Việc dạy Tập làmvăn ở bậc Tiểu học có một vị trí rất quan trọng, Làm văn là công việc cuối cùng thử thách các kĩ năng Tiếng Việt, vốn sống, vốn văn học, năng lực cảm thụ văn học một cách
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
Tập làm văn là một phân môn trong chương trình Tiếng Việt của bậc Tiểuhọc, đây là một phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp Việc dạy Tập làmvăn ở bậc Tiểu học có một vị trí rất quan trọng, Làm văn là công việc cuối cùng thử
thách các kĩ năng Tiếng Việt, vốn sống, vốn văn học, năng lực cảm thụ văn học
một cách tổng hợp, điều đó thể hiện rõ nét ở thể loại văn tả cảnh Tập làm văn cóvai trò đặc biệt trong ngôn ngữ nói, và viết của các em Đề bài tập làm văn đòi hỏicác em phải thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm của mình vào bài viết Mà yêucầu các em viết được văn bản có nghệ thuật: bao gồm trong cả đoạn văn, bài vănmiêu tả, không những thế nó còn góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụngtiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và họctập tốt các môn học khác Nếu như các môn học và phân môn khác của môn TiếngViệt cung cấp cho các em một hệ thống các kiến thức kĩ năng thì phân môn Tậplàm văn tạo điều kiện cho các em thể hiện các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng đómột cách linh hoạt thực tế và có hệ thống hơn Chính những văn bản nói, viết các
em có được từ phân môn Tập làm văn đã thể hiện những hiểu biết thực tế, những kĩnăng sử dụng Tiếng Việt mà các em đã được học ở phân môn Tập làm văn Các kiểubài miêu tả được học nhiều nhất, nó giúp cho học sinh tái hiện lại cuộc sống conngười, phong cảnh thiên nhiên hiện lên như một bức tranh nhiều màu sắc Nó giúp các
em có tâm hồn văn học, có tình yêu quê hương đất nước và cuộc sống con người Tuy nhiên, thực tế hiện nay, việc dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân mônTập làm văn nói riêng ở lớp 5A trường Tiểu học Lương Sơn 1 còn có nhiều hạn chế
và chưa đạt kết quả như mong muốn Lí do này do nhiều nguyên nhân: phươngpháp lên lớp của thầy chưa phù hợp với yêu cầu, mục đích, nội dung của bài họcđặt ra Mặt khác học sinh tiểu học là đối tượng mà năng lực tư duy còn hạn chế, kĩnăng sử dụng ngôn ngữ của các em chưa cao Đặc biệt trình độ của các em chưađồng đều, hơn nữa học sinh thực tế hiện nay ở bậc học học phổ thông nói chungbậc Tiểu học nói riêng đại đa số học sinh rất ngại học phân môn Tập làm văn Bêncạnh đó, việc thay đổi nội dung chương trình sách giáo khoa đã làm cho học sinh
và giáo viên ít nhiều có lúng túng trong việc nắm bắt nội dung và phương phápgiảng dạy
Xuất phát từ thực tế trên yêu cầu đòi hỏi ở người thầy cái tâm, cái tài đểtruyền cho các em niềm say mê, để động viên, bồi dưỡng cho các em trở thành họcsinh có năng khiếu, những con người có tâm hồn văn học Chính vì những lí do trên
tôi chọn đề tài viết sáng kiến kinh nghiệm “ Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 làm tốt bài văn tả cảnh”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy làm văn tả cảnh ở lớp 5 Tìm ranhững khó khăn, sai sót mà giáo viên và học sinh thường mắc phải khi dạy họckiểu bài tập làm văn tả cảnh Qua đó đưa ra giải pháp khắc phục có hiệu quả cho
Trang 2quá trình dạy học kiểu bài này.
1 3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 5A Năm học 2016 - 2017 Học sinh lớp 5B Năm học 2017 - 2018
do tôi chủ nhiệm và giảng dạy
- Nghiên cứu “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 5 làm tốt bài văn
tả cảnh”
1 4 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đếndạy học văn tả cảnh
- Phương pháp điều tra: trao đổi với đồng nghiệp về những khó khăn, vướngmắc khi dạy văn tả cảnh
- Phương pháp kiểm tra: Kiểm tra chất lượng học sinh
- Phương pháp thực tiễn sư phạm: Xây dựng tiết học thử nghiệm, đối chứng
từ và câu,… cuối cùng là Tập làm văn Làm văn, viết văn là cái đích cuối cùng caonhất của việc học tập Tiếng Việt ở Tiểu học
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trụcchủ điểm và các bài đọc Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn bóchặt chẽ với nhau Như vậy, muốn dạy học có hiệu quả tập làm văn miêu tả nóichung và văn tả cảnh nói riêng, nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kểchuyện, Chính tả, Luyện từ và câu… Học sinh phải lĩnh hội được các chất nên thơtrong các bài học đó Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài Luyện
từ và câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất thànhcông về cảnh vật, thiên nhiên, con người,
Bài tập làm văn hay là bài văn mang lại cảm xúc cho người đọc, người nghe.Người đọc sẽ hình dung được một cách cụ thể, rõ nét về đối tượng được tả, đượcnói đến trong bài
Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, rời rạc.Nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ như tâm hồn của các em
Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năngnghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ Cho nên thầy và trò phải soạn giảng và học tập
Trang 3tích cực, đúng cách mới mong nâng cao một cách bền vững chất lượng môn TiếngViệt ở lớp cuối cấp Tiểu học.
2.2 Thực trạng của việc dạy – học tập làm văn trong thời gian qua.
*Thuận lợi:
Trong nhiều năm qua, Ban giám hiệu nhà trường hết sức quan tâm, tạomọi điều kiện tốt nhất cho việc dạy và học đặc biệt là việc đổi mới phương phápdạy học tại trường Tiểu học Lương Sơn 1, để dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đa số học sinh trong lớp có ý thức ham học hỏi, ngoan, biết vâng lời, có ýthức tìm tòi Phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học tập của con emmình Học sinh sống ở vùng nông thôn gần gũi với thiên nhiên, đồng ruộng, vườncây, dòng sông, đêm trăng … Bản thân tôi là giáo viên nhiều năm liền được phâncông giảng dạy lớp 5, yêu nghề, nhiệt tình, tâm huyết và có trách nhiệm với họcsinh, với chất lượng của lớp mình giảng dạy .Trong thực tế phần lớn giáo viên củatrường tôi cũng tìm tòi, để nâng cao kiến thức, phương pháp dạy học thích hợp đểnâng cao chất lượng, nhưng kết quả vẫn chưa được khả quan
Thực tế hiện nay một số giáo viên đôi khi chưa đầu tư đúng mức cho các tiếtdạy Tập làm văn Chưa có biện pháp hữu hiệu để dẫn dắt, hướng dẫn học sinh thâmnhập vào thực tế để các em hiểu về thiên nhiên, cảnh vật … xung quanh các em.Giáo viáo viên chưa khơi gợi, huy động vốn hiểu biết, cách sử dụng từ ngữ của họcsinh Qua bài văn mẫu cũng như nhận xét bài làm của học sinh, giáo viên cũng chỉ hướng các em đi đến nhận xét một cách chung chung mà chưa đi sâu vào nhận xét cụ thể về cách dùng từ, đặt câu, sắp xếp ý của các bài văn đó; Giáo viên chưa kết hợp tốt việc dạy tập làm văn với các phân môn khác trong môn tiếng Việt như tập đọc, luyện từ và câu để làm tăng thêm “vốn” cho học sinh Một số giáo viên ít đầu tư nghiên cứu sâu sắc các kiến thức dạy cho các
em, đa phần phụ thuộc vào hướng dẫn vì thế chưa gây được hứng thú cho các em Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, ít tìm tòi cái mới, phương hướng
Trang 4gây hứng thú cho học sinh trong giờ học, điều này ảnh hưởng không tốt đến khảnăng tiếp thu bài của các em.
Đối với chương trình sách giáo khoa.
Phân môn Tập làm văn lớp 5 có nhiều nội dung, Trong đó văn tả cảnh là mộtkiểu bài khó nhất Vì học sinh ít có khả năng quan sát tinh tế, không cảm nhậnđược vẻ đẹp và sự thay đổi của cảnh theo thời gian, chưa biết dựa vào cảm xúc củamình để diễn tả, để cảnh sinh động hơn, gần gũi hơn, đẹp hơn Mặt khác trongchương trình sách giáo khoa, các tiết hướng dẫn học sinh lập dàn ý còn chungchung, chưa chi tiết, cụ thể, các ý còn hạn chế Bên cạnh đó không có tiết làm vănmiệng, việc hướng dẫn học sinh làm miệng chỉ lồng ghép trong các tiết lập dàn ýhay viết đoạn văn Do đó học sinh còn rất nhiều hạn chế trong khi làm bài
Nguyên nhân của những tồn tại:
Do các em không đọc kĩ đề bài, chưa có thói quen tốt trong việc quan sát kĩhay chưa biết cách quan sát các đối tượng mà các em định miêu tả Ngôn ngữ, cáchdùng từ và câu của các em còn hạn chế, chưa biết cách trau chuốt, rèn rủa, câu văncho bóng bảy, mà đa số các em nghĩ sao viết vậy
Xác định nội dung của đề bài chưa chính xác Một số chưa nắm chắc cách trìnhbày bài, dàn bài chưa cụ thể, thứ tự tả còn lộn xộn Khi viết câu còn lúng túng, dovốn từ ngữ của các em còn hạn chế, chưa biết cách mở rộng câu nêu ý bao trùm củađoạn, làm cho các đoạn văn trong bài rời rạc,chưa có sự liên kết Khả năng phát triển ýthành đoạn văn còn hạn chế, vốn từ ngữ nghèo nàn Khi viết thường dập khuôn Trong khi viết, các em chưa có sự liên tưởng, chưa biết cách bộc lộ cảm xúc của mình Chưa biết sử dụng biện pháp tu từ để diễn tả hình ảnh, âm thanh của sựvật Một số các em khi sử dụng hình ảnh nhân hóa, so sánh chưa chính xác
Vào đầu năm học sau khi dạy một thời gian tôi tiến hành khảo sát học sinh 2lớp do tôi giảng dạy trong 02 năm Dưới đây là bảng thống kê số liệu trong nămhọc: 2016 -2017 và 2017 – 2018
BẢNG KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HAI LỚP 5A, 5B TRONG HAI NĂM HỌC QUA Năm hoc Lớp Sĩ số
Nắm thể
loại cấu tạo bài
Quan sát, tìm ý Lập dàn ý
Sử dụng từ ngữ,
hình ảnh
Dựng đoạn
và hoàn chỉnh bài viết
Năm học
2016 -2017
đầu hoc kì 1 5A 26
22 em = 84,6%
18 em = 69,2 %
17 em = 65,3, %
17 em = 65,3, %
17 em = 65,3, % Năm học
2017 -2018
đầu học kì I 5B 28 25 em =89,2 % 24 em =85,7 % 24 em =85,7 % 23 em =82,1 % 24 em =85,7 % Nhìn vào bảng thống kê số liệu ta thấy số học sinh chưa đạt yêu cầu còn chiếm tỉ lệ cao, đặc biệt rất ít học sinh viết được bài văn hay Thực tế cho thấy, các em chưa có kĩ năng viết văn tả cảnh Là học sinh lớp 5, các em đã được tiếp cận
Trang 5và tập viết các bài văn tả từ lớp 4 Thế nhưng bài viết của các em vẫn còn lủngcủng, ý nghèo nàn, thiếu logic, thiếu hình ảnh Đây sẽ là những băn khoăn, trăntrở cho những giáo viên như bản thân tôi phải làm gì để giúp học sinh biết làm vàviết văn hay hơn, cảm xúc hơn
Từ thực trạng và những nguyên nhân nêu trên, tôi đã suy nghĩ, tìm tòi,nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp sau:
2.3 Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 làm tốt bài văn tả cảnh Biện pháp 1: Dạy học sinh nắm vững thể loại và cấu tạo bài.
* Yêu cầu học nắm cấu tạo bài:
- Giáo viên cần giúp cho học sinh nắm vững bài văn tả cảnh gồm cấu trúc 3 phần.Học sinh dựa vào cấu trúc 3 phần đó để xây dựng nội dung đoạn văn, bài văn
* Yêu cầu học nắm được thể loại của đề bài văn: Trước hết yêu cầu học sinh:
+ Đọc kĩ đề bài
+ Phân tích đề
+ Gạch một gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn
+ Gạch một nét đứt dưới các từ xác định giới hạn miêu tả
- Văn tả cảnh ở lớp 5 thường yêu cầu học sinh tả những cảnh nhỏ gần nơi các
em đang sống: Ngôi nhà em ở, quang cảnh trường em, con đường đưa em tớitrường, dòng sông với rất nhiều kỉ niệm… Điều quan trọng là giúp học sinh xácđịnh được:
- Đối tượng miêu tả là gì? Trọng tâm miêu tả của cảnh? Khi xác định đượcnhư vậy các em sẽ miêu tả đúng trọng tâm không bị lạc đề khi miêu tả
Ví dụ 1: Đề bài: Hãy tả lại cảnh đẹp của trường em vào một ngày đẹp trời.
? Yêu cầu đề thuộc thể loại văn gì? Văn tả cảnh
? Đối tượng miêu tả là gì? cảnh đẹp của trường em
? Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào? cảnh đẹp của trường emvào một ngày đẹp trời
Ví dụ 2: Đề bài: Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích (ấn
tượng)
Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi:
? Hãy xác định thể loại làm văn?
? Đối tượng miêu tả là gì?
? Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ?
Trang 6- Một yêu cầu cơ bản để viết tốt bài văn tả cảnh đó là học sinh phải có kĩ năngquan sát Học sinh phải biết cách quan sát và chọn lọc các chi tiết quan sát được.Mọi kết quả quan sát được thể hiện trong bài văn tả cảnh của các em Quan sát tinh
vi, thấu đáo bài viết sẽ đặc sắc hấp dẫn Quan sát hời hợt phiến diện bài viết sẽ khôkhan Khi quan sát chúng ta có thể quan sát trực tiếp cảnh vật hoặc hồi tưởng lạinhững cảnh vật mà mình đã từng quan sát
- Kĩ năng quan sát chủ yếu được hình thành trên cơ sở luyện tập Thông thườnghọc sinh đã sử dụng kĩ năng này nhiều lần và thường là không tự giác, sơ lược đơngiản Điều quan trọng là giáo viên giúp học sinh khi học văn tả cảnh biết tự giác,chủ động có định hướng, mục đích khi quan sát
GV Hướng dẫn học sinh quan sát ngoài trời khi làm văn tả cảnh.
- Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lựa chọn trình tự quan sát Tốt nhất là mỗi em tự tìm một trình tự quan sát thích hợp Trường hợp học sinh yếu gặp khó khăn giáo viên có thể gợi ý trình tự quan sát
- Thông thường có một số trình tự quan sát cảnh vật tương ứng với trình tựmiêu tả:
- Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặcngược lại, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới , từ ngoài vào trong
- Trình tự thời gian: Quan sát theo diễn biến thời gian từ bắt đầu đến kết thúc,
từ mùa này sang mùa khác, tháng này sang tháng khác, tuần này sang tuần khác…
Dù quan sát theo trình tự nào thì học sinh cũng phải biết dừng lại ở bộ phậnchủ yếu, trọng tâm của cảnh để quan sát kĩ lưỡng Giáo viên hướng dẫn học sinh sửdụng các giác quan để quan sát Đây là thao tác quan trọng nhất và có tính chấtquyết định Thông thường các em chỉ dùng mắt để quan sát giáo viên cần hướngdẫn các em dùng mũi để ngửi hương thơm của cây cỏ, dùng tai để nghe âm thanhcủa sự vật, dùng làn da để cảm nhận hơi thở, cảm nhận làn gió thổi, không khí
- Khi quan sát học sinh cần phải biết thu nhận đặc điểm đặc sắc hay độc đáo ởcảnh vật do từng giác quan mang lại
- Học sinh thu nhận các cảm xúc, các liên tưởng, hồi tưởng, so sánh do các đặc điểm của cảnh vật mang lại Học sinh tìm tòi các từ ngữ thích hợp để diễn đạt các
Trang 7điều thu nhận trên
Ví dụ 1: * Quan sát trường em Từ những điều đã quan sát được, lập dàn ý chobài tập làm văn miêu tả ngôi trường (sách Tiếng Việt 5 tập 1 trang 43)
Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý, nhắc học sinh một số điểm lưu ý:+ Có thể tả ngôi trường vào một thời điểm nhất định (sáng - trưa - chiều; mùađông - mùa hè…); Cũng có thể tả ngôi trường với cảnh sắc thay đổi theo thời gian (
Từ sáng đến chiều; từ mùa xuân đến mùa hè…)
+ Nên tả theo trình tự quan sát sát từ xa đến gần, từ ngoài vào trong…hoặcngược lại, tả gần đến xa, từ trong ra ngoài…
+ Ngôi trường nào cũng gắn với các hoạt động của thầy và trò Tuy nhiên chỉnên tả lướt qua hoạt động này để không biến bài tập làm văn tả cảnh thành bài tậplàm văn tả cảnh sinh hoạt
Sau khi nêu một số điểm lưu ý để học sinh nhớ, giáo viên hướng dẫn học sinhcách lập dàn bài
Giúp học sinh nắm yêu cầu của bài: Miêu tả ngôi trường: Nhắc học sinh: dàn ýcũng cần có đủ 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài
- Phần mở bài cần giới thiệu bao quát:
+ Vị trí của ngôi trường: Ngôi trường nằm ở đâu ? Quay mặt về hướng nào? + Đặc điểm nổi bật của ngôi trường
- Phần thân bài gồm các ý:
+ Tả từng phần của cảnh trường: Cổng trường (cổng như thế nào ? Bản têntrường ra sao ?) Sân trường (sân trường ra sao ? Cột cờ, cây cối như thế nào?) Lớphọc (các tòa nhà như thế nào? Các lớp học được trang trí ra sao?)
- Phần kết bài cần nêu cảm nghĩ của em về ngôi trường
Như vậy, mỗi em mỗi ý, mỗi vẻ khác nhau nhưng đều bảo đảm đủ ý chính
Ví dụ 2: Khi quan sát dòng sông GV có thể cho học sinh tự tưởng tượng dòngsông định tả hoặc GV dùng các hình ảnh minh họa trên mấy chiếu cho HS quan sát.Học sinh dùng các giác quan để quan sát cụ thể:
Quan sát bằng mắt (thị giác)
- Sông rộng mênh mông, trải dài
- Thuyền bè đi lại trên sông tấp nập
- Sóng nhấp nhô
- Bờ bên phải, nương ngô xanh tốt
- Bờ bên trái, bãi cát dài trắng xóa
- Mặt trời soi bóng xuống dòng sông
- Mặt sông lấp loáng, lấp lánh
- Lũ trẻ bơi lội tung tăng,
- Ánh đèn hai bên bờ sông tạo thành vệt sáng dài
Trang 8Quan sát tai (thính giác)
- Sóng vỗ rì rầm, lao xao
- Bãi ngô bên bờ xào xạc
- Tiếng gõ lanh canh của đoàn thuyền đánh cá
- Bác ngư dân
Quan sát bằng mũi (Khứu giác)
- Mùi tanh tanh của đoàn thuyền khi đầy cá…
Quan sát bằng Da (xúc giác)
- Nước mát rượi…
* Từ những quan sát được, cho các em lập dàn bài
Biện pháp 3: Dạy kĩ năng lập dàn bài chi tiết.
Kĩ năng lập dàn ý có vai trò hết sức quan trọng đây là khâu quyết định của việc xâydựng nội dung bài văn Muốn lập được dàn ý giáo viên phải hướng dẫn học sinh haicông việc chính đó là chọn lọc ý và sắp xếp thành dàn ý Những điều các em quan sátthu thập được bao gồm cả thô lẫn tinh Điều quan trọng khi lập dàn ý là các em biết lựachọn tinh và loại bỏ thô Dựa vào đâu để lựa chọn? giáo viên cần định hướng cho các
em đâu là trọng tâm đâu là thứ yếu
Ví dụ 1: Cho học sinh lập dàn bài chi tiết cho bài văn “Tả cảnh của trường em vào một ngày đẹp trời”.
*Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý, lưu ý một số điểm:
+ Có thể tả ngôi trường vào những thời điểm nhất định (sáng – trưa – chiều; mùađông – mùa hè…) Cũng có thể tả ngôi trường với cảnh sắc thay đổi với thời gian (Từsáng đến chiều, từ mùa đông đến mùa xuân - … )
+ Nên tả theo trình tự quan sát từ xa đến gần, từ ngoài vào trong…Hoặc ngượclại…
+ Ngôi trường nào cũng gắn với các hoạt động của thầy và trò Tuy nhiên chỉ nên
tả lướt qua hoạt động này để không biến bài văn tả cảnh thành bài văn tả cảnh sinh hoạt.Học sinh làm bài:
* Phần mở bài cần giới thiệu bao quát: Vị trí của ngôi trường: Ngôi trường nằm ởđâu? Quay mặt về hướng nào? Đặc điểm nổi bật của ngôi trường là gì?
* Phần thân bài: Tả từng phần của cảnh trường:
+ Cổng trường ( cổng như thế nào? Bảng tên trường như thế nào? )
+ Sân trường ( Sân trường ra sao? Cột cờ, cây cối như thế nào? )
+ Lớp học ( ngôi trường được xây như thế nào? Các lớp được trang trí ra sao? ) + Hoạt động kèm theo: (Con người? Cảnh vật liên quan? )
* Phần kết bài: nêu cảm nghĩ của em về ngôi trường Như vậy mỗi em mỗi ý, mỗi
vẻ khác nhau nhưng đầy đủ ý cần diễn tả trong bài
Ví dụ 2: Cho học sinh lập dàn bài chi tiết cho bài văn “Tả khu vườn vào một buổi sáng đẹp trời”.
Trang 9Học sinh trình bày kết quả lập dàn ý của nhóm trước lớp
- Nàng hồng mang trên mình hạt sương long lanh đang e lệ trong lá
- Cánh hoa đỏ thắm mịn màng, khum khum úp sát vào nhau
- Nàng cúc cũng thay cho mình bộ váy vàng rực rỡ để chờ đón các anh ong, bước đến ghẹo…
- Các nàng thi nhau tỏa hương làm cả một không gian thơm mát
Giữa vườn:
- Hai hàng cải xanh mơn mởm chen nhau mọc
- Những lá cải to bằng chiếc quạt mo thi nhau vươn cao hứng ánh nắng…
Góc bên trái:
- Cây bưởi nặng nhọc mang trên mình trái bưởi tròn lông lốc
Cuối vườn:
- Mẹ con bác chuối lục đục gọi nhau dạy tập thể dục
- Những cánh tay to bản giơ cao phần phật trong gió Máy đứa con thấy mẹ làm,
vỗ tay reo vui làm chút sương cuối cùng rơi xuống đất
* Kết bài:
Trang 10- Nhìn cảnh vườn chuối vào buổi sáng, mới thấy vẻ đẹp và đầy sức sống của câycối nơi đây.
* Tuy vậy, tùy vào nội dung và khả năng của các em để điều chỉnh thêm, bớt cho phùhợp từng dạng bài
Biện pháp 4: Dạy kĩ năng sử dụng từ ngữ, hình ảnh trong văn tả cảnh
- Ngôn ngữ góp phần làm cho bài văn tả cảnh trở nên sinh động và tạo hình
- Khi hướng dẫn học sinh sử dụng ngô ngữ tả cảnh giáo viên cần hướng dẫn các
em sử dụng tính từ chỉ màu sắc, hình khối, tính chất… các từ tượng thanh và tượnghình, các phép so sánh, nhân hóa, ẩn dụ… Nếu học sinh biết sử dụng khéo chúng ta sẽphối hợp với nhau, đan cài vào nhau dệt nên bức tranh phong cảnh bằng ngôn từ nhiềumàu sắc, có góc cạnh
- Sự sống của bài văn nằm trong hình ảnh Khi sử dụng hợp lí các biện pháp tu từ
sẽ giúp cho hình ảnh trở nên sống động gợi cảm, gợi hình
- Thông qua việc sử dụng ngôn từ và hình ảnh học sinh có thể bộc lộ cảm xúc củamình khi viết khiến bài văn chân thực và đặc trưng riêng của cá nhân mỗi học sinh
- Muốn giúp học sinh biết sử dụng ngôn từ, lựa chọn hình ảnh phù hợp khi tả cảnhgiáo viên phải giúp học sinh tích lũy vốn từ thông qua việc học các phân môn khác củaTiếng Việt
- Muốn làm tôt bước này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh làm tốt các yêu cầu vàkèm theo các ví dụ sau:
a) Dùng từ:
- Dùng từ chính xác: Mặt trăng tròn tỏa ánh sáng xuống vạn vật
- Dùng từ có hình ảnh: Mặt trăng tròn vành vạnh tỏa ánh sáng vằng vặc xuống vạnvật
- Dùng từ trái nghĩa: vào mùa nước lũ, dòng sông không hiền hòa chút nào
- Dùng cụm từ so sánh: Ánh trăng lồng qua kẽ lá như ngàn vạn con đom đóm đanglập lòa sáng
Trang 11e) Biện pháp tu từ:
- Câu hỏi tu từ: Bạn có biết cảnh đẹp mà người dân quê em rất đỗi tự hào là gìkhông? Đó chính là dòng sông Chu quanh năm chảy nặng phù xa đó
g) Điệp ngữ:
- Mưa chảy trên mái tôn, mưa ngã xuống mặt đất, mưa đâm ào ào vào bụi cây
- Đẹp quá! Đẹp quá! Thật không uổng phí thức trắng một đêm ngắm cảnh trăng khuya
- Nàng xuân sinh đẹp mang những sắc màu lộng lẫy khoác lên cỏ cây hoa lá
- Học sinh biết phân biệt câu văn kể, câu văn miêu tả khi sử dụng
*Ví dụ: Câu văn kể - Mặt trời tỏa nắng xuống mặt đất
Câu văn tả - Ông mặt trời vén màn mây trắng, tỏa những tia nắng vàng óngnhư tơ xuống mặt đất
*Ví dụ về sử dụng từ ngữ, hình ảnh trong bài văn cụ thể:
Đề bài: Hãy viết đoạn văn tả lại cảnh của trường em vào một ngày đẹp trời
+ Dùng từ ngữ gợi tả, gợi cảm:
Ví dụ : Tả cây ở hai bên cổng trường cần đưa những từ gợi tả, gợi cảm… vào
trong câu: “Mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua lại làm cho những tán cây rung rung…”
“ Cánh cổng sừng sững… , cây phượng rực rỡ…bồn hoa be bé , xinh xinh…”
Ví dụ : Tả ngôi trường: Ngôi trường ẩn hiện sau lùm cây…, tường được phủ
một màu vàng vàng…,
Ví dụ : Tả hai dãy phòng học: Được xếp hai bên, ở chính giữa là phòng hiệu bộ
Được ví như là … Trong phòng học bàn ghế được xếp ngay ngắn…
+ Sử dụng các biện pháp tu từ:
Ví dụ : Tả cây ở hai bên cổng trường cần đưa những hình ảnh nhân hóa, so
sánh vào trong tả “Mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua lại làm cho những tán cây rungrung như đang nhảy múa trông rất vui mắt Cánh cổng sừng sững hiện ra trước mắt
em như một người khổng lồ Cây phượng dỏ rực rữ như ngọn đuốc đang bùngchá'y… những anh ong, chị bướm đến hút mật đùa vui”…
Biện pháp 5: Dạy học sinh kĩ năng dựng đoạn và hoàn chỉnh bài văn.
Từ dàn ý đã lập được, học sinh sẽ sử dụng ngôn ngữ phát triển ý để dựng thànhđoạn và bài Giáo viên nên hướng dẫn học sinh viết bài văn tả cảnh thành nhiềuđoạn, mỗi đoạn tả một bộ phận của cảnh Như vậy các đoạn đều có nội dung tậptrung miêu tả cảnh định tả
Trang 12Khi hướng dẫn học sinh viết đoạn, giáo viên phải hướng dẫn các em đảm bảo
có sự liên kết chặt chẽ về ý nghĩa giữa các câu trong đoạn để cùng tả những đốitượng có quan hệ mật thiết với nhau trong cảnh Sự liên hệ của các câu về mặt ngônngữ là nhờ các biện pháp liên kết phép lặp, phép thế, phép nối, phép liên tưởng….Đoạn nào không đảm bảo các yêu cầu trên sẽ trở nên lộn xộn
Các đoạn văn trong bài liên kết với nhau thành một bài văn hoàn chỉnh Cónhiều cách liên kết đoạn văn như dùng từ ngữ thay thế, dùng câu nối…
Trong đoạn văn luôn có câu chủ đề hoặc câu kết đoạn Câu chủ đề thườngđứng ở đầu đoạn diễn dịch tóm tắt toàn bộ nội dung đoạn Câu kết đoạn thườngđứng ở cuối đoạn quy nạp Thường thì trong văn tả cảnh khi miêu tả theo trình tựthời gian người ta hay dùng các từ chỉ thời gian để liên kết đoạn Còn miêu tả theothứ tự không gian thì dùng các từ chỉ vị trí
Khi xây dựng đoạn văn trong bài văn tả cảnh giáo viên cần hướng dẫn học sinhdựa vào nội dung dàn ý phát triển đoạn thì nội dung các đoạn không bị lặp dàn ý,đồng thời nội dung phong phú xúc tích Vì vậy nhiệm vụ của giáo viên Tiểu học làgiúp các em biết cách viết đoạn văn theo cấu trúc sau:
*Diễn dịch:
- Câu mở đoạn nêu nhận xét đánh giá chung về đối tượng tả trong đoạn, cáccâu còn lại tả chi tiết đối tượng đó
Ví dụ: Ôi bầu trời đêm mới đẹp làm sao! Mặt trăng tròn, to như quả bóng vàng
treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm Những vì sao như ngàn vạn hạtkim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc áo đêm thêm lộng lẫy
- Câu cuối đoạn nêu nhận xét, đánh giá về đối tượng được tả ở trên Các câucòn lại tả chi tiết đặc điểm của đối tượng
Ví dụ: Mặt trăng tròn, to như quả bóng vàng treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao
thăm thẳm Những vì sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc
áo đêm thêm lộng lẫy Ánh trăng vàng đổ xuống mái nhà, lồng qua kẽ lá, chảyxuống cành cây, tràn ngập khắp con đường trắng xóa Khoảng sân đầy ắp trăng.Cánh đồng trăng mênh mông Dưới ánh trăng dòng sông lấp lánh như dát bạc Ôiđêm trăng mới đẹp làm sao!
*Song hành:
- Tả luôn các đặc điểm của đối tượng tả Có thể mỗi đặc điểm tả bằng một hai câu
Ví dụ: Nàng hồng xúng xính trong bộ áo đỏ thắm Nàng cúc tưng bừng
trong chiếc váy màu vàng rực rỡ…tất cả đang tỏa hương thơm ngát Cây camnghiêng mình mang những trái cam căng tròn, đỏ ối lắc lỉu trên cành Mẹ con bácchuối dang cánh tay to bản phần phật trong gió Mấy hàng rau cải khiêm tốn nằmsát mặt đất xòe những chiếc lá xang non mơn mởn thi nhau vươn lên đón nắng mai
- Câu đầu đoạn và câu cuối đoạn nêu nhận xét, và đánh giá về đối tượng tả.Các câu còn lại miêu tả chi tiết đặc điểm của đối tượng
Ví dụ: Dòng sông vào đêm trăng thật đẹp và nên thơ Dưới ánh trăng và lớp sương
Trang 13bàng bạc, dòng sông như được trải rộng mênh mông Mặt sông như được dát bạc.Ánh đèn hai bên tạo thành những vệt sáng lấp loáng làm sông trở nên lung linhhơn.
Vẳng vẳng đâu đây tiếng lanh canh của thuyền đánh cá, tiếng hòa của ngư dân Lúc này, dòng sông bồng bềnh và huyền ảo và đẹp như một bứctranh thủy mặc
- Chỉ ý nghĩa tổng kết, khái quát: Tóm lại, nói tóm lại, nhìn chung,…
- Chỉ ý đối lập, tương phản: Ngược lại, trái lại, nhưng, thế mà, tuy vậy,…
- Từ ngữ thay thế: Do đó, do vậy, vì thế, cho nên,…
Dùng câu:
- Dùng câu nối với phần trước của văn bản
- Dùng câu nối với phần sau của văn bản
- Dùng câu nối với phần trước với phấn sau của văn bản
* Quan hệ giữa đoạn văn với đoạn văn
+ Quan hệ không gian: Ví dụ:
Trước cửa vườn, nàng hồng mang trên mình giọt sương long lanh đang e lệtrong lá Cánh hoa đỏ thắm mịn màng, khum khum úp sát vào nhau Nàng cúc cũngthay cho mình bộ váy vàng rực rỡ để chờ đón anh ong đến chơi Các nàng thi nhautỏa hương làm cả một khoảng không gian thơm mát…
Cuối vườn, mẹ con bác chuối lục đục, gọi nhau dạy tập thể dục Những cánhtay to bản giơ cao phần phật trong gió…
Quan hệ thời gian: Ví dụ:
Buổi sáng, dòng sông như dải lụa vắt qua đồng bằng Bắc Bộ Mặt sông gợnlên những con sóng nhẹ…
Buổi trưa, khi mặt trời giận dữ ném những tia nắng chói chang xuống mặtsông khoác chiếc áo dát vàng lấp lánh…
Ví dụ: Dựng đoạn văn cụ thể:
Để học sinh diễn đạt được bài tập làm văn của mình một cách sinh động, cónghệ thuật, các em thường được trau dồi qua tiết học “Chuyển một phần dàn ýthành đoạn văn”
- “Một phần của dàn ý” có thể là mở bài, kết bài, cũng có thể là một phần củathân bài
- Phần này, giáo viên cần nhắc nhở các em vận dụng cách mở rộng câu đúng