1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh giỏi lớp 9 làm tốt kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một ý kiến nhận định

22 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 237,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài nghị luận văn học, nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ núi chung vànghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định núi riờngluụn chiếm vị trớ quan trọng

Trang 1

I MỞ ĐẦU

1 Lớ do chọn đề tài:

Đó từ lõu, việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi ở cỏc khối lớp đó trở thànhnhiệm vụ của đại đa số cỏc trường THCS Kết quả thi của cỏc đội tuyển học sinhgiỏi phần nào phản ỏnh chất lượng dạy và học của nhà trường Dạy học mụn Ngữvăn vốn đó nhiều vất vả, nhọc nhằn, dạy đội tuyển học sinh giỏi mụn Ngữ văn càngnhọc nhằn, vất vả hơn Một khó khăn lớn đối với các nhà trờng là tất cảnhững học sinh có năng khiếu đều thích thi môn tự nhiên, khụngmấy em mặn mà với mụn Ngữ văn Vì vậy việc chọn học sinh có năngkhiếu để bồi dỡng rất khó, số lợng học sinh thì ít mà các môn thilại nhiều Mặt khác, do nhận thức của một số phụ huynh lại khôngmuốn cho con em mình tham gia đội tuyển Văn cho nên thờngthì những học sinh có năng khiếu cả về tự nhiên và xã hội thì các

em lại không yêu thích và ham mê học Văn Và ngợc lại, lại có nhữnghọc sinh rất thích học Văn nhng lại không có năng khiếu về văn ch-

ơng Điều này có ảnh hởng không ít đến chất lợng của đội tuyểnVăn

Những năm gần đõy, hoà cựng dũng chảy đổi mới giỏo dục, đổi mới kiểm tra,đỏnh giỏ nhằm phỏt triển toàn diện ở học sinh về kiến thức, kĩ năng, đề thi mụn Ngữvăn lớp 9 núi chung, đề thi học sinh giỏi núi riờng cú nhiều đổi mới Trong cấu trỳc

đề thi học sinh giỏi cấp Tỉnh của Thanh Húa những năm gần đõy, kiểu bài nghị luậnvăn học thường chiếm ưu thế lớn (12/20 điểm cho dạng bài này) Nghị luận văn họcbao gồm nghị luận về tỏc phẩm truyện (hoặc đoạn trớch) và nghị luận về một đoạnthơ, bài thơ luụn là một kiểu bài khú đối với học sinh lớp 9 núi chung và học sinhgiỏi núi riờng, quyết định rất lớn đến kết quả chung của bài thi Bởi lẽ đõy là kiểu bàiđũi hỏi cao sự hiểu biết về kiến thức, kĩ năng cả về văn học và xó hội trong một bàithi Với đặc điểm đề văn như vậy, giỏo viờn bồi dưỡng và nhất là học sinh gặp nhiềukhú khăn Thực tế ấy đặt ra nhiều băn khoăn, trăn trở đối với giỏo viờn đứng độituyển

Trong bài nghị luận văn học, nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ núi chung vànghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định núi riờngluụn chiếm vị trớ quan trọng trong đề thi học sinh giỏi cỏc cấp Song qua thực tế trảinghiệm tụi thấy trong khi viết bài nghị luận văn học núi chung, nghị luận về mộtđoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định trong mỗi kỡ thi học sinhgiỏi cỏc em cũn nhiều hạn chế, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả chung của toàn bài thi

Vỡ vậy trong đề tài, tụi muốn trao đổi cựng đồng nghiệp vấn đề “Hướng dẫn hoc sinh giỏi lớp 9 làm tốt kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định” để mong tỡm được giải phỏp chung giỳp học sinh viết bài tốt

nhất, hiệu quả nhất trong mỗi kỡ thi học sinh giỏi

2 Mục đớch nghiờn cứu:

- Củng cố kĩ năng tạo lập văn bản, kĩ năng viết tốt bài văn nghị luận về đoạnthơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định, nõng cao chất lượng dạy và họcmụn Ngữ văn lớp 9 và thi học sinh giỏi mụn Ngữ văn của trường THCS

- Bồi đắp niềm tin, tỡnh yờu thơ văn cho học sinh

3 Đối tượng nghiờn cứu:

Trang 2

Học sinh đội tuyển học sinh giỏi lớp 9 THCS nhằm giúp các em làm tốt kiểubài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với viêc giải quyết một nhận định.

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Điều tra khảo sát nắm bắt tình hình thực tế

- Tiến hành thực nghiệm trong quá trình dạy đội tuyển học sinh giỏi

- Dạy học trực quan (gắn lí thuyết và thực hành cụ thể)

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận

1.1 Đặc trưng của bài nghị luận về môt đoạn thơ, bài thơ

Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày những nhận xét, đánh giá củamình về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ đó

Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ được thể hiện qua ngôn từ, hìnhảnh, giọng điệu … Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố đó để có những nhận xét,đánh giá cụ thể, xác đáng

Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng; có lờivăn gợi cảm, thể hiện rung động chân thành của người viết

1.2 Yêu cầu đối với học sinh giỏi khi viết bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

Bên cạnh những yêu cầu kiến thức, kĩ năng cơ bản về viết bài văn nghị luận

về một bài thơ, đoạn thơ đối với bất kì một học sinh nào thì học sinh giỏi cần thêm

những yếu tố sau:

a Về kiến thức

- Nắm chắc, hiểu sâu, thấu đáo và toàn diện kiến thức tác phẩm: kiến thức vănhọc sử, tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung, nghệ thuật… Điều này tưởng như đơngiản và thừa đối với học sinh giỏi Song đôi khi do sự chủ quan cũng có học sinhnắm chưa chắc kiến thức nên dễ hiểu sai, hiểu chưa đúng những nội dung tư tưởng

và giá trị nghệ thuật mà tác giả thể hiện nên dễ suy diễn lệch lạc

- Tích luỹ kiến thức về lý luận văn học trong những buổi bồi dưỡng của thầy

cô Đối với đối tượng là học sinh giỏi, được trang bị kiến thức lý luận văn học giúphọc sinh có những bình luận, đáng giá, nhận xét chuẩn xác hơn về một hiện tượngvăn học nào đó, bài viết của các em trở nên sâu sắc hơn về ý tưởng, chặt chẽ hơn vềlập luận, thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ

Thực tế các kỳ thi học sinh giỏi cho thấy đề thi có liên quan đến kiến thức lýluận văn học chiếm một tỉ lệ khá lớn, dù với những dạng khác nhau

Có những đề thi yêu cầu trực tiếp kiến thức lý luận để giải quyết vấn đề, giảiquyết một hiện tượng văn học Có những đề thi yêu cầu vận dụng một tỉ lệ kiến thức

lý luận nhất định… Vì vậy trong quá trình giải quyết vấn đề cần có kiến thức này đểcho bài văn thêm vững vàng về luận điểm, chặt chẽ trong lập luận, từ đó sẽ có sứcthuyết phục hơn

- Biết so sánh đối chiếu nét tương đồng và khác biệt giữa hai tác giả, tác phẩm

ở cùng thời đại hoặc khác thời đại… Đây là kĩ năng khó Vì vậy người viết khôngchỉ cần hiểu kĩ, hiểu sâu mà cần cả độ cảm nhận sâu sắc, tinh ý để thấy được điểmgặp gỡ tương đồng hay khác biệt ở các tác giả, tác phẩm

b Về kĩ năng

- Tổng hợp các kĩ năng nghị luận để lập luận chặt chẽ thuyết phục

Trang 3

- Xác định đúng vấn đề nghị luận (luận đề) và hệ thống luận điểm, luận cứ để

có kết cấu bài rõ ràng, khoa học Biết phân tích và đưa dẫn chứng tiêu biểu phù hợpvới hệ thống luận điểm để nổi bật trọng tâm bài viết, tránh trùng lặp (Có đề thì phântích bổ dọc tác phẩm, có đề phân tích bổ ngang tác phẩm, hoặc có đề chỉ lựa chọnmột số chi tiết, hình ảnh, câu thơ câu văn tiêu biểu)

- Kết hợp các phương pháp lập luận giải thích, chứng minh (chủ yếu) với đánhgiá tổng hợp vấn đề, khả năng cảm thụ, khám phá các giá trị của tác phẩm

- Bài viết mạch lạc, lập luận thuyết phục, lời văn trong sáng, giàu hình ảnh,giàu cảm xúc

c Về tâm lý

Trong mỗi kì thi, học sinh gặp bao khó khăn: một khoảng thời gian khôngnhiều (150 phút cho một đề thi học sinh giói với nhiều phần kiến thức, kĩ năng tổnghợp), một không gian căng thẳng của phòng thi, hơn nữa đề thi hằng năm lại luônthay đổi và biến hoá không ngừng Đặc biệt hơn đốí với bài văn học sinh giỏi yếu tốbiểu cảm - tình cảm, cảm xúc người viết rất quan trọng Bởi lẽ là những rung cảmchân thành, tha thiết, những xúc động tinh tế của học sinh khi cảm nhận được tưtưởng, tình cảm đẹp được tác giả gửi gắm trong tác phẩm sẽ làm bài viết sâu sắchơn, tác động mạnh mẽ hơn tới người đọc Nếu không có bản lĩnh, sự tự tin thì sẽkhông làm chủ được tư duy và cảm xúc của mình Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến kếtquả bài thi Vì vậy ngoài việc trang bị kiến thức, kĩ năng thì việc rèn bản lĩnh vàlòng tự tin để học sinh có tâm lí ổn định khi làm bài thi là rất cần thiết

2 Cơ sở thực tiễn

Trong những năm gần đây, trong cấu trúc đề thi HSG môn Ngữ văn cấp tỉnhcủa Thanh Hóa nói riêng và các tỉnh nói chung luôn có một câu phần nghị luận vănhọc Thông thường, nghị luận văn học có dạng cơ bản: nghị luận về một đoạn thơ, bàithơ và nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) Tuy nhiên, đối với học sinhgiỏi đề không chỉ dừng lại ở đó mà thường gắn với các vấn đề sau:

- Nghị luận về một vấn đề mang tính chất so sánh đối chiếu trong văn học

- Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

+ Nghị luận về một giai đoạn văn học

+ Nghị luận về một vần đề mang tính lý luận được đặt ra trong tác phẩm vănhọc

+ Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học

Ví dụ câu 3, 12 điểm trong đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa các năm:

Đề thi năm học 2014 - 2015:

“Tác phẩm vừa là kết tinh tâm hồn của người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”

(Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2014)

Từ cảm nhận về bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy), em hãy trình bày suy nghĩ

của mình về ý kiến trên

Trang 4

Qua bài thơ Sang thu, em hãy bàn về hai ý kiến trên.

Đề thi năm học 2016 - 2017:

Trong Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi viết:

“Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng…” Hãy làm rõ ánh sáng riêng mà bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy đã rọi vào

tâm hồn em

Đề thi năm học 2017 - 2018:

Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ:

Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó.

Từ cảm nhận về bài thơ Nói với con của Y Phương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến

trên

Từ đề thi các năm gần đây, có thể thấy rằng nghị luận về một đoạn thơ, bàithơ gắn với việc giải quyết một nhận định là dạng bài khá phổ biến Đối với học sinhlớp 9, việc viết bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ đã khó; viết bài văn nghị luận

về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một ý kiến, nhận định còn khó hơn.Các em thường ngại, thậm chí sợ gặp dạng bài này bởi nó đòi hỏi người viết khôngchỉ có năng lực cảm thụ mà cả năng lực tư duy nhận biết, phát hiện vấn đề cần bànluận qua nhận định lí luận văn học, đồng thời thấy được những đặc sắc của tác phẩm

ở phương diện mà nhận định đưa ra Bên cạnh đó, các em còn lúng túng khi nhậndiện yêu cầu đề, không hiểu hoặc chưa hiểu hết ý nghĩa của các khái niệm lí luậnvăn học nên không biết nên viết từ đâu, ý nào viết trước, ý nào viết sau

Từ thực tế những năm bồi dưỡng đội tuyển HSG tỉnh, tôi nhận thầy rằngnhiều em đã có kỹ năng đọc, phân tích đề tốt, xác định đúng vấn đề cần bàn luận và

đã bàn luận sâu vấn đề Các em đã biết khai thác tác phẩm để làm rõ vấn đề cần bànluận trong đoạn thơ, bài thơ mà nhận định yêu cầu

Tuy nhiên, khi gặp dạng đề này, học sinh thường mắc những lỗi sau:

- Chưa hiểu sâu nội dung nhận định đã cho nên triển khai còn thiếu nội dungcần bàn luận

- Chỉ lướt qua hoặc không đề cập gì đến nhận định đã cho mà đi vào phân tíchbài thơ đơn thuần

- Chưa biết bám vào nội dung của nhận định để diễn đạt, triển khai hệ thốngluận điểm cho phù hợp với yêu cầu đề

Theo tôi, có nhiều nguyên nhân để các em chưa làm tốt kiểu bài này, như:

- Trong văn học, phần kiến thức lí luận văn học là khó hơn cả vì nó đòi hỏingười học phải có độ tư duy và kiến thức nền tảng nhất định

- Các em không được học phần lí luận văn học và dạng bài nghị luận về mộtđoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một ý kiến, nhận định trong chương trìnhchính khóa

- Đây là dạng bài có yêu cầu cao, đòi hỏi học sinh vừa nắm vững, cảm thụ tácphẩm, vừa có hiểu biết về lí luận văn học, vừa phải có khả năng tư duy tổng hợp,khả năng lập luận tốt

- Các tài liệu hướng dẫn cũng như cách viết của dạng bài này không nhiều nêncác em chưa được tiếp cận

Trang 5

3 Những giải pháp giúp đối tượng học sinh giỏi lớp 9 làm tốt bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định.

3.1 Rèn luyện, bồi dưỡng cho học sinh nắm chắc, hiểu sâu và toàn diện kiến thức.

Giống như làm nhà cũng cần có nền móng vững chắc, học sinh đội tuyển cũngphải có nền tảng kiến thức về tác phẩm Điều này tưởng như đơn giản và thừa đốivới học sinh giỏi, song đôi khi do sự chủ quan cũng có khi do học sinh chưa nắmchắc kiến thức nên dễ hiểu sai, hiểu chưa đúng những nội dung tư tưởng và giá trịnghệ thuật của tác phẩm Khi đó, các em sẽ triển khai bài viết thiếu ý, thiếu độ sâu,thậm chí uy diễn lệch lạc dẫn đến hiệu quả làm bài không tốt Chính vì vậy, khi bắtđầu bồi dưỡng học sinh giỏi, khâu mà tôi đặc biệt quan tâm là cung cấp, hướng dẫncho các em nắm chắc và toàn diện các đơn vị kiến thức thuộc về văn bản như kiếnthức văn học sử, những thông tin chính về nhà thơ hoàn cảnh sáng tác, giá trị nộidung và đặc sắc nghệ thuật…Có như vậy các em mới “có bột” để “gột nên hồ”

Với đối tượng học sinh giỏi, tôi yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức vềtác phẩm văn học, kiến thức về văn học sử, kiến thức lí luận văn học và cả kiến thứcvăn hóa tổng hợp

a Kiến thức về tác phẩm văn học: Với học sinh giỏi, tôi yêu cầu các em:

- Nắm được hệ thống kiến thức cơ bản về tác phẩm không chỉ thể hiện ở chỗ

nhớ nhiều mà còn phải hiểu được, cảm được cái hay cái đẹp về nội dung, nghệ

thuật của tác phẩm

- Khi tìm hiểu cần liên hệ đến bối cảnh lịch sử mà tác phẩm ra đời, so sánhvới các tác phẩm cùng chủ đề để thấy vẻ đẹp của tác phẩm

Ví dụ: Tìm hiểu, phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, cần chú

ý đến hoàn cảnh sáng tác của bài thơ (không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời đểthấy được cảm xúc thiết tha yêu mến, gắn bó với cuộc đời và ước nguyện, lẽ sốngđẹp của nhà thơ…); liên hệ so sánh với những bài thơ cùng viết về đề tài mùa xuân

như đoạn trích Cảnh ngày xuân ( trích Truyện Kiều, Nguyễn Du), bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử, Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính…

b Kiến thức về văn học sử:

Trang 6

Trong chương trình Ngữ văn THCS, học sinh ít được tiếp xúc với các bài kháiquát về kiến thức văn học sử mà chỉ được học một số mục giới thiệu về tác giả, tácphẩm, ôn tập… Nhưng với đối tượng học sinh giỏi lớp 9, trong quá trình bồi dưỡng,tôi đã cung cấp cho các em kiến thức văn học sử theo từng giai đoạn văn học đểbước đầu các em nắm được lịch sử văn học có hệ thống Ví dụ như các giai đoạnphát triển của văn học trung đại, văn học hiện đại Việt Nam; mỗi giai đoạn có nhữngtác giả, tác phẩm tiêu biểu nào; những chủ đề chính của từng giai đoạn văn học?Những nét chính về cuộc đời vầ sự nghiệp sáng tác của các tác giả tiêu biểu; hoàncảnh ra đời, nội dung tư tưởng chính của các tác phẩm…

Nắm vững văn học sử các em tiếp nhận văn học một cách có cơ bản, hệ thống,

từ đó có một cách đánh giá đúng các tác giả, tác phẩm văn học Bởi khi phân tíchmột tác phẩm nào đó, chúng ta phải xem xét không chỉ các yếu tố trong văn bản màcòn phải căn cứ thêm nhiều yếu tố khác ngoài văn bản như cuộc đời của tác giả, bốicảnh lịch sử xã hội, hoàn cảnh sáng tác … Những kiến thức ấy đều do văn học sửcung cấp

Ví dụ: khi học phần thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn từ 1946 - 1975, học sinhcần nắm được những kiến thức lịch sử của đất nước trong hai cuộc kháng chiếnchống Pháp và chống Mĩ thì mới thấy được vẻ đẹp trong thái độ dứt khoát, tư thếung dung, hiên ngang của người lính cách mạng trong hoàn cảnh chiến trường đầygian khổ, khốc liệt trong hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe khôngkính”; vẻ đẹp của tinh thần lạc quan, khí thế phấn chấn của những con người laođộng mới làm chủ sự giàu đẹp của thiên nhiên để xây dựng đất nước trong bài thơ

“Đoàn thuyền đánh cá”; vẻ đẹp của những người phụ nữ giàu tình yêu thương, giàuđức hy sinh, vừa là hậu phương vững chắc, vừa trực tiếp tham gia vào cuộc khángchiến của dân tộc trong bài thơ “Bếp lửa”, “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưngmẹ”…

c Kiến thức văn hóa tổng hợp:

Để viết tốt một bài văn nghị luận văn học, hoc sinh không chỉ có kiến thức vềtác phẩm mà rất cần kiến thức văn hóa tổng hợp Vì vây học sinh cần hiểu và vậndụng phù hợp tri thức của nhiều môn học khác như Lịch sử, Địa lí, … cả những hiểubiết về văn hóa - đời sống, những kinh nghiệm và sự từng trải của cá nhân

3.2 Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về lí luận văn học

Dạng bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhậnđịnh yêu cầu học sinh phải bao quát được những vấn đề cơ bản của lí luận văn học

và soi sáng nó những tác phẩm cụ thể Để học sinh có thể làm tốt kiểu bài này, theotôi ngoài việc trang bị kiến thức về tác phẩm, rèn luyện kỹ năng làm bài thì việccung cấp cho học sinh hiểu biết về lí luận văn học là rất quan trọng Bởi nếu không

có kiến thức lí luận văn học các em sẽ không hiểu nội dung nhận định, dẫn đến việcxác định thiếu hoặc sai nội dung các luận điểm Hơn nữa, với đối tượng học sinhgiỏi, được trang bị kiến thức lí luận văn học giúp các em có những bình luận, đánhgiá, nhận xét chuẩn xác hơn về một hiện tượng văn học nào đó, bài viết của các emtrở nên sâu sắc hơn về ý tưởng, vững vàng về luận điểm, chặt chẽ hơn về lập luận,thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ, bài văn sẽ có chiều sâu, có điểm nhấn

Kiến thức lí luận văn học thường khô khan, khái quát, trừu tượng, khó hiểu,khó gây sự hứng thú đối với học sinh trong quá trình tiếp nhận Vì vậy, trong quá

Trang 7

trình bồi dưỡng, tôi đã cố gắng diễn giải lại một cách đơn giản nhất kết hợp với phântích ví dụ cụ thể để các em dễ hiểu nhất

Trong chương trình Ngữ văn THCS, tôi cũng đã dạy kĩ hai văn bản liên quan

đến lí luận văn học là Ý nghĩa văn chương (Hoài Thanh, Ngữ văn 7) và Tiếng nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9)

Khi dạy phần thơ, tôi đã bồi dưỡng cho học sinh chuyên đề Một số yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi phân tích thơ trữ tình Mục tiêu của chuyên đề

này là giúp các em nắm vững đặc trưng của thơ trữ tình, biết nhận diện và phân tíchmột số dấu hiệu nghệ thuật đặc trưng của thơ từ đó vận dụng vào thực tế cảm thụ vàviết bài, như: nhịp thơ, gieo vần, ngắt nhịp, từ ngữ, các biện pháp tu từ, dấu câu,…

Ngoài ra, tôi cũng cung cấp cho các em một số chuyên đề chung như Phong cách nghệ thuật, Giá trị và chức năng của văn học, vai trò của văn học đối với đời sống, … Như vậy, thông qua các chuyên đề và các văn bản được học, vốn kiến thức

lí luận văn học của các em ngày càng được bồi đắp, mở rộng dần Trên nền tảngnắm vững kiến thức lí luận văn học cơ bản nhất, các em có thể vận dụng làm nhiều

đề khác nhau, nhiều tác phẩm cụ thể

Tôi cũng sưu tầm và cung cấp cho các em những nhận định, đánh giá về vănchương nói chung, về thơ, giúp các em hiểu về đặc trưng, giá trị của thơ ca, biết vậndụng vào trong các bài viết cho phù hợp

- Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng

đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, thương yêu hơn (Thạch Lam)

- Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói tình cảm của con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư (Lê Ngọc Trà)

- Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo Vì vậy nó đòi hỏi phải có phong cách, tức là phải có nét gì đó rất mới, rất riêng thể hiện trong tác phẩm của mình.

(Nguyễn Tuân)

- Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật (Bêlinxki)

- Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút cho được cái nhụy

ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy (Phạm Văn Đồng)

- Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh Để đạt được một lúc ba điều ấy đối với các thi sĩ vẫn còn là điều bí mật (Trần Đăng Khoa)

- Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp (Sóng Hồng)

- Bài thơ hay là bài thơ đọc lên không còn thấy câu thơ mà chỉ còn thấy tình người và tôi muốn thơ phải thật là gan ruột của mình.(Tố Hữu)

- Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa (Xuân Diệu)

- Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân (Sóng Hồng)

- Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời (Tố

Hữu)

Trang 8

Một nhận định lí luận văn học, tôi thường yêu cầu học sinh chứng minh trongnhiều tác phẩm khác nhau

Ví dụ: với ý kiến trong văn bản “Tiếng nói của văn nghệ”, Nguyễn Đình Thi:“Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới

mẻ Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh”.

- Việc đầu tiên tôi yêu cầu học sinh đọc thật kĩ đề, gạch chân các từ ngữ quantrọng để hiểu ý người ra đề Để tránh việc hiểu sai nhận định, tôi yêu cầu học sinhchú ý đến từ ngữ, những vế câu và quan hệ lập luận giữa các mệnh đề trong nhậnđịnh Đồng thời, một số trường hợp có thể tìm hiểu thêm về hoàn cảnh, xuất xứ củanhận định để bàn luận vấn đề một cách chủ động, tránh suy diễn vô căn cứ

Ví dụ: Đề thi năm học 2017 - 2018:

Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ:

Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó.

Từ cảm nhận về bài thơ Nói với con của Y Phương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến

trên

- Sau khi gạch chân những từ ngữ quan trọng học sinh sẽ dễ dàng xác định

được vấn đề bàn luận của đề bài trên là: tình người trong bài thơ Nói với con của Y

Phương và những hình thức nghệ thuật đặc sắc tạo nên ấn tượng riêng của bài thơvới bạn đọc

- Như vậy, trước một đề bài, học sinh cần xác định được ba yếu tố cơ bản:+ Kiểu bài: Nghị luận (thường ở các từ mệnh lệnh như suy nghĩ, ý kiến, bànvề…)

+ Nội dung vấn đề bàn luận: dựa vào nhận định để xác định cụ thể vấn đề cầnbàn luận trong bài thơ

+ Phạm vi kiến thức: Kiến thức bắt buộc (bài thơ theo yêu cầu của đề bài) vàkiến thức mở rộng, liên hệ

Trang 9

Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ:

Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó.

Từ cảm nhận về bài thơ Nói với con của Y Phương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến

trên

Học sinh cần đặt ra hệ thống câu hỏi tìm ý như:

- Câu thơ hay nghĩa là gì? Tình người có nghĩa là gì? Nói Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó có nghĩa?

- Tình người trong bài thơ Nói với con được biểu hiện như thế nào?

- Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ?

- Nhận định đã đưa ra bài học gì cho người sáng tác và người đọc?

Bước 3: Lập dàn ý

Lập dàn ý giúp học sinh xác định những luận điểm, luận cứ cụ thể, chính xác,

không bỏ sót ý Khi làm dạng bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việcgiải quyết một nhận định, tôi thường hướng dẫn học sinh xây dựng khung dàn bàinhư sau:

– Bàn bạc, khẳng định vấn đề Có thể lập luận theo cách sau:

+ Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? cụ thể?

+ Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng địnhđược như vậy?

+ Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học vàtrong cuộc sống? phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học

Trang 10

– Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học.

* Kết bài:

- Khẳng định lại vấn đề bàn luận

- Phát biểu cảm nghĩ hoặc liên hệ bản thân từ vấn đề bàn luận

Ví dụ: dàn ý của đề thi năm học 2017 - 2018:

Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ:

Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó.

Từ cảm nhận về bài thơ Nói với con của Y Phương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến

* Câu thơ hay: là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, kết tinh những tư

tưởng, tình cảm mà nhà thơ muốn gửi gắm qua hình thức phù hợp

* Đọc: là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc.

* Tình người: là tư tưởng, tình cảm, cảm xúc tạo nên giá trị nội dung của thơ.

=> Quan niệm nhấn mạnh giá trị của thơ là những tư tưởng, tình cảm đượcbiểu hiện trong thơ Tình cảm, cảm xúc càng sâu sắc, mãnh liệt, lớn lao càng khiếnthơ lay động lòng người

2.2 Bàn luận

* Đối tượng của thơ là thế giới tâm hồn, tình cảm của con người Câu thơ, bàithơ bao giờ cũng biểu đạt tình cảm, tư tưởng của người nghệ sĩ Cảm xúc càng mãnhliệt, càng thăng hoa thì thơ càng có nhiều khả năng chinh phục, ám ảnh trái timngười đọc

* Với người đọc, đến với bài thơ là để trải nghiệm một tâm trạng, một cảmxúc và kiếm tìm sự đồng điệu của tâm hồn

* Tuy nhiên, nói “không thấy câu thơ” không có nghĩa là câu thơ không tồn tại

mà hình thức biểu hiện đó đã đồng nhất với nội dung tình cảm của tác phẩm

2.3 Chứng minh

* Tình người trong bài thơ “Nói với con”:

- Thể hiện qua lời cha nói với con về cội nguồn sinh dưỡng:

+ Con lớn lên trong tình yêu thương, trong sự nâng niu và mong chờ của chamẹ

+ Con trưởng thành trong cuộc sống lao động, nghĩa tình của quê hương

- Thể hiện qua lời cha nói với con về những đức tính cao đẹp của người đồngmình:

+ Ca ngợi người đồng mình sống vất vả mà mạnh mẽ, bền bỉ, gắn bó, chung

thủy; có ý chí tự lực tự cường, biết chấp nhận và vượt qua gian nan thử thách bằngnghị lực, niềm tin

Trang 11

+ Cha mong con biết sống nghĩa tình, thủy chung với quê hương; biết chấpnhận và vượt qua gian nan thử thách; có một nhân cách cao đẹp, sức sống hồn nhiên,khoáng đạt, mạnh mẽ.

- Cha dặn dò con phải biết giữ gìn và phát huy truyền thống quê hương và có

ý chí vươn lên trong cuộc sống

=> Qua lời tâm tình của cha với con, nhà thơ Y Phương đã diễn tả xúc động,thấm thía tình cha con Tình cảm ấy đã hòa quyện với tình yêu quê hương, đất nước

Từ đó khơi dậy mạch nguồn đạo lý truyền thống của dân tộc

* Hình thức biểu đạt:

- Thể thơ: tự do, nhịp thơ linh hoạt

- Từ ngữ, hình ảnh: cụ thể, mộc mạc mà có tính khái quát, giàu chất thơ, rấttiêu biểu cho cách tư duy của người miền núi

- Biện pháp nghệ thuật: điệp từ, điệp cấu trúc, so sánh, đối lập,

- Giọng điệu: tâm tình, thiết tha, thấm thía

2.4 Đánh giá

* Nói với con của nhà thơ Y Phương là một bài thơ hay Bài thơ đã thể hiện

được tình cảm gia đình, quê hương, dân tộc chân thành, sâu sắc, thấm thía qua hìnhthức nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn

* Bài học đối với người sáng tác và người thưởng thức, tiếp nhận:

- Người sáng tác: người làm thơ bên cạnh sự sâu sắc, mãnh liệt của tình cảm,

sự phong phú của cảm xúc cần nghiêm túc, công phu trong lao động nghệ thuật

- Người đọc: không ngừng trau dồi tri thức để hiểu và đồng cảm với tác giả.3.Kết bài: Khẳng định vấn đề bàn luận

Bước thứ ba: viết thành một bài nghị luận hoàn chỉnh sau khi đã lập dàn ý

khái quát Khi viết bài cần lưu ý:

a Viết mở bài:

- Nhiệm vụ: Mở bài có nhiệm vụ giới thiệu được vấn đề nghị luận của bàiviết và giới hạn phạm vi vấn đề Mở bài rất quan trọng bởi đây là phần định hướngcho bài viết và tạo nên sự hấp dẫn lôi cuốn người đọc

- Cách viết:

Đây là kĩ năng quen thuộc học sinh đã được rèn nhiều từ những bài học của thầy

cô Với học sinh giỏi thường mở bài gián tiếp qua những cách: diễn dịch, quy nạp,tương đồng, tương phản Dù bằng cách nào, mở bài cần đảm bảo được:

+ Dung lượng của phần mở bài phải tương ứng với khuôn khổ của bài viết vàphải cân đối với phần kết bài

+ Có sự liền mạch với bài viết về cả nội dung lẫn phong cách giới thiệu, diễnđạt Đây là phần phải tạo được âm hưởng chung, định hướng chung cho cả bài viết

và cuốn hút, thuyết phục được người đọc Muốn vậy mở bài cần đảm bảo được các

yếu tố: ngắn gọn, đầy đủ, độc đáo và tự nhiên.

Tuy nhiên, các dạng đề trong đề thi học sinh giỏi rất đa dạng nên trong quátrình luyện viết cần chú ý học sinh cách mở bài từng dạng đề cho phù hợp

Ví dụ:

* Với đề văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ gắn với việc giải quyết một nhận định lí luận văn học, tôi thường hướng dẫn học sinh trình tự viết mở bài

như sau:

Ngày đăng: 12/08/2019, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w