập trung đầu tư phát triển các loại
hình du lịch như: du lịch kết hợp khám chữa bệnh, điều dưỡng; du lịch gắn vớigiáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học; du lịch gắn với trung tâm huấn luyện thểthao, trung tâm công nghệ thông tin; du lịch tham quan sinh thái gắn với thể thaomạo hiểm, chinh phục thiên nhiên, kết hợp tham quan các di tích lịch sử cáchmạng, di chỉ khảo cổ
Khai thác các tuyến du lịch có nhiều tiềm năng như: “Con đường di sảnmiền Trung”, “con đường xanh Tây Nguyên”, “đường Hồ Chí Minh huyềnthoại và trở về chiến trường xưa”, liên kết du lịch Lâm Đồng với các tỉnh TâyNguyên, đồng bằng Nam Bộ và khu vực Duyên hải miền Trung
Bốn là, “chú trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch”
[66, tr.7] Hằng năm xây dựng kế hoạch cụ thể đồng thời hỗ trợ kinh phí chocông tác đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực du lịch Có chính sách khuyếnkhích các doanh nghiệp thuê chuyên gia trong và ngoài nước có trình độchuyên môn, khả năng quản lý tốt để quản lý, đào tạo, huấn luyện đội ngũnguồn nhân lực du lịch
Năm là, “tổ chức tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến quảng bả về du lịch”
[66, tr.8] Chú trọng công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch LâmĐồng đến các thị trường trong nước và quốc tế Thành lập văn phòng đại diện
Trang 32trung tâm xúc tiến du lịch, thương mại và đầu tư ở một số thị trường nướcngoài để hỗ trợ công tác xúc tiến đầu tư đạt hiệu quả cao
Tổ chức tốt các sự kiện Festival Hoa theo định kỳ, đồng thời phối hợp với các
cơ quan liên quan tổ chức các sự kiện chuyên đề hàng năm để tạo tính liên tục, sôiđộng của một tỉnh du lịch qua đó thu hút du khách và các nhà đầu tư du lịch
Sáu là, “giữ gìn, khôi phục và nâng cấp môi trường cảnh quan, xây dựng
môi trường kinh doanh du lịch lành mạnh” [66, tr.9] Thực hiện có hiệu quảcông tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp,các ngành, doanh nghiệp, người dân và du khách trong tham gia bảo vệ môitrường, cảnh quan Quản lý chặt chẽ những hoạt động KTDL và hoạt động
KT - XH khác có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan thiênnhiên; kịp thời có biện pháp khắc phục, tôn tạo nâng cấp các tài nguyên có dấuhiệu hư hỏng, xuống cấp
Bảy là, “nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về du lịch” [66,
tr.9] Củng cố, kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý du lịch, dịch vụcác cấp Chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp chặt chẽ hơn nữa nhằm nângcao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về du lịch Làm tốt công táckiểm tra, giám sát nhằm bình ổn thị trường trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
và dịch vụ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh
1.3 Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo phát triển kinh tế du lịch (2006 - 2010)
1.3.1 Chỉ đạo xây dựng, triển khai thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế du lịch
Thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo công tác quy hoạch phát triển
du lịch của Chính phủ, Đảng bộ Tỉnh thường xuyên coi trọng thực hiện côngtác quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn, xem đây là lĩnh vực quan trọng,đem lại hiệu quả cho phát triển KTDL Trên cơ sở quán triệt Quyết định số
307/QĐ-TTg ngày 24 tháng 5 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ, Về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 - 2010;
Trang 33Quyết định số 762/QĐ-UB, Về quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Lâm Đồng giai đoạn 1996 - 2010, UBND Tỉnh đã ban hành quyết định số 781/QĐ-
UBND ngày 06/3/2007, chỉ đạo Sở VH,TT&DL phối hợp với các ban ngành
và địa phương liên quan hoàn thành các quy hoạch như: Quy hoạch các khuđiểm du lịch trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn thàng phố ĐàLạt, huyện Lạc Dương và huyện Đơn Dương; Quy hoạch Hồ Tiên - Núi voithuộc đề án xây dựng các khu du lịch sinh thái gắn với di tích lịch sử; quyhoạch làng văn hóa dân tộc Đăng-gia-rít (Lạc Dương), khu di tích lịch sử Khu
ủy khu VI Cát Tiên Đồng thời khẩn trương xây dựng quy hoạch chi tiết tạicác khu, điểm du lịch đặc biệt là các khu, điểm du lịch nằm ở vị trí trung tâmcủa Tỉnh như: Khu du lịch cửa ngõ Đà Lạt - đèo Mimoza - Prenn; khu du lịchCầu Đất - Xuân Trường (Đà Lạt); khu du lịch sinh thái và di tích cách mạngrừng Lộc Bắc (Bảo Lâm); điểm du lịch hồ Nam Phương 1 & 2 (Bảo Lộc);điểm du lịch hồ Tân Rai - Lộc Thắng để đưa vào danh mục kêu gọi đầu tư Ngày 05/5/2008, UBND Tỉnh ban hành văn bản số 3092/UBND, chỉ đạoviệc rà soát, đẩy nhanh tiến độ triển khai quy hoạch xây dựng tuyến du lịch dọctỉnh lộ ĐT.723 đoạn Đà Lạt - Đa Cháy, đồng thời bổ sung quy hoạch hệ thống cácđiểm dân cư nông thôn kết hợp du lịch trên trục đường này và giao cho Sở Xâydựng làm chủ đầu tư nhanh chóng hoàn thành trong các năm 2008 và 2009
Cùng với quá trình chỉ đạo hoàn thiện các quy hoạch trên, UBND Tỉnh đãphối hợp với Viện Quy hoạch phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch) tiến hành ràsoát, điều chỉnh tiến tới hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch LâmĐồng giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng cho các năm tiếp theo; tập trung đánhgiá chi tiết thực trạng các hoạt động du lịch như: số lượng khách du lịch, doanhthu từ du lịch, thời gian lưu trú của khách, lao động trong ngành du lịch, vốn đầu
tư, cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng du lịch để định hướng xây dựng quyhoạch tổng thể phát triển du lịch theo ngành và theo lãnh thổ
Về phát triển theo ngành, Tỉnh đặt ra yêu cầu: Phát triển KTDL phải đảmbảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường; quy hoạch
Trang 34phát triển KTDL phải phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội củaTỉnh và chiến lược phát triển của cả nước
Về phát triển theo lãnh thổ, Tỉnh thống nhất sẽ từng bước hình thành 3 cụm
du lịch và đưa ra định hướng cụ thể để tổ chức không gian du lịch đó là:
Cụm du lịch Đà Lạt và vùng phụ cận gồm: thành phố Đà Lạt và các huyệnLạc Dương, Đức Trọng, Đam Rông, Đơn Dương, Lâm Hà, trung tâm du lịch làthành phố Đà Lạt Các điểm du lịch có ý nghĩa quan trọng là: Khu du lịchĐankia - Đà Lạt, khu du lịch hồ Tuyền Lâm, khu du lịch Cam Ly - Măng Lin,khu du lịch hồ Đại Ninh, khu du lịch núi Langbiang, vườn quốc gia Bi Đúp -Núi Bà, hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Nhim, hồ Đạ Ròn, thung lũngTình yêu, thác Datanla, thác Prenn, thác Voi, thác Pongour, đèo Mimoza, đèoNgoạn Mục, khu di tích lịch sử cách mạng Núi Voi và nhiều thắng cảnh, côngtrình văn hóa, tôn giáo, kiến trúc, làng nghề
Cụm du lịch Bảo Lộc và phụ cận gồm thành phố Bảo Lộc và các huyện DiLinh, Bảo Lâm, trung tâm du lịch là thành phố Bảo Lộc Các khu, điểm du lịch
có ý nghĩa quan trọng là: Khu du lịch thác Đambri, hồ Lộc Thắng, hồ NamPhương, hồ Ka La, thác Tà Ngào, thác Liliang, thác Bobla, khu di tích lịch sửcách mạng Lộc Bắc, các vườn trà, vườn dâu, các buôn làng đồng bào dân tộc,các làng nghề truyền thống
Cụm du lịch các huyện phía Nam gồm các huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, CátTiên Các khu điểm du lịch có ý nghĩa quan trọng là: Vườn quốc gia Cát Tiên, khu
di chỉ khảo cổ Cát Tiên, khu di tích lịch sử căn cứ kháng chiến Khu VI - Cát Tiên,khu du lịch Mađaguôi - Suối Tiên, khu du lịch hồ Đạ Tẻh
Như vậy, bước tiến lớn của du lịch Lâm Đồng thời gian này là đã đưa rađược định hướng quy hoạch cụ thể cho từng vùng du lịch với các loại hình du lịchphù hợp để khai thác tốt nhất thế mạnh du lịch địa phương trong hiện tại và địnhhướng phát triển KTDL thời gian tiếp theo
1.3.2 Chỉ đạo đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng;
đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Trang 35Trong kế hoạch phát triển KT - XH giai đoạn 2006 - 2010, tỉnh Lâm Đồngxác định và tập trung chỉ đạo thực hiện 09 chương trình kinh tế trọng tâm, 11 côngtrình trọng điểm (Phụ lục 06), trong đó hầu hết đều có liên quan trực tiếp hoặcgián tiếp đến lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng du lịch trên cơ sở đó, hằng nămTỉnh đều xác định nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, cân đối nguồn lực để đầu tư cho cácchương trình, công trình này Ngoài ta, trong chương trình công tác hằng tháng,UBND đều có kế hoạch làm việc cụ thể với các cơ quan, đơn vị, địa phương liênquan, trực tiếp nắm tình hình, chỉ đạo giải quyết kịp thời những khó khăn, vướngmắc nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện.
Một trong những khó khăn của Tỉnh vẫn là nguồn vốn đầu tư cho pháttriển hạ tầng KTDL Từ năm 2001, thực hiện chủ trương tập trung đầu tư chophát triển hạ tầng du lịch theo Công văn số 1095CP-KHTH, ngày 28/11/2000của Văn phòng Chính phủ Hàng năm ngân sách nhà nước đã dành một khoản
để hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch cho các địa phương Giai đoạn 2006
-2010, tỉnh Lâm Đồng được Trung ương hỗ trợ 122,871 tỷ đồng để đầu tư xâydựng kết cấu hạ tầng du lịch Tận dụng các nguồn vốn trên, Tỉnh đã bố trínguồn vốn đối ứng của địa phương để đầu tư phát triển Đồng thời, Tỉnh đãtạm ứng nguồn ngân sách nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước để bố trí đầu tư:năm 2006, HĐND Tỉnh thông qua kế hoạch vay vốn từ các ngân hàng thươngmại 830 tỷ đồng để đầu tư và đã bố trí trực tiếp cho các dự án du lịch: Khu dulịch Đan Kia - Suối Vàng 200 tỷ, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm 150 tỷ, đườngcao tốc đoạn Liên Khương - Prenn 150 tỷ; năm 2007, Tỉnh tiếp tục làm việcvới Bộ Tài chính và được vay từ nguồn vốn nhàn rỗi trong 3 năm 2007, 2008,
2009 là 370 tỷ đồng, phục vụ cho công tác bồi thường, tái định cư và đầu tư
Trang 36minh bạch, đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợicho các nhà đầu tư triển khai dự án đầu tư đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ du lịch.Đồng thời để gắn trách nhiệm của các nhà đầu tư trong việc tổ chức thực hiệncác dự án du lịch, ngày 16/11/2008 UBND Tỉnh tiếp tục ban hành văn bản số7286/UBND, quy định cụ thể tiến độ triển khai dự án, đồng thời chỉ đạo các cơquan chuyên môn tăng cường kiểm tra tiến độ triển khai thực hiện các dự án đầu
tư, định kỳ hàng quý báo cáo tình hình và kiến nghị đề xuất cụ thể đối với từng
dự án, nếu nhà đầu tư vi phạm Tỉnh sẽ thu hồi dự án…
Việc tập trung các nguồn vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng du lịch giaiđoạn 2006 - 2010, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển KTDL Cụthể: sân bay Liên Khương đã mở thêm tuyến bay Lâm Đồng - Hà Nội, LâmĐồng - Đà Nẵng… thu hút được nguồn khách từ các tỉnh miền Bắc, miềnTrung; tuyến đường 723 Lâm Đồng - Khánh Hòa hoàn thành, đã rút ngắn cự
ly đến Khánh Hòa so với tuyến đường cũ gần 90 km và đã hình thành tamgiác du lịch Lâm Đồng - Khánh Hòa - Thành phố Hồ Chí Minh; tuyến quốc lộ
28 hoàn thành, đã rút ngắn cự ly từ Lâm Đồng đi Bình Thuận so với tuyếnđường cũ khoảng 120 km hình thành tam giác du lịch Lâm Đồng - BìnhThuận - Thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài những dự án trọng điểm, thì nhiều dự án du lịch nghỉ dưỡng kháccũng đã được triển khai và đưa vào hoạt động Hầu hết các dự án này đều tậptrung đầu tư, xây dựng, nâng cấp thành những khu nghỉ dưỡng cao cấp, đầy đủtiện nghi như: Khu nghỉ mát Ana Mandara Villas Đà Lạt; khu nghỉ dưỡngHoàng Anh - Đà Lạt… với các dịch vụ đa dạng như trung tâm hội nghị - hộithảo, trung tâm giao dịch, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí, câu lạc bộ thểthao, nhà hàng, hồ bơi…
Ngoài việc chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, việc đa dạnghóa các loại hình, sản phẩm du lịch được Đảng bộ Tỉnh quan tâm Đại hội Đảng
bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII (2006), nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển KTDL giaiđoạn 2006 - 2010 là: “Đầu tư tôn tạo, nâng cấp các khu du lịch, danh lam thắng
Trang 37cảnh và di tích lịch sử, phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ du lịch, đặc biệt là cáchoạt động văn hóa của các dân tộc nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tạo ưu thế cạnh
tranh của du lịch Lâm Đồng” [10, tr.47] Quá trình triển khai thực hiện, UBND Tỉnh đã cụ thể hóa thành các loại hình du lịch để tập trung đầu tư phát triển Kế
hoạch số 458/QĐ-UBND, đã xác định 3 loại hình du lịch trọng tâm cần tập đầu tưlà: “du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng - chữa bệnh; du lịch hội nghị - hội thảo đi đôi với
đẩy mạnh phát triển các cơ sở nghiên cứu khoa học; du lịch văn hóa [82, tr.2] Để
đảm bảo lựa chọn các lại hình trên, UBND Tỉnh đã chỉ đạo các cấp, trực tiếp là SởVH,TT&DL tiến hành điều tra đánh giá chính xác hiện trạng tài nguyên du lịch để
có hướng khai thác hợp lý; phân loại hệ thống dịch vụ, khách sạn các yếu kém của
hệ thống hiện tại để có kế hoạch khắc phục; quy hoạch các làng nghề truyềnthống; khuyến khích mở các điểm trưng bày, các của hàng kinh doanh hàng thủcông mỹ nghệ, đồ lưu niệm; liên kết với các địa phương phụ cận để phối hợp mởthêm các sản phẩm du lịch nhất là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Tây Nguyên,
du lịch hội nghị - hội thảo…
Từ năm 2008, thực hiện chủ trương cho phép khai thác du lịch dưới tánrừng của Chính phủ, Đảng bộ Tỉnh đã chỉ đạo các huyện Bảo Lâm, Đạ Tẻh, ĐứcTrọng và một số khu vực trên địa bàn thành phố Đà Lạt tập trung đầu tư thêmcác dự án du lịch sinh thái, du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng dưới tán rừngnhằm thu hút khách du lịch Nhiều loại hình du lịch mới cũng đã được Tỉnh đầu
tư xây dựng và đưa vào khai thác như: du lịch văn hoá dân tộc ít người với chủ
đề khảo cứu đồng quê, du lịch trang trại, nhà vườn… Một số sản phẩm du lịch
có giá trị độc đáo mang tính liên vùng, liên khu vực như tuyến du lịch "Conđường xanh Tây Nguyên”, tuyến du lịch “Con đường di sản miền Trung”, tuyến
du lịch “Theo dấu chân bác sĩ Yersin” được nghiên cứu phát triển để tăng sức
thu hút khách du lịch
Cùng với việc phát triển các sản phẩm du lịch mới, sản phẩm du lịch tại cáckhu, điểm du lịch như: Khu du lịch thác Prenn, khu du lịch Lang - Biang, khu du
Trang 38lịch Thung lũng Tình Yêu, khu du lịch thác Đạmb’ri, khu du lịch rừng Mađaguôi,khu du lịch Đồi Mộng Mơ cũng đã được Tỉnh chỉ đạo đầu tư nâng cấp, bổ sungthêm một số sản phẩm du lịch mới hấp dẫn, mang đậm nét Văn hóa truyền thống
các dân tộc Tây Nguyên Chất lượng môi trường tại các khu, điểm du lịch này
cũng được chú trọng cải thiện hơn, điều kiện trật tự an toàn xã hội được đảm bảo,chất lượng dịch vụ phục vụ ngày càng được nâng lên
1.3.3 Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế du lịch
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 - 2010 [54],xác định tổ chức đào tạo, đào tạo lại ngày càng tốt hơn cán bộ công nhân viên củangành du lịch dưới hình thức tại chỗ, chính quy trong nước và nước ngoài, đápứng yêu cầu trước mắt và lâu dài của ngành Du lịch Chương trình hành độngquốc gia về du lịch giai đoạn 2006 - 2010 và chương trình hành động của ngành
du lịch giai đoạn 2007 - 2012, khi Việt Nam gia nhập WTO xác định nâng caochất lượng nhân lực du lịch, tập trung vào bốn nội dung cơ bản: Xây dựng và triểnkhai chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch; phát triển các mạng lưới các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về du lịch; xây dựng tiêu chuẩn và thực hiện đào tạo theođịa chỉ và nhu cầu của xã hội; đổi mới công tác quản lý đối với đội ngũ cán bộngành du lịch
Quán triệt các nội dung trên, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KT
-XH nói chung và phát triển KTDL nói riêng, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đã luônquan tâm phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết số 06-NQ/TƯ, chỉ rõ phát triểnnguồn nhân lực du lịch đồng bộ cả về số lượng, chất lượng, từng bước chuyển hóachuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ, nhân viên du lịch, đưa ra mục tiêu:Đến năm 2010, 80% đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch từ cấptỉnh đến các địa phương, các đơn vị sự nghiệp được đào tạo, bồi dưỡngchuyên sâu về du lịch; 70% lao động phục vụ trực tiếp du lịch được đàotạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn và ngoại ngữ; 90% các cơ sở
Trang 39đào tạo du lịch xây dựng được chương trình giảng dạy đáp ứng được yêucầu thực tiễn [66, Tr.8].
Ngày 24 tháng 11 năm 2008, UBND Tỉnh ra Quyết định số
3159/QĐ-UBND, Phê duyệt đề án đào tạo, nâng cao và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015 và định hướng đến 2020, trong đó nêu rõ sự cần thiết
phải quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch; đánh giá chung về thực trạngnhân lực ngành du lịch; hiện trạng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực; hiện trạng liên kếtđào tạo phát triển nhân lực Đê án nhấn mạnh: “Đào tạo nguồn nhân lực trongngành du lịch có tính chuyên nghiệp cao, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bềnvững trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” [86, tr.7]
Thực hiện các văn bản chỉ đạo trên, Sở VH,TT&DL đã tích cực triển khainâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, trước tiên tập trung vào đội ngũcán bộ quản lý như bố trí những người có trình độ năng lực, chuyên mônnghiệp vụ, đảm đương các vị trí quan trọng Tiến hành kiện tọàn tổ chức và độingũ cán bộ quản lý Nhà nước văn phòng Sở Du lịch, các huyện, thị có trọngđiểm phát triển du lịch…
Việc xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
du lịch được quan tâm Hàng năm Sở VH,TT&DL phối hợp với các cơ sở dạynghề trong Tỉnh thống nhất chương trình đào tạo, lập phương án đào tạo, bồidưỡng trình UBND Tỉnh xem xét phê duyệt và tổ chức thực hiện, đảm bảo việcđào tạo, bồi dưỡng diễn ra theo đúng kế hoạch, đạt chất lượng, hiệu quả SởVH,TT&DL cũng được giao nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra để hỗ trợ các xã,phường, thị trấn nơi có điểm du lịch phối hợp với ngành du lịch và các cơ quan cóliên quan bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ du lịch, kiến thức bảo vệ môitrường sinh thái, phát triển du lịch bền vững…
Việc nâng cao chất lượng chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch là trách
là trách nhiệm chung của các cấp các ngành và của các doanh nghiệp, vì vậy, SởVH,TT&DL đã tham mưu UBND Tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo các doanh
Trang 40nghiệp xây dựng phương án phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
du lịch; đặt ra yêu cầu đến năm 2010 các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
du lịch phải chuẩn hóa đội ngũ lao động
Với sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện tương đối quyết liệt, giai đoạn 2006
-2010, chất lượng lao động trong ngành du lịch đã được cải thiện đáng kể: “đếnnăm 2010, có 15 % lao động đạt trình độ đại học, cao đẳng, 70% lao động đượcqua tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch, 20% lao động có chứng chỉ ngoại ngữ từtrình độ B trở lên” [67, tr.2]
1.3.4 Chỉ đạo giữ gìn, khôi phục và nâng cấp môi trường cảnh quan du lịch
Xác định rõ tầm quan trọng của môi trường cảnh quan trong việc duy trì,phát triển KTDL, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo các ngành, đơn vị triển khaihiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bềnvững ngành du lịch của Tỉnh, nhất là trong điều kiện du lịch hội nhập ngày càngcao Ngày11/8/2006, UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số
43/2006/QĐ-UB, Phê duyệt Đề án khôi phục, nâng cấp môi trường cảnh quan
Đà Lạt - Lâm Đồng định hướng đến 2010 và ra Thông báo số 75/TB-UBND
hướng dẫn thực hiện đề án UBND Tỉnh cũng đã ra các chỉ thị, quyết định về quản
lý, bảo vệ môi trường, tài nguyên du lịch bền vững trên địa bàn như: Chỉ thị
04/2006/CT-UB, Về thực hiện một số nội dung trọng tâm trong công tác bảo vệ môi trường du lịch; Quyết định số 59/2006/QĐ-UB, Ban hành quy định về trình
tự thủ tục và thẩm định báo cáo môi trường đối với các dự án đầu tư du lịch Nội
dung cụ thể yêu cầu các tổ chức, cá nhân quản lý và hoạt động sản xuất, kinhdoanh du lịch có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục và vận động bảo vệ môitrường đối với người làm việc tại các cơ sở du lịch, du khách và cộng đồng dân cưđịa phương; chấp hành việc kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường theo quyđịnh của pháp luật; có các biện pháp đảm bảo an toàn, an ninh, ứng phó phù hợp