Hiện nay, việc đánh giá nănglực đọc hiểu của học sinh thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng yêucầu học sinh nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở vàki
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, đề thi môn Ngữ văn đã có sự thay đổi mạnh mẽvới hai phần: đọc hiểu và làm văn Trong đó, phần đọc hiểu văn bản là điểm mớinhất của đề thi và nó chiếm một tỉ lệ điểm khá lớn (30 % số điểm) Đây là phần mới
được đưa vào trong các bài kiểm tra từ 1 - 2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối
năm…nhằm đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh Hiện nay, việc đánh giá nănglực đọc hiểu của học sinh thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêucầu học sinh nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) vàkiểm tra viết (viết về một vấn đề thuộc phương diện nội dung hoặc nghệ thuật củavăn bản đã học) Những nhiệm vụ này chưa đánh giá được năng lực đọc hiểu cácloại văn bản khác nhau của học sinh Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần đổi mới đánh giánăng lực đọc hiểu của học sinh bằng việc sử dụng những văn bản mới (bao gồm cảvăn bản văn học và văn bản thông tin, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với vănbản đã học trong chương trình, sách giáo khoa), yêu cầu học sinh vận dụng nhữngkiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ văn bản mới này Như vậy,thầy cô không thể giúp các em đọc hộ, cảm hộ, hiểu hộ như trước đây nữa mà các
em phải tự mình khám phá, tìm hiểu văn bản Chính vì vậy, học sinh gặp rất nhiềukhó khăn khi làm bài Thế nhưng, trong sách giáo khoa, sách bài tập, sách thamkhảo đều không có các dạng bài này Các em không biết phải bắt đầu từ đâu, trìnhbày bài như thế nào, vận dụng những kiến thức gì… nhất là đối với học sinh có họclực trung bình, yếu Còn đối với học sinh khá giỏi, đây là một trong những dạng bàiphát huy được khả năng cảm thụ văn học của các em Các em rất hứng thú khi đượctìm hiểu, khám phá nhiều văn bản văn học mới không có trong chương trình và sáchgiáo khoa Từ đó các em lĩnh hội được nhiều kiến thức bổ ích, nhiều bài học có giátrị nhân văn sâu sắc
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy năng lực cảm thụ, đọchiểu văn bản của học sinh còn rất hạn chế Trong các giờ dạy học đọc hiểu văn bản,học sinh thường nghe và ghi chép lại bài giảng của giáo viên chứ chưa tự mình cảmthụ, tìm hiểu, khám phá văn bản Càng lên lớp cao hơn, việc đọc hiểu và cảm thụvăn bản lại càng bất cập Do áp lực thi cử, tình trạng thầy cô đọc hộ, hiểu hộ, cảmthụ hộ học sinh diễn ra khá phổ biến Chính vì thế, để làm được dạng bài này họcsinh phải có một năng lực đọc hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức
cơ bản Vì vậy, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu các biện pháp để “Rèn kỹ năng làm bài phần đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 9 bậc Trung học cơ sở”, qua đây, tôi
muốn chia sẻ với đồng nghiệp nhằm nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói chung
và đặc biệt là nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 Trung học phổ thông
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi muốn đưa ra phương pháp hướng dẫn học sinh làm
tốt phần đọc hiểu văn bản để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn, đặc biệt là nângcao chất lượng thi vào lớp 10 Trung học phổ thông
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Kĩ năng làm bài phần đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 9 bậc Trung học cơ sở
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 2- Khảo sát, phân loại;
- Xây dựng cơ sở lí thuyết;
- Phương pháp thực nghiệm;
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh;
- Tổng hợp, rút kinh nghiệm
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Do chi phối bởi mục tiêu môn học và điều kiện thực hiện, đánh giá kết quảhọc tập của học sinh trong môn Ngữ văn hiện nay tập trung chủ yếu vào hai nănglực đọc và viết Trong đó, đọc hiểu là một năng lực tiếp nhận văn bản, thông quahoạt động của con người đọc chữ, xem các kí hiệu bảng biểu, hình ảnh trong nhiềuloại văn bản khác nhau, nhằm xử lí thông tin trong văn bản để phục vụ những mụcđích cụ thể trong học tập hoặc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống Đọchiểu luôn là một nội dung trọng tâm trong chương trình môn Ngữ văn (bậc Tiểu học
là môn Tiếng Việt), vì vậy đọc hiểu là một năng lực đặc thù của môn học này
Trong dạy học môn Ngữ văn, năng lực đọc hiểu văn bản văn học rất được coitrọng Phần lớn bài học trong chương trình và sách giáo khoa hiện nay là bài học vềvăn bản văn học Vì thế, để học tốt môn Ngữ văn bắt buộc học sinh phải có nănglực đọc hiểu văn bản
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Về phía giáo viên
- Thuận lợi: Là giáo viên trẻ, tâm huyết với nghề, có chuyên môn vững
vàng, luôn có ý thức học hỏi, tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy, được 10 nămtrực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 9 và ôn thi vào lớp 10 Trung học phổ thông, nêntrong quá trình dạy, bản thân nắm bắt được năng lực đọc hiểu văn bản của học sinhnhư thế nào, học sinh đã làm được những gì, các em còn gặp khó khăn ở đâu Vìvậy, tôi đã thấy được sự liên quan của kiểu bài này với các kiểu bài khác
- Khó khăn: Dạng bài đọc hiểu văn bản sẽ là một dạng bài hoàn toàn mới
trong các đề kiểm tra, đề thi năm nay Phần đọc hiểu thường xoay quanh nhiều vấn
đề với rất nhiều câu hỏi phong phú và đa dạng nhưng trong sách giáo khoa Ngữ văn
9 và sách bài tập Ngữ văn 9 không có một bài tập nào ở dạng này Hơn nữa nhữngvăn bản đọc hiểu thường là các văn bản ngoài chương trình và sách giáo khoa.Chính vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải tự tìm tòi, nghiên cứu trong rất nhiều tàiliệu, sắp xếp theo từng chủ đề, từng dạng theo từng mức độ để cung cấp cho họcsinh
2.2.2 Về phía học sinh
- Thuận lợi: Đa số học sinh lớp 9 trường tôi đều ngoan, có ý thức vươn lên
trong học tập Phụ huynh học sinh quan tâm tạo điều kiện mua đầy đủ sách giáokhoa, sách bài tập, sách tham khảo cho các em học
- Khó khăn: Số học sinh thật sự có năng lực đọc hiểu văn bản rất ít; năng lực
cảm thụ, năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh hiện nay còn rất hạn chế Thậm chícác em còn rất lười đọc văn bản, kể cả các văn bản trong sách giáo khoa Một số emkhi đọc còn lơ mơ, không nắm vững được nội dung văn bản Do không có năng lựcđọc hiểu, nên khi phải tiếp cận với một văn bản mới ngoài và sách giáo khoa sẽ mấtrất nhiều thời gian để đọc hiểu văn bản, dẫn đến không còn đủ thời gian để làm cácphần còn lại Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả làm bài của các em Những
Trang 3học sinh trung bình và yếu, lười học, lười đọc, ngại suy nghĩ, làm việc rập khuôn,khi giao bài tập về nhà thường không tự mình đọc văn bản, suy nghĩ để làm bài màcác em thường tìm kiếm câu trả lời trên mạng, hoặc chép bài của bạn Chính vì vậy,
kĩ năng làm bài của các em rất hạn chế, nhiều em chưa nắm vững kiến thức nênkhó vận dụng để làm bài tập, đặc biệt đây lại là một dạng bài tập khó, đòi hỏi sự vậndụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng, phân tích tổng hợp, tư duy…
2.3 Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề
Từ các nguyên nhân, thực trạng trên, tôi đã cố gắng tìm hiểu cấu trúc, phạm
vi, yêu cầu của dạng bài này để giúp các em nắm được Sau đó, củng cố lại nhữngkiến thức cần có để thực hiện việc đọc hiểu văn bản Hướng dẫn các em các bướckhi làm dạng bài này Tìm tòi các bài tập, sắp xếp bài tập theo các mức độ (nhậnbiết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao), quy về các dạng bài cụ thể, mỗimức độ, mỗi dạng bài cụ thể hướng dẫn học sinh cách làm có ví dụ minh họa Saumỗi dạng, tôi đưa ra bài tập củng cố để học sinh tự rèn luyện
2.3.1 Khảo sát, phân loại đối tượng
Trước khi áp dụng đề tài, tôi đã khảo sát học sinh với đề bài như sau:
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
“Bao giờ cho tới mùa thu Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm Bao giờ cho tới tháng năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên cao Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
Bờ ao đom đóm chập chờn Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
Mẹ ru cái lẽ ở đời Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ mẹ ru con Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?”
(Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Nguyễn Duy)
Câu 1 (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên Câu 2 (0.5 điểm) Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào ?
Câu 3 (1.0 điểm) Chỉ ra và phân tích giá trị của hai biện pháp tu từ chủ yếu
được sử dụng trong đoạn thơ: “Bao giờ cho đến mùa thu / Trái hồng trái bưởi đánh
đu giữa rằm / Bao giờ cho đến tháng năm / Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao”.
Câu 4 (1.0 điểm) Em nhận xét thế nào về quan niệm của Nguyễn Duy: “Mẹ
ru cái lẽ ở đời / Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn” ?
Kết quả thu được:
Trang 42.3.2 Rèn kỹ năng phân tích cấu trúc, phạm vi, yêu cầu của đề
* Cấu trúc của phần đọc hiểu
Cấu trúc của dạng bài đọc hiểu gồm hai phần:
- Phần 1: Ngữ liệu mở trong hoặc ngoài chương trình và sách giáo khoa (đoạn
văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn, mẩu truyện…) Nhưng xu hướng sẽ là một văn bản mớihoàn toàn, không có trong chương trình và sách giáo khoa
- Phần 2: Thực hiện trả lời yêu cầu 4 câu hỏi dựa trên chuẩn kiến thức và kĩ
năng hiện hành, mức độ từ dễ đến khó
* Phạm vi của phần đọc hiểu
- Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật):
+ Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)
+ Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản đượchọc trong chương trình)
- Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết đối với
cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: Vấn đềchủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, matuý,… Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bảnsong có thể nghiêng nhiều về loại văn bản nghị luận và văn bản báo chí)
* Yêu cầu cơ bản của phần đọc hiểu
- Nhận biết về kiểu (loại), phương thức biểu đạt, cách sử dụng từ ngữ, câu
văn, hình ảnh, các biện pháp tu từ,…
- Hiểu đặc điểm thể loại, phương thức biểu đạt, ý nghĩa của việc sử dụng từ
ngữ, câu văn, hình ảnh, biện pháp tu từ
- Hiểu nghĩa của một số từ trong văn bản.
- Khái quát được nội dung cơ bản của văn bản, đoạn văn.
- Bày tỏ suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn.
2.3.3 Chuẩn bị những kiến thức cần có để thực hiện việc đọc hiểu văn bản
Phần đọc hiểu thường xoay quanh nhiều vấn đề Vì vậy, để hình thành nănglực đọc hiểu các em cần nắm vững những kiến thức cơ bản sau:
- Kiến thức về các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, nóigiảm, nói tránh, điệp từ, điệp ngữ, phép đối, …)
- Kiến thức về các phương thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyếtminh, nghị luận và hành chính công vụ)
- Kiến thức về thể thơ (ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, song thất lục bát, tựdo )
Khi củng cố cho học sinh những kiến thức đó, giáo viên phải làm sao cho họcsinh ghi nhớ một cách bản chất, tránh việc ghi nhớ kiến thức lí thuyết quá nhiều màkhông hiểu được bản chất
2.3.4 Phân tích, nhận định các dạng câu hỏi phần đọc hiểu
Các dạng câu hỏi chủ yếu sử dụng trong đánh giá năng lực đọc hiểu của họcsinh thường có hai dạng:
Dạng 1: Câu hỏi trắc nghiệm Thường sử dụng 4 dạng cơ bản sau:
- Câu hỏi nhiều lựa chọn dạng đơn giản
- Câu hỏi Có - Không; Đúng - Sai dạng phức hợp
- Câu hỏi điền khuyết
- Câu hỏi ghép đôi
Trang 5Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
“Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng.”
(Nhớ con sông quê hương, Tế Hanh)
Câu 1 Đoạn thơ trên sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu 3 Điền từ thích hợp vào chỗ trống để hoàn chỉnh nhận xét sau: Trong
đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ………và………để thểhiện sâu sắc nỗi nhớ, tình yêu đối với quê hương
Câu 4 Nối cột A với cột B sao cho phù hợp
Dạng 2: Câu hỏi trả lời ngắn
- Là dạng câu hỏi học sinh phải viết câu trả lời dựa trên yêu cầu của câu hỏi
một cách ngắn gọn, chính xác Nội dung các câu hỏi độc lập, câu trên không gợi ýcho câu dưới Dạng câu hỏi này thường được sử dụng chủ yếu trong các đề thi vàkiểm tra
- Có hai dạng câu hỏi trả lời ngắn:
+ Câu hỏi đóng: là câu hỏi được giới hạn rõ/ có một đáp án, thể hiện cáchhiểu chính xác về văn bản
+ Câu hỏi mở: là câu hỏi có thể có nhiều phương án trả lời khác nhau, thểhiện quan điểm suy nghĩ riêng của học sinh Câu hỏi có nội dung trả lời mở thườngđược đặt ở vị trí cuối cùng trong hệ thống câu hỏi của phần đánh giá năng lực đọchiểu
Trong đề kiểm tra, đề thi: Câu 1,2,3 là dạng câu hỏi đóng (học sinh trả lời dựatrên ngữ liệu đã cho) Câu 4 là dạng câu hỏi mở, học sinh liên hệ thực tế để trả lờivấn đề liên quan đến ngữ liệu đã cho (Phần trả lời ngắn yêu cầu học sinh viết từ 7-
10 câu)
- Câu hỏi nhận biết thường đưa ra yêu cầu thí sinh chỉ ra các phương thức
biểu đạt, các thể thơ, các biện pháp tu từ… trong văn bản
Trang 6- Câu hỏi thông hiểu thường yêu cầu thí sinh xác định nội dung chính của văn
bản hay một câu, một đoạn trong văn bản
- Câu hỏi vận dụng thấp thường yêu cầu nêu tác dụng của các phép tu từ hay
việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt, sử dụng từ ngữ … trong văn bản
- Câu hỏi vận dụng cao thường là dạng câu hỏi bày tỏ quan điểm thái độ hoặc
liên hệ thực tế đời sống (liên hệ hiện tượng nào và đưa ra giải pháp)
Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
“Sau tất cả mọi vui buồn chết sống Đôi khi cây thành chỗ nhớ cho người
Tôi viết về cây giữa mùa hạt giống Đang trồng gieo trên khắp nước non ta Cây của rừng sâu, đồng rộng, vườn nhà Cây xanh biếc của đường xuyên Nam Bắc Cây dằng dịt ôm cuộc đời ấm áp
Người ở giữa cây, cây ở bên người.
Bài thơ xanh cây viết dưới mặt trời Cho ta đọc những lời yêu mặt đất.”
(Tạ ơn cây, Vũ Quần Phương Nguồn: thivien,net)
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
Câu 2 (0,5 điểm) Chỉ ra hai biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn
thơ
Câu 3 (1,0 điểm) Nêu nội dung chính của đoạn thơ.
Câu 4 (1,0 điểm) Em có đồng tình với quan điểm sau đây của tác giả không?
Vì sao?
“Người ở giữa cây, cây ở bên người.”
2.3.5 Thực hiện các bước làm phần đọc hiểu
- Bước 1: Đọc lướt văn bản và hệ thống câu hỏi cuối mỗi văn bản.
- Bước 2: Đọc kỹ văn bản, gạch chân những từ ngữ, câu văn, những thông tin
quan trọng liên quan tới những câu hỏi ở cuối văn bản
- Bước 3: Huy động các kiến thức, kết hợp với những nội dung thông tin
trong văn bản dự kiến trả lời các câu hỏi
- Bước 4: Trong mỗi câu hỏi cần xác định rõ và tự trả lời nhanh những câu
hỏi sau: Mục đích của câu hỏi là gì? Nội dung câu hỏi đề cập tới những kiến thức cơbản nào? Cần trả lời như thế nào cho phù hợp?
- Bước 5: Bám sát vào nội dung, yêu cầu câu hỏi để trả lời ngắn gọn, trúng,
đúng và đủ ý, tránh cách viết chung chung, không rõ ý Kiểm tra lại câu trả lời vàsửa chữa (nếu cần)
2.3.6 Xác định các dạng bài phần đọc hiểu
2.3.6.1 Mức độ nhận biết: Thường có các dạng sau:
Dạng 1: Yêu cầu nhận diện các phương thức biểu đạt
Nhận diện phương thức biểu đạt là một nội dung quen thuộc, thường gặptrong các đề thi đọc hiểu Khi làm dạng bài này học sinh thường xác định chưachính xác các phương thức biểu đạt hoặc không biết phương thức nào là chínhphương thức nào là phụ Vì không phải mỗi văn bản chỉ có một phương thức biểu
Trang 7đạt duy nhất, mà thường kết hợp các phương thức biểu đạt khác nhau nhưng bao giờcũng có một phương thức là chủ đạo
Để xác định chính xác phương thức biểu đạt, các em phải nắm vững kiếnthức cơ bản về khái niệm, đặc điểm và một số dấu hiệu để nhận biết các phươngthức biểu đạt
* Tự sự:
- Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia,cuối cùng tạo thành một kết thúc Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kểviệc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhậnthức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống
- Cách nhận biết phương thức tự sự: có cốt truyện, có nhân vật, có diễn biến
sự việc, có những câu văn trần thuật Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểuthuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ ( khi muốn kể sự việc)
- Ví dụ: “Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.”
- Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả: Có các câu văn, câu thơ tái hiệnlại hình dáng, diện mạo, màu sắc…của người và sự vật (tả người, tả cảnh, tả tình,
…)
- Ví dụ: “Trăng đang lên Mặt sông lấp loáng ánh vàng Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát.”
(Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)
Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng Vậy phương thức
biểu đạt của đoạn văn trên là miêu tả
Trang 8Câu ca dao trên miêu tả cảm xúc nhớ nhung của một người đang yêu Vậyphương thức biểu đạt của câu ca dao là biểu cảm.
* Thuyết minh:
- Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện
tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết
- Dấu hiệu nhận biết phương thức thuyết minh: có những câu văn chỉ ra đặc
điểm riêng, nổi bật của đối tượng, người ta cung cấp kiến thức về đối tượng, nhằmmục đích làm người đọc hiểu rõ về đối tượng nào đó
- Ví dụ: “Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá
trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của
cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa Sự tắc nghẽn của hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải…”
(Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000)
Đoạn trích thuyết minh về tác hại của bao bì ni lông, nhằm mục đích làm chongười đọc hiểu rõ về tác hại của nó Vậy phương thức biểu đạt của đoạn văn làthuyết minh
* Nghị luận:
- Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc
lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khácđồng tình với ý kiến của mình
- Dấu hiệu nhận biết phương thức nghị luận: Có vấn đề bàn luận, có quan
điểm của người viết Nghị luận thường đi liền với thao tác phân tích, giải thích,chứng minh, bình luận
- Ví dụ: “ Trên thực tế, không một lòng đố kị nào có thể ngăn cản được
người khác thành công, cho nên lòng đố kị chỉ có hại cho bản thân kẻ đố kị Nó vừa làm cho kẻ đố kị không thể sống thanh thản, luôn dằn vặt khổ đau vì những lí do không chính đáng, lại vừa có thể dẫn họ đến những mưu đồ xấu xa, thậm chí phạm tội ác Kẻ đố kị không hiểu rằng “ngoài trời còn có trời ”(cao hơn),“ngoài núi còn
có núi” (cao hơn), mình tài giỏi còn có người tài hơn.”
(Theo Băng Sơn)
Trong đoạn văn trên, tác giả nêu ra vấn đề cần bàn luận đó là “lòng đố kị gây nên nhiều tác hại trong cuộc sống”, người viết bày tỏ quan điểm phê phán đối với
những con người có lòng đố kị Vậy, phương thức biểu đạt của văn bản là nghị luận
* Hành chính công vụ:
- Là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân
dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước kháctrên cơ sở pháp lí (thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…)
- Ví dụ: Giấy xin phép nghỉ học, đơn, hợp đồng,…
* Lưu ý:
- Phương thức hành chính công vụ thường ít xuất hiện trong đề đọc hiểu.
- Trong đề thi nếu có câu hỏi: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
bản, thì các em chỉ cần nêu một phương thức chính Nếu đề bài hỏi xác định phương thức biểu đạt hoặc những phương thức biểu đạt thì có thể trả lời nhiều
phương thức
Trang 9Ví dụ 1: Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơsau:
“Thuở nhỏ tôi ra ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
Ví dụ 2: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn sau:
“Chúng ta đều biết thói quen xấu dễ lây lan như một căn bệnh truyền nhiễm
và chúng ta rất dễ bị lây nhiễm những hành vi tiêu cực từ những người xung quanh Người có bản lĩnh sẽ tránh được ảnh hưởng của những thói xấu ấy, đồng thời cảm hóa để những người xung quanh trở nên tốt hơn Tự tin, bản lĩnh là những yếu tố quan trọng để bạn luôn là chính mình chứ không phải là bản sao cá tính của người khác.”
(Trích Bạn không phải là cái bóng của người khác,
NXB Văn hóa thông tin)Trả lời: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là nghị luận
Dạng 2: Nhận diện các biện pháp tu từ
Đối với dạng câu hỏi này học sinh thường xác định chưa chính xác các biệnpháp tu từ, không chỉ ra được các biện pháp tu từ được thể hiện ở đâu hoặc cònnhầm lẫn giữa biện pháp này và biện pháp tu từ khác
Để nhận biết chính xác các biện pháp tu từ, các em cần: nắm vững khái niệm,tác dụng của các biện pháp tu từ Cụ thể:
- Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách,
suy nghĩ, tên gọi vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật,cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn
- Ví dụ: Chị ong nâu, ông mặt trời, bác giun, chị gió,…
* Ẩn dụ:
Trang 10- Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác cónét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
- Ví dụ:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”
(Ca dao)
* Hoán dụ:
- Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự
vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợicảm cho sự diễn đạt
- Ví dụ:
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
(Bài ca vỡ đất, Hoàng Trung Thông)
* Nói quá/ phóng đại/ khoa trương/ ngoa dụ/ thậm xưng/ cường điệu:
- Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện
tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm
- Ví dụ:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”
(Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi)
* Nói giảm, nói tránh:
- Nói giảm nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyểnchuyển, nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục,thiếu lịch sự
- Ví dụ:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta”
(Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến)
* Điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc:
- Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ, một cấu trúc
câu có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liêntưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu văn, đoạn văn
- Ví dụ: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”
(Cây tre Việt Nam, Thép Mới)
* Chơi chữ:
- Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí
dỏm, hài hước,… làm câu văn hấp dẫn và thú vị
- Ví dụ:
“Bà già đi chợ Cầu Đông Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”
(Ca dao)
Trang 11* Liệt kê:
- Là sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ, sâu
sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm
- Đảo ngữ là biện pháp tu từ thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường
của câu, nhằm nhấn mạnh ý, nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng và làm câu thơ, câuvăn thêm sinh động, gợi cảm, hài hòa về âm thanh,…
- Là cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các thành phần câu, vế câu song song,
cân đối trong lời nói nhằm tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh, gợi liên tưởng, gợihình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói
- Ví dụ:
“Ta/ dại /ta/ tìm/ nơi/ vắng vẻ Người/ khôn/ người/ đến/ chốn/ lao xao”
(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
* Ví dụ minh họa: Chỉ ra các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ sau:
“Nhớ Người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo