Để làm tốt bài văn nói chung, văn biểu cảm nói riêng, thì trước hết học sinh phảiviết được đoạn văn thuần thục với nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào sởtrường, vốn từ ngữ, cách diễn đạt
Trang 12.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. 3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.3.1 Đặc điểm của đoạn văn biểu cảm. 5 2.3.2 Yêu cầu của đoạn văn biểu cảm. 7
2.3.3 Rèn kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm. 8
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. 14
Trang 2mối quan hệ với các môn học khác Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới cácmôn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn.Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học vớihành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống
Môn văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn: Văn học,Tiếng việt, Tập làm văn Trong thực tế dạy và học, Cố thủ tướng Phạm VănĐồng đã từng nói : “Dạy làm văn chủ yếu là dạy cho học sinh diễn tả cái gìmình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ chính xác, làm nổibật điều mình muốn nói” (Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Nghiên cứu giáo dục, số 28, 11/1973)
Trong năm học 2017 – 2018, tôi được phân công giảng dạy môn ngữ vănlớp 7B Tôi nhận thấy mặc dù biểu lộ tình cảm, cảm xúc là một nhu cầu thiếtyếu của con người nhưng đa số học sinh chưa biết cách bộc lộ cảm xúc củamình để “khơi gợi lòng đồng cảm nơi người đọc” Khi hành văn, các em còn lẫnlộn, chưa phân biệt rõ ràng, rạch ròi giữa văn biểu cảm với các thể loại văn khác
Để làm tốt bài văn nói chung, văn biểu cảm nói riêng, thì trước hết học sinh phảiviết được đoạn văn thuần thục với nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào sởtrường, vốn từ ngữ, cách diễn đạt của từng học sinh để lựa chon: quy nạp, diễndịch, song hành hay móc xích
Tạo kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là vấn đề hết sức quan trọngtrong việc tạo lập văn bản, giúp học sinh hình thành ý thức và nhân cách, tự tudưỡng, biết yêu thương, quí trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủnghĩa xã hội, biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thầntôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng từ đó rèncho các em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giátrị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật
Môn Tập làm văn được xem như vị trí cốt lõi trong mối tương quan chặtchẽ với Văn và Tiếng Việt Như vậy, chúng ta dạy Tập làm văn cho học sinh làdạy cho các em nắm vững văn bản, biết xây dựng các đoạn văn thông thường.Rèn luyện cho học sinh là rèn luyện cho các em các thao tác, những cách thức,những bước đi trong quá trình tạo lập văn bản Vì thế, cách xây dựng đoạn văntrong phân môn tập làm văn được coi như vị trí hàng đầu
Thông qua môn Tập làm văn, qua bài làm văn của mình, các em bộc lộnhững tri thức, vốn sống tư tưởng, tình cảm của cá nhân Vì thế người giáo viênphải biết nắm lấy ưu thế này để phát huy những khả năng của các em, đồng thời
Trang 3qua việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn giáo viên có dịp uốn nắn điều chỉnhnhững lệch lạc trong vốn sống, nhận thức, tư tưởng tình cảm - đặc biệt qua cácthể loại văn học mà các em sẽ học trong chương trình.
Trên đây là những lí do, vị trí, vai trò của việc xây dựng đoạn văn cho họcsinh THCS Từ những mặt tích cực, hạn chế trên tôi chọn đề tài: “ Rèn một số kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 trường THCS Thọ Thanh, Thường Xuân” Đây là vấn đề không mới, song nội dung, kiến thức lại rất cần
thiết, quan trọng phục vụ cho các giờ tập làm văn của học sinh THCS nhằm đạthiệu quả cao khi viết đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Trong quá trình giảng dạy tôi thấy để làm được, làm hay một đoạn vănđối với học sinh khá, giỏi đã là một việc khó, mà thực tế trong một lớp họckhông phải toàn học sinh khá giỏi Như vậy thì làm sao cho học sinh trung bình,yếu cũng có thể làm được một đoạn văn Đó là một vấn đề khó Vì thế tôi đã suynghĩ nhiều, cố gắng tìm ra một cách truyền đạt dễ hiểu nhất nhằm giúp học sinhnắm được lí thuyết, từ đó học sinh có thể vận dụng một cách phù hợp để làmmột đoạn văn đạt kết quả tốt nhất
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó Ý chính đó, có thể đứng ởđầu đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạphoặc ý chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành.Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình thứcnói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã tiếpthu được qua các môn Văn - Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để cóthể nói và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau màcuộc sống đặt ra cho các em
Trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp giúp các
em có thể hiểu và làm tốt một đoạn văn biểu cảm
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi nghiên cứu về vấn đề: “ Rèn một số
kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 trường THCS Thọ Thanh, Thường Xuân ”
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong sáng kiến kinh nghiệm tôi có sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu
Trang 4- Phương pháp kiểm tra, khảo sát
- So sánh – đối chiếu
- Phân tích – tổng hợp
- Thống kê – phân loại
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùiđầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xưống dòng và thường biểu đạt một ý tươngđối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành Đoạn văn thường có
từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đềmục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồngnghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung kháiquát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuốiđoạn văn (hay còn gọi là câu chốt) Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triểnkhai và làm rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành…Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiện liênkết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng Có nhiều phương tiện liên kết trongđoạn văn: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từthể hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát…,và dùng câu nối trongđoạn văn Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí,tạo tính chỉnh thể cho văn bản
Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhưng đồng thờichúng cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn Mặt khác,lại có những phương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựachọn các phương tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết, với
sự việc được phản ánh và tình huống giao tiếp cụ thể
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của họcsinh để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việcrèn luyện kĩ năng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng cho chương trìnhTHPT Mặc dù vậy, học sinh ở các trường THCS, phần lớn có khuynh hướngkhông thích học văn mà đặc biệt là phân môn tập làm văn Và vì thế nó đã ảnhhưởng rất nhiều đến việc tiếp thu, vận dụng sáng tạo các kĩ năng viết đoạn văncủa các em
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Qua thực tế dạy bộ môn Ngữ văn và theo khảo sát ở trường THCS Thọ
Trang 5Thanh, phần lớn các em học phân môn Tập làm văn còn yếu mà đặc biệt là cáchdựng đoạn văn khiến cho học sinh còn rất lúng túng Thường thì thời lượng quángắn mà kiến thức nhiều, nên học sinh không thể tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu.Phần lớn học sinh hiểu sơ sài về mặt lí thuyết, vì thế xác định đề bài, chủ đề và
bố cục đoạn văn càng bối rối Việc rèn kĩ năng viết được tiến hành trong các tiếtphân tích đề, dàn ý và dựng đoạn, liên kết đoạn từ thấp đến cao, từ một tiêu đề,một ý, một đoạn văn đến nhiều đoạn, cuối cùng là một văn bản hoàn chỉnh Khiviết còn chưa hiểu kĩ đề bài nên hay bị sai lệch Việc phân phối thời gian, sốlượng câu cho các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ chưa rõ ràng, cụ thể Cho nên, có nhiềutrường hợp viết thừa hoặc thiếu chưa xác định cụ thể đề tài, chủ đề của đoạnvăn Quá trình lập luận, trình bày chưa chặt chẽ, lô gíc và sinh động Chưa biếtvận dụng nhiều phương pháp liên kết trong một đoạn văn hoặc nhiều đoạn văn
Vì thế các đoạn văn thường hay đơn thuần, nhàm chán
Phần lớn học sinh chưa biết sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp với từng kiểuvăn bản Và đặc biệt là phong cách văn bản
Qua đề kiểm tra chất lượng học kì I Môn Ngữ Văn 7 Năm học 2017
-2018 (Đề của trường)
Phần t ự luận:
Cảm nhận của em sau khi đọc bài thơ "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh.
Tôi khảo sát thực tế bài làm của học sinh trong trường thấy rằng: Trên60% số học sinh chưa biết viết đoạn văn biểu cảm
Số học sinh có khả năng dựng đoạn và xử lí yêu cầu của đề bài trên 30%,
số học sinh đạt giỏi là rất ít - một con số đáng báo động trong việc học phânmôn Tập làm văn hiện nay trong nhà trường THCS Thọ Thanh
Bài làm của học sinh là kết quả của quá trình tiếp thu lí thuyết và rèn luyệncác kĩ năng viết văn của học sinh và là sự vận dụng tổng hợp các năng lực tưduy, trình độ, vốn sống, vốn ngôn ngữ và cả những cảm xúc và rung động thẩm
mĩ Cho nên, việc rèn luyện các kĩ năng cho học sinh là cả quá trình lâu dài, việctiến bộ của các em cũng chậm (không như các môn khoa học tự nhiên) Vì vậy,giáo viên không nên nóng vội mà phải rèn luyện cho học sinh tính kiên trì vàgiáo viên cũng cần kiên trì khi dạy cho học sinh Những tình trạng viết đoạn văn
ở trường THCS Thọ Thanh như trên là do nhiều nguyên nhân
Trước hết là nguyên nhân khách quan: nó phụ thuộc vào tư tưởng lậpnghiệp của học sinh sau này như thi vào các trường Cao đẳng, Đại học Ngữ văn
ít hơn các môn khác Và điều quan trọng nhất là cơ chế thị trường thực dụng,
Trang 6con người khô khan, kênh thông tin văn hoá nghệ thuật đa dạng, nhiều loại hìnhcuốn hút học sinh Hơn thế nữa phụ huynh lại định hướng cho con em mình theokhuynh hướng trên
Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nguyên nhân chủ quan là môn Tập làm vănkhó học, trừu tượng, học sinh không thích học, khó trở thành giỏi văn Hơn thếnữa nội dung, chương trình trong SGK còn quá tải, trình độ giáo viên chưa đápứng, chất liệu của môn Ngữ văn bị giảm sút vì đưa nhiều thể loại văn bản Nhậtdụng, văn bản Chính luận, văn bản Nghị luận vào, coi nhẹ giảng bình, giáo viêngiao nhiều bài tập, khó được điểm cao
Trên đây là tình trạng viết văn, dựng đoạn văn của học sinh trường THCSThọ Thanh và nó cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động.Cho nên chúng ta càng quan tâm nhiều hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làmvăn, đặc biệt là dạy một tiết dựng đoạn văn trong văn bản
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Đặc điểm của đoạn văn biểu cảm.
a Khái niệm Văn biểu cảm.
Văn biểu cảm là văn viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giácủa con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi ngườiđọc
Văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình, bao gồm các thể loại văn học như thơtrữ tình, ca dao trữ tình, tuỳ bút
Tình cảm trong văn biểu cảm thường là những tình cảm đẹp thấm nhuần tưtưởng nhân văn sâu sắc
Ngoài biểu cảm trực tiếp như tiếng kêu, lời than, đoạn văn biểu cảm còn sửdụng các biện pháp tự sự, miêu tả để khơi gợi tình cảm
( Sách giáo khoa - Ngữ Văn - 7 / Tập I - Trang 73)
b Đặc điểm của đoạn văn biểu cảm
- Mỗi đoạn văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu như yêuthiên nhiên, yêu loài vật, yêu con người, yêu thương trường lớp, bạn hữu, yêugia đình, yêu quê hương đất nước, ghét thói tầm thường, độc ác…
- Để biểu đạt tình cảm ấy, người viết có thể chọn hình ảnh có ý nghĩa ẩn
dụ, tượng trưng (một đồ vật, một loài cây cỏ, một danh lam thắng cảnh hay mộthiện tượng nào đó) để gửi gắm cảm xúc, ý nghĩ của mình, trang trải nỗi lòngmình một cách kín đáo hoặc nồng hậu, mãnh liệt, thiết tha
Trang 7Ví dụ: Băng Sơn qua văn bản Tấm gương đã lấy tấm gương làm ẩn dụ để
ca ngợi những đức tính tốt đẹp của con người của tình bạn trung thực, chânthành, thẳng thắn, không nói dối, không nịnh hót hay độc ác với bất cứ ai Đồngthời tác giả chỉ rõ có một gương mặt đẹp quả là hạnh phúc lúc soi gương; nếu cóthêm một tâm hồn đẹp đẽ để soi vào tấm gương lương tâm thì hạnh phúc mớithật trọn vẹn
(Ngữ Văn - 7 / Tr-84,85)
- Cũng như đoạn văn thuộc các thể loại khác, đoạn văn biểu cảm cũng có
bố cục ba phần
Mở đoạn : Có thể giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và không gian.
Cảm xúc ban đầu của người viết
Phát triển đoạn : Biểu lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết, sâu sắc Kết thúc đoạn : Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ của mình.
- Đoạn văn biểu cảm chỉ thực sự có giá trị khi tình cảm và tư tưởng hoàquện với nhau chặt chẽ Cảm xúc phải chân thật, trong sáng, tư tưởng phải tiến
bộ, đúng đắn Câu văn, lời văn, giọng văn phải có giá trị biểu cảm
- Trong văn biểu cảm, tình cảm con người đã qua suy nghĩ, khác với trạngthái, cảm xúc ( biểu hiện ra nét mặt cử chỉ)
- Có hai cách (lối) biểu cảm
Biểu cảm trực tiếp: Thông qua cách sử dụng các từ cảm : ôi, hỡi, tôi, ta…Tác dụng bộc lộ, biểu hiện tình cảm, thái độ đối với sự việc có liên quan Điềunày thấy rõ nhất trong thơ trữ tình, trong tuỳ bút, trong đối thoại nội tâm củanhân vật
Biểu cảm gián tiếp: Thông qua cách miêu tả cử chỉ, động tác, thái độ củanhân vật và tình cảm của người viết
Mặc dù vậy, biểu cảm trực tiếp, biểu cảm gián tiếp không đối lập nhau,không tách rời nhau mà cần được bổ sung cho nhau để giúp cho biểu cảm sâusắc tinh tế hơn
2.3.2 Yêu cầu của đoạn văn biểu cảm.
Cũng như các bài văn khác, đoạn văn trong văn biểu cảm cũng có nhữngyêu cầu cụ thể nhằm giúp học sinh nắm một cách khái quát về mặt hình thứccũng như nội dung đoạn văn biểu cảm Từ đó, các em mới có thể viết đoạn (xâydựng đoạn) đúng với yêu cầu Đoạn văn biểu cảm với việc nâng cao năng lựccảm thụ văn học của học sinh là những yêu cầu, nội dung liên quan mật thiết vớinhau
Trang 8Về mặt hình thức của đoạn văn : Yêu cầu trước hết là học sinh phải nắmđược dấu hiệu, qui ước khi viết đoạn văn biểu cảm:
Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòngđến chỗ chấm xuống hàng
Trước khi viết đoạn văn biểu cảm, giáo viên hướng dẫn cho các em tìmhiểu đề, xác định ý và từ việc xác định được ý chính của bài mà đi đến xây dựngcâu chủ đề Việc viết câu chủ đề đúng với ý chính đã tìm được ở trên sẽ giúphọc sinh định hướng cách lựa chọn nội dung trình bày theo cấu trúc diễn dịch,qui nạp hay các kiểu cấu trúc khác Đồng thời cũng định hướng cho các em lựachọn các phép liên kết, phương tiện liên kết, cách dùng từ ngữ cho phù hợp vớicảm xúc trong bài viết của mình
Câu chủ đề có thể đứng ở đầu đoạn (theo cấu trúc diễn dịch), có thể đứng ởcuối đoạn (theo cấu trúc qui nạp) v.v…Câu chủ đề phải mang nội dung khái quát,lời lẽ ngắn gọn, hàm xúc và thường đủ hai thành phần chính của câu : chủ ngữ và
vị ngữ Các câu còn lại trong đoạn văn có nhiệm vụ diễn giải, chứng minh, làm rõhoặc kết luận những cảm xúc đã thể hiện trong câu chủ đề
Các câu trong đoạn văn biểu cảm phải được liên kết với nhau một cách chặtchẽ bằng các phép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ- câu liên kết, hoặc cácmối quan hệ phụ thuộc, không phụ thuộc giữa các đoạn văn mở bài, thân bài, kếtbài
Đoạn văn phải có sự lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ trong sáng, chuẩn mực,giàu giá trị biểu cảm để gọi ra được cảm xúc, tình cảm của người viết, có sứcthuyết phục, lay động người đọc, người nghe Từ ngữ ấy phải thể hiện được thái
độ rõ ràng của người viết: đó là tình cảm buồn, vui, yêu ghét, hay thích thú…Cóthể biểu cảm trực tiếp hoặc biểu cảm gián tiếp hoặc kết hợp cả hai lối biểucảm…
Ví dụ 1 : Em thương con cò trong bài ca dao vì thân phận, vì cảnh ngộ, vìgieo neo mà phải đi ăn đêm Vạc mới đi ăn đêm, “con cò mà đi ăn đêm” là mộtnghịch lí đầy bi kịch Bi kịch ấy làm ta rơi lệ khi nghe tiếng kêu thảm thiết củacò:
…Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
(Bài làm của HS)
Ví dụ 2: “ Hình ảnh người dân chài mới đẹp làm sao:
“ Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng
Trang 9Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Vẻ đẹp của người lao động ở đây là vẻ đẹp khoẻ mạnh và tràn đầy sứcsống Có lẽ, biển cả vốn gần gũi thân yêu với họ đã cho họ vẻ đẹp cường tráng,đáng mến ấy
(Bài làm của HS)
Về mặt nội dung:
Đoạn văn biểu cảm thể hiện được các năng lực: Tri giác ngôn ngữ nghệthuật, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích, chứng minh, năng lực cảm xúcthẩm mĩ
(Trích: Giảng dạy Tập làm văn ở trường THCS - TS Lê Xuân Soan - Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh)
Trên đây là những yêu cầu cơ bản nhất để có thể giáo viên vận dụng văntrong nhà trường vào nghiên cứu soạn giảng Tập làm văn, đặc biệt là vận dụngvào các tiết thực hành Tập làm văn và làm văn trong trường THCS
2.3.3 Rèn kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 trường THCS Thọ Thanh.
Rèn các kĩ năng làm văn nói chung và viết đoạn văn biểu cảm nói riêngkhông chỉ xuất phát từ mục đích, yêu cầu của môn học (mang tính thực hànhtổng hợp cao) trong nhà trường THCS mà còn là trách nhiệm, nhiệm vụ củangười thầy giáo trong chương trình thay sách giáo khoa hiện nay Điều quantrọng nhất khi viết đoạn văn biểu cảm là học sinh nắm vững các thao tác, cáchthức trình bày đoạn văn biểu cảm, để từ các kĩ năng Tập làm văn phát triểnthành kĩ xảo, thói quen làm văn
Để thực hành những điều nói trên đây, chúng ta hãy thử kiểm chứng bằngmột ví dụ cụ thể sau:
Đề bài : Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao: “ Đêm qua ra đứng bờ ao”:
Đêm qua ra đứng bờ ao, Trông cá cá lặn, trông soa sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ, Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ? Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà, Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Trang 10Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.
(SGK Ngữ văn 7)
Trên đây là một bài văn biểu cảm về một bài ca dao Vì vậy, đề văn biểucảm bao giờ cũng nêu ra được đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm chobài viết Xác định rõ các bước làm văn biểu cảm: Tìm hiểu đề, tím ý, lập dàn ý,viết các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài
Để tiến hành rèn luyện các kĩ năng Tập làm văn, trước hết học sinh phảixác định ý cho đoạn văn
- Xác định ý cho bài văn biểu cảm.
Giáo viên định hướng cho học sinh xác định các vấn đề sau:
+ Đối tượng biểu cảm trong đề bài trên?
+ Mục đích biểu cảm?
+ Cảm xúc, tình cảm trong các trường hợp
+ Tình cảm, cảm xúc phải chân thật, trong sáng có sức thuyết phục
+ Lời văn, hơi văn, mạch văn phải phù hợp, gợi cảm
Trước hết chúng ta hình dung cụ thể đối tượng biểu cảm ở đây là : Bài cadao Bài ca dao ấy nói về lòng thương nhớ và tình cảm thuỷ chung của nhân vậttrữ tình khi xa quê hương
Hình thành được cảm xúc tình cảm của mình sau khi đọc xong bài ca dao.Lời văn, giọng văn phải bọc lộ cảm xúc, tình cảm chân thành khi đọc hiểu bàidao: Bài ca dao thấm thía bao nỗi buồn thương tha thiết, mong chờ, nhớ trông…Quá trình tìm hiểu đề là quá trình xác định ý cho bài văn biểu cảm, ý của bài văn nằm ngay trong từ ngữ, hình ảnh: Đêm qua, đứng bờ ao, trông, buồn trông, buồn trông( mức độ tăng dần), rồi: sao ơi, sao hỡi, tưởng, nhớ ba năm, Đà mòn, dạ chẳng mòn ; trong kết cấu của bài ca dao… Vấn đề là giáo viên tổ chức hướng dẫn
như thế nào để học sinh phát hiện ra các ý chính của bài mà đề yêu cầu Có như vậyviệc tìm ý, triển khai ý mới trở thành kĩ năng ở các em Tránh tình trạng khi viếtđoạn lại không trúng với ý mình đã xác lập, viết lan man, từ ngữ nghèo nàn khônggọi ra được cảm xúc, tình cảm của người viết
Chẳng hạn theo yêu cầu của đề văn trên đây, giáo viên tổ chức cho các emxác định được các ý chính:
+ Nỗi cô đơn, buồn vắng, chờ mong
+ Cảnh vật với nỗi nhớ cố hương
+ Sự gắn bó thuỷ chung của người lữ khách đối với gia đình và quê hương
Trang 11+ Nỗi lòng của nhân vật trữ tình trong bài ca dao và cảm xúc, tình cảm củatâm hồn con người
Như vậy, chúng ta đã xác định các ý trong bài văn biểu cảm và mỗi ý trênđây có thể được xây dựng bằng một hoặc hai đoạn văn
Ta xác định câu chủ đề cho từng đoạn văn như sau:
Câu chủ đề 1 : Tâm trạng của người lữ khách luôn lẻ loi, trống vắng, chờ
trông cứ vương vấn mãi không thôi
Câu chủ đề 2 : Nỗi nhớ quê nhà của nhân vật trữ tình diễn ra triền miên Câu chủ đề 3 : Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương, nhớ - tấm lòng thuỷ
chung đối với quê nhà
Câu chủ đề 4 : Tấm lòng thuỷ chung toả sáng trong bài ca và tâm hồn con
Cũng như các kiểu văn bản khác, bài văn biểu cảm là một thể thống nhất
về hình thức, hoàn chỉnh về nội dung Trong đó, đoạn văn có một vai trò hết sứcquan trọng trong việc cấu thành một văn bản biểu cảm hoàn chỉnh Vì vậy, cáccâu, các đoạn trong văn bản phải liên kết với nhau một cách chặt chẽ
Rèn kĩ năng viết đoạn văn và việc sử dụng các cách liên kết là một thao táckhông thể thiếu được Các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài có thể được viếttheo các cách như sau
- Cách viết đoạn văn biểu cảm.
Trước hết, giáo viên hướng dẫn học sinh nắm một cách khái quát yêu cầucủa các đoạn văn mở bài, đoạn văn thân bài, đoạn văn kết bài