1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngành giao thông vận tải ở tỉnh Nghệ an

93 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 466 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là mục tiệu phấn đấu của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Một trong các biện pháp đổi mới đó là cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, mục tiêu của cổ phần hoá là huy động vốn của mọi thành phần kinh tề trong xã hội nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế hội nhập và phát triển. Ở Việt Nam cổ phần hoá là một chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ trong nhiều năm qua nhằm phát triển kinh tế, tạo ra những bước nhảy cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước bắt đầu thực hiện từ năm 1990, qua 16 năm cổ phần hoá cả nước đã thực hiện được trên 1 600 doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần. Quá trình cổ phần hoá đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên tiến trình cổ phần hoá vẫn còn chậm so với kế hoạch đặt ra. Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó do nhận thức của mọi tầng lớp lớp trong xã hội còn hạn chế, cơ chế chính sách chưa thoả đáng, tổ chức thực hiện chưa đồng bộ… Để làm sáng tỏ vấn đề này đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu ở các góc độ và phạm vi khác nhau. Đánh giá chung các đề tài đều nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước thuộc các Bộ , Ngành. Tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XCCB ngành GTVT ở tỉnh Nghệ an. Xuất phát từ vị trí, vai trò của cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển của tỉnh nhà, do vậy tác giả chọn đề tài nghiên cứu : " Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngành giao thông vận tải ở tỉnh Nghệ an " làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế. 2. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. - Làm rõ thực trạng công tác cổ phần hóa tại các DNNN trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT tỉnh Nghệ an. - Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa ở các DNNN trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT tỉnh Nghệ an. 3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác cổ phần hóa của các DNNN trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT tỉnh Nghệ an từ khi triển khai năm 1999 đến hết năm 2005. 4. Phương pháp nghiên cứu. Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và so sánh. 5. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: - Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. - Chương 2: Thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngành giao thông vận tải ở tỉnh Nghệ an. - Chương 3: Quan diểm định hướng và các giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngành giao thông vận tải ở tỉnh Nghệ an. Sau đây là nội dung chi tiết của từng chương Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1. Công ty cổ phần và đặc trưng của công ty cổ phần. 1.1.1. Công ty cổ phần. Công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế ( doanh nghiệp ) trong đó có thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp và phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ nghĩa vụ trong phạm vi phần vốn của mình góp vào tổ chức kinh tế. Ở đây công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch riêng, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật của mỗi quốc gia nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu lợi nhuận. Theo qui định của Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. - Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu và chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp của mình. - Cổ đông có cổ phiếu phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. - Cổ đông có thể là pháp nhân, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. - Có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo qui định của pháp luật về chứng khoán và các cơ quan có thẩm quyền. 1.1.2. Đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần: 1. Hình thức sở hữu của công ty cổ phần: Công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu, chủ sở hữu của công ty cổ phần là các cổ đông. Họ thực hiện quyền sở hữu của mình trên các mặt sau đây : - Hưởng cổ tức trên cơ sở kết quả kinh doanh của công ty cổ phần. - Quyết định những vấn đề chiến lược của công ty khi tham gia đại hội đồng cổ đông. - Không trực tiếp rút vốn ra từ công ty nhưng có thể chuyển nhượng quyền sở hữu thông qua việc mua bán cổ phiếu, điều này không ảnh hưởng đến sở hữu thông qua việc mua bán cổ phiếu và không ảnh hưởng đến hoạt động của công ty cổ phần. 2. Tính pháp lý của công ty cổ phần: Công ty cổ phần có đầy đủ tư cách pháp nhân. Thành viên công ty thường là các cổ đông, do vậy số lượng có thể rất đông. Có những công ty xuyên quốc gia, số thành viên có thể lên tới hàng vạn, hàng triệu. Tuy vậy, số lượng tối thiểu của nó phải là ba. Các thành viên trong công ty cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận và chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp, họ chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp. Họ không phải đem các tài sản riêng, ngoài phần vốn góp của mình, để bồi thường hay nộp phạt thay cho công ty khi kết quả kinh doanh bị thua lỗ kéo dài. 3. Vốn của công ty cổ phần: Các thành viên công ty có thể không biết nhau, vì mục đích lợi nhuận, họ tự nguyện góp vốn để thành lập công ty. Vốn có thể bằng giá trị như tiền mặt, séc, kỳ phiếu, tín phiếu…, hoặc bằng hiện vật như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai… hoặc bằng chất xám như phát minh, sáng chế… Dù dưới bất kỳ hình thức nào thì vốn phải được các thành viên thỏa thuận qui ra tiền để tiện cho việc định giá cổ phần. Vốn được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cổ phần được xác định bằng chứng khoán là cổ phiếu. Cổ đông hưởng lợi tức và phải có trách nhiệm với các rủi ro của công ty trong phạm vi vốn góp. Vốn của tất cả các thành viên đóng góp ghi vào điều lệ công ty gọi là vốn điều lệ. Trong quá trình kinh doanh, công ty cổ phần có thể tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu và trái phiếu. Khác với cổ phiếu, người mua trái phiếu chỉ được hưởng lợi tức, không được tham gia vào công việc kinh doanh của công ty (giống như chủ nợ). Đến kỳ hạn, công ty sẽ thanh toán gốc cho người mua trái phiếu. Cổ phiếu và trái phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán trừ các cổ phiếu ưu đãi biểu quyết và cổ phiếu phổ thông của cổ đông sáng lập (pháp luật có qui định riêng trong việc chuyển nhượng). 4. Tính xã hội hóa của công ty cổ phần: Bằng việc qui định mệnh giá cổ phiếu tương đối thấp, công ty cổ phần có thể thu hút được sự tham gia đóng góp của mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Như vậy công ty cổ phần có thể huy động mọi nguồn lực của xã hội nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh để tăng thêm sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là mục tiệu phấn đấu của Đảng và Nhànước trong nhiều năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuấtkinh doanh Một trong các biện pháp đổi mới đó là cổ phần hoá các doanhnghiệp nhà nước, mục tiêu của cổ phần hoá là huy động vốn của mọi thànhphần kinh tề trong xã hội nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệptrong nền kinh tế hội nhập và phát triển

Ở Việt Nam cổ phần hoá là một chủ trương, chính sách của Đảng và Chínhphủ trong nhiều năm qua nhằm phát triển kinh tế, tạo ra những bước nhảy chonền kinh tế tăng trưởng bền vững Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước bắt đầu thực hiện từ năm 1990, qua 16 năm cổ phần hoá cả nước đã thựchiện được trên 1 600 doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần.Quá trình cổ phần hoá đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên tiếntrình cổ phần hoá vẫn còn chậm so với kế hoạch đặt ra Nguyên nhân dẫn đếnkết quả đó do nhận thức của mọi tầng lớp lớp trong xã hội còn hạn chế, cơ chếchính sách chưa thoả đáng, tổ chức thực hiện chưa đồng bộ…

Để làm sáng tỏ vấn đề này đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu ở các góc

độ và phạm vi khác nhau Đánh giá chung các đề tài đều nghiên cứu và giảiquyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhànước thuộc các Bộ , Ngành Tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu về

cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XCCB ngành GTVT ởtỉnh Nghệ an

Xuất phát từ vị trí, vai trò của cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nướctrong nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển

của tỉnh nhà, do vậy tác giả chọn đề tài nghiên cứu : " Cổ phần hoá các

Trang 2

doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngành giao thông vận tải ở tỉnh Nghệ an " làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế.

2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cổ phần hóa doanh nghiệp nhànước

- Làm rõ thực trạng công tác cổ phần hóa tại các DNNN trong lĩnh vựcXDCB ngành GTVT tỉnh Nghệ an

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa ở cácDNNN trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT tỉnh Nghệ an

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác cổ phần hóa của cácDNNN trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT tỉnh Nghệ an từ khi triển khainăm 1999 đến hết năm 2005

4 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháptổng hợp, phương pháp thống kê và so sánh

5 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hóa doanh nghiệp

nhà nước

- Chương 2: Thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngành giao thông vận tải ở tỉnh Nghệ an

- Chương 3: Quan diểm định hướng và các giải pháp chủ yếu thúc đẩy

quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơbản ngành giao thông vận tải ở tỉnh Nghệ an

Sau đây là nội dung chi tiết của từng chương

Trang 3

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH

NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Công ty cổ phần và đặc trưng của công ty cổ phần.

1.1.1 Công ty cổ phần.

Công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế ( doanh nghiệp ) trong đó cóthành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tươngứng với phần vốn góp và phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ nghĩa vụtrong phạm vi phần vốn của mình góp vào tổ chức kinh tế

Ở đây công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, cótrụ sở giao dịch riêng, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luậtcủa mỗi quốc gia nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu lợi nhuận

Theo qui định của Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần là loại hình doanhnghiệp có tư cách pháp nhân trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giátrị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu

- Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu và chỉ chịu tráchnhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đãgóp của mình

- Cổ đông có cổ phiếu phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần củamình cho người khác

- Cổ đông có thể là pháp nhân, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba

và không hạn chế số lượng tối đa

- Có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo qui định của phápluật về chứng khoán và các cơ quan có thẩm quyền

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần:

1 Hình thức sở hữu của công ty cổ phần: Công ty cổ phần có nhiều

Trang 4

chủ sở hữu, chủ sở hữu của công ty cổ phần là các cổ đông Họ thực hiệnquyền sở hữu của mình trên các mặt sau đây :

- Hưởng cổ tức trên cơ sở kết quả kinh doanh của công ty cổ phần

- Quyết định những vấn đề chiến lược của công ty khi tham gia đại hộiđồng cổ đông

- Không trực tiếp rút vốn ra từ công ty nhưng có thể chuyển nhượngquyền sở hữu thông qua việc mua bán cổ phiếu, điều này không ảnh hưởngđến sở hữu thông qua việc mua bán cổ phiếu và không ảnh hưởng đến hoạtđộng của công ty cổ phần

2 Tính pháp lý của công ty cổ phần: Công ty cổ phần có đầy đủ tư cách

pháp nhân Thành viên công ty thường là các cổ đông, do vậy số lượng có thểrất đông Có những công ty xuyên quốc gia, số thành viên có thể lên tới hàngvạn, hàng triệu Tuy vậy, số lượng tối thiểu của nó phải là ba Các thành viêntrong công ty cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận và chịu lỗ tương ứng vớiphần vốn góp, họ chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm viphần vốn góp Họ không phải đem các tài sản riêng, ngoài phần vốn góp củamình, để bồi thường hay nộp phạt thay cho công ty khi kết quả kinh doanh bịthua lỗ kéo dài

3 Vốn của công ty cổ phần: Các thành viên công ty có thể không biết

nhau, vì mục đích lợi nhuận, họ tự nguyện góp vốn để thành lập công ty Vốn

có thể bằng giá trị như tiền mặt, séc, kỳ phiếu, tín phiếu…, hoặc bằng hiện vậtnhư nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai… hoặc bằng chất xám như phátminh, sáng chế… Dù dưới bất kỳ hình thức nào thì vốn phải được các thànhviên thỏa thuận qui ra tiền để tiện cho việc định giá cổ phần Vốn được chiathành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cổ phần được xác định bằngchứng khoán là cổ phiếu Cổ đông hưởng lợi tức và phải có trách nhiệm vớicác rủi ro của công ty trong phạm vi vốn góp Vốn của tất cả các thành viênđóng góp ghi vào điều lệ công ty gọi là vốn điều lệ Trong quá trình kinh

Trang 5

doanh, công ty cổ phần có thể tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu vàtrái phiếu Khác với cổ phiếu, người mua trái phiếu chỉ được hưởng lợi tức,không được tham gia vào công việc kinh doanh của công ty (giống như chủnợ) Đến kỳ hạn, công ty sẽ thanh toán gốc cho người mua trái phiếu Cổphiếu và trái phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán trừ các cổphiếu ưu đãi biểu quyết và cổ phiếu phổ thông của cổ đông sáng lập (phápluật có qui định riêng trong việc chuyển nhượng).

4 Tính xã hội hóa của công ty cổ phần: Bằng việc qui định mệnh giá

cổ phiếu tương đối thấp, công ty cổ phần có thể thu hút được sự tham giađóng góp của mọi thành phần kinh tế trong xã hội Như vậy công ty cổ phần

có thể huy động mọi nguồn lực của xã hội nhằm phục vụ cho quá trình sảnxuất kinh doanh để tăng thêm sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp

5 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty cổ phần Bộ máy hoạt đông của

công ty cổ phần thường bao gồm : Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Bangiám đốc điều hành, Các phòng, ban chức năng phục vụ cho hoạt động sảnxuất kinh doanh Quyền quyết định tối cao của công ty cổ phần thuộc Đại hội

cổ đông Đại hội cổ đông có quyền bầu ta Hội đồng quản trị và Ban kiểmsoát Hội đồng quản trị bầu ra chủ tịch và các uỷ viên phụ trách, tổng giámđốc có thể thuê hoặc do Hội đồng quản trị bầu ra Công ty cổ phần có trênmười cổ đông bầu ra Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chínhcủa công ty cổ phần, các đặc trưng của công ty cổ phần được khái quát quabảng sau :

B ng 1.1 Các ảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần đặc trưng cơ bản của công ty cổ phầnc tr ng c b n c a công ty c ph nưng cơ bản của công ty cổ phần ơ bản của công ty cổ phần ảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần ủa công ty cổ phần ổ phần ần

Trang 6

viên các khoản nợ và nghĩa vụ trong

phạm vi vốn góp

4 Quản lý, điều hành Hội đồng quản trị quản lý

Giám đốc điều hành

5 Giám sát công việc Đại hội cổ đông, Ban kiểm soát

6 Chuyển nhượng vốn góp Tự do chuyển nhượng cổ phiếu trên

Sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bắt đầu từ những

xí nghiệp nhà nước được thành lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945bằng con đường quốc hữu hóa tài sản của giai cấp tư sản Sự phát triển doanhnghiệp nhà nước diễn ra mạnh mẽ về số lượng sau khi đất nước thống nhấtnăm 1954 Doanh nghiệp nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc củng

cố nền tảng kinh tế, xã hội của nước ta, góp phần xứng đáng vào sự nghiệpđấu tranh thống nhất đất nước 1975 và xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa

xã hội sau này

Nhưng quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước, chuyển từ cơ chế kếhoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, vàngày nay đứng trước ngưỡng cửa của xu hướng hội nhập kinh tế khu vực vàthế giới, các doanh nghiệp nhà nước ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế :

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp : Cũng như doanh nghiệp nhà nước

ở nhiều nước trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cũng gặp phảinhững vấn đề về hiệu quả kinh doanh Theo Báo cáo tổng kiểm kê tài sản vàxác định lại tài sản doanh nghiệp nhà nước tại thời điên 0h ngày 01/01/2000 thì: "Tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp nhà nước theo sổ sách kế toán là

Trang 7

517.654 tỷ đồng, theo giá kiểm kê xác định lại là 527.256 tỷ đồng; số nợ phảithu là 187.091 tỷ giá kiểm kê xác định lại là 527.256 tỷ đồng; số nợ phải thu

là 187.091 tỷ đồng chiếm 35,5% giá trị tài sản doanh nghiệp, gấp 1,43 lần vốnkinh doanh; hàng hóa tồn kho là 45.688 tỷ đồng, trong đó hàng ứ đọng, mấtphẩm chất không dùng đến là 1.600 tỷ đồng; doanh nghiệp có 1 đồng vốn thìphải vay hoặc chiếm dụng so với vốn sở hữud là 1,8 lần; tổng số nợ phải trả là353.410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn nhà nước cấp, gấp 2 lần nợ phải thu trong

đó nợ quá hạn phải trả là 10.171 tỷ đồng" Theo số liệu trong Báo cáo ban cán

sự Đảng của Chính phủ năm 2003, tính đến hết 2003 cả nước có 4.492 doanhnghiệp nhà nước thì chỉ có 77,2% kinh doanh có lãi song trong đó chỉ có 40%doanh nghiệp có mức lãi bằng hoặc cao hơn lãi suất ngân hàng, tỷ suất lợinhuận trên đồng vốn của doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 7,34%, tốc độ tăngbình quân trong ba năm gần đây là 10% trong lúc đó khu vực tư nhân là 18%

- Qui mô nhỏ : Trong số 4.492 doanh nghiệp nhà nước tính đến hết năm

2003, số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ chiếm 47%, số doanh nghiệp nhànước có lao động dưới 500 người chiếm trên 80% Do qui mô nhỏ nên khảnăng đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ rất hạn chế

- Cơ cấu ngành nghề bất hợp lý chưa thực sự tập trung vào những ngànhlĩnh vực then chốt

- Công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu, chưa thực sự tự chủ trong sảnxuất kinh doanh còn ỷ lại nhiều vào Nhà nước

- Sức cạnh tranh yếu, không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thịtrường

Theo các chuyên gia kinh tế, với thực trạng này, các doanh nghiệp nhànước sẽ không đủ sức mạnh cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập các tổ chứcthương mại khu vực và thế giới Vì vậy, để phát triển, Việt Nam cần phải cảicách doanh nghiệp nhà nước Cải cách doanh nghiệp nhà nước từ lâu đã làmối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Đã có nhiều giải pháp cải cách được

Trang 8

thực hiện Trong thời gian từ 1960 đến 1990, tức là trước thời điểm thực hiện

cổ phần hoá, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai nhiều biện pháp nhằm cải tiếnquản lý xí nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước theo tên gọi lúc đó).Tuy nhiên, thực tế cho thấy các giải pháp cải cách doanh nghiệp nhà nướcđược thực hiện trong thời gian trước 1990 ít mang lại hiệu quả Vai trò, hiệuquả của doanh nghiệp nhà nước hầu như không được cải thiện Tình trạngkém hiệu quả, thua lỗ, lãng phí tài sản vẫn là những căn bệnh cố hữu củadoanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong những năm qua Có khá nhiều ý kiếnkhác nhau về những kết quả hạn chế của các biện pháp cải cách doanh nghiệpnhà nước đã thực hiện trước đây Tuy nhiên, một nguyên nhân có thể nhậnthấy dễ dàng và được thừa nhận khá rộng rãi là vấn đề sở hữu

Cải cách doanh nghiệp nhà nước có thể được tiến hành bằng nhiều cáchkhác nhau:

- Sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước: đổi mới cơ cấu hệ thống doanhnghiệp nhà nước trên cơ sở sắp xếp lại các doanh nghiệp, đổi mới cơ chế quản

lý doanh nghiệp theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Thành lập các tổng công ty nhà nước có tiềm lực kinh tế mạnh đảmnhiệm các nhiệm vụ then chốt, các ngành nghề kinh doanh mà không thể cổphần hoá được

- Đa dạng hoá các hình thức sở hữu bằng cách giao, bán, khoán, cho thuê

Trong qúa trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, giải pháp cổphần hoá sẽ khắc phục được những hạn chế của doanh nghiệp nhà nước và đạt

Trang 9

được những kết quả như :

- Tháo gỡ khó khăn cho ngân sách nhà nước trong việc hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, chuyển một phần quyền sở hữu về tàisản của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông, từ đó tập trung vốn vào cáclĩnh vực quan trọng để tái cơ cấu nền kinh tế

- Tận dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi, phân tán trong xã hội vàođầu tư, đồng thời thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc bán cổphiếu cho nhà đầu tư nước ngoài

- Đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Nhà nước Cổ phầnhoá tạo điều kiện để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất làmtăng thêm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Nâng cao tính dân chủ trong hoạt động kinh tế, tạo động lực mới trongquản lý doanh nghiệp

- Tạo hàng hoá cung cấp cho thị trường chứng khoán phát triển

Tuy nhiên ở đây có một vấn đề là cần phải phân biệt giữa tư nhân hoá và

cổ phần hoá Cổ phần hoá trong cải cách doanh nghiệp nhà nước ở các nướctrên thế giới được coi là một trong những phương thức của tư nhân hoá Quanđiểm này được chấp nhận khá phổ biến Nếu xét đơn thuần ở khía cạnh hìnhthức sở hữu và dựa vào thực tế cải cách doanh nghiệp nhà nước ở các nướcthì qan điểm này không thể bị bác bỏ Theo định nghĩa về tư nhân hoá được tổchức UNIDO đưa ra, tư nhân hoá là việc chuyển tài sản từ thành phần kinh tếcông sang thành phần kinh tế tư Cổ phần hoá được một số nước tiến hành ởquy mô hạn chế Việc cổ phần hoắ được thực hiện thông qua việc chia vốncuả một số doanh nghiệp nhà nước nhất định ra thành các cổ phần

Một số cổ phần phát hành được bán cho tư nhân hoặc phân phát chongười lao động, một phần nhà nước sở hữu Như vậy với cổ phần hoá thì một

số doanh nghiệp nhà nước được biến thành sở hữu chung của người lao động,của doanh nhân và của nhà nước Rõ ràng, doanh nghiệp nhà nước bị tư nhân

Trang 10

hoá một phần, tức là phần giành cho doanh nhân và người lao động theonghĩa là một phần tài sản của thành phần kinh tế công đã chuỷên sang thànhthành phần kinh tế tư Thực tế này cùng với định nghĩa đã nêu cho thấy cổphần hoá là tư nhân hoá từng phần các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên,giữa cổ phần hoá và tư nhân hoá ở các nước đã tiến hành cải cách đổi mớidoanh nghiệp nhà nước theo mô hình tư nhân hoá vẫn có những điểm khácnhau rất cơ bản sau:

- Tư nhân hoá được coi là một chính sách và mục tiêu của nó là hạn chếđến mức tối đa thành phần kinh tế công trong lúc cổ phần hóa chỉ được coi làmột giải pháp thực hiện

- Tư nhân hóa được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau, trong

đó có cả phương thức phi quốc hữu hóa, tức là trả lại cho chủ cũ những tài sản

đã bị quốc hữu hóa, kể cả toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động Cổ phần hóatrong khi đó chỉ thực hiện thông qua việc doanh nghiệp nhà nước tiến hànhphát hành cổ phần ra công chúng lần đầu

- Tác dụng của hai giải pháp này hoàn toàn khác nhau cả về mức độ lẫntính chất Tư nhân hóa dẫn đến sự thay đổi hình thức sở hữu của các doanhnghiệp nhà nước Tư nhân hóa dẫn đến sự thay đổi hình thức sở hữu của cácdoanh nghiệp nhà nước, còn cổ phần hóa có tác dụng làm giảm sở hữu củanhà nước trong doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa không chỉ khác với tư nhân hóa ở các quốc gia lựa chọngiải pháp tư nhân hóa đồng loạt mà còn khác với cổ phần hóa được tiến hành

ở các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc ( ta sẽ nghiên cứu kinh nghiêm

cổ phần hoá của Trung Quốc ở phần sau ) Sự khác nhau này thể hiện ở một

số điểm sau:

- Cổ phần hóa ở các nước này được coi là giải pháp thay thế tư nhân hóatrong cải cách thành phần kinh tế công Các nhà nghiên cứu cho rằng cổ phầnhóa ở Trung Quốc là cổ phần hóa phi tư nhân hóa

Trang 11

- Phương thức thực hiện cổ phần hóa chủ yếu là phát hành cổ phiếu chocác thành phần kinh tế khác hoặc cho người lao động Các doanh nghiệp nhànước cổ phần hóa để tăng hiệu quả hoạt động Còn mục tiêu của chương trình

tư nhân hóa là nhằm thanh toán bớt gánh nặng của ngân sách, giảm các khoảnphài bù lỗ cho doanh nghiệp nhà nước

Tư nhân hóa toàn diện thành phần kinh tế công ở phạm vi vĩ mô cónhững điểm được coi là lợi thế nhất định:

- Thúc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu lại nền kinh tế và mặt sở hữu, tạothêm được nhiều chủ thể của thị trường hoạt động dựa trên các nguyên tắc củanền kinh tế thị trường

- Giảm nhanh chóng các vị thế độc quyền của kinh tế công và qua đó tạo

ra được tính cạnh tranh hoàn hảo hơn cho nền kinh tế

- Khắc phục nhanh sự thâm hụt ngân sách do các khoản trợ cấp và bù lỗcho thành phần kinh tế công được xóa bỏ đồng loạt đối với nhiều doanhnghiệp nhà nước

Tuy nhiên tư nhân hóa toàn diện thành phần kinh tế công ở tầm vĩ mô cónhững hạn chế đáng lưu ý sau:

- Tư nhân hóa toàn diện thành phần kinh tế công sẽ làm giảm nhanh khảnăng điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế

- Làm nảy sinh vấn đề việc làm ở phạm vi lớn và vì vậy dễ gây ra nhữngbất ổn xã hội

- Dễ dẫn đến sự chảy máu tài sản công và túi các viên chức nhà nước thahóa, nhất là nó chưa được hỗ trợ bởi hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch

- Dẫn tới những tác động xấu tới nền kinh tế địa phương, nhất là nhữngvùng không có được lợi thế kinh tế hoặc những vùng có mức phát triển thấphoặc ở những ngành ít có khả năng cạnh tranh

Cổ phần hóa, như đã phân tích, là một phương thức có điểm gần giốngnhư tư nhân hóa Tuy nhiên, khác với tư nhân hóa, cổ phần hóa được coi là

Trang 12

quá trình tư nhân hóa một phần Cổ phần hóa không xóa bỏ hoàn toàn sở hữunhà nước trong các cơ sở kinh tế công mà chỉ giảm mức độ sở hữu Cổ phầnhóa có một số ưu thế nhất định sau:

- Cổ phần hóa không làm thay đổi một cách cơ bản kết cấu sở hữu củanền kinh tế Vì vậy, nền tảng kinh tế của xã hội vẫn có thể không thay đổi lớnkhi tiến hành cổ phần hóa

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước cổ phầnhóa sẽ tăng lên và từ đó có thể làm cho chúng có được khả năng thực hiện tốthơn vai trò của mình

- Do chỉ giảm bớt mức độ sở hữu của Nhà nước trong các doanh nghiệpnhà nước cổ phần hóa mà không loại chúng ra khỏi nền kinh tế nên cổ phầnhóa không làm phát sinh vấn đề việc làm ở mức độ lớn Đây chính là yếu tốtích cực của cổ phần hóa xét ở khía cạnh ổn định xã hội

- Cổ phần hóa có thể mang lại sự gia tăng vốn đầu tư của doanh nghiệpnhà nước thông qua việc huy động từ các cổ đông, các chủ sở hữu mới củadoanh nghiệp cổ phần hóa

Qua phân tích những mặt tích cực và hạn chế của cổ phần hoá DNNN và

sự khác biệt giữa cổ phần hoá và tư nhân hoá ở một số nước có nền kinh tếphát triển Từ sự phân tích trên ta có thể kết luận rằng cổ phần hoá DNNN làmột tất yếu khách quan, là xu thế phát triển của thời đại nhằm thúc đẩy nềnkinh tế phát triển

1.2.2 Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT.

Cổ phần hoá các DNNN có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nềnkinh tế phát triển, tạo ra sự tăng trưởng thực sự cho các doanh nghiệp, thunhập của người lao động ngày càng được nâng cao

Đối với Nhà nước, khi cổ phần hoá sẽ giảm số lượng các doanh nghiệpnhà nước thuần tuý, tức là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sẽ giảm bớt

Trang 13

được một khoản bổ sung vốn từ ngân sách cho những doanh nghiệp này Sốvốn đó để dành đầu tư vào những những mục tiêu khác cho nhu cầu phát triểncủa xã hội.

- Thông qua cổ phần hóa, nhà nước thu được một phần giá trị tài sản nhànước trước đây giao cho các ngành, doanh nghiệp tiếp tục quản lý theo cơ chếmới hiệu quả hơn

- Tác động tích cực đối với quản lý nhà nước Cổ phần hoá thúc đẩy sựphân định rõ hơn chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quảntrị kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước không thể tác động trực tiếpđến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà chức năng chủ yếu của Nhànước là tạo khuôn khổ pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi cho sựphát triển của các doanh nghiệp Giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh theo các phương án tự chọn nhằm tăng thêm sức cạnh tranhcho các doanh nghiệp

- Khi số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm sẽ làm giảm nhu cầu hỗ trợ

và ưu đãi về tín dụng của Nhà nước Đặc biệt nó sẽ làm giảm bớt áp lực vayvốn lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và các quĩ tín dụng nhà nước.Thực trạng tài chính của các ngân hàng này được lành mạnh hóa và cơ hội đểcác doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tiếp cận các nguồn vốnvay sẽ mang tính bình đẳng và thị trường lớn

- Cổ phần hoá tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong và ngoài nướcvào phát triển kinh tế Việc cổ phần hóa, bán một phần hoặc toàn bộ tài sảncủa các doanh nghiệp nhà nước không thuộc lĩnh vực then chốt, trọng yếu củanền kinh tế cho người lao động trong doanh nghiệp, cho các pháp nhân và thểnhân đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư sẵn có vào phát triển kinh tế Vớiviệc huy động được vốn, các công ty cổ phần có điều kiện mở rộng sản xuấtkinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thịtrường

Trang 14

- Cổ phần hoá tác động tích cực đến đổi mới cơ chế quản lý doanhnghiệp Chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần không chỉ là

sự thay đổi về sở hữu mà còn là sự thay đổi căn bản trong công tác quản trị ởdoanh nghiệp Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinhdoanh gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí, các cổ đông thực hiện quyền làm chủ củamình Công ty toàn quyền chủ động quyết định những vấn đề liên quan đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của mình Những quyết định đó được đưa ratrên cơ sở tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và tôn trọng pháp luật

- Cổ phần hóa tạo điều kiện cho người góp vốn thực hiện quyền làm chủthực sự của mình đối với hoạt động của công ty Khi chuyển sang hình thứccông ty cổ phần, vốn và tài sản thuộc sở hữu tập thể của các cổ đông Nhữngngười lao động trong doanh nghiệp nhà nước trước dây có thể trở thànhnhững cổ đông của công ty cổ phần sau này sẽ trở thành những người chủ sởhữu đích thực của công ty, họ cùng với những cổ đông khác tham gia vào quátrình quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạtđược lợi nhuận trong kinh doanh

- Cổ phần hóa đồng loạt các doanh nghiệp nhà nước gắn với sự ra đờicủa nhiều công ty cổ phần Sự tồn tại của công ty cổ phần đã thúc đẩy thịtrường chứng khoán phát triển tạo ra quá trình luân chuyển vốn từ nơi không

có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao Các nguồn tài chính

xã hội nằm trong các công ty cổ phần sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn

- Với việc chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần,nhờ vào những lợi thế sẵn có của mình và những hỗ trợ ban đầu về cơ chế,chính sách của Nhà nước, sẽ tạo điều kiện tốt cho các công ty này sẽ làm ănrất hiệu quả, nhanh chóng vươn lên khẳng định vị trí và chiếm lĩnh thị trường.Chính chúng sẽ tạo ra những cuộc cạnh tranh mạnh mẽ đối với các doanhnghiệp khác trong nền kinh tế, từ đó tạo thành một sức manh thúc đẩy sự tăngtrưởng của toàn bộ nền kinh tế

Trang 15

- Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có tác dụng rấtlớn trong việc đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham nhũng Sự bao cấp của Nhànước đối với nhiều doanh nghiệp trong nhiều năm qua đã tạo ra cơ chế, xincho là mảnh đất tốt cho những hành vi chuộc lợi, tham nhũng Cổ phần hóatạo ra sự giám sát chặt chẽ của chủ sở hữu - các cổ đông - đối với cán bộ quản

lý doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa sẽ trởthành công ty cổ phần, được đăng ký và hoạt động theo Luật doanh nghiệpnăm 2002 Khi đó không còn tồn tại cơ chế xin - cho đối với doanh nghiệpnữa Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị chi phối bởicác qui luật thị trường và pháp luật Mối quan hệ giữa Nhà nước và công ty cổphần chỉ là quan hệ giữa cổ đông với công ty Cơ quan đại diện sở hữu phầnvốn góp của nhà nước có các quyền và nghĩa vụ của cổ đông theo qui địnhcủa pháp luật Trong doanh nghiệp cổ phần hóa, việc quản lý công ty sẽ đượcđảm nhiệm bởi một guồng máy do các cổ đông lập ra Chính các cổ đôngquyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, theo dõi chặt chẽ, thườngxuyên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Vì lợi ích của mọi người các cổđông sẽ phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi mờ ám, gian lận hay tham ô,

vụ lợi của những người quản lý và các cổ đông lớn

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổphần chịu tác động của nhiều nhân tố, song có thể khái quát thành nhữngnhóm nhân tố sau:

- Các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ : Các chính sách vĩ mô củaChính phủ định ra khung pháp lý cho quá trình cổ phần hóa do đó nó ảnhhưởng rất lớn tới tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Nếu cácchính sách thông thoáng, thống nhất, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rất lớn cho sựthành công của việc cổ phần hoá Ngược lại, nếu các chính sách không ổnđịnh, hay thay đổi đột ngột sẽ là những yếu tố bất lợi cho môi trường đầu tưtrong nước, và do đó cũng sẽ gây bất lợi cho quá trình cổ phần hoá

Trang 16

- Thị trường chứng khoán, thị trường vốn.

Thị trường chứng khoán,thị trường vốn và cổ phần hoá có mối liên hệmật thiết với nhau Cổ phần hoá có tác động rất lớn đối với thị trường chứngkhoán thông qua việc làm xuất hiện thêm một số lượng công ty cổ phần cótiềm lực do thừa kế vốn, công nghệ, lao động từ các doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hoá Với sự xuất hiện của những công ty cổ phần này, hàng hóachứng khoán sẽ nhiều hơn, chất lượng hơn tạo ra sự nhộn nhịp của thị trườngchứng khoán Ngược lại, sự hoạt động hiệu quả của thị trường chứng khoán sẽkhuyến khích sự tham gia của các cổ đông vào việc mua cổ phiếu của doanhnghiệp nhà nước đã cổ phần hoá, vì họ hiểu rằng bất cứ lúc nào, nếu cần họ cóthể chuyển từ cổ phiếu sang tiền mặt Như vậy việc đẩy nhanh cổ phần hoá sẽgắn chặt với việc phát triển thị trường chứng khoán Do vậy sự tồn tại và pháttriển của thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinhdoanh có hiệu quả Thị trường chứng khoán phát triển đến mức độ nhất định

và hoạt động hiệu quả sẽ tác động tích cực đến việc cổ phần hoá doanh nghiệpnhà nước Sự tác động lẫn nhau giữa thị trường chứng khoán và cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước thể hiện ở một số khía cạnh Thứ nhất, sự tồn tại củathị trường chứng khoán làm gia tăng số lượng cổ đông tiềm tàng cho cácdoanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá Chứng khoán với tính thanh khoản caocủa nó sẽ tác động lớn trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội cho cáccông ty cổ phần trong đó có các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá Đối vớinước ta, đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng vì theo số liệu của Tổngcục thống kê, số vốn nhàn rỗi trong dân hiện nay khoảng 20.000 tỷ đồng trongkhi nhiều doanh nghiệp lại rất thiếu vốn Thứ hai, sự tồn tại của thị trườngchứng khoán với các công ty chứng khoán còn có vai trò rất lớn trong việc trợgiúp các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở khía cạnh tư vấn phát hành

cổ phiếu, bảo lãnh phát hành cổ phiếu, giao dịch chứng khoán, những côngviệc mà đa số các công ty cổ phần ở nước ta chưa bao giờ trải qua Thị trường

Trang 17

chứng khoán giúp xác định chính xác hơn giá trị của doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hoá thông qua các giao dịch đối với cổ phiếu của chúng Thứ ba, sựtham gia của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá vào thị trường chứngkhoán buộc chúng phải thực hiện chế độ tài chính kế toán minh bạch, phảicông bố với các cổ đông và công chúng về tình hình sản xuất kinh doanh, lợinhuận, kế hoạch phát triển công ty Những đòi hỏi nay buộc những ngườiquản lý phải điều hành tốt hơn Kết quả, hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hoá sẽ tốt hơn và đó là một trong những động lực để đẩy nhanh tiếntrình cổ phần hoá

- Những yếu tố bên trong của các doanh nghiệp khi cổ phần hoá.

Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có ảnhhưởng rất lớn đến quá trình cổ phần hoá Những doanh nghiệp hoạt động sảnxuất kinh doanh có hiệu quả sẽ thuận lợi hơn trong việc cổ phần hoá so vớinhững doanh nghiệp làm ăn thua lỗ

- Tâm lý và quyền lợi của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.

Tâm lý của đa số các cán bộ quản lý doanh nghiệp còn ngần ngại vì sợchuyển sang hình thức công ty cổ phần sẽ chịu sự đánh giá và kiểm soát củahội đồng quản trị và các cổ đông về trình độ, năng lực chuyên môn của mình.Đồng thời các cán bộ phải thể hiện mình là những người có năng lực thực sự,

có trình độ chuyên môn cao Tâm lý những người lao động thì lo sợ mất việclàm, sợ mất ổn định Chính vì vậy trước khi cổ phần hoá, ban cổ phần hoáphảI truyền tảI công tác tư tưởng tốt cho mọi người, đồng thời giải quyết hàihoà các lợi ích của những người liên quan thì sẽ góp phần thúc đẩy tiến trình

Trang 18

khoá VII năm 1991 Trong đó có đoạn viết: " Chuyển một số doanh nghiệpquốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công tyquốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệmchu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp".

Sau đó, Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VIInăm 1994 đã khẳng định nguyên nhân của cổ phần hoá" Nguyên nhân cơ bảncủa tình trạng nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tiêu cực, lãng phí là

do tài sản của Nhà nước không có người làm chủ trực tiếp, có trách nhiệm vàlợi ích rõ ràng rằng đối với việc sử dụng có hiệu quả tài sản" và mục đích của

cổ phần hoá " Để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo nên động lực, ngăn chặntiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả, cần thực hiệncác hình thức cổ phần hoá, có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sảnxuất - kinh doanh: trong đó sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối".Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chủđạo của doanh nghiệp nhà nước năm 1995 đã bổ sung thêm về phương châmtiến hành cổ phần hoá, tỉ lệ bán cổ phần cho công nhân viên trong doanhnghiệp và ngoài doanh nghiệp " Tuỳ tính chất loại hình doanh nghiệp nhànước mà tiến hành bán một tỷ lệ cổ phần cho cán bộ nhân viên và cá nhânngoài doanh nghiệp

Trên cơ sở đánh giá tình hình triển khai cổ phần hoá và kết quả bước đầucủa các công ty cổ phần hoá Ngày 4/4/1997, Bộ Chính trị đã có thông báo số63/TB - TW về triển khai tích cực, vững chắc cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước làm ăn hiệu quả, làm cho tài sản của nhà nước ngày một tăng lên Tưtưởng cơ bản của Nghị quyết là cổ phần hóa phải xuất phát từ yêu cầu pháttriển doanh nghiệp nhà nước, phải làm cho tiềm lực kinh tế của Nhà nướctăng lên Phải xây dựng chính sách khuyến khích cán bộ và công nhân trongdoanh nghiệp mua cổ phần và có chính sách hỗ trợ cho công nhân nghèo mua

cổ phần Cần xây dựng phương án phân loại doanh nghiệp nhà nước làm cơ

Trang 19

sở áp dụng các hình thức đa dạng hoá các hình thức cổ phần hoá và tuỳ điềukiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà xác định hình thức cổ phần hoá phùhợp.

Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII vào tháng12/1997, Nghị quyết của Đảng lại nhấn mạnh thêm về đẩy mạnh, đổi mới vàquản lý có hiệu quả các loại hình doanh nghiệp, tiếp tục đổi mới và phát triểnkhu vực doanh nghiệp nhà nước Nghị quyết chỉ rõ " Đối với doanh nghiệp

mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, cần lập kế hoạch cổ phần hóa đểtạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có hiệu quả" Nghị quyết đề raphương hướng cho thực hiện bán cổ phần cho ngừơi nước ngoài, khuyếnkhích nông dân sản xuất nguyên liệu, tham gia mua cổ phần ở các doanhnghiệp chế biến nông sản

Mới đây, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương (Khoá IX) vàotháng 8/ 2001 đã ra nghị quyết về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng caohiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Quan điểm chỉ đạo của Nghịquyết là " Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải

có quan điểm toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó lấy hiệu suấtsinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả củadoanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện chính sách xã hội làm tiêuchuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ich" và " Kiênquyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý, tập trungvào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phầnlớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu" Nghị quyết nhấn mạnh " Đẩymạnh cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nước không cần giữ 100%vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nângcao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước"

Tóm lại, Chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước ngày càng được cụ thể hoá cả về mục tiêu và giải pháp cho

Trang 20

trước mắt và lâu dài Mục tiêu nhất quán cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

là để huy động vốn, tạo điều kiện để cho người lao động được làm chủ thực

sự trong doanh nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổi phương thức quản lýnhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Đồng thời làmtăng tài sản Nhà nước và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Phương châm chỉ đạocủa Đảng là đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, xác định rõ loạidoanh nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn, loại doanh nghiệp nhà nước khônggiữ 100% vốn thì tổ chức cổ phần hoá, trong đó phải quy định các lính vựcnhà nước cần giữ cổ phần chi phối Về đối tượng bán cổ phần bao gồm mọi cánhân trong và ngoài doanh nghiệp, các tổ chức pháp nhân khác để huy độngvốn cho đầu tư phát triển Nhưng chú trọng tạo điều kiện cho cán bộ côngnhân viên trong doanh nghiệp có sở hữu cổ phần

Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã đưa ra các chính sách về

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Các văn bản pháp quy hiện hành về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nướcquy định những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, quy định đối tượng áp dụng cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước

Thứ hai, quy định đối tượng và điều kiện mua cổ phần

Thứ ba, những vấn đề liên quan đến xử lý tài chính và xác định giá trịdoanh nghiệp

Thứ tư, quy định những ưu đãi với doanh nghiệp cổ phần hoá

Thứ năm, quy định những ưu đãi với người lao động trong doanh nghiệp

cổ phần hoá

Thứ sáu, quy định về quyền và nghĩa vụ của cổ đông là nhà đầu tư nướcngoài và người sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp chếbiến nông, lâm, thuỷ sản

Thứ bảy, quy định về bán cổ phần, quản lý, sử dụng tiền thu từ bán phần

Trang 21

vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hoá.

Thứ tám, quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ, Uỷ bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng quản trị Tổngcông ty nhà nước trong tổ chức thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước

Để cụ thể hoá những chính sách của chính phủ về cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ lao động - Thương binh và Xã hội, Ngânhàng Nhà nước, Bộ Giao thông vận tải, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam,Văn phòng chính phủ cũng ra các thông tư hướng dẫn cụ thể và chi tiết

Đồng thời với việc ban hành Nghị định 64/2002/NĐ - CP, Chính phủ vàThủ tướng Chính phủ cũng ra nghị định, Quyết định quy định các điều kiện

hỗ trợ cho tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước như:

- Nghị định số 41/2002/ NĐ - CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ vềchính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại

Quyết định số 58/ 2002/ QĐ - TTg ngày 26/4/ 2002 của Thủ tướngChính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước,Tổng công ty nhà nước

- Nghị định số 69/2002/ NĐ - CP ngày 12/7/2002 của chính phủ về quản

lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước

- Quyết định số 36/ /QĐ - TTg ngày 11/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ

về ban hành quy chế góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trongcác doanh nghiệp Việt Nam

Hệ thống các văn bản pháp quy này là khá cụ thể và chặt chẽ Đó là sảnphẩm của một quá trình không ngừng hoàn thiện về các chính sách của Nhànước về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Để thấy rõ hơn sự hoàn thiệncủa hệ thống các văn bản pháp quy này, chúng ta xem xét toàn bộ tiến trình rađời và bổ sung và sửa đổi chế độ và chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệpnhà nước

Trang 22

Văn bản pháp quy đầu tiên của Chính phủ về cổ phần hoá doanh nghiệpnhà nước là Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổphần Tiếp theo đó là Quyết định số 203/ CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hôịđồng Bộ trưởng chọn 7 doanh nghiệp nhà nước làm thí điểm và uỷ quyền cho

Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét và ra quyết định về danh sách các doanhnghiệp nhà nước khác được phép làm thí điểm cổ phần hóa của các Bộ và Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị Sau đó, ngày4/3/1993, Thủ tướng chính phủ ra Chỉ thị số 84/TTg về việc xúc tiến thựchiện thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và các giải pháp đa dạnghoá hình thức sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước Sau ba năm thực hiệnChỉ thị này, lần đầu tiên, văn bản pháp quy của Nhà nước về cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước được nâng lên ở hành lang pháp lý cao hơn, ngày7/5/1996, Chính phủ đã ra Nghị định số 28/CP về chuyển doanh nghiệp nhànước thành công ty cổ phần Nghị định 28/CP của Chính phủ thực hiện trong

2 năm Đến ngày 29/6/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định

44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thay thế choNghị định 28/CP Sau 4 năm thực hiện, ngày 19/6/2002, Nghị định64/2002/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần đã

ra đời thay thế cho Nghị định 44/1998/NĐ-CP

-Nguồn tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp cổ phần hoá.

Tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cần có một nguồn tàichính để giải quyết hàng loạt các vấn đề liên quan như trợ cấp cho người laođộng mất việc làm, chi phí để thực hiện công việc tư vấn, chi phí phát hành vàcác dịch vụ về cổ phiếu… Những khoản phí tổn này thường là khá lớn Thêmvào đó là chính sách bán cổ phiếu giá thấp và tín dụng ưu đãi cho một số đốitượng nhất định để khuyến khích và thực hiện các mục tiêu xã hội, điều này

sẽ làm cho khoản phí tổn tăng thêm Do vậy Nhà nước cần hỗ trợ các doanh

Trang 23

nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để thực hiện công tác cổ phần hoá.

- Thực hiện chế độ kiểm toán trước khi cổ phần hoá.

Trước khi cổ phần hoá, các doanh nghiệp đều tiến hành kiểm toán để xác địnhgiá trị tài sản của các doanh nghiệp tương đối chính xác nhằm thuận tiện choviệc bán cổ phiếu cho các cổ đông Do vậy khi hệ thống kiểm toán phát triểnhoàn chỉnh sẽ góp phần thúc đẩy cổ phần hoá Kiểm toán chưa trở thành mộthoạt động phổ biến và thống nhất sẽ gây ra nhiều trở ngaị cho việc xác địnhgiá trị của doanh nghiệp, gây ra khó khăn cho việc cung cấp thông tin trungthực, tin cậy cho những người có nhu cầu đầu tư mua cổ phiếu

1.3 Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN ở một số nước phát triển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở một số quốc gia.

Sự phát triển của doanh nghiệp Nhà nước ở nhiều nước trên thế giới đềuvấp phải tình trạng chung kinh doanh kém hiệu quả tạo ra sự lãng phí Tìnhhình tài chính sa sút không thể cứu vãn nổi của doanh nghiệp nhà nước đã dẫnđến quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước Một trong những giải pháp đểcải cách doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hoá Tuy nhiên cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước được thực hiện ở các nước theo những phương pháp khácnhau thuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị xã hội ở nước đó

Cổ phần hoá ở Vương quốc Anh

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước bắt đầu sớm nhất ở Anh, nơi cóthành phần kinh tế nhà nước tương đối lớn, chiếm tỷ lệ 20% nền kinh tế quốcgia vào thời điểm Chính phủ Thatcher tiến hành cải cách Cải cách doanhnghiệp nhà nước diễn ra qua nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn có một phươngpháp tiến hành đặc trưng Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ những năm đầu củathập kỷ 70 thế kỷ XX Trong thời kỳ đó, Chính phủ Anh tiến hành tư nhânhoá các doanh nghiệp nhà nước nhỏ, hoạt động kém hiệu quả trong một sốlĩnh vực ít nhạy cảm, không chứa đựng yếu tố độc quyền, cách thực hiện chủ

Trang 24

yếu của giai đoạn này là bán các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân Giaiđoạn hai, từ năm 1984 đến 1987 với việc cổ phần hoá từng phần các doanhnghiệp nhà nước trong các lĩnh vực có yếu tố độc quyền hoặc lĩnh vực côngích, cách thức chủ yếu là bán cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước trongnhững lĩnh vực này ra công chúng Giai đoạn ba bắt đầu từ giữa những năm

80 được đặc trưng bởi việc bán các doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực

kể trên theo nguyên tắc thị trường

Cổ phần hoá ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ

Tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ, sự sụp đổ củachủ nghĩa xã hội đã kéo theo việc cổ phần hoá và tư nhân hoá hàng loạt cácdoanh nghiệp nhà nước Đây là cơ quan quản lý phần vốn của Nhà nước khichuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Thực tiễn ở các nướcĐông Âu và Liên Xô cũ còn quy định các bước tiến hành cổ phần hoá baogồm: Xác định danh sách các doanh nghiệp nhà nước có đủ để cổ phần hoá,xác định giá trị thực tế tài sản doanh nghiệp, tuyên truyền quảng cáo và hoànthiện chính sách về cổ phần hoá, lựa chọn phương thức bán cổ phiếu, giảiquyết các vấn đề xã hội sau khi cổ phần hoá Các biện pháp thực hiện cổ phầnhoá ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu

- Về mặt tổ chức thể chế đều có luật cổ phần hoá, lập Bộ cổ phần hoáhoặc tương tự và các nhóm, các uỷ ban điều hành giúp việc

- Về khu vực cổ phần hoá, đều có cổ phần hoá nhỏ, (cổ phần hoá thươngnghiệp bán lẻ, dịch vụ…) được thực hiện trước và nhanh hơn, cổ phần hoá lớn(cổ phần hoá công nghiệp lớn, các xí nghiệp quy mô lớn) được thực hiệnchậm hơn do tính chất phức tạp của chúng

- Về hình thức cổ phần hoá: bán toàn bộ hay từng phần doanh nghiệpquốc doanh Bán toàn bộ có thể bán cho tập thể công nhân viên chức xínghiệp hoặc bán cho nước ngoài Bán từng phần phải biến xí nghiệp thànhcông ty cổ phần, phát hành cổ phiếu Tuy tỉ lệ có khác nhau nhưng các nước

Trang 25

đều quy định giành một tỉ lệ cổ phần để bán cho công nhân viên chức xínghiệp (bán ưu đãi và không ưu đãi), một tỉ lệ khác bán tự do cho dân chúngtrong nước và một phần bán cho người đầu tư nước ngoài Nhà nước cũng cóchính sách trợ giá để nhân dân mua cổ phiếu thông qua chính sách cho vay tíndụng ưu đãi Cách bán cũng rất phong phú như bán đấu giá, bán cổ phiếu quathị trường chứng khoán, bán qua hình thức đấu giá cạnh tranh giữa nhiềungười muốn mua một xí nghiệp

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Trung Quốc

Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc được thực hiện khá rộngrãi và thành công và thực sự là một kinh nghiệm cho việc cải cách doanhnghiệp nhà nước mà không phải tư nhân hoá hàng loạt Trong giai đoạn từ

1978 đến 1993, Trung Quốc tìm cách thể nghiệm các giải pháp cải cáchdoanh nghiệp nhà nước song không động chạm đến sở hữu trong doanhnghiệp nhà nước Giai đoạn từ 1994 đến nay là giai là giai đoạn cải cáchdoanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn này trở thành chiến lược của TrungQuốc trong việc hiện đại hoá và phát triển kinh tế

Về quan niệm, Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủnghĩa Mác để tiến hành cổ phần hoá Họ nhận thức rằng, kinh tế cổ phần hoá

là sản phẩm tất yếu của sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất, gắn liền với kinh tế hàng hóa và hoạt động tín dụng, làhình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Về tiến trình cổ phần hóa, năm 1984 Trung Quốc tiến hành thí điểm cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước loại nhỏ ở một số nơi như Thượng Hải,Thẩm Dương, Bắc Kinh… Và đến năm 1991, Trung Quốc mới chính thứctriển khai cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Về khu vực cổ phần hoá, Trung Quốc quy định rõ loại doanh nghiệp nhànước cần cổ phần hoá Các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành quốcphòng, dầu mỏ, năng lượng nguyên tử, hàng không, cấp nước, điện lực, bưu

Trang 26

chính, đường sắt, tiền tệ, in giấy bạc thì nhà nước cần phải nắm giữ không cổphần hoá Các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành khác đều được cổphần hóa trong đó tuỳ tính chất ngành nghề và mức độ phân bổ sở hữu cổphần mà quyết định tỷ lệ cổ phần của nhà nước.

Về hình thức cổ phần hoá, Trung Quốc tiến hành cổ phần hóa theo bahình thức Một là, doanh nghiệp nhà nước cùng với các doanh nghiệp kháctrong nền kinh tế tham gia nắm giữ cổ phiếu hình thành công ty cổ phần.Những công ty cổ phần này ra đời trong quá trình liên kết theo chiều ngang và

sự biến động của quyền tài sản Hai là, doanh nghiệp nhà nước bán cổ phầncho công nhân viên chức trong nội bộ doanh nghiệp Ba là, cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước bằng cách phát hành cổ phiếu công khai xã hội

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Nghiên cứu thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở các nướcnói trên có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa đối với quá trình

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay Đó là:

Cần có quan niệm đúng về vai trò của cổ phần hoá và sự cần thiết phải

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở đó có sự nhất trí cao trongquan điểm và tổ chức thực hiện

- Hình thành khung pháp lý về cổ phần hóa quy định chi tiết trình tự tiénhành cổ phần hoá đánh giá giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, phương thứcbán, chính sách đối với người lao động

- Quy hoạch lại cơ cấu doanh nghiệp nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi

và đảm bảo cho cổ phần hoá được thành công

- Cần thành lập các cơ quan quản lý, điều hành cổ phần hoá Các cơ quannày thay mặt nhà nước quản lý tài sản nhà nước và kịp thời giải quyết các vấn

đề nảy sinh, tạo bước tiến vững chắc co cổ phần hoá

- Cổ phần hóa theo thứ tự doanh nghiệp có quy mô nhỏ trước, quy môvừa và lớn sau

Trang 27

- Cổ phần hóa bằng cách kết hợp nhiều biện pháp đồng bộ và sự kết hợpcủa các cơ cơ quan khác nhau nhưng phải có sự thống nhất để đẩy nhanh tiếntrình cổ phần hoá của các DNNN Việt Nam.

Trang 28

2.1.1 Giai đoạn trước đổi mới năm 1986.

Ngành giao thông vận tải của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, trảiqua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp có một quá trình phát triển đầygian nan và thử thách Từ khi thành lập Bộ giao thông công chính trực thuộctrung ương và các sở giao thông công chính trực thuộc các tỉnh và thành phố

đã hình thành một hệ thống tổ chức quản lý của ngành tương đối vững trắc vềmọi mặt Năm 1946 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh quy định đầy đủ cơ cấu tổ chức,nhiệm vụ và bộ máy hoạt động của Bộ giao thông công chính Trong quá trìnhkháng chiến một số tổ chức mới được thành lập như Sở vận tải quốc doanh,nha giao thông Nhiệm vụ chủ yếu của ngành giao thông trong thời điểm này

là xây dựng mạng lưới giao thông thông suốt nhằm đóng góp phục vụ khángchiến giải phóng dân tộc, xây dựng phát triển ngành Các DNNN thuộc ngànhGTVT chủ yếu là các xí nghiệp đường sắt, đường bộ tiếp quản từ chế độ cũ

để phục vụ cho cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc năm 1975 Cơ sở vậtchất của các đơn vị trong ngành giao thông vận tải lúc này còn nghèo nàn,nhận bàn giao một số máy móc cũ của chế độ cũ để lại, nhân lực hạn hẹp.Sau năm 1954, Hiệp định Giơ- ne - vơ về lập lại hoà bình ở Đông Dươngđược ký kết, Việt Nam tạm thời chia thành 2 miền Bắc và Nam Ngành giaothông vận tải gồm có đường sắt, đường bộ, đường biển bắt đầu khôi phục vàphát triển đảm nhiệm các nhiệm vụ của ngành phục vụ cho cuộc kháng chiếnlâu dài giải phóng miền Nam Do vậy Bộ giao thông công chính và các tygiao thông công chính có nhiệm vụ :

- Nghiên cứu, xây dựng các chế độ, thể lệ GTVT, xây dựng ban hành cácquy trình, quy phạm kỹ thuật chuyên ngành

- Xây dựng tổ chức các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn khôi phục phát triểnngành giao thông

- Tổ chức chỉ đạo công tác quản lý các đơn vị trong toàn ngành, khôiphục phát triển ngành đường sắt, đường bộ, đường biển và khai thác các

Trang 29

ngành vận tải đó phục vụ cho các nhiệm vụ của đất nước.

- Tổ chức chỉ đạo xây dựng, phát triển các hệ thống giao thông bảodưỡng, sữa chữa và xây dựng cơ bản các công trình giao thông trên mọi miền.Chỉ đạo các địa phương khôi phục, xây dựng hệ thống giao thông phục vụ chonhu cầu phát triển kinh tế của từng địa phương

- Tổ chức chỉ đạo việc đóng mới các phương tiện vận tải, xếp dỡ thiết bịthi công

- Tổ chức chỉ đạo các đơn vị xí nghiệp trong ngành sản xuất kinh doanh

và hạch toán kinh tế theo đúng quy định

- Tổ chức đăng ký kiểm tra an toàn các phương tiện giao thông cấp bằnglái xe, thuyền trưởng, máy trưởng tàu biển, cho phép các tàu nước ngoài ra,vào cảng

- Hướng dẫn chỉ đạo các hoạt động kinh tế kỹ thuật cho các xí nghiệpvận tải, điều hoà hợp lý sử dụng các phương tiện trên các loại hình giaothông

- Hướng dẫn nhân dân phát triển các loại phương tiện thô sơ để phục vụcho sản xuất nông nghiệp và kinh tế địa phương

- Thực hiện các hiệp định về giao thông ký kết với các nước xã hội chủnghĩa cũ và các nước khác

- Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, ứng dụng kỹ thuật mới, kỹ thuật tiêntiến vào ngành giao thông vận tải

- Phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cơ quan kinh tế có liên quan khôiphục và cải tạo phát triển mạng lưới giao thông thành phố Hà Nội và các địaphương khác

- Phối hợp với Bộ công an để ban hành các chế độ quy định, luật giaothông cho các ngành đường bộ, đường sắt, đường thuỷ

- Thực hiện chế độ quản lý tài chính, quản lý vốn, vật tư nhằm phát triểnnền kinh tế quốc dân

Trang 30

- Thực hiện công tác quản lý cán bộ công nhân viên và lực lượng laođông trong toàn ngành giao thông vận tải.

Từ năm 1975 tới năm 1986 ngành giao thông vận tải tỉnh Nghệ an thuộcphân khu quản lý giao thông Miền trung gồm các công ty trực thuộc Trungương quản lý và các công ty trực thuộc tỉnh quản lý.Nhiệm vụ hoạt động củacác công ty theo kế hoạch của cấp trên phân công hàng năm như : Xây dựng

và sữa chữa các công trình giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ Bảođảm an toàn cho các phương tiện vận chuyển qua địa bàn tỉnh Khảo sát, thiết

kế, xây dựng các công trình giao thông mới theo kế hoạch của Nhà nước Tóm lại, nhiệm vụ của ngành giao thông tỉnh nhà trong giai đoạn trướcnăm 1986 phục vụ cho giải phóng Miền Nam và xây dựng xã hội chủ nghĩa ởMiền Bắc

2.1.2 Giai đoạn từ sau năm 1986 tới nay.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 đã mở ra một trang mới cho lịch sử pháttriển dân tộc Đối với ngành giao thông vận tải, đại hội 6 đã khẳng định "Giao thông vận tải là khâu quan trọng nhất của kết cấu hạ tầng và phải đitrước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân " Từ

đó Bộ giao thông vận tải luôn có chủ trương huy động mọi nguồn vốn đểcủng cố và phát triển ngành giao thông vận tải

Năm 1993 Chính phủ ra Nghị định 07/ CP về việc thành lập Cục đường bộViệt Nam, đó là cơ quan quản lý Nhà nước về chuyên ngành giao thông vậntải trên cả nước, tổ chức gồm 4 khu quản lý đường bộ, 10 công ty vận tải và 2nhà máy đại tu sửa chữa ô tô Những năm cuối thập kỷ 20, giao thông vận tải

là một trong những ngành đầu tư trọng điểm của cả nước, giá trị xây dựng cơbản tăng qua số liệu các năm như sau :

B ng 2.1 Giá tr XDCB ng nh GTVT qua m t s n m.ảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần ị XDCB ngành GTVT qua một số năm ành GTVT qua một số năm ột số năm ố năm ăm

Năm Giá trị đầu tư XDCB ( tỷ đ ) Đạt kế hoạch

(%)

Giải ngân các dự

án ODA (%)

Trang 31

1998 5 234 103 75

Nguồn tài liệu : Báo cáo tổng kết của Bộ GTVT

Qua số liệu ở bảng trên ta thấy vốn cấp phát XDCB cho ngành GTVT ngàycàng tăng, chứng tỏ đây là sự quan tâm của Đảng và Chỉnh phủ đối với ngànhgiao thông vận tải.Ngành giao thông vận tải chính là mắt xích quan trọng đểphát triển các ngành khác, do vậy cần phải ưu tiên và phát triển đầu tiên tạođiều kiện để phát triển kinh tế ở các miền, vùng khác nhau

Các doanh nghiệp trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT ở tỉnh Nghệ anhiện tại ( tháng 9 năm 2006 ) có 15 doanh nghiệp thuộc Trung ương quản lý

và 37 doanh nghiệp thuộc tỉnh quản lý Các chỉ tiêu cơ bản của một số doanhnghiệp như sau :

B ng 2.2 Danh sách các DNNN trong l nh v c XDCB ng nh GTVTảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần ĩnh vực XDCB ngành GTVT ực XDCB ngành GTVT ành GTVT qua một số năm

t nh Ngh an.ỉnh Nghệ an ệ an

Số TT Tên công ty Số lao động

( người )

Số vốn đầu tư( Triệu đ )

Doanh thu( Triệu đ )

Trang 32

sửa chữa đường bộ

Trang 33

Công ty có số lao động ít nhất là 45 người thuộc Công ty cổ phần tư vấnthiết kế cầu đường Nghệ an Công ty có số lao động nhiều nhất là 420 ngườithuộc Công ty quản lý và sữa chữa đường bộ 470 DNNN có số vốn lớn nhất

là công ty công trình giao thông 423 với số vốn 26,69 tỷ Việt Nam đồng.DNNN có số vốn nhỏ nhất là công ty cổ phần tư vấn thiết kế GTXD côngtrình Nghệ an với số vốn là 2,141 tỷ Việt Nam đồng Doanh thu lớn nhất là86,772 tỷ đồng thuộc công ty đường bộ 471, doanh thu thấp nhất là 5,6 tỷđồng thuộc Công ty cổ phần tư vấn thiết kế GTXD công trình Nghệ an Nhưvậy các chỉ tiêu về vốn, lao động, doanh thu của các công ty cũng đa dạng vàphong phú tuỳ theo đặc điểm của từng ngành nghề khác nhau

Trang 34

2.1.3 Nhận xét về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XDCB ngành Giao thông Vận tải tỉnh Nghệ an trước khi cổ phần hoá.

Qua nghiên cứu một số doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XDCBngành GTVT tỉnh Nghệ an trước khi cổ phần hoá ta thấy bộ máy tổ chức củacác doanh nghiệp cồng kềnh, thường nhiều gồm phòng, ban chức năng giúpviệc cho Ban giám đốc Số lượng nhân viên gián tiếp thường cao, cán bộchuyên môn cao và công nhân có có tay nghề thường không đủ để đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ, do vậy một phần nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp

Qua số liệu biểu 2.2, ta thấy doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vựcXDCB ngành GTVT cũng đa dạng theo chức năng hoạt động, quy mô vốn,lao động theo từng công ty cũng khác nhau, ta có nhận xét rằng:

- Các ngành nghề kinh doanh chung đều có hầu hết ở các công ty đặcbiệt là ngành nghề kinh doanh về xây dựng nhà cửa và các công trình xâydựng cơ bản, ngành nghề về vận tải và xây dựng nhà máy

- Tỷ trọng loại doanh nghiệp về xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng

cơ bản chiếm cao nhất khoảng 40%, rồi đến lĩnh vực vận tải chiếm 14% vàthấp nhất là đơn vị về nghiên cứu phát triển công nghệ chiếm hơn 1%

Qua số liệu về lực lượng lao động theo từng công ty và từng chức năng

ta có nhận xét:

- Lượng lao động trung bình của doanh nghiệp nhà nước trong các công

ty thuộc lĩnh vực XDCB thuộc ngành GTVT ở tỉnh Nghệ an là 1799 người,công ty quản lý và sữa chữa đường bộ 470 có số người là 420 cao nhất

Vấn đề hoạt động tài chính ở các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vựcXDCB ngành Giao thông Vận tải ở tỉnh Nghệ an, số liệu được thể hiện trongbiểu 2.3

Bi u 2.3: Báo cáo t i chính c a 25 doanh nghi p nh nành GTVT qua một số năm ủa công ty cổ phần ệ an ành GTVT qua một số năm ưng cơ bản của công ty cổ phầnớc thuộc lĩnhc thu c l nhột số năm ĩnh vực XDCB ngành GTVT

Trang 35

v c XDCB thu c ng nh Giao thông V n t i t 1995 - 1997ực XDCB ngành GTVT ột số năm ành GTVT qua một số năm ận tải từ 1995 - 1997 ảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần ừ 1995 - 1997

Chỉ tiêu kinh tế Năm 1995 Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998 1.Doanh thu từ hoạt động

sản xuất kinh doanh ( tỷ đ ) 1.567 1.977 1.095 1.114

2 Lợi nhuận trước thuế

- Doanh thu của các doanh nghiệp nhà nước đã tăng, sau lại giảm 1.567

tỷ VNĐ vào năm 1997 và 1.114 tỷ VNĐ vào năm 1998 Như vậy chỉ tiêudoanh thu phụ thuộc vào từng năm hoạt động và chưa có sự tăng trưởng, cóthể nói đây là thời kỳ khó khăn cho các doanh nghiệp Kết quả kinh doanh có

xu hướng giảm, lợi nhuận trước thuế năm 1995 đạt 26 tỷ đồng năm 1998 đạt

23 tỷ đồng Tỷ suất lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu năm 1995 đạt 4%, năm

1998 đạt 3,6%, như vậy hiệu quả sử dụng vốn không những giảm mà còn rấtthấp , điều đó chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nướctrước khi cổ phần hoá ngày càng gặp khó khăn, cần phải có các giải pháp đểtháo gỡ

- Về quy mô vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnhvực XDCB ngành Giao thông Vận tải tuy đã được Nhà nước cấp bổ sung vốncho các ngành, song hiệu quả sử dụng vốn thấp, một số doanh nghiệp đang

Trang 36

lâm vào tình trạng ăn vào vốn.

- Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên thấp, năm 1995 thunhập bình quân đầu người 600 ngàn đồng/ tháng Năm 1998 thu nhập bìnhquân đầu người 690 ngàn đồng / tháng Tuy mức thu nhập có tăng, song tốc

độ tăng thấp, mặt khác trước sự tăng của giá cả thị trường do vậy đời sống củacán bộ công nhân viên chưa được cải thiện rõ nét

Các chỉ tiêu lao động của các doanh nghiệp ngày càng có xu hướng tăng,nhưng kế hoạch kinh doanh chưa rộng mở, do vậy chưa đáp ứng được nhucầu thực tiễn đòi hỏi cả về cung, cầu trên thị trường, đó chính là những bứcxúc cần đặt ra cho việc đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước trong những nămgần đây

* Khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trước khi đã cổ phần hoá.

Bi u 2.4 Các ch tiêu kinh t c b n c a các Doanh nghi p nh nỉnh Nghệ an ế cơ bản của các Doanh nghiệp nhà nước ơ bản của công ty cổ phần ảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần ủa công ty cổ phần ệ an ành GTVT qua một số năm ưng cơ bản của công ty cổ phầnớc thuộc lĩnhctrong l nh v c XDCB ng nh Giao thông V n t i trĩnh vực XDCB ngành GTVT ực XDCB ngành GTVT ành GTVT qua một số năm ận tải từ 1995 - 1997 ảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần ưng cơ bản của công ty cổ phầnớc thuộc lĩnhc khi c ph n hoá tổ phần ần ừ 1995 - 1997

1995 - 1998

Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản Năm 1995 Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998

1 Lợi nhuận trên tổng tài sản 3,2% 3,7% 3,9% 4.1%

2 Lợi nhuận trên chi phí 2,9% 2,3% 2,39% 2,98%

3 Lợi nhuận trên nguồn vốn 4,72% 4,29% 5,67% 6,49%

4 Doanh thu trên số nhân viên 61,574 88,428 82,480 10,459

5 Lợi nhuận trước thuế trên

số nhân viên 2,337 2,439 2,969 2,587

6 Thuế đóng góp vào ngân

sách nhà nước ( triệu đ ) 12.038 12.280 13.902 11.049

Nguồn tài liệu : Báo cáo tài chính ngành GTVT tỉnh Nghệ an.

Các số liệu ở biểu 2.4 cho thấy các chỉ tiêu : Lợi nhuận trên tổng tàisản, lợi nhuận trên chi phí, lợi nhuận trên nguồn vốn đều ở mức độ thấp Lợinhuận trên tổng tài sản năm 1995 là 3,2%, năm 1998 là 4,1% chỉ tiêu này cótăng, song tốc độ tăng thấp và đều ở mức độ thấp so với lãi suất tiền gửi

Trang 37

ngân hàng Lợi nhuận trên chi phí năm 1995 là 2,9%, năm 1998 là 2,98% tốc

độ tăng thấp, chỉ tiêu này ở mức độ thấp Lợi nhuận trên nguồn vốn năm

1995 là 4,72%, năm 1998 là 6,49% chỉ tiêu này đều thấp lãi suất tiền vayngân hàng Như vậy các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các DNNNtrong lĩnh vực XDCB ngành giao thông vận tải đều ở mức độ thấp Trongtrường hợp doanh nghiệp đi vay vốn của ngân hàng qua nhiều thì có nguy cơdẫn đến không có khả năng thanh toán vì hiệu quả kinh doanh quá thấp.Tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước qua các năm nhưsau, năm 1995 nộp vào ngân sách nhà nước 12,038 tỷ đồng, năm 1997 là13,902 tỷ đồng, năm 1998 là 11,049 tỷ đồng Như vậy số thuế và các khoảnkhác nộp vào ngân sách tăng không đáng kể và có xu hướng giảm, Điều đóchứng tỏ quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp chưa được mở rộng, hiệuquả kinh doanh thấp

* Tình hình nợ và các khoản công nợ khác của doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XDCB ngành Giao thông Vận tả ở tỉnh Nghệ an.

Nhìn một cách tổng quát thì các khoản nợ của các doanh nghiệp nhànước trong lĩnh vực XDCB ngành Giao thông Vận tải tỉnh Nghệ an ngày càngtăng Tổng những khoản nợ phải thu của doanh nghiệp theo báo cáo là 1 230

tỷ VNĐ trong năm 1995 và tăng lên 1 660 tỷ VNĐ trong năm 2008 Như vậytốc độ tăng của các khoản phải thu cao, vốn bị chiếm dụng tăng

Các khoản nợ Ngân hàng chiếm khoảng một nửa tổng số các khoản công

nợ, và tăng gần gấp đôi kể từ năm 1995 đến năm 1998 Hiện nay rất thiếuthông tin để đánh giá được liệu các doanh nghiệp nhà nước này có đủ khảnăng thanh toán bằng tiền mặt và đủ nguồn vốn thu để trì tỷ trọng chi trả lãi

và các mặt tài chính khác

Để minh họa, sử dụng tỷ giá tham khảo và Ngân hàng Nhà nước ViệtNam cho ra kết quả của chi phí lãi vay hàng năm là 494 tỷ VNĐ hay bìnhquân mỗi doanh nghiệp trả lãi vay là 2 tỷ VNĐ Chiếm khoảng 4% chi phí

Trang 38

và các tín dụng khác Các khoản nợ ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọngkhông lớn khoảng 67 tỷ so với tổng số nợ là 5.895 tỷ VNĐ.

* Nhận xét chung về thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XDCB ngành Giao thông Vận tải tỉnh Nghệ an.

Từ thực trạng hoạt động các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vựcXDCB ngành Giao thông Vận tải như đã phân tích, đánh giá ở trên, có thể đitới nhận định:

Giao thông vận tải là một dịch vụ trung gian cực kỳ quan trọng trong nềnkinh tế ở Việt Nam Tuy vậy hoạt động của các doanh nghiệp này trước khi

cổ phần hoá còn quá thấp hơn so với tiềm năng của nó rất nhiều, điều này cóliên quan đến kết quả hoạt động tài chính của các doanh nghiệp vận tải và cáclĩnh vực có liên quan mà ngành giao thông vận tải đảm nhận

Các số liệu tài chính đã cho thấy các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnhvực XDVB ngành Giao thông Vận tải đang chịu sức ép tài chính hết sức lớn,nhìn một cách tổng hợp các doanh nghiệp đã báo cáo nợ cao hơn tài sản hiện

có Vốn thiếu nhiều cho các hoạt động đầu tư, đặc biệt là đầu tư cơ sở hạtầng Cơ chế hoạt động không thông thoáng, bị ràng buộc bởi nhiều chínhsách của các cơ quan Nhà nước Do vậy cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhànước đó là biện pháp tốt nhất để khai thác nội lực phát triển của các doanh

Trang 39

nghiệp này và góp phần lớn vào sự tăng trưởng và phát triển của đất nước.Mặc khác các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XDCB ngành Giaothông Vận tải tỉnh Nghệ an đang ngày càng đóng góp nhiều vào ngân sáchnhà nước hàng năm với hàng chục tỷ đồng, nhưng với thực trạng tài chínhhiện tại của doanh nghiệp sẽ không cho phép duy trì điều này mãi, vì cáckhoản vay và nợ bên ngoài khác đang ngày càng gia tăng trong khi đó lợinhuận thuần thì tăng rất chậm chạp và thực chất đang ngày càng giảm Đểcho các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực XDCB ngành Giao thông Vậntải tỉnh Nghệ an thoát ra khỏi tình trạng bế tắc hiện nay, không chỉ trụ vững

mà ngày càng phát triển cả về quy mô và hiệu quả hoạt động, đòi hỏi Nhànước và Bộ Giao thông Vận tải, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ an phải lựa chọnđược những giải pháp thích hợp, nhằm từng bước nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp

Một trong các giải pháp quan trọng nhằm sắp xếp lại các doanh nghiệpnhà nước trong lĩnh vực XDCB ngành Giao thông Vận tải tỉnh Nghệ an hiệnnay là chuyển hoá các doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần hay tiếnhành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo mô hình của các nước có nềnkinh tế phát triển

2.2 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ CÁC DNNN TRONG LĨNH VỰC XDCB NGÀNH GTVT Ở TỈNH NGHỆ AN.

2.2.1 Những thành tựu đạt được.

Chương 1 đã khái quát hoá lý luận chung về cổ phần hoá nhằm nghiêncứu thực trạng CPHDNNN trong lĩnh vực XDCB ngành GTVT Từ đó taphân loại các DNNN theo các nhóm chức năng dựa trên đặc trưng kinh doanh

và các loại hoạt động kinh doanh Việc phân loại này chúng ta sẽ so sánh các

DN "gần giống nhau" trên các tiêu thức để đánh giá các hoạt động liên quan

và xu hướng hoạt động theo lĩnh vực kinh doanh Mười tiêu thức phân loạitheo chức năng như sau:

Trang 40

5 Xây dựng nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng

6 Nghiên cứu và phát triển công nghệ ứng dụng vào xây dựng nhà, cầu,đường

7 Xây dựng và phát triển tàu thuyền, gồm các nhà máy đóng tàu, sửachữa tàu

8 Du lịch: bao gồm các khách sạn và công ty du lịch phát triển và phục

B ng 2.5 Danh sách các DNNN ã c ph n hoá.ảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần đ ổ phần ần

Số TT Tên công ty Số lao động

( người )

Số vốn đầu tư( Triệu đ )

Doanh thu( Triệu đ )

Ngày đăng: 12/08/2019, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Hoàng Anh (2002), "Việc làm trong các doanh nghiệp sau cổ phần hoá và vấn đề lao động sau cổ phần hoá", Hội thảo do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương tổ chức về "Cổ phần hoá và hậu cổ phần hoá- Thực trạng và giải pháp" tháng 9 năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm trong các doanh nghiệp sau cổ phần hoá và vấn đề lao động sau cổ phần hoá", Hội thảo do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương tổ chức về "Cổ phần hoá và hậu cổ phần hoá-Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Chu Hoàng Anh
Năm: 2002
2. Nguyễn Hoàng Anh (2003), "Thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hoá", Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, (3), 3/2003, tr. 36-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hoá
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2003
3. Nguyễn Hoàng Anh (2002), "Một số đổi mới về chính sách tài chính khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định 64/2002/NĐ-CP", Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, (11), 11/2002, tr. 33-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đổi mới về chính sách tài chính khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định 64/2002/NĐ-CP
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2002
4. Lý Hoàng Ánh (2003), " Giải pháp tiếp tục phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam", Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, (2), 2/2003, tr. 22-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tiếp tục phát triển thị trường chứngkhoán Việt Nam
Tác giả: Lý Hoàng Ánh
Năm: 2003
5. Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp (1999), Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp
Tác giả: Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp
Năm: 1999
6. Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp (2000), Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp
Tác giả: Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp
Năm: 2000
7. Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp (2001), Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp
Tác giả: Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp
Năm: 2001
8. Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp (2002), Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp
Tác giả: Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp
Năm: 2002
9. Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp (2002), Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn sau cổ phần hoá của các tổng công ty cổ phần được hình thành từ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn sau cổ phần hoá của các tổng công ty cổphần được hình thành từ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Côngnghiệp
Tác giả: Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp-Bộ Công nghiệp
Năm: 2002
10. Ban chỉ đạo Đổi mới Phát triển doanh nghiệp (2003), Báo cáo sơ kết chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trương ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu doanh nghiệp nhà nước và nhiệm vụ, biện pháp thúc đẩy trong năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trương ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu doanh nghiệp nhà nước và nhiệm vụ, biện pháp thúc đẩy trong năm 2003
Tác giả: Ban chỉ đạo Đổi mới Phát triển doanh nghiệp
Năm: 2003
11. Đoàn Kim Đan (2003), "Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước-Thực trạng và triển vọng", Hội thảo'' Cổ phần hoá và hậu cổ phần hoá-Thực trạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước-Thực trạng và triển vọng
Tác giả: Đoàn Kim Đan
Năm: 2003
12. Ngô Văn Điểm (2002), "Vai trò của Nhà nước trong quá trình cổ phần hoá và sau cổ phần hoá", Hội thảo'' Cổ phần hoá và hậu cổ phần hoá- Thực trạng và giải pháp'' do Viện Nghiên cứu kinh tế trung ương tổ chức tháng 9/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước trong quá trình cổ phần hoá và sau cổ phần hoá
Tác giả: Ngô Văn Điểm
Năm: 2002
13. Nguyễn Thị Như Hà (2001), "Nâng cao hiệu quả cải cách doanh nghiệp nhà nước", Tạp chí Lý luận chính trị, (12), 12/2001, tr . 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả cải cách doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Như Hà
Năm: 2001
14. Lê Hoàng Hải (2003), "Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam- Thực trạng và Giải pháp", Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, (1), 1/2003, tr. 32-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam- Thực trạng và Giải pháp
Tác giả: Lê Hoàng Hải
Năm: 2003
15. Phan Thế Hải (2001), "Luật Doanh nghiệp - Bước chuyển quan trọng trong cải cách hành chính", Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, (4), 4/2001, tr.20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp - Bước chuyển quan trọngtrong cải cách hành chính
Tác giả: Phan Thế Hải
Năm: 2001
16. Trần Gia Hảo (2002), "Báo cáo tiến hành điều tra về cổ phần hoá", Hội thảo'' Cổ phần hoá và hậu cổ phần hoá-Thực trạng và Giải pháp'' do Viện Nghiên cứu kinh tế trung ương tổ chức tháng 9/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tiến hành điều tra về cổ phần hoá
Tác giả: Trần Gia Hảo
Năm: 2002
17. Đào Thanh Hải, Trần Văn Sơn (2000), Những quy định pháp luật hiện hành về cổ phần hoá, Nhà Xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định pháp luật hiện hành về cổ phần hoá
Tác giả: Đào Thanh Hải, Trần Văn Sơn
Nhà XB: Nhà Xuất bản Lao động
Năm: 2000
18. Nguyễn Thị Liên Hoa (2001), " Thị trường Chứng khoán Việt Nam- Thách thức và cơ hội đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam", Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, (12), 12/2001, tr. 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường Chứng khoán Việt Nam-Thách thức và cơ hội đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Liên Hoa
Năm: 2001
19. Minh Hoàng (2002), "Phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hoá-Đâu là lời giải mới cho bài toán cũ", Tạp chí Đầu tư chứng khoán, (126), 5/2002, tr.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hoá-Đâu là lời giải mới cho bài toán cũ
Tác giả: Minh Hoàng
Năm: 2002
20. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoá Việt Nam (1995), Từ điển bách khoaViệt Nam quyển 1, Nhà Xuất bản từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoaViệt Nam quyển 1
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoá Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất bản từ điển bách khoa
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w