A. MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG 5 Chương 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài 5 1.1. Tiểu dẫn 5 1.2. Một số vấn đề liên quan đến lí thuyết giao tiếp 5 1.3. Sự gần gũi giữa ca dao, vè và hát giặm Nghệ Tĩnh 10 1.4. Nghệ Tĩnh và tiếng Nghệ 14 1.5. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 22 1.6. Tiểu kết 33 Chương 2 : Vốn từ ngữ và khả năng sử dụng chúng trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 35 2.1. Tiểu dẫn 35 2.2. Những vấn đề về từ và vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh 35 2.3. Vấn đề từ địa phương của tiếng Việt 44 2.4. Tiểu kết 149 Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ giao tiếp hay văn hóa ứng xử của người Nghệ Tĩnh 151 3.1. Tiểu dẫn 151 3.2. Những đặc trưng ngôn ngữ 151 C. KẾT LUẬN 189 THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 197
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ NGUYÊN ĐỐI
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ TRONG GIAO
TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH (TRÊN DẪN LIỆU CA DAO NGHỆ TĨNH, HÁT
PHƯỜNG VẢI VÀ KHO TÀNG
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ NGUYÊN ĐỐI
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ TRONG GIAO
TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH (TRÊN DẪN LIỆU CA DAO NGHỆ TĨNH, HÁT
PHƯỜNG VẢI VÀ KHO TÀNG
VÈ XỨ NGHỆ)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS NGUYỄN NHÃ BẢN
TS VŨ KIM BẢNG
Trang 5A MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Tiểu dẫn
1.2 Một số vấn đề liên quan đến lí thuyết giao tiếp
1.3 Sự gần gũi giữa ca dao, vè và hát giặm Nghệ Tĩnh
1.4 Nghệ Tĩnh và tiếng Nghệ
1.5 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.6 Tiểu kết
Chương 2 : Vốn từ ngữ và khả năng sử dụng chúng trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
2.1 Tiểu dẫn
2.2 Những vấn đề về từ và vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh
2.3 Vấn đề từ địa phương của tiếng Việt
2.4 Tiểu kết
Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ giao tiếp hay văn hóa ứng xử của người Nghệ Tĩnh
3.1 Tiểu dẫn
3.2 Những đặc trưng ngôn ngữ
C KẾT LUẬN
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sựhướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Nhã Bản và TS Vũ Kim Bảng.Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng đượcbất kỳ ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
Hà Nguyên Đối
Trang 8TÊN TRANG
Mô hình 1: Mối quan hệ giữ từ vựng ngữ âm và từ vựng ngữ
nghĩa
Mô hình 2: Mô hình ứng xử người Nghệ
Bảng 1: Hệ thống cấu tạo từ ghép và từ láy
Bảng 2: Sự phân bố từ đơn tiết, đa tiết, thành ngữ trong giao
tiếp của người Nghệ TĩnhBảng 3: Những từ xuất hiện cao trong giao tiếp của người
Nghệ TĩnhBảng 4: Từ láy trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Bảng 5: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ trong giao tiếp
của người Nghệ TĩnhBảng 6: Vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh xét từ phương diện từ
loại
Trang 9A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Như chúng ta đều biết: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người và là phương tiện, công cụ biểu đạt tư duy Khôngphải cái gì khác, chính ngôn ngữ là phương tiện chuyển đạt và tàng trữ thôngtin từ thế hệ này sang thế hệ khác, và theo cách diễn đạt của F de Saussure:
“Phong tục của một dân tộc đã có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trongmột chừng mực nhất định khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc”[152, tr.47] Ngôn ngữ là thành tố quan trọng nhất trong các thành tố của vănhóa và là phương tiện của văn hóa, làm tiền đề cho văn hóa phát triển Rõràng, cách phân chia, phân cắt thực tại, thực tế khách quan của các cộng đồng,khu vực khác nhau đã làm rõ tính đặc thù, sự biểu đạt văn hóa qua ngôn ngữ
1.2 Giao tiếp là chức năng quan trọng nhất, chức năng số một của ngôn
ngữ Hay nói đúng hơn, ngôn ngữ ra đời là để thỏa mãn nhu cầu, sự đòi hỏibức xúc của sự giao tiếp giữa người với nhau Điều này đã được các nhànghiên cứu về lịch sử, nguồn gốc của ngôn ngữ xác nhận và chứng minh “Đó
là một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người cùng thuộc mộtcộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng thứctiềm năng trong mỗi bộ óc, hay nói đúng hơn, trong các bộ óc của một tập thể;
vì ngôn ngữ không có mặt đầy đủ trong một người nào, nó chỉ tồn tại mộtcách vẹn toàn trong quần chúng” [152, tr.50]
1.3 Nghệ - Tĩnh là vùng đất biên viễn, viễn trấn, đất cổ nước non nhà.
Đất nước Việt Nam này đã xảy ra bao nhiêu thăng trầm thì đất Nghệ này cũngxảy ra chừng đó biến cố Chính Nguyễn Tài Cẩn đã nhận xét về mặt ngôn ngữhọc: “Trong các vùng phương ngữ Việt Nam, vùng phương ngữ Nghệ An, HàTĩnh, Bình Trị Thiên có một vị trí đặc biệt: đấy là vùng còn giữ được rất nhiềunét cổ Có thể coi đây là một kho tàng cứ liệu có thể giúp ích được rất nhiềutrong việc nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt, giai đoạn khá xa xưa (cáchđây trăm năm trở lên)” [14, tr.14]
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
2.1 Qua việc khảo sát, nghiên cứu đặc trưng trong ngôn ngữ giao tiếp
của người Nghệ - Tĩnh, luận án cố gắng chỉ ra đặc điểm đặc thù xét về mặtngôn ngữ của một cộng đồng, khu vực Đành rằng, xét về mặt phương ngữhọc, Nghệ - Tĩnh thuộc phương ngữ Bắc Trung Bộ Như đã nói, đây làphương ngữ còn ẩn chứa nhiều trầm tích, nét riêng cả từ phương diện ngữ âmlẫn từ vựng - ngữ nghĩa
2.2 Trong những giới hạn cho phép, luận án cũng hướng tới xem xét
tìm hiểu mối quan hệ giữ ngôn ngữ và văn hóa Hay nói khác đi, tìm hiểucách biểu đạt văn hóa khu vực, vùng qua phương tiện ngôn ngữ
3 Phương pháp nghiên cứu và việc xử lí tư liệu
3.1 Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: điều tra
trên văn bản, miêu tả ở dạng đồng đại, thống kê định lượng, so sánh - đốichiếu Trong đó, phương pháp được sử dụng chủ yếu là phân tích - tổng hợp
số liệu và tư liệu để lí giải các vấn đề có liên quan, đưa ra những nhận xét,đánh giá và kết luận theo các mục đích nghiên cứu đã được xác định
3.2 Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp,
song, chủ yếu là phương pháp phân tích ngôn ngữ, đồng thời còn sử dụng cáctri thức liên ngành khi phân tích
3.3 Có thể dựng lại bức tranh toàn cảnh về đặc trưng ngôn ngữ trong
giao tiếp của người Nghệ - Tĩnh trên tư liệu hiện có (ca dao và kho tàng vè xứNghệ), người viết sử dụng tổng hợp cách thức sưu tầm để tập hợp (đến mứctối đa) các tư liệu hiện có Hệ thống các tư liệu sẽ được người viết xử lí, triểnkhai trong từng chương, nội dung cụ thể của luận án
3.4 Trong quá trình sưu tầm, điều tra tư liệu, chúng tôi luôn sử dụng
kết hợp các phương pháp, cách nhìn vừa đồng đại vừa lịch đại, trong đó
nghiên cứu theo hướng đồng đại là chủ yếu.
Trang 113.5 Trình tự nghiên cứu bắt đầu từ những vấn đề cơ bản của lí thuyết
giao tiếp và trên cơ sở những dữ kiện, tư liệu, người viết cố gắng chỉ ra đặctrưng ngôn ngữ trong giao tiếp của con người xứ Nghệ
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Theo chúng tôi được biết, hiện tại, đã có những công trình nghiên
cứu cả từ phía lí thuyết cũng như vấn đề thực tiễn của giao tiếp Chúng tôimuốn qua việc khảo sát tư liệu qua việc giao tiếp để hiểu thêm cách sử dụngngôn ngữ của một khu vực, một vùng cụ thể - Nghệ Tĩnh
4.2 Mô tả kĩ lưỡng những đặc trưng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh có thể hiểu sâu hơn, làm rõ hơn bản sắc văn hóa của cưdân một khu vực qua ngôn ngữ
5 Lịch sử vấn đề
5.1 Vốn dĩ làm một người rất cực đoan trong khi nêu ra các vấn đề lí
thuyết, F de Saussure luôn luôn lưỡng phân: ngôn ngữ và lời nói, hệ hình và
cú đoạn, đồng đại và lịch đại, cái biểu hiện và cái được biểu hiện… Trong đó,vấn đề giao tiếp được ông nêu ra rất rõ và là chức năng quan trọng Ông chongôn ngữ (langue) không đồng nhất với hoạt động ngôn ngữ (langage) và nó
là bộ phận cốt yếu của hoạt động ngôn ngữ Ông còn phân chia ra ngôn ngữhọc của ngôn ngữ và ngôn ngữ học của lời nói
5.1 V.I Lênin đã từng khẳng định: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất của con người Phi ngôn ngữ, ngoài ngôn ngữ không thể cóphương tiện nào khác thay thế nổi ngôn ngữ Dĩ nhiên, ngoài ngôn ngữ, conngười còn có các phương tiện giao tiếp phụ trợ khác như điệu bộ, cử chỉ…Con vật cũng có thể giao tiếp bằng kiểu riêng: gà mẹ gọi gà con bằng âmthanh, loài ong có điệu vũ nổi tiếng để báo cho nhau biết về nguồn mật hoa,
bò mẹ gọi bò con,… Giao tiếp là sự chuyển tải một thông điệp từ phía nàyđến phía kia Người ta quan tâm trực tiếp đến sự giao tiếp giữa người với
Trang 12người khi không dùng đến các phương tiện hỗ trợ khác như điện thoại, truyềnthanh, truyền hình.
5.2 Giao tiếp được thực hiện dưới hai dạng thức chủ yếu: ngôn ngữ nói
và ngôn ngữ viết Những thông tin trong giao tiếp không chỉ là những thôngtin mang tính xã hội mà còn có cả những thông tin cá nhân, phản ánh nhữngtâm sự, tình cảm cá nhân Giao tiếp có thể độc thoại, song thoại, tam thoại, đathoại…
5.3 Ở Việt Nam, hiện tại đã có những công trình đề cập xa gần đến vấn
đề này Về khu vực Nghệ Tĩnh, đã có nhiều công trình khoa học, những bàibáo, tạp chí,… viết về ngữ âm, từ vựng, đặc trưng thơ ca dân gian, địa danh,đặc điểm cuộc thoại mua bán ở chợ Nghệ Tĩnh; luận án này tiếp cận theohướng nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
6 Cấu trúc của luận án
Theo những nhiệm vụ, mục đích đã xác lập, ngoài phần Mở đầu, Kếtluận và Phụ lục, luận án triển khai theo ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài.
Chương 2: Vốn từ ngữ và khả năng sử dụng chúng trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh.
Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ trong giao tiếp hay văn hoá ứng xử
của người Nghệ Tĩnh.
Trang 13B NỘI DUNGChương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tiểu dẫn
1.1.1 Thuật ngữ giao tiếp (Communication) đã được sử dụng rất rộng
rãi trong ngôn ngữ học Một mặt, thuật ngữ này làm rõ bản chất xã hội củangôn ngữ và mặt khác, đây là thuật ngữ nhằm chỉ ra những đặc trưng vốn cótrong ngôn ngữ học mà không thể có ở bất cứ khoa học nào khác
1.1.2 Xét về công lao, phải kể đến F de Saussure - người đã lí giải và
chỉ ra khá tường minh kể cả nội hàm và ngoại diên của thuật ngữ giao tiếp.Cũng như nhiều người đã nhận xét ông là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại.Nội dung của sự giao tiếp được diễn đạt theo nhiều kiểu loại khác nhau, liênquan đến ngữ nghĩa, cảnh huống giao tiếp, điều kiện giao tiếp Đó là chưa nóiđến sự khác nhau của từng ngôn ngữ, vùng, khu vực cụ thể Luận án nàynhằm chỉ ra nét khác biệt trong giao tiếp của một khu vực qua phương tiệnbiểu đạt là ngôn ngữ ở đây, có thể là vốn từ ngữ, cấu trúc hội thoại, cách sửdụng các đơn vị, sự hành chức của ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp Hơnthế, hiểu rõ sự lựa chọn đơn vị nào trong cảnh huống giao tiếp cụ thể Chẳnghạn như, ngôn ngữ văn hoá có từ “ăn hỏi”, nhưng người Nghệ Tĩnh lại có ba
từ tương ứng: bỏ trù, đi nhởi, tấp trộôc Nhưng lúc nào, vùng nào, nơi nào,cảnh huống nào thì sử dụng những đơn vị đó Dĩ nhiên việc lí giải thấu đáovấn đề này hoàn toàn không đơn giản
1.2 Một số vấn đề xung quanh lí thuyết giao tiếp
1.2.1 Như chúng ta đã hiểu, ngôn ngữ ra đời hoàn toàn không có mục
đích tự thân, sự ra đời của ngôn ngữ là để thoả mãn nhu cầu giao tiếp giữangười và người, do vậy, chức năng giao tiếp (communicative function) là
Trang 14chức năng số một, quan trọng nhất Chính E Sapir đã khẳng định: cũng nhưcác nền văn hoá, các ngôn ngữ ít khi tự chúng đã đầy đủ Những nhu cầu giaolưu đã khiến cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp haygián tiếp với những người nói ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn hoá.
Sự giao lưu có thể có tính chất hữu nghị hay thù địch Nó có thể diễn ra trênbình diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc nó
có thể là một sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần - nghệ thuật,khoa học, tôn giáo Thật là khó tìm ra được một ngôn ngữ hay phương ngữhoàn toàn cô lập, kể cả trong các dân tộc nguyên thuỷ [151, tr.237] Ngôn ngữ
là phương tiện tàng trữ và truyền đạt thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác
Theo cách diễn đạt của V.B Kasevich: “Sự trao đổi kinh nghiệm cá nhân, sự
phối hợp giữa các hành động có thể thực hiện được là nhờ ngôn ngữ Nóchính là cái cung cụ cho phép “rót” các kết quả của hoạt động tư duy cá nhânvào các “khuôn” có giá trị chung” [154, tr.13] Có thể hiểu giản dị: giao tiếp
là sự chuyển đạt thông tin từ người này sang người khác với mục đích nàyhoặc mục đích kia Giao tiếp được hoàn thành trong hoạt động giao tiếp củahai người hoặc trên hai người trong bối cảnh nhất định và có cùng phươngtiện giao tiếp chung
Chính F de Saussure đã khẳng định: “hành động này giả định có ít nhất
là hai cá nhân; đó là cái tối thiểu cần đòi hỏi để cho vòng tuần hoàn được trọnvẹn” [152, tr.47] Ông còn lí giải khá tường minh vòng tuần hoàn giao tiếp giữhai người A và B, quá trình đó liên quan đến sinh lí, vật lí, tâm lí “Đó là mộtkho tàng được thực tiễn nói năng của những người cùng thuộc một cộng đồngngôn ngữ lưu lại, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng thức tiềm năngtrong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn, trong các bộ óc của một tập thể; vìngôn ngữ không có mặt đầy đủ trong một người nào, nó chỉ tồn tại một cáchvẹn toàn trong quần chúng” [152, tr.50] Không có ngôn ngữ tất yếu sẽ dẫnđến không có sự giao tiếp, và cũng chính thế cũng không có sự tồn tại xã hội
Trang 15và cũng không có cá nhân tồn tại trong xã hội được Ngôn ngữ đã và vẫn nhưđộng lực bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Ngôn ngữđược sử dụng trong tất cả các phạm vi của cuộc sống xã hội: văn học nghệthuật, khoa học tự nhiên, tôn giáo, gia đình, tập thể, nhà nước… V.B.
Kasevich nhận xét: “Có thể nói rằng việc giao tiếp bằng một ngôn ngữ cụ
thể chính là một “sự trao đổi văn bản” Nếu như giới hạn ở khẩu ngữ thì
có thể nói rằng việc trao đổi văn bản, một mặt, chính là hành động nói năng hoặc hành động “sản sinh” văn bản đang xét, mặt khác, là hành động hiểu hoặc tiếp thu văn bản của người đối thoại…” [154, tr.21] Hoặc:
“Ngôn ngữ thể hiện ở chỗ: một người có thể nói với một người khác với một điều gì đó, người nghe có thể hiểu được và trả lời bằng từ ngữ, hành động hay tư duy” [154, tr.40].
1.2.2 Mô hình giao tiếp được F de Saussure nêu ra: người phát
(addresser), thông điệp (message), người nhận (addressee) Theo Diệp QuangBan, chức năng của các yếu tố ngôn ngữ lần đầu tiên đã được K Buhler xácđịnh gồm có:
- Chức năng biểu hiện (representation),
- Chức năng hiệu lệnh (appel),
- Chức năng biểu cảm (expression)
Khi các thông điệp hoàn thành được các chức năng của mình thì phảicần có: ngữ cảnh (context), mã (code) Quá trình giao tiếp phải có ngữ cảnh,tình huống giao tiếp, ngữ cảnh phải được người nhận biết rằng các ngôn từtrong thông điệp Mã là đối với người kí mã và giải mã, nghĩa là danh sáchcác kí hiệu và cách sử dụng kí hiệu đó Và chính tiếp xúc (contact) là đườngkênh vật lí và mốc quan hệ tâm lí giữa người phát ngôn và người nhận, haynói khác đi là sự thiết lập và duy trì sự giao tiếp
Chính R Jakobson trong bài viết Ngôn ngữ học và thi học (1960) đã
trình bày sáu yếu tố trong giao tiếp:
Ngữ cảnh
Trang 16Thông điệp Người phát Tiếp xúc Người nhận
MãSáu yếu tố đó có quan hệ với sáu chức năng theo quan hệ một đối mộttheo lược đồ dưới đây:
Quy chiếuThi học
mã, nghĩa là có quan hệ với ngôn ngữ đang được sử dụng trong giao tiếp kiểunhư trong cách hỏi của người nhận thông điệp Chức năng thi học gắn với cấutrúc hình thức và nội dung của thông điệp Đây là chức năng chủ đạo trongnghệ thuật sử dụng từ ngữ Do vậy, theo Diệp Quang Ban có thể diễn đạt tưtưởng R Jakobson bằng mô hình gộp:
ngữ cảnh
chức năng quy chiếu
người phát thông điệp người nhận
chức năng biểu cảm chức năng thi học chức năng tác động
tiếp xúc
chức năng đưa đẩy
Trang 17Em tưởng nước giếng sâu
Em nối sợi gầu dài
ta gọi là “người thuyết minh” trong các văn bản nghệ thuật [12, tr.13]
1.2.3 Ngôn ngữ biểu hiện ra ở chỗ: một người có thể nói với một người
khác một điều gì đó và người nghe có thể hiểu được, trả lời bằng các từ ngữ,hành động, cử chỉ Ngôn ngữ của con người mang bản chất tín hiệu Quagiọng nói, chúng ta có thể biết được người nói với ta là ai: đàn bà, đàn ônghay trẻ con, trong lời nói đó có sự cầu khiến, khuyên bảo, đề nghị, đe doạ hayhỏi han… Rõ ràng quá trình giao tiếp được thực hiện phải có cùng ngôn ngữ
thống nhất Rozdextvenxki còn phân tích kĩ khía cạnh người nói, phát ngôn
được phát ra nhằm mục đích truyền đạt nội dung và do đó gây ra sự chú ý củangười nghe tới nội dung thông báo và với bản thân người nói Đây chính là
chức năng biểu cảm của lời nói Và, để đạt được, thoả mãn các điều này cần
Trang 18thiết phải sử dụng các lời hô gọi hướng tới người nghe và các dạng thức lời
nói được biểu hiện qua cá nhân người nói Người nghe không chỉ hiểu được
thông tin từ phía người nói mà còn đánh giá về tính thích đáng, thoả đáng vìrằng nội dung lời nói và cách tạo lời lời có thể có chú ý hoặc vô ý làm hại
người nghe hoặc người thứ ba Ông gọi đây là chức năng đánh giá của lời
nói
Khi nhận thức các khía cạnh biểu cảm, đánh giá và thông báo của phátngôn, chất liệu lời nói được phân đoạn và có những hình thức phù hợp với ýnghĩ được chuyển tải trong phát ngôn Suy nghĩ dùng để truyền đạt cho ngườikhác cũng được hình thành theo các quy luật ngôn ngữ Cơ sở của sự hìnhthành gồm hai yếu tố: 1/ Ai nói với ai, nghĩa là quan hệ giữa người nói vàngười nghe ra sao; 2/ Nói về cái gì, nghĩa là nội dung tình thái và nội dungchủ đề - sự vật của phát ngôn [150, tr.78]
1.3 Sự gần gũi giữa ca dao, vè và hát dặm Nghệ Tĩnh
Bất kì một dân tộc nào cũng có kho tàng văn hóa dân gian riêng nhưthành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ tích, thần thoại… Quả thực đây
là kho báu của văn hóa dân tộc Trong luận án này, người viết khai thác tư liệu
trên các văn bản chủ yếu là Kho tàng vè xứ Nghệ và Ca dao Nghệ tĩnh và
Hát phường vải do vậy, chúng tôi cũng phải để cập đến hai thể loại vừa nêu.
1.3.1 Khi nhắc tới Nghệ Tĩnh hay xứ Nghệ, người ta thường nói đến
mảnh đất đã sản sinh ra kho tàng văn hóa dân gian Đặc biệt trong đó phải kể
đến hát giặm và hát ví (chúng tôi nhấn mạnh, TG) Hát giặm được một số tác
giả nhập vào vè và hát ví phường vải được đưa vào với ca dao Đành rằng, lí
do là thuộc vào quan điểm của người sưu tầm, nghiên cứu
Rõ ràng về là một loại văn vần kể chuyện (tự sự) tường thuật các sựkiện, câu chuyện, kể lể dông dài, không trau chuốt “Có thể nói rằng về mặt
hình thức, vè còn mang nặng tính chất thô sơ của một loại phác thảo, một thứ
văn ghi chép sự việc nóng hổi tựa hồ như loại văn phóng sự Nó đòi hỏi
Trang 19không những phải ghi kịp thời và còn phải ghi đầy đủ chi tiết vụn vặt…
Người làm vè cốt phản ánh được câu chuyện mà không hoặc chưa chú ý đến cách phản ánh như thế nào” [24, tr.60] Do vậy, trong vè mang nội
dung thời sự, cụ thể, địa phương Ví dụ: một cô ả chửa hoang, tên quan vòi lễ,bắt phu làm đường, vụ tiêu diệt giặc, phá đường,… Cho nên ở chỗ khác,Nguyễn Đổng Chi gọi là “Vè hát giặm” và cũng có lí khi Ninh Viết Giao đãtập hợp tất cả vào 9 tập “Kho tàng vè xứ Nghệ” Hát giặm là một hình thứcdân ca địa phương, một “đặc sản” của người Nghệ Người Việt vẫn quen sửdụng thể điệu lục bát, song thất lục bát cùng với những biến thể của nó phổbiến từ Bắc đến Nam Ngoài ra, còn các thể điệu phổ biến khác như vãn ba,vãn tư, hát ả đào, ngũ ngôn, phú,… “Tiếng “giặm” có nghĩa là đem một vật gìthêm vào, điền vào, đệm vào, chắp vàp một cái gì còn khuyết, vào một nơi
nào còn có thể chứa được Nó rất gần với những tiếng giắm… Giắm, tiếng
Nghệ - Tĩnh nghĩa là cấy lúa điền vào những chỗ trống trên đám ruộng…”[24, tr.14]
Nhìn chung, ai cũng có thể nhận ra: hình thức của hát giặm tương đốigiản dị, không hề phức tạp, câu nệ nghiêm ngặt vào luật lệ như thờ Đường:
“Trong một bài hát giặm, trừ một số câu đầu và câu cuối ra, còn thì chủ yếugồm nhiều đoạn giống nhau nối lại bằng vần, tựa hồ như những vòng khâutrong một sợi dây xích” [24, tr.23]
Nguyễn Nhã Bản nhận xét:
Thông thường, các bài hát giặm nối nhau bởi nhiều đoạn, mỗi đoạn ítnhất phải có 4 câu và mỗi câu thường có 5 chữ Mỗi đoạn thường có một câuthứ năm láy lại một vài từ nào đó của câu thứ tư Ví dụ:
Kẻo giang sơn thiên lí,
Lạ mặt biết ai đâu?
Khi qua quán, qua cầu, Gặp tuần phu hỏi xét.
Trang 20Họ lại hòng vơ vét, Kiếm chác một đôi hào, Ngồi vác mặt làm cao Nói “Tỉnh toà chưa phát”
Nói “Huyện đường chưa phát”
(Hát giặm Nghệ Tĩnh, T1 (hạ), tr.223)Qua khảo sát, thống kê của chúng tôi, số lượng bài hát giặm mỗi câu 5chữ là 58 bài, câu 4 chữ 12 bài và 6 chữ 4 bài Ngoài ra, có bài còn có câu bachữ, bảy chữ và tám, chín chữ Quả thật, có một số bài hát giặm có sự đanchen nhiều thể: có thể có câu đối, tục ngữ, ca dao Điều này, nhìn toàn cục,niêm luật chưa thật chặt chẽ… [8, tr.41]
Công thức chung của mỗi đoạn trong bài hát giặm:
Câu 1: vần trắc
Câu 2: vần bằng
Câu 3: vần bằng
Câu 4: vần trắc
Câu 5 (có hoặc không): láy lại câu 4 và thay đổi một số tiếng
Cứ như thế, bài hát giặm được kéo dài ra Vần trong bài hát giặm luônluôn là vần chân Hoặc: “Chính nhờ diễn xướng mà nhiều bài vè lời văn cònmộc mạc, đơn giản, ngôn ngữ còn mang nhiều tính khẩu ngữ, không được lựachọn chải chuốt như trong ca dao trữ tình, nhiều câu còn khấp khểnh… thế
mà được nhiều nơi thích thú, nhiều người nhớ thuộc và lưu truyền cho nơikhác, người khác” [41,T1, tr.86]
1.3.2 Nghệ Tĩnh có nhiều loại, nhưng có hát giặm và hát ví phải được
xem là tài sản của một vùng, khu vực Cũng như lời hát trống quân, quan họBắc Ninh… hay như hò giã gạo, hò mái nhì trong Nam, thì hát ví Nghệ Tĩnh
là lối ca hát bình dân Ví dụ:
Trước răng (sao) sau rứa (vậy) mới đành,
Trang 21Trước thì săn như chỉn (chỉ) sau lại mành như tơ
Ở nông thôn xứ Nghệ trước đây, hát ví rất phổ biến Hát ví là lối hát đốiđáp, các câu hát được sáng tác ngay, người hát vừa cất giọng hát, vừa suynghĩ để lựa chữ, lựa vần Trong các cuộc hát ví, ngoài những lời hò hẹn, tỏtình thì người ta còn thử thách nhau về tài trí, trí tuệ Chẳng hạn như, nếungười có học thức thì người ta đố chữ, chơi chữ… “Hát phường vải theo tôi làmột loại hát ví đặc biệt trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh Cũng nhưcác loại dân ca khác, nó là một phương tiện văn hoá tự túc của nhân dân NghệTĩnh Nội dung căn bản của nó mang đậm đà tính chất trữ tình Song nó cókhác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho Cho nêntính chất một số câu hát, qui cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trìnhcủa một cuộc hát… có phức tạp hơn.” [42, tr.19]
Hát ví thường được sáng tác theo thể lục bát, do vậy, cũng có lý khingười ta xếp và đưa hát ví nhập với ca dao Trước đây, người ta gọi ca dao là
phong dao vì có những bài ca dao biểu hiện, thể hiện phong tục của mỗi địa
phương, mỗi thời đại “Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt Về điểm này trong
Văn học dân gian, tập II (lịch sử văn học Việt Nam), Đinh Gia Khánh có chú
thích như sau: “Trong Kinh thi, phần Nguỵ phong trong bài Viên hữu đào
có câu “Tâm chi ưu hi, ngã ca thả dao” (lòng ta buồn, ta ca và dao) Sách
Mao truyện viết “Khúc hợp nhạc viết ca, dô ca viết dao” (khúc hát có nhạc
đệm theo lời gọi là ca còn hát trơn thì gọi là dao) Trong sách Cổ dao ngan, bài Phàm lệ lại phân biệt thêm: “Ca và dao khác nhau ở chỗ dao có thể là lời
của nhiều bài ca…” [47, TR.42] Có thể qua đoạn vừa dẫn, chúng ta cũng hiểurõ: dân ca là bài hát có nhạc điệu, khúc điệu và ca dao là phần lời Dân cađược xây dựng trên cơ sở những câu ca dao, người ta thích thêm vào những
tiếng đệm (như tình bằng, tang tình, ấy mấy… hoặc như ấy ai, em nhớ…
những tiếng đưa hơi (như í, i, i, ới a,…), tiếng láy, điệp khúc.
Trang 22Dân ca như hát đò đưa, hát giã gạo, hát phường vải Nghệ Tĩnh, hátxoan Phú Thọ, hát quan họ Bắc Ninh, hò bài chòi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi,
hò Bình Trị Thiên, ca lý Nam Bộ…
Ca dao là tài sản vô giá của người Việt Nội dung ca dao phản ánh vôcùng phong phú Ca dao Nghệ - Tĩnh là biến dạng của ca dao người Việt nóichung và cái làm nên đặc trưng của ca dao Nghệ Tĩnh không chỉ khu biệt vềhình thức, ngôn ngữ mà còn có cả nội dung phản ánh
Trang 231.4 Nghệ Tĩnh và tiếng Nghệ
1.4.1 Nghệ - Tĩnh được coi là vùng đất biên viễn, viễn trấn, đất cổ
nước non nhà Mảnh đất này gắn liền với Tổ quốc Việt Nam từ ngày tên nước
là Văn Lang Đây là đất Việt thường thời cổ và sao đó là: Cửu Chân, HàmHoan, Cửu Đức, Đức Châu, Nhật Nam, Hoan Diễn Tư liệu lịch sử đã chỉ rarằng, thế kỉ XVIII, người Việt khai phá và nối liền bản đồ Việt Nam đến MinhHải như hôm nay Đến năm 1069, biên giới Việt Nam mới vượt qua đèoNgang để mở rộng vùng đất Bình Trị Thiên Năm 1471, triều Lê Thánh Tông
đã kéo dài Tổ quốc vượt đèo Hải Vân và thành lập đạo Quảng Nam Nghệ An
và Hà Tĩnh lúc phân, lúc hợp luôn luôn gắn bó máu thịt với nhau, với gần250km bờ biển, vùng đồng bằng, trung du rộng lớn, vùng rừng núi mênhmông, gắn chặt với nhau về địa lí, kinh tế, văn hóa, phong tục, ngôn ngữ…Theo Phan Huy Chú: “Con người ở đây rất cần kiệm và hiếu học, vật sản thìquý báu và hiếm lạ, thần núi thần biển đều linh dị, khí thiêng non sông kếtthành nhiều bậc danh hiền Đất này là vùng thông với xứ Man Lào lại là vùnggiới hạn giữa Nam Bắc do đó mà nó xứng đáng là một thành trì kiên cố, làthen chốt của nước nhà trải qua các triều đại” [27, tr.174]
Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà chiếm Âu Lạc và chia thành haiquận: Cửu Chân và Giao Chỉ Giao Chỉ thuộc các tỉnh phía Bắc ngày nay vàCửu Chân bao gồm vùng đất Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh Thời Hán Vũ Đế (111trước Công nguyên), trong 7 huyện của Cửu Chân thì Hàm Hoan là lớn nhất,tương đương với vùng Nghệ Tĩnh Năm 271, quận Cửu Đức bao gồm đất đaivùng Nghệ Tĩnh Năm 679, Nghệ Tĩnh lúc đó gồm hai châu: Diễn Châu vàHoan Châu Diễn Châu tương đương các huyện Bắc xứ Nghệ, Hoan Châu baogồm các huyện phía Nam Nghệ An và Bắc Hà Tĩnh Vào năm Thông Thuỵthứ ba (1036), Lý Thái Tông đổi Hoan Châu thành Châu Nghệ An và địa danhNghệ An ra đời từ đó Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), nhà Nguyễn cắt haiphủ Đức Thọ (trước năm 1822 là phủ Đức Quang) và Hà Hoa của Nghệ An
Trang 24lập thành tỉnh mới là Hà Tĩnh Hà Tĩnh mang tên từ đó Theo chiều dài lịch
sử, địa danh Nghệ Tĩnh đã xảy ra nhiều biến cố, có khi là một quận, mộthuyện, một châu, một trấn, một thừa tuyên, một tỉnh, một trại
Chung qui lại: “Nghệ Tĩnh được các triều vua Đại Việt coi như phêndậu của Tổ quốc ở phía Nam, Lý Tử Tấn (thế kỷ XV) viết rằng: “Các triều đạilấy đó để chế ngự người Tây Nam di” Nghệ Tĩnh không chỉ là bức bìnhphong ngăn chặn các đạo quân xâm lược đến từ phương Nam, Nghệ Tĩnh còn
là kho dự trữ chiến lược về nhân lực, vật lực, tài lực trong cuộc đấu tranhchống các đạo quân xâm lược đến từ phương Bắc” [57, tr.101]
1.4.2 Các đất nước đều có sự lựa chọn cho mình ngôn ngữ làm công cụ
trên các phương tiện thông tin đại chúng Bản chất xã hội của ngôn ngữ cònchỉ ra ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử cụ thể và quy luật đặc thù của sự pháttriển lịch sử, biến đổi các phạm trù ngôn ngữ và hình thức ngôn ngữ Ngônngữ văn hóa xuất hiện và hành chức ở những giai đoạn xác định của sự pháttriển xã hội và dân tộc Ngôn ngữ văn hóa được hiểu như hình thức cao củangôn ngữ được thể hiện ra bằng sự phong phú từ vựng, cấu trúc ngữ pháp trauchuốt, hệ thống phong cách phát triển và những chuẩn mực chính xác về ngữ
âm, chính tả mà F.de Saussure sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ văn học (languageliterature) Rõ ràng, thuật ngữ ông dùng đồng nghĩa với thuật ngữ ngôn ngữvăn hóa Ngôn ngữ văn hóa được thể hiện không chỉ ngôn ngữ viết (ngôn ngữvăn học nghệ thuật, ngôn ngữ khoa học, báo chí) mà còn ngôn ngữ nói ở nhàtrường, vô tuyến, radio,… Ngôn ngữ văn hóa khác biệt với các phương ngữ,biệt ngữ nhóm, tiếng nghề nghiệp và những biến dạng cá nhân khác Ngônngữ văn hóa được trau chuốt về các phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ phápđược gọi là ngôn ngữ chuẩn mực Đành rằng khái niệm “ngôn ngữ chuẩnmực” không phải vĩnh hằng mà có thể thay đổi theo thời gian Sự phát triểnlàm phong phú thêm cho ngôn ngữ chuẩn mực là đáng quan tâm của toàn bộ
xã hội và các nhà văn, nhà thơ là người đóng góp cụ thể nhất cho vấn đề này
Trang 25Ngôn ngữ văn hóa là biểu hiện tập trung tính thống nhất của ngôn ngữ đốitượng, nhưng nó không phải nhất dạng mà còn có những biến dạng khácnhau, mà cụ thể là với phương ngữ.
Phương ngữ (dialect) không phải là một ngôn ngữ riêng mà là biếndạng của ngôn ngữ văn hóa ở một địa phương cụ thể, bao gồm những nétkhác biệt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp với ngôn ngữ văn hóa và các địaphương khác Trong đó sự khác biệt về ngữ âm là quan trọng nhất Phươngngữ là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu một hay nhiều phương ngữ.Hơn thế, phương ngữ không chỉ nghiên cứu cô lập từng mặt nào đó như ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp mà nghiên cứu toàn diện Có thể do cách tiếp cận củamỗi người nghiên cứu mà có cách lựa chọn hoàn toàn khác nhau Giữa ngônngữ văn hóa và biến thể địa phương vừa có sự thống nhất, vừa có sự khácbiệt, trong đó sự thống nhất đóng vai trò chủ yếu vì nó là cơ sở tạo nên sựthống nhất của một ngôn ngữ Quan hệ giữa ngôn ngữ văn hóa với nhữngphương ngữ như giữa cái chung và cái riêng, giữa cái bất biến và cái khả biến,giữa cái trừu tượng và cái cụ thể
1.4.3 Tiếng Việt cũng như nhiều ngôn ngữ khác cũng tồn tại nhiều
phương ngữ Việc phân chia ra các vùng phương ngữ của tiếng Việt cũng khácnhau giữa các nhà nghiên cứu Học giả Pháp H Maspéro (1912) trong tác
phẩm Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt đã chia tiếng Việt ra 2 vùng
phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung vì ông cho rằng người miền Nam làgốc miền Bắc mới vào Căn cứ vào hệ thống ngữ âm, hai nhà Việt ngữ Liên
Xô là M.V.Cordian và I.S.Bystrov (1970) cũng chia ra hai vùng, ranh giớichạy qua phía Nam tỉnh Quảng Trị Chia tiếng Việt ra 3 vùng phương ngữ làtập trung ở nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu là Hoàng Thị Châu Bà chia ra:phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Nguyễn Kim Thảnchia tiếng Việt ra 4 vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và một phầnThanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (phía Nam Thanh Hóa đến hết Bình Trị
Trang 26Thiên), phương ngữ Trung Nam (Quảng Nam đến Phú Khánh) và phương ngữNam Nguyễn Bạt Tụy chia ra 5 vùng: phương ngữ miền Bắc (Bắc bộ vàThanh Hóa), phương ngữ Trung Trên (từ Nghệ An đến Quảng Trị), phươngngữ Trung Giữa (Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung Dưới(Bình Định đến Bình Tuy) và phương ngữ Nam (1961)… Ngoài ra các tác giảcòn đề xuất vùng chuyển tiếp hay bán phương ngữ: Thanh Hóa là chuyển tiếpgiữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Bắc Trung bộ, Thừa Thiên Huế làchuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Trung Bộ và phương ngữ Nam.
Khu vực Nghệ Tĩnh thuộc phương ngữ Bắc Trung bộ Tại đây có nhữngđặc trưng về ngữ âm, từ vựng Sau đó tiếng Việt lại Nam tiến, tạo điều kiện đểhình thành một vùng phương ngữ mới, mà hiện nay ta quen gọi là phươngngữ miền Nam Thế là từ một phương ngữ Bắc Bộ, đến đây, ta có thêm haiphương ngữ mới Có điều giữa hai phương ngữ mới này có hoàn cảnh hìnhthành hoàn toàn khác nhau: vùng phương ngữ khu IV là vùng Việt Mườngchung bị Việt hóa mạnh nên trở thành Việt, do đó nó chứa đựng rất nhiều vếttích cổ, khá gần với Mường; vùng phương ngữ miền Nam là một vùng dongười Việt mới tạo thành trong quá trình Nam tiến, vài ba thế kỉ gần đây; do
đó, sự phân hóa của nó chưa có độ dày về thời gian, và nó mang nhiều nétViệt hậu kì hơn phương ngữ khu IV… [14, tr.331]
1.4.4 Khi xét và xác định các vùng phương ngữ thì tiêu chí hàng đầu
phải được kể là tiêu chí ngữ âm Tiếng Việt nói chung và phương ngữ NghệTĩnh nói riêng thuộc trong những ngôn ngữ đơn lập Đơn vị quan trọng củangữ âm là âm tiết Đơn vị này (âm tiết) có cấu trúc hai bậc Bậc một bao gồmthanh điệu, phụ âm đầu và phần vần và bậc hai bao gồm âm đệm, âm chính và
âm cuối Chúng tôi sẽ chỉ ra một vài đặc điểm về ngữ âm của phương ngữNghệ Tĩnh qua thanh điệu, phụ âm đầu và phần vần Trên thực tế đã có nhiềucông trình khoa học khảo sát về vấn đề này và một số bào báo có liên quan
Âm tiết (Syllable) trong tiếng Việt nói riêng và trong các ngôn ngữ đơn lập
Trang 27nói chung khác hẳn với âm tiết ở trong ngôn ngữ châu Âu về chức năng, cấutrúc Đơn vị này trực tiếp liên quan với một đơn vị có nghĩa là hình vị(morpheme).
- Trước hết, đó là thanh điệu, thanh điệu luôn gắn với âm tiết và đây làđặc điểm nổi rõ của những ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Hán, tiếng Lào,tiếng Thái… Đặc trưng ngữ âm của thanh điệu được miêu tả khá cụ thể trongnhiều công trình khác nhau và thanh điệu tiếng Việt được coi âm vị siêu đoạn(Superasegmental) Tiếng Việt có 6 thanh điệu được ghi bằng các dấu khácnhau: không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng Hiện tại khu vực Nghệ Tĩnh cómấy thanh điệu vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp cuối cùng Hầu hết các nhànghiên cứu cho rằng Nghệ Tĩnh có 5 thanh điệu: “Phương ngữ vùng NghệTĩnh không phân biệt được thanh ngã với thanh nặng Cả 5 thanh tạo thành hệthống các thanh điệu khác với phương ngữ Bắc, có độ trầm lớn hơn” (22 tr.93).Trong luận án của mình, Nguyễn Văn Nguyễn cũng đã kết luận như vậy [xem81] Như mọi người đều biết, một số xã ở huyện Nghi Lộc, Nghi Xuân và ba
xã Đức An, Đức Lập, Đức Dũng thuộc huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh mất hẳnthanh hỏi ở những âm tiết mang thanh hỏi: đỏ - đó, nhỏ - nhó, tổ - tố…, nghĩa
là thanh hỏi nhập với thanh sắc Nguyễn Nhã Bản cho rằng tại làng Nho Lâm,Diễn Châu tồn tại thanh ngã ở những âm tiết mang thanh hỏi: đỏ - đõ, mỏ -
mõ, khỏ - khõ… và thanh ngã này yết hầu hoá rất rõ và ông cho rằng phươngngữ Nghệ Tĩnh chỉ 3 thanh vì thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc nhập với thanhnặng “Thực ra vấn đề này rất thú vị nhưng không kém phần phức tạp Rõràng các thanh điệu Nghệ Tĩnh có sự hỗn nhập từ thanh này sang thanh khácnên đã tạo ra một sự “ rối loạn” trong hệ thống thanh điệu và chính thế đã làmnên sự đa dạng và phức tạp bức tranh thanh điệu ở khu vực này” [7, tr.82].Miêu tả từng thanh điệu ở Nghệ Tĩnh liên quan trực tiếp đến từng thổ ngữ cụthể Cái ấn tượng “trầm, nặng” cũng có lý do riêng khi xét về hai tiêu chí, xétkhu biệt của thanh điệu ở địa phương này: âm vực (cao hay thấp), âm điệu (sự
Trang 28biến thiên của cao độ theo thời gian là bằng phẳng hay không bằng phẳng,gãy hay không gãy).
- Mọi âm tiết tiếng Việt được cấu âm bằng động tác khép lại, dẫn đếnchỗ cản trở không khí hoàn toàn hoặc bộ phận và sau đó mở ra tạo nên mộttiếng động đặc thù Và như vậy, phẩm chất ngữ âm các phụ âm đầu trongtiếng Việt là tính phụ âm, đảm đương vị trí phụ âm đầu luôn luôn là phụ âm
Hệ thống phụ âm đầu là phức tạp nhất trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt.Phương ngữ Bắc Trung Bộ mà cụ thể là vùng Nghệ Tĩnh được nhiều nhànghiên cứu nhắc đến như một vùng cặn, còn bảo giữ nhiều yếu tố cổ Hai tiêuchí khu biệt của phụ âm đầu: phương thức phát âm (tắc/xát) và bộ vị cấu âm.Đoàn Thiện Thuật đã mô tả hệ thống phụ âm đầu của tiếng Việt khá đầy đủ:hai mươi hai âm vị phụ âm đầu liên hệ chặt chẽ với nhau làm thành một hệthống (ông coi các âm tiết như ăn, uống,… có tồn tại phụ âm tắc thanhhầu /?/) Trong phương ngữ Bắc mất hẳn 3 phụ âm quặt lưỡi tr (tre, trắng,…),
s (sâu sắc, sa sút,…), r (rầu rĩ, rủi ro,…) và lẫn lộn hai phụ âm n/l
Phương ngữ Bắc Trung Bộ nói chung và Nghệ Tĩnh nói riêng tồn tạiđầy đủ ba phụ âm quặt lưỡi Một số tác giả đi trước đã khẳng định tại Hà Tĩnhcòn tồn tại hai tổ hợp phụ âm /tl/ và /dz/ Tổ hợp phụ âm /tl/ có mặt tại xã Đức
An, Đức Lập, Đức Dũng huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh và tổ hợp /dz/ tồn tại ở xãXuân Song huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh (xem Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn VănNguyên) Nếu xét sự đối ứng giữa phụ âm đầu trong phương ngữ Nghệ Tĩnh
và tiếng Việt văn hóa thì chúng ta tìm thấy hàng loạt sự đối ứng rất thú vị:
khải - gãi, khót - gọt, khỏ - gõ,… trùn - giun, trửa - giữa, troi - giòi,… lông
trồng, lổ trổ, long trũng,… lòi thòi, le thè (lưỡi),… trìm chìm, trự chữ, trày - chày,… cân - gần, cấy - gái, cạch - gạch,… phót - vọt, phổ - vỗ,
-… dỏ - nhỏ, dà - nhà, dớp - nhớp-… (sự đối ứng này chỉ ra ở xã Xuân Song,
Nghi Xuân và xã Đức An, Đức Lập, Đức Dũng, Đức Thọ, Hà Tĩnh)… HoàngThị Châu đã miêu tả hai tổ hợp phụ âm /dz/ và /tl/ như sau:
Trang 29Phụ âm /dz/ ở các thổ ngữ vùng Bắc Bình Trị Thiên có phương thứccấu tạo âm như /Bz/,là phụ âm xát hữu thanh, ngạc hoá manh Nhưng nó làphụ âm đầu lưỡi - răng, tương tự như /d/ châu Âu, nên A.de Rhodes đã ghibằng chữ d Có thể so sánh với phụ âm đầu của các tiểu từ the, this, that trongtiếng Anh và phiên âm kí hiệu dùng cho tiếng Anh…
Phụ âm /tl/ là phụ âm cổ thứ năm được giữ lại trong những thổ ngữ nóitrên Đó là một phụ âm tắc - xát được cấu tạo bằng cách uốn cong đầu lưỡi đểcho chạm ngạc như khi ta phát âm /t/ Luồng hơi bị tắc ở giữa, thoát ra haibên như khi phát âm /l/… [22, tr.145]
Như vậy, tiếng Việt với số lượng 22 âm vị đảm đương ở vị trí phụ âmđầu lớn hơn số lượng thanh điệu (6 âm vị) và nhỏ hơn số lượng vần (155vần)
- Phần vần trong âm tiết tiếng Việt bao gồm: âm đệm, âm chính và âmcuối Sau phụ âm đầu, phần vần là thành tố thứ ba trong cấu trúc bậc một của
âm tiết tiếng Việt Mỗi thành phần trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt giữ cương
vị, chức năng hoàn toàn khác nhau Thanh điệu là âm vị siêu đoạn trùm lên cả
âm tiết; phụ âm đầu có chức năng mở đầu âm tiết; âm đệm là nguyên âm trònmôi nên có chức năng tu chỉnh âm sắc của âm tiết sau lúc mở đầu, làm trầmhoá âm sắc của âm tiết; âm chính là nguyên âm hạt nhân, tạo đỉnh âm tiết và
âm cuối có chức năng đóng khép âm tiết lại Mỗi vị trí tạo thành một “đối hệ”(chữ dùng của Đoàn Thiện Thuật) trong cấu trúc âm tiết Đoàn Thiện Thuậtcho rằng tiếng Việt có 9 âm vị làm âm cuối: 1 âm vị zêro, 2 bán nguyên âm và
6 phụ âm Dựa vào đặc trưng kết thúc, có thể phân ra các loại âm tiết sau: mở,nửa mở, khép, nửa khép Xem xét các loại vần này trong sự đối sánh với vầntrong tiếng Việt văn hóa, chúng ta sẽ thấy được bức tranh diễn ra rất phức tạp.Chúng tôi xin dẫn ra một số vấn đề tiêu biểu có sự đối ứng giữa phương ngữNghệ Tĩnh và tiếng Việt văn hóa:
- u - âu: tru - trâu, su - sâu, trù - trầu,…
Trang 30- ang - ương: đàng - đường, náng - nướng,…
- a - ưa: lả - lửa, ngá - ngứa, ná - nứa,…
- ot - uôt: nót - nuốt, rọt - ruột,…
- oi - uôi: ròi - ruồi, mói - muối,…
- it - ưt: đít - đứt, sít - sứt, mít - mứt,…
- ui - ôi: thúi - thối, gúi - gối, mui - môi,…
- ai - ươi: ngài - người, lại - lưỡi, lái - lưỡi,…
- ây/i - ai: gấy/ghí - gái, trấy/trí - trái, gây/ghi - gai,…
- ia - ê: vìa - về, ghía - ghế, dia - dê,…
- ưa - ơ: vựa - vợ, gựa - gỡ, rừa - rờ,…
- uô - ô: vua - vô, gụa - gỗ, vụa - vỗ,…
- ưp - âp: sứp - sấp, đựp - đập, tứp - tấp,…
Hơn thế, tại Hà Tĩnh tồn tại 4 nguyên âm đơn dài /o:, , e:, / đã liênquan trực tiếp với phụ âm cuối Kiểu như: ông - ôông, không - khôông, khóc -khoóc, tóc - toóc, anh ả (anh chị) - êng ả, mình - mềng, xanh - xeng, canh -keng,… [7, 2001]
1.4.5 Bên cạnh những đặc trưng ngữ âm như đã nêu, Nghệ Tĩnh có vốn
từ vựng địa phương cũng rất phong phú Từ điển tiếng địa phương Nghệ
Tĩnh (Nguyễn Nhã Bản chủ biên) được coi như một minh chứng cho nhận xét
vừa nêu
Có những từ gọi tên sự vật, hành động, tính chất… chỉ có mặt ở địaphương này, tức là những từ “rặt” Nghệ Ví dụ: tơi (áo mưa), nhút, mấn (váy),sạu (ngô), bắp (ngô), xà lì (ngô), bày (bữa cơm giữa buổi), bạy (quần áo trẻ sơsinh), gianh (phơi), pheo (tre), cộ (xe không có bánh, dùng cho trâu bò kéo),tấp trộôc (ăn hỏi), đi nhởi (ăn hỏi), xán (ném), trổ (mở), dợ (tạnh, ngớt), dứclác (mắng nhiếc), dường (bờ ruộng), đá lèn (đá vôi),…
Có những từ xưng hô như: anh hoe, bà hoe, ông hoe, ả hoe, anh hoét,ông cu, ả cu, anh cu, anh đị, ả đị, ông đị, anh ngoéc, anh xạ, anh nhiêu, anh
Trang 31học, anh chắt, anh mới, anh nho,… Đi vào lí giải từng trường từ vựng - ngữnghĩa hẳn sẽ tìm ra nhiều thông tin thú vị Chẳng hạn, vốn từ vựng chỉ nghề
cá, trong từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh có đến 178 tên cá: cá ác mó, cácứt cò, cá chụa, cá đao, cá đầu đâu, cá cờ, cá cơm, cá gây, cá gách, cá o ngựa,
cá nhám cào, cá tùng đục, cá rô, cá thóc, cá tràu chó, cá tràu khe, cá tràu ổ, cátrém, cá vạu, cá ve bầu, cá trào trao, cá thu măng, cá thu bẹ, cá thu ẩu,… Cónhững từ đa nghĩa như từ “mần”, có từ phải hiểu rõ nghĩa khi sử dụng trong
ngữ cảnh cụ thể, như “chắc” có nghĩa là như “nhau”: đập chắc, chửi chắc,… hoặc như “một mình”: ăn một chắc, ngủ một chắc,… lại có từ có sự biến đổi
ngữ âm kéo theo sự biến đổi về nghĩa, ví dụ “gấy/ghí” là đối ứng ngữ âm với
“gái” nhưng vừa có nghĩa như “gái” (nhà ni lắm con gấy), vừa có nghĩa như
“vợ” (hắn về với gấy),… Hoặc “mén”, “thóc” đồng nghĩa với “nhỏ” của tiếng Việt văn hóa: chí (chấy) mén, đĩa mén, cá rô thóc, hột cay thóc,…, lại có những phụ từ đi kèm với tính từ hoặc động từ: to cạy (rất to), gòa cạy (rất gòa),… ghét đui (rất ghét), già đui (rất già), giốt toẹt (rất giốt),… mạnh nói
(không nói), mạnh ăn (không ăn),…
1.5 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Thực chất của vấn đề này là phải lí giải nội dung hai thuật ngữ: văn hóa(culture) và ngôn ngữ (language) và xem xét mối quan hệ giữa chúng vớinhau, dù cho ở mức độ sơ giản nhất
1.5.1 Văn hóa hiện đang là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi Theo
Phan Ngọc, đến nay có hơn 400 định nghĩa về văn hóa, tuỳ thuộc vào cáchtiếp cận của từng người nghiên cứu, ngay cả Unesco cũng có định nghĩa riêng
về văn hóa, vì rằng dân tộc nào cũng có văn hóa, vì bất kỳ cái gì ta cũng hìnhdung có mặt văn hóa: phong tục, cách tổ chức xã hội, các hoạt động sản xuấtvật chất và tinh thần, các sản phẩm của hoạt động ấy… Theo Phan Ngọc, từ
văn hóa bắt nguồn từ châu Âu để dịch từ culture của tiếng Pháp, Anh, culture
của tiếng Đức Các từ này bắt nguồn từ chữ La tinh cultus mà nghĩa gốc là
Trang 32trồng trọt được sử dụng theo hai nghĩa cultus agri là “trồng trọt ngoài đồng”
và cultus animi là trồng trọt tinh thần, tức là “sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” Người Hán dịch và sử dụng từ văn hóa Văn có nghĩa là hình
thức đẹp đẽ, biểu hiện trước hết trong lễ, nhạc, cách cai trị, đặc biệt trong
ngôn ngữ, ứng xử lịch sự Văn do đó trở thành một yếu tố then chốt của chính
trị và có lí luận thu hút những người dị tộc theo người Hán bằng chính cái băncủa nó [82] Người ta đã phân chia ra văn hóa vật thể, phi vật thể, văn hóatinh thần, văn hóa vật chất Xin đơn cử một định nghĩa: “văn hóa là một hệthống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tíchluỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người vớimôi trường tự nhiên và xã hội của mình” [111, tr.27] Văn hóa được quanniệm là tất cả những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình ứng xửvới tự nhiên, xã hội và với chính bản thân mình
Hơn thế, cũng cần phân biệt văn hóa với văn minh Văn minh(civilization) liên quan đến mặt động, sự tác động của con người với thế giới
tự nhiên, cải tạo và phát triển chúng Trên thực tế có những đối tượng có trình
độ văn minh cao nhưng có thể có nền văn hóa thấp và có đất nước lạc hậu lại
có nền văn hóa cao Nói thế cũng chỉ thêm rằng: đặc trưng văn hóa có tínhdân tộc, lúc đó văn minh lại mang tính quốc tế Ấn Độ là nước sáng tạo ra con
số 0 cho cả thế giới dùng, Trung Quốc là nước phát triển kĩ thuật dùng la bàn,
in, thuốc súng và chế tạo giấy,… nhưng rồi kĩ thuật này cũng phát triển khắpthế giới Đặc trưng dân tộc là vô cùng quan trọng, vì rằng văn hóa dân gian, lễhội, thờ cúng tang ma… không thể mua bán được giữa các đối tượng Ví dụ:
Mỹ, Nhật, Pháp, Đức… có nền văn hóa khác nhau nhưng đều thuộc văn minhhậu công nghiệp Phải chăng như vậy khi nói đến văn hóa là nghĩ ngay đếncác nước phương Đông - văn hóa lúa nước, khi nói đến thuật ngữ văn minh là
ta nghĩ nhiều về các nước phương Tây, Bắc Mỹ Xét về mặt lịch sử: văn hóa
Trang 33luôn có bề dày của quá khứ, văn minh chỉ là lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biếttrình độ của văn hóa.
Chúng ta cần quan tâm đến hiện tượng giao lưu văn hóa, tiếp xúc vănhóa, đan xen văn hóa, hỗn dung văn hóa Sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa đã kéotheo các dân tộc, đất nước xích lại gần nhau, tiếp xúc văn hóa như là kết quảcủa sự trao đổi, giao tiếp cũng như bản thân sự trao đổi, giao tiếp Các nướcViệt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên đều chịu ảnh hưởng của nền văn hóa TrungQuốc - một vùng văn minh cổ đại của nhân loại và đã tạo nên một khu vựcđồng văn Nền văn hóa Trung Quốc phát triển rực rỡ và lâu đời nhất và là cơ
sở, kiến tạo, ảnh hưởng đến toàn khu vực… Để lại ảnh hưởng sâu sắc trongthể chế chính trị, trong xã hội và văn hóa là Nho giáo, đúng hơn cả là tamgiáo: Nho, Phật, Đạo Cả ba đều bắt nguồn từ Trung Quốc Cách tiếp cận vàđối đãi với Nho, Phật, Đạo mỗi dân tộc có khác nhau Vị trí của Phật giáo củamỗi nước đó khác nhau và xu hướng mỗi dân tộc do đó cũng có khác Nhogiáo vì giữ vị trí chi phối về chính trị, về tổ chức xã hội, về tiến hành giáo dục
và phát triển học thuật nên có tác dụng chi phối lịch sử cả vùng Tam giáo đểlại ảnh hưởng to lớn trong phong tục tập quán và tâm lí xã hội trong nhân dânbốn nước Đó là cơ sở nhân dân trong cả vùng dễ gần nhau, hiểu nhau… [52]
Hoặc: “Sự tiếp xúc kinh tế - xã hội giữa các nhóm người, đã tạo nên sựtiếp xúc văn hóa và do đó, sự giao lưu văn hóa qua tiếp xúc, một số yếu tố vănhóa ở cộng đồng người này có thể lan truyền đến cộng đồng người kia Tùytheo mức độ khác nhau, các yếu tố văn hóa này có khi chỉ là rời rạc, cá biệt,
có khi kết dính với những yếu tố văn hóa truyền thống, bị “truyền thống hóa”,
có khi lại làm đổi mới mạnh mẽ yếu tố văn hóa cũ…” [108, tr.165]
Văn hóa Việt Nam trong nhiều thiên niên kỉ đã tiếp xúc văn hóa với cácdân tộc Châu Á và Thái Bình Dương Hình thành từ thiên niên kỉ thứ I trướccông nguyên ở châu thổ sông Hồng văn hóa Việt Nam vẫn bảo tồn văn hóadân tộc trong quá trình tiếp xúc với nền văn hóa từ nước ngoài, chủ yếu nền
Trang 34văn hóa Trung Quốc (thời Cổ đại và Trung đại) và văn hóa Pháp - văn hóaphương Tây đầu thời Cận đại Xác lập đặc trưng văn hóa Việt Nam phải đượcđặt trong bối cảnh Đông Nam Á.
Đông Nam Á là một khu vực thống nhất trong sự đa dạng Các nhànghiên cứu đã khẳng định: ở đây có nền văn minh nông nghiệp lúa nước vớimột phức thể văn hóa gồm ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và vănhóa biển Trong con mắt người Âu Châu, khu vực Đông Nam Á là một thứnước Ấn Độ phình ra hay diễn đạt một cách đúng đắn là một vùng chia nhauhoặc xung đột giữa một vùng văn minh Trung Quốc và Ấn Độ Ở khu vựcnày, việc trồng lúa nước thay cho việc trồng cây ăn củ và trồng lúa lốc, lúanương là đặc điểm văn hóa vật phẩm đáng lưu ý ngay từ thời đại đồ đá vàphát triển mạnh mẽ ở thời đại đồ đồng Do đó, khắp nơi hình thành một phứcthể canh tác: ruộng/nương, ruộng/vườn trong nghề trồng lúa Làm nôngnghiệp nên phải sống định cư Ngôi nhà sàn là một sáng tạo của cư dân ĐôngNam Á: thích hợp với khí hậu nóng ẩm (thoáng mát), chống được thú dữ (ởcao), ở mọi vị trí, địa hình: núi cao, sườn dốc, vùng sình lầy Trồng lúa đóngvai trò chủ đạo thì nông nghiệp trồng lúa vẫn là một phức thể đa canh Trongnghề nông có hai loại hình canh tác truyền thống trên hai loại đất trồng: nôngnghiệp dùng cuốc trên rẫy và nông nghiệp dùng cày dưới ruộng [33]
Trước hết, tất cả các quốc gia thuộc Đông Nam Á là những quốc gia đadân tộc Trong mỗi nước, bên cạnh dân tộc đa số còn cùng chung sống cácdân tộc thiểu số bản địa và các thiểu số người nước ngoài với số lượng nhiều
ít rất khác nhau Các nhóm tộc người bản địa, nhất là ở phía Bắc, khôngnhững rất đông mà còn đa dạng đến mức ta không thể thấy ở đâu khác trênthế giới, chính điều đó đã làm cho bản đồ ngôn ngữ dân tộc này có dáng vẻnhư một bức khảm hay một bức tranh họa mảng màu Trong những thiểu sốngười nước ngoài thì người gốc Hoa có vai trò nổi trội nhất về số lượng và vềkinh tế Xin lưu ý đến một nét đặc biệt ở Campuchia và ở Lào: tầm quan trọng
Trang 35của thiểu số người Việt Nam có nhiều điểm giống với người Trung Quốc.Người Ấn Độ nhập cư khá nhiều ở Myanma Còn về người thiểu số gốc Tây
Âu hay Bắc Mỹ, thì họ đi theo những biến động vừa qua của lịch sử [145,tr.160]
Con người nơi đây có tính cộng đồng rất cao, do vậy, không phải ngẫunhiên mà các đơn vị như làng, dòng họ, gia tộc… lại trở nên rất quan trọng
Xem xét bản sắc văn hóa Việt Nam phải tính đến những vấn đề này Bản là cái gốc, căn bản của một sự vật và sắc là sự biểu hiện, phản ánh ra ngoài Chủ
thể của văn hóa Việt Nam là dân tộc Kinh Khu vực nóng ẩm, gió mùa, bão
lụt liên miên, con người sống định cư Làng là đơn vị biểu hiện khá rõ bản
sắc văn hóa Việt Nam Làng với tư cách là quần cư nông nghiệp Dưới tầngquốc gia dân tộc thì làng và người làng là quan trọng nhất Ngoài nôngnghiệp, chúng ta thấy vai trò quốc gia của công thương xuất phát từ các làng.Hàng nghìn làng nghề có mặt trên đất nước Việt Nam “chiếu Nga Sơn, gạchBát Tràng”…
Làng không phải là một vùng địa lí, hành chính, ai đến cư trú cũngđược: mỗi làng có sổ đinh, có phân biệt dân ngụ cư và dân bản quán, có thủtục vào làng Về kinh tế, đó là một đơn vị quản lí và quản cấp công điền, côngthổ cho dân bản quán, làng có công quỹ riêng Có làng còn có những nghề thủcông riêng, giữ bí mật nghề nghiệp với người làng khác Về tổ chức chính trị -
xã hội, làng có bộ máy kì hào, chức dịch trông coi mọi việc trong làng, đốinội và đối ngoại Làng có luật lệ riêng, có khi trái với cả pháp luật nhà nước:phép vua thua lệ làng, kì hào có thể tổ chức thành một thứ pháp đình riêngcủa làng để phạt vạ Làng có Thành hoàng của làng, có đình miếu, có ruộng
tế, kho đồ tế, thành một đơn vị có tính tôn giáo Khi có cướp, có giặc, kì hào
có thể đánh mõ huy động trai tráng có võ trang để đối phó: làng thành mộtphiên chế võ trang không thường trực… [52, tr.49]
Trang 36Phương Tây là văn hóa du mục: gió lạnh, tuyết nhiều, cừu phát triển,không sống định cư Tính cá nhân cư dân trong khu vực này rất cao Chẳnghạn: đã có câu hỏi đặt ra: có một nền văn hóa Mỹ không? (Is there anAmerican culture or not?) Mỹ khác Pháp ở chỗ: Pháp là nơi có sự tập trungchính trị và thống nhất ngôn ngữ được thực hiện từ bao thế hệ lại nay Hoa Kỳgồm người khắp mọi nơi trên thế giới, đủ mọi chủng tộc, được thành lập do
sự diệt chủng thổ dân và được xây dựng trên sự nô lệ hóa người Châu Phi.Nhạc Jazz và Blues (Blu-sơ) với những tiết tấu của châu Phi và Tây Ban Nha
đã ăn sâu vào văn hóa Mỹ Nước Mỹ có nhiều nền văn hóa với nhiều nhánhvăn hóa phụ Nước Mỹ có huyền thoại “nồi hầm nhừ” (The melting pot):
“Những cá nhân thuộc đủ dân tộc trà trộn nhuần nhuyễn thành một chủng tộcmới”
1.5.2 Loại hình học (linguisties type) là nghiên cứu so sánh các ngôn
ngữ theo đặc trưng hình thái, cấu trúc Chúng ta cần hiểu rằng: các đặc điểmhình thái (morphology) là rất bền vững, và hơn thế, số lượng các loại hình tháitrong ngôn ngữ lại hạn chế và có hàng loạt tiêu chí rõ ràng để nhận diện vàphân loại Người ta quan tâm đến hình thái của hình vị, từ, câu, văn bản Cácngôn ngữ cùng trong một loại hình là có chung những đặc điểm về hình thái,cấu trúc Các đặc điểm này không tồn tại riêng lẻ, rời rạc mà luôn gắn kết,nương tựa lẫn nhau Ví dụ, tiếng Việt và tiếng Hán không có quan hệ họ hàngnhưng cùng có chung về đặc điểm hình thái nên được xếp chung vào một loạihình - các ngôn ngữ đơn lập Có thể có cách phân loại hình thái để chia ra: 1
Các ngôn ngữ đơn lập và các ngôn ngữ phụ Rõ ràng, đây là sự đối lập
chung nhất dựa theo đặc trưng hình thái của các ngôn ngữ trên thế giới căn cứvào việc tổ chức những phương tiện biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp: các ngônngữ phụ tố đối lập với các ngôn ngữ không phụ tố Các ngôn ngữ không phụ
tố hay các ngôn ngữ đơn lập (amorphous languages) tiêu biểu là tiếng Việt,tiếng Hán, tiếng Thái,… Loại hình các ngôn ngữ này có đặc trưng riêng hình
Trang 37thái về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Ví dụ: từ không biến đổi hình thái trongkhi nói và viết, âm tiết là đơn vị ngữ âm quan trọng trong các ngôn ngữ này,
do từ không biến đổi hình thái nên việc xác định từ, vạch ranh giới từ rất khókhăn, những phương thức ngữ pháp như trật tự từ, hư từ, ngữ điệu trở nên
quan trọng 2 Các ngôn ngữ chắp dính và các ngôn ngữ biến tố Các ngôn
ngữ biến tố như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Ba Lan,… và các ngôn ngữ cóphụ tố chắp dính như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tatar, tiếng Nhật, tiếng Bantu,
… Và 3 Các ngôn ngữ có cấu trúc phân tích và tổng hợp Tiếng Anh có
cấu trúc phân tích và tiếng Nga có cấu trúc tổng hợp Những ngôn ngữ có cấutrúc phân tích sử dụng rộng rãi các hư từ, trật tự từ Đó là các ngôn ngữ nhưtiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pepxic,… Các ngôn ngữ có cấu trúc tổng hợpbiểu hiện vai trò của hình thức từ (các phụ tố: tiền tố, biến tố, tiếp tố…).Tiếng Nga, tiếng Ba Lan, tiếng Litov có cấu trúc tổng hợp Theo các nhànghiên cứu, loại hình các ngôn ngữ là một hiện tượng lịch sử Do vậy, tiếngLatinh, tiếng Anh vốn là những ngôn ngữ có cấu trúc biến tố tổng hợp, trongkhi đó tiếng Anh hiện đại, tiếng Pháp lại mang nhiều đặc trưng ngôn ngữ phântích Hơn thế, tiếng Nga là điển hình của các ngôn ngữ có cấu trúc tổng hợplại có nét của cấu trúc phân tích, ví dụ: tôi sẽ đọc quyển sách này (Ja budutritat etu khnhigu) Khi chúng ta chuyển từ tiếng Latinh sang tiếng Nga,chúng ta cảm thấy rằng, đại khái vẫn là một chân trời chung hạn chế về cáinhìn của chúng ta, dù cho những cột mốc quen thuộc và gần gũi đã đổi thay.Khi chúng ta bước sang tiếng Anh, chúng ta dường như nhận thấy rằng nhữngngọn đồi thấp hơn một chút, nhưng chúng ta vẫn nhận ra quang cảnh chungcủa xứ sở Nhưng khi chúng ta bước sang tiếng Trung Quốc thì đó là một bầutrời hoàn toàn khác đang nhìn xuống chúng ta Chúng ta có thể giải thíchnhững ẩn dụ này mà nói rằng ngôn ngữ nào cũng khác nhau, nhưng chỉ cóđiều là chúng khác nhau nhiều hay ít mà thôi Điều đó cũng nói rằng có thểtập hợp những ngôn ngữ này thành những kiểu hình thái học [151, tr.151]
Trang 381.5.2.1 Ngôn ngữ học lịch sử (historical linguistic) mục đích xác lập
quan hệ họ hàng (related languages) khi giữa chúng có mối tương ứng ngữ âmđều đặn của các đơn vị hình vị, từ và ý nghĩa của chúng, cho phép phụcnguyên, tái lập ngôn ngữ mẹ (parent languages) Mức độ thân thuộc khôngphải là đồng nhất hoàn toàn mà là sự phát triển của chúng mang tính quy luậtbắt nguồn từ ngôn ngữ mẹ Về vấn đề này có nhiều lí thuyết khác nhau, ví dụ:
lí thuyết cây ngữ tộc của tác giả người Đức A.Schleicher (1821 - 1868), lí thuyết làn sóng của W.Schmidt 91843 - 1901) - học trò của A.Schleicher…
Điều quan trọng của người nghiên cứu so sánh lịch sử là phải dựa vàovốn từ vựng cơ bản, gạt bỏ ngay ra ngoài vốn từ vay mượn Chẳng hạn, tiếngNhật Bản vay mượn tiếng Hán đến 70% vốn từ nhưng hai ngôn ngữ nàykhông hề có quan hệ họ hàng, vốn từ này là do tiếp xúc, vay mượn Các nhànghiên cứu so sánh lịch sử đã chia ra các ngữ hệ (họ): ngữ hệ Ấn - Âu, ngữ hệHán - Tạng, ngữ hệ Nam - Á, ngữ hệ Mông Cổ, ngữ hệ Mã Lai - Đa đảo,…Đành rằng trong mỗi ngữ hệ lại chia ra những cành, nhánh khác nhau TiếngViệt đã được xếp vào nhóm Tày - Thái (H.Maspéro), ngữ hệ Nam Á, đại chiMôn - Khmer, tiểu chi Việt - Mường (A.G.Haudricourt), hoặc cho tiếng Việt
là sự hỗn đồng giữa nhóm Tày - Thái và Môn - Khmer (G.Coedes, Phạm ĐứcDương và Hà Văn Tấn) Đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu ủng hộ giảipháp của giáo sư Pháp A.G.Haudricourt
Như đã nói, khu vực Đông Nam á là những nước đa dân tộc, đa ngônngữ Ví dụ, ở Indonexia, một nước mà dân tộc đa số là người Java (hơn 46%)
và khá nhiều dân tộc thiểu số, trong đó có người Malay ở đảo Sumatra vàBorneo chừng 5,5%, song tiếng Malay được chọn làm ngôn ngữ quốc gia.Việc chọn ngôn ngữ của người thiểu số giúp cho Indonexia tránh được nhữngmâu thuẫn nội bộ của nhà nước Hơn nữa, tiếng Malay vốn nghìn năm trước,
là ngôn ngữ chung của vùng có đến 250 ngôn ngữ, tuy cùng họ nhưng vẫn
Trang 39khác nhau Thương thuyền của người Malay đã từng ngang dọc trên vùngbiển sôi động này [126].
Ngữ hệ đầu tiên ở Đông Nam Á phải kể đến là ngữ hệ Nam Á(Austroasiatic) Hai dân tộc có số dân đông nhất và có vai trò lịch sử quantrọng nhất là người Việt và người Khmer Ngữ hệ này có mặt ở hầu khắp cácnước Đông Nam Á lục địa: Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Tây Malaixia,Lào, Campuchia và phía Nam Trung Quốc, Ấn Độ, NêPan, Pu tan, Băngladet.Ngữ hệ Nam Á, theo các nhà nghiên cứu, được chia ra bốn cành chính:Munda, Nicobar, Aslitan, Môn-Khmer Trong đó, cành Môn-Khmer là quantrọng nhất Cành này lại chia ra 9 nhóm nhỏ: nhóm Khasi, nhóm Môn, nhómKhmer, nhóm Pear, nhóm Balna, nhóm Katu, nhóm Việt - Mường, nhómKhmú, nhóm Palaung
Ngữ hệ Nam Đảo (Astronesian) hay Mã Lai - đa đảo(Malayoplynesian) bao gồm vùng đảo có diện tích rộng nhất thế giới Theocác nhà nghiên cứu, ngữ hệ này được chia ra thành hai cành: cành phía Tây(hay cành Indonesian) và cành phía Đông (hay còn gọi là cành đại dương).Ngữ hệ Thái - Kađai là khu vực cư trú của cư dân nói các ngôn ngữ Thái -Kađai Người nói các ngôn ngữ này có mặt hầu khắp Đông Nam Á NgườiKađai thực sự chỉ là cộng đồng nhỏ cư trú ở miền Bắc Việt Nam, Nam TrungQuốc Số lượng người nói tiếng Thái rộng khắp như Thái Lan, Miến Điện,Nam Trung Quốc, Lào, Việt Nam,… Người Lào sống hai bờ sông Mêkông và
số lượng người Lào ở Thái Lan đông gấp năm lần so với số lượng sống ở Lào.Theo M.Ferlus, ngữ hệ này được chia ra làm hai cành: cành Kađai và Kam -Thái Ngữ hệ Mèo - Dao rải đều từ phía Nam Trung Quốc, Tây Nghệ An,Thanh Hoá và một số tỉnh Bắc bộ Việt Nam, ở Lào - Thái Lan Ngữ hệ Hán -Tạng (sinotibetan) liên quan trực tiếp đến người Hán Ngữ hệ này được chia
ra hai cành: Hán và Tạng - Karen Cành Tạng - Karen chia hai nhóm nhỏ:nhóm Karen và Tạng - Miên
Trang 401.5.2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.5.2.2.1 Xét trên tổng thể, nội dung thuật ngữ văn hóa rộng hơn thuật
ngữ ngôn ngữ Vì rằng văn hóa phân chia ra văn hóa vật chất và văn hóa tinhthần; bao chức năng trong đó nhiều thành tố khác nhau và ngôn ngữ chỉ làthành tố của văn hóa Và ngôn ngữ là thành tố quan trọng nhất của văn hóa,phương tiện biểu đạt văn hóa Có người đã nhận xét: ngôn ngữ là địa chỉ củavăn hóa Hoạt động của ngôn ngữ cũng như hoạt động của văn hóa là thuộchoạt động tinh thần, cả hai đều giúp cho xã hội phát triển Ngôn ngữ làphương tiện, cầu nối mở rộng giao lưu, trao đổi hiểu biết về văn hóa giữacác cộng đồng Ngôn ngữ là phương tiện và cũng là tiền đề giúp cho văn hóaphát triển
1.5.2.2.2 Vài ba thập kỉ lại nay, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều
đến nội dung - ngữ nghĩa xét trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa - tưduy Có thể coi đây là quan hệ bộ ba Thế giới khách quan là một chuỗi liêntục nhưng được từng cộng đồng người, khu vực phân cắt thế giới khách quan
đó theo những kiểu khác nhau, mô hình khác nhau Người ta thường nói đến
“mô hình thế giới”, “bức tranh thế giới”, “sự phân cắt thế giới” được phânchia khác nhau giữa các cộng đồng người và ngay tại cùng một cộng đồng tức
là từng khu vực, phương ngữ khác nhau
Chính V.G.Kostomarov đã nhận xét: “Ngôn ngữ là tấm gương thực sựcủa nền văn hóa dân tộc” [116, tr.18] Ngay ở Việt Nam, một khái niệm “đen”
là phổ quát cho toàn nhân loại, những người Việt khi nói đến mắt đen là “mắthuyền”, ngựa đen là “ngựa ô”, chó đen là “chó mực”, quần đen là “quầnthâm”,… Cũng giống như tiếng Nga, tiếng Anh… chỉ cần dùng một vỏ âmthanh “Rix, Rice” cũng đủ diễn đạt hàng loạt khái niệm khác nhau của ngườiViệt: lúa, thóc, gạo, tấp, dẹp, trấu, cám,… Cũng nói thế với hàng loạt tư liệukhác, chẳng hạn Nguyễn Kim Thản nhận xét: người Mông Cổ có rất nhiều từ
để gọi ngựa, tuỳ theo lứa tuổi, màu sắc… Người Eskimo, do hoàn cảnh sống