1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính trong các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện

99 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 789,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. Theo xu thế hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nền kinh tế cạnh tranh gay gắt, ngành nghề đa dạng, thị trường chứng khoán đi vào hoạt động sôi nổi đã tạo đà cho phân tích tài chính trở thành một hoạt động đặc biệt quan tâm tại các doanh nghiệp. Phân tích tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Qua đó phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, mức lợi nhuận hay mức độ rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, vai trò của phân tích tài chính ngày càng có ý nghĩa và được quan tâm. Muốn phân tích tài chính phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp thì cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính. Đây là vấn đề mang tính quyết định tới chất lượng và hiệu quả của quá trình phân tích. Việc xây dựng mô hình các chỉ tiêu tài chính có tính cần thiết và cấp bách đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Đặc biệt trong giai đoạn tiến tới Cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay thì các chỉ tiêu tài chính là đối tượng quan tâm của các cổ đông, các nhà đầu tư tài chính. Các công ty Cổ phần tại Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện không nằm ngoài mục tiêu đó. Trước những nhu cầu cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn đó, tôi đã lựa chọn “Hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính trong các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI. Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề thuộc về cơ sở lý luận của phân tích hoạt động tài chính, hệ thống hóa các chỉ tiêu phân tích tài chính. Nghiên cứu và đánh giá thực trạng phân tích tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính tại các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện. Vận dụng lý luận để xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính tại các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện nói riêng và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu tài chính trong phân tích tài chính tại các Công ty Cổ phần nói chung. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI. Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến phân tích tài chính. Đó là những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống các chỉ tiêu tài chính, các phương pháp phân tích tài chính thông qua các báo cáo tài chính. Từ đó liên hệ đến hoạt động phân tích tài chính tại các Công ty Cổ phần. Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích, hệ thống các chỉ tiêu phân tích áp dụng tại hai Công ty Cổ phần tại Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; kết hợp các phương pháp tổng hợp và phân tích, diễn giải với quy nạp, giữa lý luận với thực tiễn từ đó đưa ra các quan điểm, giải pháp để đạt mục đích nghiên cứu của đề tài. Đồng thời luận văn kết hợp lý luận cơ bản của khoa học chuyên ngành kế toán - tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh với nội dung quản lý Nhà nước về tài chính trong điều kiện nền kinh tế thị trường. 5. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN. Trên cơ sở hệ thống hóa, phân tích, đánh giá thực trạng phân tích tài chính thông qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính tại các Công ty Cổ phần nói chung và tại Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện nói riêng, luận văn đã tổng hợp và đưa ra các quan điểm cũng như các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu, phương pháp và cách thức tổ chức phân tích tài chính trong các công ty Cổ phần. Từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng thông tin phân tích phù hợp với điều kiện hội nhập và phát triển kinh tế thị trường hiện nay. 6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau : Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phân tích tình hình tài chính trong các công ty cổ phần. Chương 2: Thực trạng của việc phân tích tình hình tài chính trong các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện. Chương 3: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.

Theo xu thế hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt sau khi gianhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước nhiều nguy cơ vàthách thức Trước tình hình đó, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triểnđòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư đổi mới công nghệ, đào tạonguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sản phẩm Nền kinh tế cạnh tranh gaygắt, ngành nghề đa dạng, thị trường chứng khoán đi vào hoạt động sôi nổi đãtạo đà cho phân tích tài chính trở thành một hoạt động đặc biệt quan tâm tạicác doanh nghiệp

Phân tích tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý Qua

đó phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũngnhư khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, mức lợi nhuận hay mức độ rủi rotrong kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt trong quá trình phát triển nềnkinh tế thị trường hiện nay, vai trò của phân tích tài chính ngày càng có ýnghĩa và được quan tâm

Muốn phân tích tài chính phản ánh chính xác tình hình tài chính củadoanh nghiệp thì cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hìnhtài chính Đây là vấn đề mang tính quyết định tới chất lượng và hiệu quả củaquá trình phân tích

Việc xây dựng mô hình các chỉ tiêu tài chính có tính cần thiết và cấpbách đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Đặc biệt trong giai đoạn tiến tới Cổphần hóa các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay thì các chỉ tiêu tài chính là đốitượng quan tâm của các cổ đông, các nhà đầu tư tài chính Các công ty Cổphần tại Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện không nằm ngoài mục tiêu đó.Trước những nhu cầu cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn

đó, tôi đã lựa chọn “Hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính

Trang 2

trong các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện” làm

đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.

Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề thuộc về cơ sở lý luận của phân tíchhoạt động tài chính, hệ thống hóa các chỉ tiêu phân tích tài chính

Nghiên cứu và đánh giá thực trạng phân tích tài chính thông qua các chỉtiêu tài chính tại các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuậtĐiện

Vận dụng lý luận để xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu phântích tài chính tại các Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuậtĐiện nói riêng và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêutài chính trong phân tích tài chính tại các Công ty Cổ phần nói chung

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.

Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đếnphân tích tài chính Đó là những vấn đề lý luận cơ bản về hệthống các chỉ tiêu tài chính, các phương pháp phân tích tàichính thông qua các báo cáo tài chính Từ đó liên hệ đến hoạtđộng phân tích tài chính tại các Công ty Cổ phần

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích, hệthống các chỉ tiêu phân tích áp dụng tại hai Công ty Cổ phần tại Tổng Công tyThiết bị Kỹ thuật Điện

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,duy vật lịch sử và các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; kết hợpcác phương pháp tổng hợp và phân tích, diễn giải với quy nạp, giữa lý luậnvới thực tiễn từ đó đưa ra các quan điểm, giải pháp để đạt mục đích nghiêncứu của đề tài

Trang 3

Đồng thời luận văn kết hợp lý luận cơ bản của khoa học chuyên ngành kếtoán - tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh với nội dung quản lý Nhànước về tài chính trong điều kiện nền kinh tế thị trường.

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN.

Trên cơ sở hệ thống hóa, phân tích, đánh giá thực trạng phân tích tàichính thông qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính tại các Công ty Cổ phần nóichung và tại Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện nóiriêng, luận văn đã tổng hợp và đưa ra các quan điểm cũng như các giải phápnhằm hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu, phương pháp và cách thức tổ chứcphân tích tài chính trong các công ty Cổ phần Từ đó nâng cao hiệu quả, chấtlượng thông tin phân tích phù hợp với điều kiện hội nhập và phát triển kinh tếthị trường hiện nay

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau :

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phân tích tình hình

tài chính trong các công ty cổ phần.

Chương 2: Thực trạng của việc phân tích tình hình tài chính trong các

Công ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện.

Chương 3: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các Công

ty Cổ phần thuộc Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện .

Trang 4

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN.

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1.1 Khái niệm Công ty Cổ phần.

Công ty cổ phần xuất hiện rất sớm trong nền kinh tế tưbản ở thế kỷ XVI Những công ty cổ phần đầu tiên xuất hiện ởAnh, sau đó ở Pháp, Hà Lan và các nước tư bản khác Hoạtđộng chủ yếu của các công ty cổ phần này là trong lĩnh vựcthương mại quốc tế Tuy nhiên phải đến thế kỷ XX công ty cổphần mới phát triển ở hầu hết các nước tư bản có nền kinh tếthị trường phát triển cao

Lịch sử hơn một trăm năm qua cho thấy, công ty cổ phần

là phương thức phát triển cao, linh hoạt, giúp cho các nhà đầu

tư huy động được nhiều vốn nhất cho mục tiêu phát triển sảnxuất kinh doanh

Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các cổ đôngcùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng chia lợi nhuận,cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp

Theo luật doanh nghiệp của nước ta thì công ty cổ phần làdoanh nghiệp, trong đó :

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là

cổ phần

- Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông

- Cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào

Trang 5

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân Số cổ đông ít nhất là

ba và không hạn chế số lượng tối đa

- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán racông chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấpgiấy đăng ký kinh doanh

1.1.2 Các nhân tố và sự hình thành, phát triển của công ty cổ phần.

Công ty cổ phần ra đời từ cuối thế kỷ XVI ở các nước pháttriển, đến nay đã có lịch sử gần 500 năm và nó được phát triểntheo hình thái mô hình sau:

Hình thái kinh doanh một chủ

Hình thái kinh doanh chung vốn

Hình thái công ty cổ phần

Trang 6

Cùng với quá trình phát triển nền sản xuất, các công ty

cổ phần ở các nước trên thế giới cũng hình thành và ngàythêm mở rộng

Thứ nhất, trong nền sản xuất hàng hoá quy luật giá trị tác động mạnh.

Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản buộc họ tìm cách cải tiến và nângcao trình độ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuấtnhằm làm cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giátrị hàng hoá xã hội thì mới có thể tiếp tục tồn tại và phát triển Điều nàythường chỉ có các nhà tư bản lớn, có quy mô sản xuất ở mức độ nhất định mới

có đủ khả năng để trang bị kỹ thuật hiện đại làm cho năng suất lao động tăng,giành thắng lợi trong cạnh tranh Còn các nhà tư bản nhỏ, có giá trị hàng hoá

cá biệt cao hơn giá trị hàng hoá xã hội thì sẽ bị thua lỗ và phá sản Để tránhđược kết cục bi thảm đó, các nhà tư bản vừa và nhỏ phải tìm cách tích tụ vốnlại để mở rộng quy mô sản xuất và hiện đại hoá trang thiết bị Tuy nhiên đây

là một biện pháp hết sức khó khăn đòi hỏi phải có thời gian dài mới có thểthực hiện được Một lối thoát có hiệu quả hơn là các nhà tư bản vừa và nhỏ cóthể thoả hiệp và liên minh với nhau, tập trung các tư bản cá biệt của họ lạithành một tư bản lớn để đủ sức cạnh tranh và giành ưu thế với các tư bảnkhác Từ hình thức tập trung vốn như vậy, các công ty cổ phần dần dần đãhình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ

Thứ hai, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và do trình độ

kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ đòi hỏi tư bản cố định tăng lên Vìthế quy mô tối thiểu mà một nhà tư bản cá biệt phải có để có thể kinhdoanh dù trong điều kiện bình thường cũng ngày càng lớn hơn Một nhà tưbản không thể đáp ứng được số vốn đó, phải có sự liên minh, tập trungnhiều tư bản cá biệt còn đang phân tán trong nền kinh tế bằng cách góp vốn

Trang 7

để cùng kinh doanh Với sự tập trung vốn như vậy đã hình thành các công

ty cổ phần Mặt khác cũng do kỹ thuật ngày càng phát triển làm xuất hiệnngày càng nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh doanh và những mặt hàng mới

có hiệu quả hơn, thu hút các nhà tư bản vào các ngành lĩnh vực mới nàybằng cách di chuyển tư bản từ những ngành lĩnh vực và các mặt hàng đangkinh doanh kém hiệu quả Điều này cũng gây khó khăn cho các nhà tư bảnkhi thực hiện di chuyển vốn bởi vì họ không thể bỗng chốc xoá bỏ ngay các

xí nghiệp cũ để thu hồi và chuyển vốn sang xây dựng ngay một xí nghiệpmới mà chỉ có thể rút bớt và chuyển dần từng phần vốn mà thôi Quá trìnhnày có thể bị kéo dài và có thể họ bị mất thời cơ Biện pháp khắc phục mà

họ đã chọn là phải tìm cách liên minh với nhau, cùng nhau góp vốn để xâydựng các xí nghiệp mới Cùng chung mục đích đi tìm lợi nhuận siêu ngạch,

họ đã gặp nhau và nhanh chóng thoả thuận cùng nhau góp vốn thành lậpcác công ty cổ phần để cùng kinh doanh

Thứ ba, sản xuất ngày càng phát triển, cạnh tranh càng khốc liệt thì sự rủi

ro trong kinh doanh đe doạ phá sản đối với các nhà tư bản càng lớn Để tránhgặp rủi ro, các nhà tư bản đã phải phân tán tư bản của mình để tham gia vàonhiều tư bản cá biệt khác nhau nghĩa là tham gia vào đầu tư và kinh doanh ởnhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều công ty khác nhau Với cách làm này, mộtmặt các nhà tư bản tìm cách chia sẻ sự thiệt hại cho nhiều người khi gặp phảirủi ro Mặt khác, do được một số đông người tham gia quản lý, tập trung đượctrí tuệ nên công ty cổ phần hạn chế được những rủi ro trong kinh doanh Chođến nay, công ty cổ phần là hình thức tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh cóhiệu quả được các nhà tư bản ưu chuộng nhất nên nó đã hình thành và ngàycàng phát triển mạnh mẽ

1.1.3 Tính ưu việt của công ty cổ phần

Với mô hình tổ chức mà bộ máy lãnh đạo được bầu chọn trực tiếp, dân

Trang 8

chủ, công khai, thống nhất theo luật định và phù hợp với ý nguyện vọng của

cổ đông Bộ máy tổ chức đủ quyền tự quyết, chủ động trong tổ chức sản xuấtkinh doanh, công ty cổ phần có nhiều ưu thế, nhiều khả năng thích ứng vớicạnh tranh Nó có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế hiện đại do :

- Mở rộng quy mô của doanh nghiệp một cách nhanh chóng nhờ sự tích

tụ thu hút vốn của đông đảo các nhà đầu tư, vốn tiết kiệm của đông đảo quầnchúng bằng sức hấp dẫn của công ty và phương thức huy động vốn năng độngphong phú

- Chủ động được nguồn vốn đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh

và dễ dàng đổi mới công nghệ khi cần thiết mà không có cá nhân riêng lẻ nàothực hiện được tốt được

- Đảm bảo lợi ích của công ty, của người lao động và làm tròn nghĩa vụđối với nhà nước, nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tổ chức sản xuấtkinh doanh có hiệu quả

- Do vốn góp cổ phần có sự độc lập nhất định đối với các cổ đông bởiquy định : người bỏ tiền ra mua cổ phiếu của công ty không có quyền rútvốn mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu Do đó vốn luôn luôn tồn tại chỉ cóthay đổi cổ đông - chủ sở hữu Nói cách khác, công ty cổ phần là điểnhình của việc tách rời quyền sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn Nó chophép doanh nghiệp vẫn tự chủ sử dụng vốn trong kinh doanh và trong cảquá trình quản trị công ty

- Cơ chế chia lợi nhuận cũng như rủi ro gánh chịu trong công ty cổ phầntheo mức vốn góp thể hiện tính chất công bằng trong một xã hội nhỏ là doanhnghiệp Cơ chế phân phối ấy tự giáo dục cho người lao động trong doanhnghiệp phải luôn có thái độ nghiêm túc trong sản xuất kinh doanh, trong quản

lý và có tác động tích cực trong việc chống nạn tham nhũng, loại bỏ sự cậythế, cửa quyền lãnh đạo, tạo bầu không khí lao động dân chủ lành mạnh

Trang 9

1.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN 1.3.1 Mục đích và ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính.

Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế, biểuhiện dưới hình thái tiền tệ, phản ánh thước đo giá trị phát sinhtrong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằmphục vụ cho quá trình sản xuất và tái sản xuất trong mỗidoanh nghiệp, mỗi tổ chức kinh tế, đồng thời góp phần đónggóp cho ngân sách

Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm trađối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện tại với quá khứ.Qua đó người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng,hiệu quả kinh doanh, cũng như những rủi ro trong tương lai vàtriển vọng của doanh nghiệp

Phân tích tình hình tài chính sử dụng một tập hợp các kháiniệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thôngtin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giátình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro vàchất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó

Việc phân tích tài chính doanh nghiệp dựa trên các báocáo tài chính Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với việc quảntrị doanh nghiệp và đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủyếu đối với những người ngoài doanh nghiệp Mục đích củaphân tích báo cáo tài chính là cung cấp thông tin đầy đủ vàchính xác cho người sử dụng Có rất nhiều đối tượng quan tâmđến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : Các nhà đầu tư,nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng, các cơ quan quản lýNhà nước… Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau Song nhìn

Trang 10

chung họ đều quan tâm đến khả năng sinh lời của các dòngtiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợinhuận tối đa, mức độ rủi ro trong kinh doanh của doanhnghiệp… Vì vậy, phân tích tài chính của doanh nghiệp phảiđạt được ba mục tiêu chính sau đây :

Thứ nhất là phân tích tài chính phải cung cấp đủ các

thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, nhà cho vay và nhữngngười sử dụng thông tin tài chính khác để họ có những quyếtđịnh đúng đắn

Thứ hai là phân tích tài chính phải cung cấp những thông

tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư vànhững người sử dụng thông tin khác trong việc đánh giá khảnăng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào ra và tình hình

sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh, tình hình và khả năngthanh toán của doanh nghiệp

Thứ ba là phân tích tài chính phải cung cấp những thông

tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện và các tìnhhuống làm biến đổi các nguồn vốn, các khoản nợ của doanhnghiệp

Như vậy mục đích tối cao và có ý nghĩa quan trọng nhấtcủa phân tích tài chính là giúp cho những người ra quyết địnhlựa chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xácthực trạng tiềm năng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó cũng dựđoán triển vọng phát triển trong tương lai về tài chính cũngnhư các hoạt động khác của doanh nghiệp

1.3.2 Nội dung phân tích tình hình tài chính trong công ty cổ phần.

Trang 11

1.3.2.1 Hệ thống thông tin phục vụ cho phân tích tình hình tài chính.

Với mục đích, ý nghĩa quan trọng như trên, doanh nghiệpcần thiết phải tiến hành phân tích tình hình tài chính Để thựchiện được điều đó, doanh nghiệp cần tiến hành tổ chức thuthập, xử lý thông tin tài chính Các thông tin mà doanh nghiệp

sử dụng không chỉ là trên các hệ thống báo cáo tài chính màcòn là những thông tin trực tiếp trên sổ sách kế toán cũng nhưcác thông tin phi tài chính Tuy nhiên những thông tin màdoanh nghiệp sử dụng vẫn là các thông tin tài chính đượcphản ánh trên hệ thống các báo cáo tài chính

Hệ thống báo cáo tài chính theo “Chế độ báo cáo tài chính doanhnghiệp” ban hành theo quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của

Bộ trưởng Bộ Tài chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnhvực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước, bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo:

 Bảng cân đối kế toán (BCĐKT), Mẫu số B01-DN

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quáttình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tàisản tại một thời điểm nhất định Nội dung của bảng cân đối kế toán thể hiệnqua hệ thống các chỉ tiêu được phân loại, sắp xếp thành từng loại, nục và từngchỉ tiêu cụ thể Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần: tài sản và nguồnvốn Về mặt kinh tế, phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có tạidoanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, đang tồn tại dưới các hình thái vàtrong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh; phần nguồn vốnphản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp, thể hiện quy môtài chính, nội dung tài chính và thực trạng tài chính của doanh nghiệp Về mặtpháp lý, số liệu bên tài sản phản ánh toàn bộ số tài sản hiện có đang thuộcquyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp; còn số liệu bên nguồn vốn thể hiện

Trang 12

trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về số tài sản đang quản lý, sử dụng đốivới Nhà nước, với cấp trên, với các nhà đầu tư, với các cổ đông, với ngânhàng và các tổ chức tín dụng

 Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD), Mẫu số B02-DN

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phảnánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanhnghiệp cho một thời kỳ nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh vàhoạt động khác

 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT), Mẫu số B03-DN

Là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụnglượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Báo cáo lưu chuyểntiền tệ cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năngtạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

 Thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC), Mẫu số B04-DN

Thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo kế toán tài chính tổngquát nhằm mục đích giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin vềtình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệptrong kỳ báo cáo mà chưa được trình bày đầy đủ chi tiết trong các báo cáo tàichính khác

Ngoài ra để thực hiện cho yêu cầu quản lý kinh tế - tàichính, yêu cầu chỉ đạo điều hành, các công ty có thể quy địnhthêm các báo cáo chi tiết khác, có tính chất hướng dẫn như:

 Báo cáo giá thành, sản phẩm dịch vụ

 Báo cáo chi tiết kết quả kinh doanh

Trang 13

 Báo cáo chi tiết chi phí sản xuất.

 Báo cáo chi tiết chi phí bán hàng

 Báo cáo chi tiết chi phí quản lý kinh doanh

 Báo cáo chi tiết công nợ phải thu - phải trả

1.3.2.2 Nội dung phân tích tình hình tài chính.

Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế phát sinhtrong quá trình kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Nói cách khác,tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức,huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh

Để tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, đòi hỏi các doanhnghiệp phải có một lượng vốn nhất định bao gồm vốn kinh doanh, các quỹdoanh nghiệp, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn vay và các loại vốn khác.Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức, huy động các loại vốn cần thiết chonhu cầu kinh doanh Đồng thời tiến hành phân phối, quản lý và sử dụng sốvốn hiện có một cách hợp lý, có hiệu quả cao nhất trên cơ sở chấp hành cácchế độ, chính sách quản lý kinh tế - tài chính và kỷ luật thanh toán của Nhànước Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp cho người sửdụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính, xác định rõnguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính

và hoạt động kinh doanh Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp hữu hiệu và

ra các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinhdoanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh

Tuy theo vị trí và mục đích sử dụng thông tin của người phân tích mà nộidung phân tích tài chính có thể không giống nhau giữa các nhóm phân tíchkhác nhau Tuy nhiên, phân tích tài chính thường bao gồm các nội dung chủyếu sau:

Trang 14

Sơ đồ 1: Nội dung chủ yếu của phân tích tài chính.

a Đánh giá khái quát tình hình tài chính.

Đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm xác định thực trạng và sứcmạnh tài chính của doanh nghiệp, biết được mức độ độc lập về mặt tài chínhcũng như những khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp đang phải đươngđầu, nhất là lĩnh vực thanh toán Qua đó, các nhà quản lý có thể đề ra cácquyết định cần thiết về đầu tư, hợp tác, liên doanh, liên kết, mua bán, cho vay,

b Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh.

Qua việc phân tích cấu trúc tài chính và tình hình bảo đảm nguồn vốncho hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích nắm được khái quát tình hìnhđầu tư, tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp Đồng thời, quaviệc phân tích cấu trúc tài chính và tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, các nhà quản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản,các nguồn tài trợ tài sản Mặt khác nội dung phân tích này còn góp phần củng

cố cho các nhận định đã rút ra khi đánh giá khái quát tình hình tài chính

c Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán.

Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh

rõ nét chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nếu hoạt động tài

Nội dung phân tích tài chính

Hiệu quả kinh doanh.

Tình hình công nợ và khả năng thanh toán

Rủi ro tài chính

Trang 15

chính tốt, khả năng thanh toán sẽ cao, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, ít bị chiếmdụng vốn cũng như ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu hoạt động tài chínhkém thì sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chiếmdụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa, kéo dài.

d Phân tích hiệu quả kinh doanh.

Bản thân hoạt động kinh doanh đã là một hoạt động kiếm lời, bởi vậymối quan tâm thường trực của các nhà đầu tư là không ngừng nâng cao hiệuquả kinh doanh, thu được nhiều lợi nhuận Qua phân tích hiệu quả kinh doanhtrên các góc độ khác nhau (sức sản xuất, sức sinh lợi, suất hao phí), các nhàquản lý đánh giá được hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lợi của doanhnghiệp cũng như các nhân tố, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinhdoanh và khả năng sinh lợi Từ đó, đề xuất giải pháp thích hợp để nâng caohiệu quả kinh doanh

e Phân tích rủi ro tài chính.

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên phải đương đầuvới các rủi ro trên mọi phương diện Qua phân tích tài chính, các nhà quản lý

dự báo được những rủi ro tiềm ẩn về tài chính trên khía cạnh thanh toán; thamchí cả rủi ro về phá sản mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu Từ đó, cácnhà quản lý sẽ đề ra các kế sách, các quyết định kịp thời, hợp lý để ngăn ngừa

và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp

1.3.2.3 Tổ chức phân tích tình hình tài chính

Việc tổ chức phân tích tình hình tài chính được thực hiệnthông qua 3 bước chính :

Bước 1: Lập kế hoạch phân tích

Việc lập kế hoạch phân tích bao gồm xác định mục tiêuphân tích và chương trình phân tích

Xác định mục tiêu phân tích là việc doanh nghiệp xác định

Trang 16

những nguyên nhân ảnh hưởng và qua đó đánh giá chính xácthực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp để lựachọn phương án kinh doanh tối ưu.

Xác định chương trình phân tích là việc xác định các chỉ tiêuphản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp Các chỉ tiêu córất nhiều, do đó việc xác định chỉ tiêu phân tích là xác địnhnhững chỉ tiêu quan trọng, có ảnh hưởng đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp như các chỉ tiêu phản ánh sức sinhlợi của vốn, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn…

Bước 2: Thực hiện phân tích

Xuất phát từ vai trò, vị trí của báo cáo tài chính, Nhà nướcquy định chủ doanh nghiệp và kế toán trưởng là người chịutrách nhiệm chính về tính đúng đắn, trung thực của báo cáotài chính Tuy nhiên việc thực hiện phân tích thường do kếtoán tổng hợp tiến hành dưới sự chỉ dẫn của kế toán trưởng

Để tiến hành phân tích trước hết kế toán phải thu thập thôngtin Các thông tin sử dụng thường là các thông tin tài chínhtrên báo cáo tài chính Ngoài ra kế toán còn sử dụng cácthông tin trực tiếp trên sổ sách kế toán cũng như các thông tinphi tài chính khác

Tiếp đến doanh nghiệp sử dụng các phương pháp phântích tiến hành phân tích thông tin tài chính thu thập được.Cuối cùng đánh giá dự báo tình hình hoạt động kinh doanhtrong tương lai dựa trện kết quả phân tích

Bước 3: Hoàn thành phân tích

Các báo cáo phân tích tình hình tài chính của doanh

Trang 17

nghiệp là kết quả của quá trình phân tích Báo cáo là sự tổngkết quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trongthời gian qua và xác định những nguyên nhân ảnh hưởng Qua

đó thấy được tiềm năng cũng như hạn chế của doanh nghiệp

1.3.2.4 Phương pháp phân tích tình hình tài chính

Phương pháp phân tích là cách thức tiếp cận đối tượngphân tích đã được thể hiện qua hệ thống chỉ tiêu phân tích đểbiết được ý nghĩa và mối quan hệ hữu cơ của các thông tin từcác chỉ tiêu phân tích Khi sử dụng phương pháp phải vậndụng đúng đối tượng, phải biết ưu nhược điểm của từngphương pháp để kết hợp một cách hợp lý nhằm đạt hiệu quảcao nhất Có nhiều phương pháp để sử dụng phân tích tìnhhình tài chính nhưng ta có thể nêu một số phương pháp chủyếu sau:

Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến vàquan trọng trong phân tích tình hình tài chính nói riêng cũngnhư trong phân tích kinh tế nói chung Khi so sánh thường đốichiếu các chỉ tiêu kinh tế với nhau để biết được mức độ biếnđộng của các đối tượng đang nghiên cứu Để kết quả so sánh

có ý nghĩa thì các chỉ tiêu khi so sánh phải thống nhất về nộidung kinh tế, về phương pháp tính các chỉ tiêu, đơn vị tính…Nội dung so sánh bao gồm:

- So sánh số thực hiện kỳ phân tích với số thực tế của kỳkinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tàichính của doanh nghiệp

Trang 18

- Đánh giá tốc độ tăng giảm của mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp.

- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bìnhcủa ngành, của các doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tìnhhình tài chính của doanh nghiệp là tốt hay xấu, có khả quanhay không

- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉtiêu so với tổng thể So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ đểthấy được số biến đổi cả về số tuyệt đối và số tương đối của mộtchỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp

Như vậy có thể thấy kết quả so sánh thường được thể hiệnbằng con số tuyệt đối, số tương đối hay số trung bình Phươngpháp so sánh sử dụng thường xuyên trong phân tích tình hìnhtài chính để thấy được xu hướng phát triển của doanh nghiệpnhằm đáp ứng nhu cầu đưa ra quyết định Phương pháp sosánh có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các dự án đầu

tư, các kế hoạch sản xuất Phương pháp so sánh có ưu điểm làđơn giản, ít tính toán khi phân tích do vậy được sử dụng rộngrãi

 Phương pháp liên hệ

Các chỉ tiêu tài chính thường có mối liên hệ mật thiết vớinhau Để lượng hóa mối liên hệ đó ta thường nghiên cứu trongmối quan hệ tác động qua lại nhau của các chỉ tiêu kinh tế.Phương pháp này thường bao gồm : liên hệ cân đối, liên hệthuận và ngược chiều, liên hệ tương quan

Liên hệ cân đối thường được thể hiện bằng phương trình

Trang 19

kinh tế hoặc quan hệ tương xứng giữa các chỉ tiêu kinh tế vớinhau VD Tổng Tài sản = Tổng nguồn vốn Phương pháp nàythường được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính đểkiểm tra kết quả thu được Từ mối liên hệ đó ta xác định ảnhhưởng của các nhân tố, biết được tính quy luật liên hệ giữacác nhân tố Phương pháp này được sử dụng trong phân tíchtrước, phân tích tác nghiệp để lập kế hoạch tài chính, luận cứcho việc ra quyết định.

Phương pháp liên hệ thuận và ngược chiều được sử dụngkhi mối quan hệ giữa các chỉ tiêu nguyên nhân ở dạng thương

số đối với chỉ tiêu kết quả Từ đó ta xác định ảnh hưởng củacác nhân tố thể hiện bằng số tương đối

Phương pháp liên hệ tương quan được sử dụng trong phântích tình hình tài chính do có nhiều chỉ tiêu kinh tế thể hiệnmối tương quan hàm số VD như chi phí tỷ lệ với sản lượng đầu

ra, doanh thu tỷ lệ với chi phí đầu vào Phân tích tương quantrong kinh tế nhằm xác định mối liên hệ của các đại lượngngẫu nhiên, qua đó đánh giá mức độ chặt chẽ của các mối liên

hệ đó, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêuphân tích

 Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn thường được sử dụng chủyếu trong trường hợp các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phântích được biểu diễn dưới dạng tích số Do vậy khi xét ảnhhưởng của nhân tố này cần phải lần lượt thay thế các chỉ tiêu

ở kỳ gốc bằng các chỉ tiêu ở kỳ phân tích theo một trình tự

Trang 20

nhất định sắp xếp nhân tố Khi nhân tố chưa thay đổi thì trị sốvẫn giữ nguyên ở kỳ gốc, khi nhân tố đã thay đổi thì trị sốchuyển sang kỳ phân tích Hạn chế của phương pháp này làkhi nghiên cứu sự thay đổi của một nhân tố không liên hệ vớicác nhân tố khác mà trong quá trình kinh doanh thì sự thayđổi của nhân tố này sẽ kéo theo sự thay đổi của nhân tố khác.

 Phương pháp số chênh lệch

Phương pháp này được sử dụng khi các nhân tố có quan

hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu diễn dưới dạng tích số, cácnhân tố được sắp xếp theo thứ tự nhân tố số lượng đến nhân

tố chất lượng Khi thực hiện phương pháp này, muốn phântích sự ảnh hưởng của một nhân tố, ta lấy phần chênh lệch củanhân tố đó nhân với trị số của nhân tố khác, nhân tố chưa thayđổi trị số giữ nguyên ở kỳ gốc, nhân tố đã thay đổi trị số chuyểnsang kỳ phân tích, cứ như thế cho tới hết

Phương pháp đồ thị

Phương pháp đồ thị dùng để minh họa các kết quả tàichính trong quá trình phân tích bảng biểu, sơ đồ Sử dụngphương pháp đồ thị trong phân tích có ưu điểm là nó thể hiện

rõ ràng, trực giác sự diễn biến của các đối tượng nghiên cứu,nhanh chóng phân tích định hướng các chỉ tiêu kinh tế từ đóđưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuấtkinh doanh

Phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích

Các chỉ tiêu kinh tế - tài chính trong quá trình kinh doanhthường đa dạng, phong phú Do vậy để có thể nắm bắt được

Trang 21

bản chất của các chỉ tiêu phân tích chúng ta thường phải phânchia các chỉ tiêu phân tích theo thời gian, không gian và yếu

tố cấu thành Phân tích chỉ tiêu kinh tế theo thời gian cho biếtnhịp độ phát triển, tính thời vụ, khả năng mất cân đối trongquá trình sản xuất kinh doanh của các chỉ tiêu Tùy theo đặcđiểm của hoạt động kinh doanh, mục đích của việc phân tích,nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể chi tiết hóa các đối tượngtheo quý, tháng, năm…

Chi tiết các chỉ tiêu kinh tế theo không gian có ý nghĩađánh giá kết quả thực hiện của các đơn vị, bộ phận theo địađiểm phát sinh công việc nhằm tăng cường công tác quản lý

và hạch toán trong nội bộ Chi tiết theo thời gian và khônggian thường bổ sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu.Một chỉ tiêu vừa được chi tiết theo thời gian vừa được chi tiếttheo không gian sẽ đem lại kết quả phân tích càng đầy đủ vàsâu sắc hơn.Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nhằmbiết được vai trò của từng bộ phận trong việc hợp thành chỉtiêu tổng hợp Phương pháp này xác định mức biến động củachỉ tiêu do sự ảnh hưởng của các nhân tố

Chi tiết hóa các chỉ tiêu phân tích càng đầy đủ, đa dạngthì kết quả phân tích càng chính xác, sâu sắc Trong quátrình phân tích phải căn cứ vào mục đích yêu cầu, đặc điểmcủa chỉ tiêu để chọn cách thức chi tiết cho phù hợp Hạn chếcảu phương pháp này là nội dung và phương pháp tiến hànhthường mô tả về mặt định tính, mức độ chi tiết tùy theo chủthể phân chia

Trang 22

Phương pháp phân tích tác nghiệp

Trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, phương pháp phân tích tác nghiệp thường được coi làmột trong những phương pháp giải quyết nhanh những tìnhhuống tài chính bất thường nhằm đáp ứng nhu cầu thông tinkịp thời cho quản lý sản xuất Nội dung của phương pháp nàythường thể hiện các cuộc giao ban định kỳ, các cuộc họp bấtthường để thảo luận bàn bạc về một vấn đề tài chính nào đónhằm đưa ra quyết định Hạn chế của phương pháp này là tínhkhoa học để đưa ra quyết định là không cao do sự tính toáncân nhắc so sánh đôi khi mang tính chủ quan của một số cánhân Do vậy, hiệu quả sử dụng thông tin của phương phápnày thấp

1.4 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP.

1.4.1 Quá trình phát triển của phân tích tài chính với việc xây dựng hệ

thống chỉ tiêu.

Khi nền kinh tế chưa phát triển, thông tin quản lý chưanhiều, chưa phức tạp thì công việc phân tích chỉ tiến hành đơngiản Phương pháp phân tích chỉ sử dụng theo cách thức đơngiản như cộng trừ, so sánh Khi đó các chỉ tiêu sử dụng trongphân tích chủ yếu là chỉ tiêu tuyệt đối nhằm đánh giá kết quảsản xuất đã qua phục vụ cho việc ra quyết định của chính chủthể quản lý

Nền kinh tế ngày càng mở rộng và phát triển, các mốiquan hệ kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú đòi hỏi các nhàquản lý cần có những thông tin đầy đủ chính xác và toàn diệnhơn về quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế phân tích tài

Trang 23

chính đã phát triển cả về mặt lý luận và phương pháp phântích để đạt được những yêu cầu thực tiễn đề ra.

Cùng với đà phát triển của nền kinh tế, vai trò của tàichính ngày càng được nâng cao Các chế độ và chính sách tàichính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Do vậy sự phát triển của nền kinh tế thị trường dẫnđến sự phát triển của phân tích tài chính là một tất yếu kháchquan

Khi phân tích tài chính phát triển mạnh mẽ thì hệ thốngchỉ tiêu phân tích ngày càng phong phú và đa dạng Hệ thốngcác chỉ tiêu phân tích tài chính phát triển là do những nguyênnhân chính sau :

- Do sự phát triển của thị trường vốn, thị trường chứngkhoán đòi hỏi hệ thống chỉ tiêu phân tích phải hoàn thiện toàndiện hơn Sự phát triển của các dự án đầu tư, sự sinh lời củacác dự án đã hướng các ngân hàng và các công ty tài chínhxây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích toàn diện nhất để đưa ranhững quyết định tín dụng

- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp vì mục tiêu lợinhuận đã dẫn tới các doanh nghiệp phải hoàn chỉnh hệ thốngchỉ tiêu phân tích tài chính để tránh rủi ro trong kinh doanh,bảo đảm an toàn vốn

- Sự phát triển của nhiều hình thức đầu tư đã thúc đẩy nhàđầu tư tìm cách lựa chọn cách kết hợp các hình thức tài trợ đểđạt được lợi ích cao nhất với chi phí sử dụng vốn thấp nhất.Các ràng buộc của chính tín dụng, sự biến động của giá cả, tỷgiá hối đoái đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến đầu tư tài chính của

Trang 24

doanh nghiệp Vì vậy cần phải hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêuphân tích tài chính để đáp ứng yêu cầu mới đó.

- Sự phát triển và hội nhập nền kinh tế của mỗi quốc giadẫn tới sự thống nhất về các phương pháp phân tích, chỉ tiêuphân tích, tài liệu phân tích để nhiều chủ thể có thể khác nhau

có thể so sánh các thông tin với nhau trong điều kiện côngnghệ hiện đại Đó chính là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triểncủa phân tích tài chính và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phântích

1.4.2 Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính

1.4.2.1 Chỉ tiêu phân tích đánh giá khái quát tình hình tài chính.

Phân tích khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định vềtình hình tài chính của doanh nghiệp Công việc này sẽ cung cấp cho người sửdụng thông tin biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp là khả quan haykhông khả quan

Trước hết cần tiến hành so sánh tổng số tài sản và tổng số nguồn vốngiữa cuối kỳ với đầu năm Qua đó ta sẽ thấy được quy mô vốn mà đơn vị sửdụng trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên,

số tổng cộng của “Tài sản” và “Nguồn vốn” tăng, giảm do nhiều nguyên nhânnên việc so sánh như trên chưa thể biểu hiện đầy đủ tình hình tài chính củađơn vị được Vì thế để có nhận định chính xác hơn về tình hình tài chính củadoanh nghiệp cần đi sâu vào phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trongBCĐKT (Mẫu số B01-DN)

Bên cạnh việc huy động và sử dụng vốn, khả năng tự bảo đảm về tàichính và mức độ độc lập về mặt tài chính cũng cho thấy một cách khái quáttình hình tài chính của doanh nghiệp Vì vậy cần tính ra và so sánh chỉ tiêu :

Trang 25

Hệ số tài trợ =

Nguồn vốn chủ sở hữu Tổng số nguồn vốn

Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính củadoanh nghiệp Nó cho biết vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trongtổng số nguồn vốn Chỉ tiêu "Hệ số tài trợ" chiếm tỷ trọng càng cao trongnguồn vốn và càng cao so với kỳ trước chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tàichính của doanh nghiệp càng cao bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện

có đều được đầu tư bằng số vốn của mình

Tình hình tài chính của doanh nghiệp lại được thể hiện rõ nét qua khảnăng thanh toán chung Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao thì tìnhhình tài chính sẽ khả quan và ngược lại Do vậy, khi phân tích khả năng thanhtoán chung của doanh nghiệp ta thường xem xét các chỉ tiêu sau :

Hệ số thanh toán hiện hành = Tổng số nợ phải trảTổng số tài sản

Hệ số thanh toán hiện hành là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năngthanh toán tổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này có vaitrò rất quan trọng trong việc xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp.Nếu doanh nghiệp có chỉ số này luôn lớn hơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệpbảo đảm được khả năng thanh toán và ngược laị thì khả năng thanh toán củadoanh nghiệp càng thấp và doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợngắn hạn (phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh)của doanh nghiệp là cao hay thấp Nếu chỉ tiêu này là xấp xỉ bằng 1 thì doanhnghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tàichính là bình thường và khả quan Ngược lại nếu chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp

Ngoài ra còn có chỉ tiêu "Hệ số thanh toán nhanh" để đánh giá khả năng thanh toán

Trang 26

các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.

Hệ số thanh toán nhanh =

Tổng số tiền và tương đương tiền

Tổng số nợ ngắn hạn

Nếu hệ số thanh toán nhanh thấp thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăntrong việc thanh toán công nợ và do đó có thể phải bán gấp hàng hoá, sảnphẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán Tuy nhiên nếu hệ số này quá caolại phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quayvốn chậm, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn

Để nắm được khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động lànhanh hay chậm, từ đó xác định được doanh nghiệp có đủ tiền, thiếu tiền haythừa tiền phục vụ cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, ta cần xem xét

chỉ tiêu "Hệ số thanh toán của tài sản ngắn hạn"

Hệ số thanh toán của tài

Bên cạnh đó, nhà quản lý còn quan tâm đến chỉ tiêu “Tỷsuất đầu tư” Đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng của tài sản dàihạn chiếm trong tổng số tài sản, nó phản ánh cấu trúc tài sảncủa doanh nghiệp Trị số này phụ thuộc rất nhiều vào ngành

nghề kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 27

Tỷ suất đầu tư dài hạn =

Suất sinh lời của vốn

Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn, ta tiến hành sosánh sự biến động của tổng tài sản, nguồn vốn cũng như từngkhoản mục của cuối kỳ so với đầu kỳ, xem xét tỷ trọng củatừng loại chiếm trong tổng số và xu hướng biến động củachúng để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ

Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh là việc xemxét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh

Trang 28

nghiệp, phân tích cân bằng tài chính doanh nghiệp.

Đối với mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn khi phân tích thường sửdụng một số chỉ tiêu sau:

* Hệ số nợ so với tài sản:

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng cáckhoản nợ Hệ số nợ so với tài sản càng cao càng chứng tỏ mức độ phụ thuộccủa doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về tài chính càng thấp

và được tính theo công thức sau :

Hệ số nợ so với

tài sản =

Nợ phải trảTài sản

* Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu:

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng các vốnchủ sở hữu Hệ số này càng lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp Chỉ tiêu này được tính như sau :

Hệ số tài sản sovới vốn chủ sởhữu

=

Tài sảnVốn chủ sở hữu

1.4.2.3 Chỉ tiêu phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán

Phân tích tình hình thanh toán của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ

tiêu phản ánh nợ phải thu và các chỉ tiêu phản ánh nợ phải trả Về mặt tổngthể thì tình hình thanh toán được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

* Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả :

Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng so với cáckhoản đi chiếm dụng và được tính theo công thức sau :

Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so = Tổng số nợ phải thu

Trang 29

với các khoản nợ phải trả Tổng số nợ phải trả

Nếu tỷ lệ này lớn hơn 100%, chứng tỏ số vốn của doanh nghiệp bị chiếmdụng lớn hơn số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng và ngược lại Thực tếcho thấy, số vốn đi chiếm dụng lớn hơn hay nhỏ hơn số vốn bị chiếm dụngđều phản ánh một tình hình tài chính không lành mạnh

* Số vòng luân chuyển các khoản phải thu (vòng)

Đây là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanh các khoản phải thu quayđược mấy vòng và được tính bằng công thức :

Số vòng luân chuyển các

khoản phải thu =

Tổng số tiền hàng bán chịu

Số dư bình quân các khoản phải thu

Trong công thức trên, số dư bình quân các khoản phải thu được tính theocông thức :

Số dư bình quân các

khoản phải thu =

Tổng số nợ phải thu cuối kỳ và đầu kỳ

2

Chỉ tiêu số vòng luân chuyển các khoản phải thu cho biết mức hợp lý của

số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc đi thu hồi nợ Nếu số vòng luânchuyển các khoản phải thu lớn, chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịpthời, ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên số vòng luân chuyển các khoản phải thunếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ dophương thức thanh toán quá chặt chẽ (chủ yếu là thanh toán ngay trong thờigian ngắn)

* Thời gian quay vòng các khoản phải thu:

Chỉ tiêu này phản ánh các khoản phải thu quay được 1 vòng thì mất mấyngày

Trang 30

Thời gian quay vòng

các khoản phải thu =

Thời gian của kỳ phân tích

Số vòng luân chuyển các khoản phải thuThời gian quay vòng các khoản phải thu càng ngắn chứng tỏ tốc độ thuhồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại nếuthời gian quay vòng các khoản phải thu càng dài chứng tỏ vốn doanh nghiệp

bị chiếm dụng nhiều

Khi phân tích cần tính ra và so sánh thời gian quay vòng các khoản phảithu với thời gian bán chịu quy định cho khách hàng

* Số vòng luân chuyển các khoản phải trả (vòng)

Đây là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanh các khoản phải trả quayđược mấy vòng và được tính bằng công thức :

Số vòng luân chuyển các

khoản phải trả

= Tổng số tiền hàng mua chịu

Số dư bình quân các khoản phải trảTrong công thức trên, số dư bình quân các khoản phải trả được tính theocông thức :

Số dư bình quân các

khoản phải trả

= Tổng số nợ phải trả cuối kỳ và đầu kỳ

2Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải trả vàhiệu quả của việc thanh toán nợ Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải trảlớn chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn

và có thể được hưởng chiêt khấu thanh toán Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quácao cũng không tốt vì có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong kỳ củadoanh nghiệp do phải huy động mọi nguồn vốn để trả, thậm chí đi vay, bán rẻhàng hoá dịch vụ…

* Thời gian quay vòng các khoản phải trả:

Chỉ tiêu này phản ánh các khoản phải trả quay được 1 vòng thì mất mấy

Trang 31

Thời gian quay vòng

các khoản phải trả =

Thời gian của kỳ phân tích

Số vòng luân chuyển các khoản phải trảThời gian quay vòng các khoản phải trả càng ngắn chứng tỏ tốc độ thanhtoán tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại nếuthời gian quay vòng các khoản phải trả càng dài chứng tỏ vốn doanh nghiệp đichiếm dụng nhiều

Khi phân tích cần tính ra và so sánh thời gian quay vòng các khoản phảitrả với thời gian mua chịu được người bán quy định cho doanh nghiệp

Phân tích khả năng thanh toán để có cơ sở đánh giá tình hình thanh

toán của doanh nghiệp trước mắt và triển vọng trong thời gian tới

Tiếp theo dựa vào các tài liệu hạch toán liên quan, tiến hành thu thập sốliệu liên quan đến các khoản có thể dùng để thanh toán (khả năng thanh toán)với các khoản phải thanh toán (nhu cầu thanh toán) của doanh nghiệp Sau đósắp xếp các chỉ tiêu này vào một bảng theo một trình tự nhất định Với nhucầu thanh toán, các chỉ tiêu được xếp theo mức độ khẩn trương của mức độthanh toán (thanh toán ngay, chưa cần thanh toán ngay) Còn với khả năngthanh toán, các chỉ tiêu lại được sắp xếp theo khả năng huy động (huy độngngay, huy động trong thời gian tới)

Trên cơ sở bảng phân tích này, nhà quản lý tiến hành so sánh giữa khảnăng thanh toán và nhu cầu thanh toán trong từng giai đoạn Doanh nghiệpbảo đảm được khả năng thanh toán trong từng giai đoạn nếu các khoản dùng

để thanh toán lớn hơn các khoản phải thanh toán Ngược lại, nếu các khoản cóthể dùng để thanh toán nhỏ hơn các khoản phải thanh toán, doanh nghiệp sẽkhông bảo đảm được khả năng thanh toán Điều này buộc các nhà quản lýphải tìm kế sách để huy động nguồn tài chính bảo đảm cho việc thanh toánnếu không muốn rơi vào tình trạng phá sản

Trang 32

Trên cơ sở bảng phân tích, cần tính ra chỉ tiêu "Hệ số khả năng thanh toán"

Hệ số khả năng thanh toán

Khả năng thanh toánNhu cầu thanh toánChỉ tiêu này có thể tính cho từng thời kỳ hoặc từng giai đoạn (hiện tại,tháng tới, quý tới…)

Nếu HK > 1 : chứng tỏ doanh nghiệp bảo đảm khả năng thanh toán vàtình hình tài chính là bình thường và khả quan

Nếu HK < 1 : chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, HKcàng nhỏ bao nhiêu thì doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán bấynhiêu Khi HK càng gần giá trị 0 thì doanh nghiệp bị phá sản không còn khảnăng thanh toán

1.4.2.4 Chỉ tiêu phân tích kết quả và hiệu quả kinh doanh.

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp

để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh vớitổng chi phí thấp nhất

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phứctạp, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinhdoanh nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi

sử dụng có hiệu quả các yếu tố cơ bản của quá trình kinhdoanh như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động… Phân tích hiệu quả kinh doanh chính là phân tích kết quả kinh doanh, khảnăng sinh lợi của doanh nghiệp

*Phân tích căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh (Msố B02-DN)

Để kiểm soát các hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp cần xem xét tình hình biến động của các khoản mục trong báocáo kết quả kinh doanh Khi phân tích cần tính ra và so sánh mức độ, tỷ lệ

Trang 33

biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc trên từng chỉ tiêu trong phần I "Lãi,lỗ" của báo cáo kết quả kinh doanh Với cách so sánh này, người phân tích sẽbiết được tình hình biến động cụ thể của từng chỉ tiêu liên quan đến kết quảkinh doanh của doanh nghiệp.

Để biết được hiệu quả kinh doanh, việc phân tích báo cáo kết quả kinhdoanh không dừng lại ở việc so sánh tình hình biến động của từng chỉ tiêu màcòn so sánh chúng với doanh thu thuần (coi doanh thu thuần là gốc) Thôngqua việc so sánh này, người sử dụng thông tin sẽ biết được hiệu quả kinhdoanh trong kỳ của doanh nghiệp so với kỳ trước là tăng hay giảm hoặc sovoứi doanh nghiệp khác là cao hay thấp Chúng bao gồm :

 So sánh các khoản chi phí (giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phíquản lý doanh nghiệp, chi phí bất thường) với doanh thu thuần Việc so sánhnày cho biết để có một đơn vị doanh thu thuần thì doanh nghiệp phải hao phíbao nhiêu đơn vị chi phí (giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lýdoanh nghiệp…)

 So sánh các khoản lợi nhuận (lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợinhuận sau thuế) với chi phí (giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản

lý doanh nghiệp, chi phí bất thường) để biết được doanh nghiệp tạo ra đượcbao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng chi phí

 So sánh các khoản lợi nhuận (lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợinhuận sau thuế) với doanh thu thuần Cách so sánh này cho biết cứ 1 đơn vịdoanh thu thuần thì đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đơn vị lợi nhuận (lợinhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế)

Nếu mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm, mức sinhlợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng so với kỳ gốc và so với cácdoanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh trong kỳ của doanh

Trang 34

nghiệp càng cao và ngược lại.

*Phân tích căn cứ vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Msố B03-DN)

Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cung cấp cho người sử dụng biếtđược tiền tệ của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích

gì Từ đó dự đoán được lượng tiền trong tương lai của doanh nghiệp, nắmđược năng lực thanh toán hiện tại cũng như biết được sự biến động của từngchỉ tiêu, từng khoản mục trong báo cáo Đồng thời người sử dụng thông tincũng thấy được quan hệ giữa lãi, lỗ ròng với luồng tiền tệ cũng như các hoạtđộng kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính ảnh hưởng đến tiền tệ

ở mức độ nào, làm tăng hay giảm tiền tệ

Khi phân tích trước hết cần tính ra và so sánh chỉ tiêu sau :

Tỷ trọng tiền tạo ra từ hoạt động

kinh doanh so với tổng lượng

tiền lưu chuyển trong kỳ =

Tổng số tiền thuần lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh Tổng số tiền thuần lưu chuyển

trong kỳChỉ tiêu này cho biết khả năng tạo ra tiền từ hoạt động sản xuất kinhdoanh so với các hoạt động khác trong kỳ là cao hay thấp Chỉ tiêu này nếuchiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng lượng tiền lưu chuyển trong kỳ càngchứng tỏ sức mạnh tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng tạo tiền từhoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải từ các hoạt động bất thường.Tiếp theo ta tiến hành so sánh cả về số tuyệt đối và tương đối giữa kỳ nàyvới kỳ trước trên các chỉ tiêu của báo cáo Đi sâu so sánh tình hình biến độngcủa từng mục, khoản mục trong tưng hoạt động đến lượng tiền lưu chuyểntrong kỳ này với kỳ trước Qua đó, nêu ra nhận xét và kiến nghị thích hợp đểthúc đẩy lượng tiền lưu chuyển trong từng hoạt động

*Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính (Msố B09-DN)

Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung cho nhàquản lý những thông tin chi tiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến

Trang 35

hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Phương pháp phân tíchđược sử dụng ở đây chủ yếu là phương pháp so sánh : so sánh giữa cuối kỳvới đầu kỳ, so sánh giữa kỳ này với kỳ trước Các chỉ tiêu phân tích chủ yếunhư sau :

Phân tích chỉ tiêu "chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố"

Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nếu xét theo nội dung kinh

tế ban đầu đồng nhất sẽ được chia làm các yếu tố chi phí khác nhau Khi phântích chỉ tiêu này cần so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối trên tổng chiphí cũng như trên từng yếu tố chi phí giữa kỳ này với kỳ trước Qua đó biếtđược tình hình biến động chi phí trong kỳ

 Phân tích chỉ tiêu "Tình hình tăng, giảm TSCĐ"

Phân tích tình hình tăng, giảm TSCĐ sẽ cho nhà quản lý biết được tìnhhình biến động của TSCĐ trong kỳ theo từng loại Qua đó đánh giá được tìnhhình đầu tư trang bị TSCĐ của doanh nghiệp và xây dựng được kế hoạch đầu

tư Khi phân tích tiến hành so sánh giữa cuối kỳ và đầu kỳ theo tưng loạiTSCĐ cụ thể cả về nguyên giá và giá trị còn lại

Phân tích chỉ tiêu "Tình hình thu nhập của công, nhân viên"

Thu nhập của công nhân viên trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu đánhgiá sự phát triển của doanh nghiệp bởi vì không thể nói một doanh nghiệpkinh doanh có hiệu quả nếu thu nhập của người lao động có xu hướng giảmtheo thời gian và thấp so với mặt bằng chung được Thu nhập của công nhânviên phải gắn liền với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Phân tích chỉ tiêu "tình hình tăng, giảm nguồn vốn chủ sở hữu"

Phân tích tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu sẽ cho nhà quản lýbiết được tình hình biến động của tổng số nguồn vốn chủ sở hữu cũng nhưtừng loại nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Qua đó, đánh giá tính hợp

lý của việc hình thành và sử dụng từng nguồn vốn chủ sở hữu

Trang 36

Phân tích chỉ tiêu "tình hình tăng, giảm các khoản đầu tư vào đơn vị khác "

Để nắm được tình hình đầu tư và hiệu quả đầu tư vào các đơn vị khác,cần thiết phải xem xét mức đầu tư và kết quả đầu tư Khi phân tích cần sosánh mức đầu tư vào doanh nghiệp khác giữa cuối kỳ và đầu kỳ trên tổng sốcũng như trên từng khoản mục đầu tư, so sánh giữa kỳ này với kỳ trước trêntổng số và trên từng khoản đầu tư cả về số tuyệt đối và tương đối Dựa vàotình hình biến động cụ thể của từng chỉ tiêu để rút ra kết luận

*Phân tích dựa vào một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh.

Trên thực tế có nhiều cách thức tiếp cận hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp Mỗi doanh nghiệp tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh củamình mà sử dụng những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh khác nhau Vềmặt tổng quát, để đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh thường sử dụngnhững chỉ tiêu sau:

 Sức sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào đem lại mấy đơn vịkết quả sản xuất đầu ra trị số của chỉ tiêu này tính ra càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào càng cao, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao Ngược lại, chỉ tiêu này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố thấp, dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao.

Sức sản xuất =

Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất

Yếu tố đầu vàoTùy theo mục đích phân tích mà tử số của chỉ tiêu “sức sản xuất” có thể

sư dụng một trong các chỉ tiêu như: tổng giá trị sản xuất, doanh thu thuần bánhàng còn yếu tố đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng laođộng, vốn chủ sở hữu, vốn vay

 Sức sinh lợi (khả năng sinh lời): là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị yếu tố đầuvào hay một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất đem lại mấy đơn vị lợinhuận Trị số của chỉ tiêu này tính ra càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi càngcao, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao Ngược lại, chỉ tiêu này càng nhỏ phản

Trang 37

ánh khả năng sinh lợi thấp, dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao.

tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay đầu ra phảnánh kết quả như: tổng giá trị sản xuất, doanh thu thuần bán hàng

 Suất hao phí: là chỉ tiêu cho biết để có được một đơn vị đầu ra phản ánh kếtquả sản xuất hay đầu ra phản ánh lợi nhuận, doanh nghiệp phải hao phí mấyđơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào Trị số của chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ chứng tỏhiệu quả kinh doanh càng cao Ngược lại, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng thấp.

Suất hao phí =

Yếu tố đầu vàoĐầu ra phản ánh kết quả sản xuất hay lợi nhuận

1.4.2.5 Chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên phảiđương đầu với mọi rủi ro, trong đó rủi ro tài chính là rủi ro luôn tiềm ẩn vàthường trực Rủi ro tài chính là rủi ro gắn liền với cấu trúc nguồn vốn và là rủi

ro mà các chủ sở hữu phải gánh chịu do việc sử dụng nợ đem lại Bởi vậy, khixem xet rủi ro tài chính, các nhà phân tích thường xem xét rủi ro thanh toán

nợ và ảnh hưởng của cơ cấu nợ đến khả năng sinh lợi trên vốn chủ sỏ hữu củadoanh nghiệp

Rủi ro thanh toán nợ là một bộ phận cấu thành nên rủi ro tài chính Rủi

ro thanh toán nếu không kịp thời khắc phục, tất yếu dẫn doanh nghiệp đến rủi

ro phá sản Bởi vậy khi xem xét rủi ro thanh toán, chúng ta thường sử dụng

Trang 38

các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán, đặc biệt là khả năng thanh toán nợđến hạn và nợ ngắn hạn.

Ngoài sử dụng một số chỉ tiêu hệ số thanh toán như đã phân tích ở trên,còn có những hệ số như:

* Hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn:

Chỉ tiêu này cho phép nhà quản lý nắm bắt được khả năng trả nợ đếnhạn, quá hạn của doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ doanhnghiệp haòn toàn đảm bảo được khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ đếnhạn Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp không bảođảm khả năng thanh toán nợ đến hạn, quá hạn và do vậy rủi ro lâm vào tìnhtrạng phá sản là có thể xảy ra Chỉ tiêu này được tính như sau :

mà còn không bù đắp đủ chi phí bỏ ra, trong đó có chi phí lãivay do sử dụng các khoản nợ Các chỉ tiêu thường được quantâm gồm:

* Hệ số chi trả lãi vay:

Trang 39

lãi vay.

Hệ số này =1 tức là lợi nhuân trước thuế = lãi vay, điềunày có nghĩa doanh nghiệp thu được vừa đủ trang trải lãi vay,chưa có để nộp ngân sách hay tích lũy

Hệ số này >1 tức là lợi nhuận trước thuế > lãi vay, điềunày có nghĩa doanh nghiệp đã có lãi, sau khi bù đắp những chiphí bỏ ra và nộp thuế thu nhập cho ngân sách, doanh nghiệpcòn dôi ra để tích lũy và ohân chia cho các thành viên

Chương 2

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN THUỘC TỔNG CÔNG TY THIẾT BỊ KỸ

THUẬT ĐIỆN.

2.1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY THIẾT BỊ KỸ THUẬT ĐIỆN

2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển, bộ máy tổ chức hoạt động của Tổng Công ty Thiết bị Kỹ thuật Điện.

Tổng công ty thiết bị kỹ thuật điện được thành lập theoquyết định số 42/QĐ-TCCB ngày 06/01/1996 của Bộ trưởng BộCông nghiệp

Trải qua 20 năm hình thành và phát triển, Tổng công tykhông ngừng lớn mạnh cả về quy mô va loại hình hoạt động.Ngày đầu mới chỉ có 2 đơn vị thành viên thì đến nay Tổng công

ty có tổng cộng 11 đơn vị thành viên Lĩnh vực sản xuất kinhdoanh chính tại Tổng công ty là sản xuất các thiết bị đo điệnnhư dây cáp điện, máy biến thế, công tơ điện… Bên cạnh đócòn có liên doanh với các nước khác để phát triển các ngànhsản xuất công nghệ cao, các ngành dịch vụ, kinh doanh kháchsạn…

Trang 40

Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trong hainăm 2004 và 2005 như sau:

TH 2005

TH 6T/0 6

TH200 5/TH2 004

TH200 5/KH2 005

Tổng công ty có Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản

lý hoạt động của tất cả các đơn vị thành viên trong Tổng công

ty, ngưòi trực tiếp điều hành là Tổng giám đốc Tổng giám đốc

có các Phó tổng giám đốc giúp việc Cơ quan tham mưu giúpviệc về chuyên môn hiện nay của Tổng công ty là khối vănphòng được chia thành nhiều phòng ban phục vụ chung cho Hộiđồng quản trị và Tổng giám đốc Bộ máy giúp việc gồm 6 phòngban chuyên môn: văn phòng, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng kếhoạch, Phòng kinh tế đối ngoại, Phòng quản lý công nghệ vàchất lượng sản phẩm, Phòng Tài chính kế toán

Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Thiết bị kỹ thuật điệnnhư sau:

Sơ đồ 2 : Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Tổng

Ngày đăng: 12/08/2019, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. "Phân tích chứng khoán", Tạp chí tài chính, (số chuyên đề thị trường chứng khoán) tr.70-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chứng khoán
10. Nguyễn Ngọc Quang (2001), "Phân tích tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường", Thông tin tài chính (11/2001), tr.36-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính doanh nghiệp trongnền kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 2001
1. PGS.TS. Nguyễn Văn Công - Kế toán doanh nghiệp - Nhà xuất bản tài chính - Năm 2001 Khác
2. PGS.TS Nguyễn Minh Phương – Giáo trình kế toán quản trị – Nhà xuất bản tài chính – năm 2004 Khác
3. PGS.TS Phạm Thị Gái – Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh – Nhà xuất bản thống kê - Năm 2001 Khác
7. Đặng Thị Loan (2001). Kế toán tài chính - Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Năng Phúc (1998), Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - NXB Thống kê, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w