So sánh đặc điểm thực vật của mẫu nghiên cứu với Alpinia blepharocalyx trong các tài liệu 23 3.2.. So sánh đặc điểm thực vật của mẫu nghiên cứu với Alpinia blepharocalyx trong các tài
Trang 1HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tại Bộ môn Dược liệu, trường Đại học Dược Hà Nội, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy cô, bạn bè và gia đình
Lời đầu tiên, với tất cả lòng biết ơn và sự kính trọng, tôi xin chân thành cảm
ơn PGS TS Nguyễn Hoàng Tuấn, người thầy tận tụy đã truyền cho tôi nhiệt
huyết và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn NCS Nguyễn Thanh Tùng, DS Nguyễn Văn Phương cùng toàn thể các thầy cô, anh chị kỹ thuật viên đã giúp đỡ, cũng như
tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin cảm ơn các chú, các bác ở Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Xin cảm ơn toàn thể anh chị, các bạn cùng nghiên cứu trên Bộ môn Dược liệu
đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu trên Bộ môn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn vô cùng sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ở bên cạnh, động viên, giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Phạm Thị Phương Loan
Trang 41.2.1 Đặc điểm thực vật và phân bố chi Alpinia 6
1.2.1.1 Đặc điểm hình thái thực vật của chi Alpinia 6
1.2.1.2 Chi Alpinia ở Việt Nam 6
1.2.2 Phân loại chi Aipinia ở Việt Nam 10
1.2.3 Thành phần hóa học 12
1.2.4 Giá trị sử dụng của chi Alpinia 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Phương tiện nghiên cứu 15
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm thực vật 16
2.2.2 Nghiên cứu thành phần hóa học 16
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu cảm quan 16
2.3.2 Phương pháp giám định tên khoa học 16
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hiển vi 17
2.3.4 Phương pháp hóa học 17
Trang 52.3.5 Phương pháp sắc ký lớp mỏng 17
2.3.6 Phương pháp xác định hàm lượng nước trong dược liệu 17
2.3.7 Phương pháp xác định hàm lượng tinh dầu trong dược liệu 18
2.3.8 Phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ 19
3.1.1 Đặc điểm thực vật 20
3.1.2 So sánh đặc điểm thực vật của mẫu nghiên cứu với Alpinia
blepharocalyx trong các tài liệu
23
3.2 Nghiên cứu đặc điểm vi học vi phẫu dược liệu 27
3.2.1 Đặc điểm vi phẫu lá 27
3.2.2 Đặc điểm vi phẫu thân rễ 29
3.3 Nghiên cứu về đặc điểm vi học bột dược liệu 31
3.6 Sắc ký lớp mỏng tinh dầu các bộ phận của cây Riềng dài lông mép 34
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
dd Dung dịch
DĐVN V Dược điển Việt Nam V
GC-MS Gas Chromatography-Mass Spectrometry
(Sắc ký khí kết hợp khối phổ)
HNU Herbarium of National University
HPTLC High Performance Thin Layer Chromatography
(Sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao)
RDLM Riềng dài lông mép
VFM Vietnam Forest Museum
(Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại thực vật họ Gừng ở Việt Nam sắp xếp
theo hệ thống John Kress & cộng sự (2002)
4
Bảng 1.3 Hàm lượng và thành phần tinh dầu một số loài thuộc chi
Alpinia ở Việt Nam
13
Bảng 3.1 So sánh đặc điểm thực vật của mẫu nghiên cứu với Alpinia
blepharocalyx trong các tài liệu
23
Bảng 3.2 Kết quả định tính sơ bộ các nhóm chất trong dịch chiết mẫu
nghiên cứu
33
Bảng 3.4 Kết quả định tính các thành phần tinh dầu các bộ phận của
mẫu nghiên cứu bằng SKLM
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 3.1 Ảnh chụp cây và một số bộ phận của cây Riềng dài lông mép 22
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Chi Riềng (Alpinia Roxb.) là một trong những chi lớn nhất của họ Gừng
(Zingiberaceae) với khoảng 250 loài trên toàn thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ châu Á, châu Úc đến quần đảo Thái Bình Dương, trong đó có cả Việt Nam Phần lớn các loài trong chi này ưa bóng, ưa ẩm, mọc dưới tán rừng, dưới bóng các cây khác, nhưng vẫn có số ít loài phát triển tốt ở những nơi ít bóng như ven đường lớn hay trảng cỏ Nhiều loài có giá trị tài nguyên quan trọng [5] Tính đến nay, chi này có 36 loài ở Việt Nam [14] Từ xưa đến nay, các loài trong chi Riềng đã được
sử dụng để lấy tinh dầu, làm gia vị, thức ăn và làm thuốc chữa bệnh Tinh dầu của các loài trong chi này có giá trị cao nên được sử dụng trong các lĩnh vực mỹ phẩm, dược phẩm, y học… Nhiều loài được dùng để bồi bổ sức khoẻ hoặc kết hợp với các vị thuốc khác để chữa các bệnh tiêu hóa, bệnh do thời tiết, đau dạ dày, hô hấp, xương khớp…[10] Ngoài ra, người dân cũng lấy ngọn hay lá nấu canh, làm rau ăn hoặc lấy hạt, củ, lá, thân
để làm gia vị cho các món ăn hàng ngày [10] Nhiều loài thuộc chi Alpinia được sử dụng
làm thuốc trong Y học cổ truyền như các loài Thảo đậu khấu để chữa dạ dày lạnh đau, nôn ra nước chua, tả lỵ Và thực tế, trên thị trường hiện nay, dược liệu Thảo đậu khấu
được mua từ nhiều nguồn khác nhau từ các loài thuộc chi Alpinia Vì thế, cần có những
nghiên cứu giúp cho việc nhận biết, phân biệt và chuẩn hóa dược liệu Thảo đậu khấu
trên thị trường Do đó, việc nghiên cứu các loài chi Alpinia nói chung và các loài Thảo
đậu khấu nói riêng là một việc vô cùng cần thiết
Trong chuyến điều tra thực địa tại thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc,
chúng tôi phát hiện ra có một loài thuộc chi Alpinia, được gọi là Riềng dài lông mép
Quả của loài này được dùng làm thuốc với tên vị thảo khấu Mẫu nghiên cứu được đem
về trồng ở Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam (VFM) tại xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội để theo dõi sự ổn định của loài Qua việc mô tả các đặc điểm hình thái và đối chiếu với các tài liệu [1], [5], [26]; tôi nhận thấy loài này mang các đặc điểm
của loài Alpinia blepharocalyx K Schum var blepharocalyx Vì vậy, khóa luận
“Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần tinh dầu của cây Riềng dài lông mép
(Alpinia blepharocalyx K Schum var blepharocalyx), họ Gừng (Zingiberaceae)”
được thực hiện với mục đích giám định tên khoa học và xác định thành phần hóa học của loài, làm cơ sở cho nghiên cứu phát triển và xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm dược liệu sau này
Trang 10Để thực hiện mục đích trên, đề tài này được tiến hành với 4 mục tiêu sau:
- Xác định đặc điểm hình thái, giám định tên khoa học, đặc điểm vi phẫu và đặc điểm bột lá và thân rễ của mẫu nghiên cứu
- Định tính sơ bộ các nhóm chất hữu cơ trong mẫu nghiên cứu thông qua các phản ứng hóa học
- Xác định hàm lượng tinh dầu trong lá, quả, thân rễ của mẫu nghiên cứu bằng phương pháp cất kéo hơi nước
- Xác định thành phần cấu tử trong tinh dầu cất được bằng sắc ký khí kết hợp khối phổ
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về họ Gừng (Zingiberaceae)
1.1.1 Vị trí phân loại
Theo Thực vật chí Đông Dương [28] và Hệ thống phân loại của Takhtajan [24], vị trí của họ Gừng (Zingiberaceae) trong giới thực vật như sau:
Giới (Kingdom) Thực vật (Planta)
Ngành (Division) Ngọc lan (Magnoliophyta)
Cây thảo, sống lâu năm Thân rễ khoẻ, có khi phồng lên như củ Thân khí sinh không
có hay mọc rất cao, do các bẹ lá ôm chặt với nhau tạo thành Lá đơn, nguyên, xếp thành
2 dãy song song Bẹ lá kéo dài thành lưỡi nhỏ Phiến lá có gân chạy song song Cụm hoa dạng bông, chùm, mọc ở gốc (từ thân rễ) hay mọc ở ngọn (từ thân khí sinh) [4] Hoa lưỡng tính, mẫu 3, đối xứng hai bên, có màu sắc, kích thước trung bình hoặc lớn [5] Đài 3, dính nhau tạo thành ống, trên chia 3 thùy Tràng dính nhau tạo thành ống, chia 3 thùy, thùy giữa thường lớn hơn 2 thùy bên Nhị 1, bao phấn 2 ô, chỉ nhị nạc, hình lòng máng 3 nhị thoái hóa dính nhau tạo thành cánh môi lớn, màu sắc sặc sỡ, 2 nhị còn lại tiêu giảm ở mức độ khác nhau, có khi lớn hơn cánh hoa, hay thành hình dạng dùi ở 2 bên gốc chỉ nhị hữu thụ, có khi tiêu giảm hoàn toàn Bộ nhụy 2 lá noãn, dính nhau tạo thành bầu dưới, 3 ô, đính noãn trung trụ, mỗi ô nhiều noãn, có khi chỉ còn 1 ô Vòi nhụy hữu thụ 1, mang núm nhụy hình phễu xuyên qua khe giữa của 2 ô phấn và thò ra ngoài,
2 vòi còn lại không sinh sản, tiêu giảm ở gốc vòi hữu thụ Quả nang, ít khi là quả mọng Hạt có nội nhũ và ngoại nhũ [4]
1.1.3 Phân loại thực vật họ Gừng
Tháng 7 năm 2002, tại hội nghị chuyên đề lần III về Zingiberaceae tổ chức tại Thái Lan Dr W John Kress đã đề nghị một cách phân loại họ Gừng mới Đây là hệ thống phân loại đầy đủ và tiên tiến nhất hiện nay, dựa trên phân tích phân tử sinh học và hình thái để xác định mối liên hệ giữa các taxon, phù hợp với nguyên tắc phân loại hiện đại,
có ưu điểm vượt trội so với các hệ thống phân loại họ Gừng trước đây Theo hệ thống
Trang 12phân loại này thì họ Gừng được xếp thành 4 phân họ là Siphonochiloideae, Tamijoideae, Alpinioideae và Zingiberoideae với 53 chi và 6 tông [1].
Ở Việt Nam, các chi trong họ Gừng được sắp xếp theo hệ thống này thành 2 phân họ
và 3 tông như bảng sau:
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại thực vật họ Gừng ở Việt Nam sắp xếp theo hệ thống John Kress & cộng sự (2002)
Phân họ.1 Alpinioideae Phân họ.2 Zingiberoideae
Tông.1 Alpinieae Tông.2 Zingibereae Tông.3 Globbeae
Cụ thể, khóa định loại các chi họ Gừng ở Việt Nam như sau:
1A Nhị lép bên tiêu giảm hay dạng răng, dạng dùi, hiếm khi là dạng trứng hẹp (Phân
họ.1 Alpinioideae) (Tông.1 Alpinieae)
2A Cụm hoa trên ngọn thân có lá
3A Nhị lép bên tiêu giảm hay dạng răng, dạng dùi; quả hình cầu, bầu dục, hiếm khi
là hình thoi……….1 Alpinia 3B Nhị lép bên hình trứng ngược hẹp; quả dạng quả cải………… 2 Siliquamomum
2B Cụm hoa mọc từ thân rễ, riêng với thân có lá
4A Hoa nhiều, xếp sít nhau trên trục cụm hoa; các lá bắc xếp lợp lên nhau
5A Lá bắc con hình trứng, mở đến gốc………3 Hornstedtia
5B Lá bắc con hình ống, không mở
6A Các hoa xếp theo vòng tròn đồng tâm………4 Etlingera
6B Các hoa xếp dọc theo trục cụm hoa; cánh môi hình tròn, trứng hay hình bầu
dục……… ….5 Amomum
Trang 134B Hoa ít, xếp thưa trên trục cụm hoa; các lá bắc không xếp lợp lên nhau
7A Lá bắc con hình ống; phần trên đài xẻ một bên……….6 Geostachys
7B Lá bắc con mở đến gốc; phần trên đài xẻ thành 2-3 răng ngắn
8A Trục cụm hoa mảnh, dài, cong xuống; lá bắc bao 1 cụm nhỏ có 3-4
hoa……… …… 7 Elettaria 8B Trục cụm hoa rất ngắn, thẳng; lá bắc bao 1 cụm nhỏ có 1-2 hoa 8 Elettaiopsis
1B Nhị lép bên dạng cánh tràng, hiếm khi là dạng dùi (Phân họ.2 Zingiberoideae)
9A Bầu 3 ô, noãn đính trụ giữa (Tông.2 Zingibereae)
10A Nhị lép bên dạng cánh tràng dính với cánh môi; vòi nhụy được bao bởi phần
phụ trung đới của bao phấn kéo dài……….….9 Zingiber
10B Nhị lép bên dạng cánh tràng không dính với cánh môi; vòi nhụy không được bao bởi phần phụ trung đới của bao phấn kéo dài
11A Cụm hoa được bao bởi lá bắc hình chuông……….10 Stahlianthus
11B Cụm hoa không được bao bởi lá bắc hình chuông
12A Các lá bắc dính với nhau ở nửa dưới làm thành dạng túi………11 Curcuma
12B Các lá bắc không dính với nhau ở nửa dưới và không thành dạng túi
13A Cụm hoa trên ngọn thân có lá
14A Lá bắc con hình ống……… 12 Hedychium
14B Lá bắc con không hình ống, mở đến gốc hay tiêu giảm
15A Lá bắc hình mũi mác hẹp, bao 1 cụm nhỏ có 1-4 hoa; gốc 2 thùy tràng
bên không dính với cánh môi………13 Caulokaempferia
15B Lá bắc dạng thuyền chỉ bao 1 hoa; gốc 2 thùy tràng dính với cánh
Trang 1418A Cánh môi khía mép hay chia thùy, không có thùy giữa; cụm hoa trên ngọn
thân có lá………18 Globba
18B Cánh môi chia 3 thùy, thùy giữa nhỏ như chỉ, 2 thùy bên dạng cánh hoa; cụm
hoa mọc từ gốc thân……… …19 Gagnepainia
1.2 Tổng quan về chi Alpinia
1.2.1 Đặc điểm thực vật và phân bố chi Alpinia
1.2.1.1 Đặc điểm hình thái thực vật của chi Alpinia
Cây thảo, thân giả phát triển, cao 1-3(4) m [5], có loài cao tới hơn 10 m [17], đôi khi không có [26]; thân rễ khoẻ và phát triển phân nhánh, thường nằm trên hoặc ngay dưới mặt đất, có thể nằm sâu trong lòng đất [17] Lá nhiều, phiến lá hình bầu dục dài hay hình mác, có cuống hay không Cụm hoa hình chùy, chùm hoặc bông, dày đặc hoặc thưa thớt được bao bởi 1-3 tổng bao lá bắc hình thìa khi còn non Lá bắc thường mở tới gốc, hiếm khi dạng túi Lá bắc con mở tới gốc hoặc hình ống, đôi khi bị tiêu giảm Đài hoa thường dạng ống, đôi khi xẻ 1 bên hay chia 3 thùy nhỏ hình răng Tràng có phần dưới hình ống, phần trên chia 3 thùy, thùy lưng thường to hơn hai thùy bên Cánh môi to, có màu sặc
sỡ, thường to rộng hơn các thùy tràng, phía đầu xẻ thành 2-3 thùy hay nguyên Nhị có chỉ nhị hình bản, ngắn hoặc dài, bao phấn 2 ô Nhị lép bên 2, tiêu giảm thành hình dùi, hình răng hay tiêu giảm hoàn toàn Bầu hình cầu hoặc hình gần cầu, vòi nhụy mảnh; núm nhụy thường loe thành hình phễu, đôi khi có hình chùy Vòi nhụy lép ngắn, hình bản hay dùi Quả nang hình cầu hay hình bầu dục, tự mở hoặc mở không đều Hạt nhiều, thường có góc cạnh, có áo hạt [5]
1.2.1.2 Chi Alpinia ở Việt Nam
Alpinia là một trong những chi lớn của họ Gừng Theo thống kê trong luận án tiến sĩ
sinh học “Nghiên cứu phân loại họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở Việt Nam” [1] của
tác giả Nguyễn Quốc Bình, và Thực vật chí Việt Nam [5], đến năm 2011, chi Alpinia ở
Việt Nam có khoảng 31 loài khác nhau Năm 2015, bổ sung thêm vào hệ thực vật Việt
Nam loài Alpinia polyantha D Fang (Riềng nhiều hoa) [10] Năm 2017, bổ sung thêm loài Alpinia newmanii N S Lý (Riềng newman) [19] và loài Alpinia rugosa S J Chen
& Z Y Chen (Riềng lá nhăn) [12] Và tính đến hết năm 2018, 2 loài mới thuộc chi
Alpinia được phát hiện thêm là Alpinia coriandriodora D Fang [15] và Alpinia graminifolia D Fang & G Y Lo [14] Như vậy, cho đến nay, có 36 loài thuộc chi Alpinia được biết đến ở Việt Nam
Trang 15Các loài được liệt kê dưới bảng sau:
Bảng 1.2 Các loài thuộc chi Alpinia ở Việt Nam
STT Tên khoa học Tên Việt Nam Phân bố
1 Alpinia globosa (Lour.)
Horan [5]
Sẹ Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang,
Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Gia Lai, các tỉnh Nam Bộ
Hance [5]
Riềng thuốc Mọc hoang dại và được trồng phổ
biến ở Việt Nam
Schum [5]
Riềng đuôi nhọn
Lai Châu, Vĩnh Phúc
(Burm f.) Rose [5]
Riềng malacca
Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hải Phòng, Ninh Bình, Kon Tum
8 Alpinia gagnepainii K
Schum [5]
Riềng gapnepain
Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Ninh Bình, Quảng Bình, Quảng Trị, Kon Tum, Lâm Đồng
9 Alpinia zerumbet (Pers.)
Burtt & R M Smith [5]
Riềng đẹp Lào Cai, Cao Bằng, Hà Nội, Ninh
Bình, Đắk Lắk, Khánh Hòa
(Gagnep.) Gapnep [5]
Riềng lưỡi ngắn
Mới thấy ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế
11 Alpinia velutina Ridl [5] Riềng lông Mới thấy ở Cao Bằng, Quảng Trị,
Thừa Thiên-Huế, Lâm Đồng
Trang 1612 Alpinia galanga (L.)
Wild [5]
Riềng nếp Mọc hoang và được trồng nhiều ở
Việt Nam như Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Kon Tum, Lâm Đồng
13 Alpinia mutica Roxb [5] Riềng không
mũi
Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh
14 Alpinia oxyphylla Miq
Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Tĩnh
17 Alpinia hainamensis K
Schum [5]
Riềng hải nam Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang,
Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Kon Tum, Lâm Đồng,
Bà Rịa-Vũng Tàu
18 Alpinia blepharocalyx K
Schum [5]
Riềng dài lông mép
Lào Cai, Sơn La, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Lâm Đồng
Riềng pinna Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ, Vĩnh
Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Nghệ An,
Thừa Thiên-Huế
Trang 1721 Alpinia strobiliformis T
L Wu & S J Chen [5]
Riềng bông tròn
Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh
22 Alpinia hirsuta (Lour.)
Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai
29 Alpinia maclurei Merr
[5]
Riềng maclure
Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Kon Tum
Gagnep [5]
Ré bắc bộ Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ, Vĩnh
Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam
31 Alpinia latilabris Ridl
[5]
Ry Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Nội,
Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế,
Trang 18Quảng Nam, Bà Rịa-Vũng Tàu, cũng được trồng ở miền nam Việt Nam
Fang [10]
Riềng nhiều hoa
Nghệ An, Quảng Ngãi
33 Alpinia newmanii N S
Lý [19]
Riềng newman
Quảng Ninh, Bắc Giang
1.2.2 Phân loại chi Aipinia ở Việt Nam
Tính đến năm 2011, ở Việt Nam có 31 loài thuộc chi Alpinia [1]
KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI CHI ALPINIA Ở VIỆT NAM [1]
1A Phần phụ trung đới không kéo dài thành mào
2A Cụm hoa dạng chùy
3A Lá bắc con dạng vảy, dài dưới 1 mm
4A Cụm hoa nhiều nhánh……… 1 A globosa 4B Cụm hoa không phân nhánh……….….2 A officinarum
3B Lá bắc con không dạng vảy, dài hơn 1 mm
5A Lá bắc con không mở đến gốc, dạng phễu hay ống
6A Cánh môi hình trứng ngược, dài 4-5 mm, đầu xẻ thành 3 thùy; vòi nhụy lép
hình nón tù, sần sùi……… ……….3 A conchigera
6B Cánh môi hình trái xoan, dài 8-10 mm, đầu xẻ thành 2 thùy nông; vòi nhụy lép
hình trái xoan hẹp, dạng bản dày……… ……….……4 A siamensis
5B Lá bắc con mở đến gốc, không dạng phễu hay ống
7A Đầu ống đài chia thành 4 thùy……… 5 A menghaiensis
7B Đầu ống đài chia thành 3 thùy
8A Lá bắc tiêu giảm hay dài đến 1 mm
Trang 199A Mặt dưới phiến lá có lông
10A Cụm hoa phân nhánh, nhị lép mảnh, dài đến 4 mm…… 6 A macroura
10B Cụm hoa không phân nhánh, nhị lép tiêu giảm thành dạng thể
11B Đài hoa không xẻ xiên xuống 1 bên
13A Ống đài dài 0,8-1 cm……… …… 10 A breviligulata 13B Ống đài dài 1,8-2 cm……… ……… 11 A velutina
8B Lá bắc dài hơn 1mm
14A Đài hoa dạng ống, dài 7-8 mm; cánh môi màu trắng, đầu xẻ sâu xuống ½
chiều dài thành 2 thùy……… 12 A galanga
14B Đài hoa dạng phễu, dài 1,5-2 cm; cánh môi màu vàng, có nhiều đốm đỏ, đầu
chia 3 thùy không rõ……… … 13 A mutica
2B Cụm hoa dạng chùm hay dạng bông
15A Cụm hoa dạng chùm
16A Lá bắc con tiêu giảm, ống đài dài 0,8-1,2 cm
17A Mặt trên lá không có sọc xanh-trắng và xanh sẫm xen kẽ; cánh môi dài 1,8-2,5
cm; chỉ nhị dài 2-2,3 cm……… 14 A oxyphylla
17B Mặt trên lá có sọc xanh-trắng và xanh sẫm xen kẽ; cánh môi dài 1-1,2 cm; chỉ
nhị dài 0,8-1 cm……… … 15 A pumila
16B Lá bắc con dài 2-4 cm, ống đài dài 1,8-3 cm
18A Cuống lá dài 4-8 cm; thùy tràng dài 1,8-2 cm…… … 16 A kwangsiensis
18B Cuống lá dài 0,5-2 cm; thùy tràng dài 2,5-3 cm
19A Lá bắc dài 4-4,5 cm; ống tràng dài 1-1,2 cm; chỉ nhị dài 1,3-1,5
cm……… 17 A hainamensis
19B Lá bắc tiêu giảm; ống tràng dài 2,2-2,5 cm; chỉ nhị dài 0,6-0,8
cm……… 18 A blepharocalryx
15B Cụm hoa dạng bông
Trang 2020A Phiến lá nhẵn, trừ mép và đầu phiến lá; cánh môi dài hơn thùy
tràng……….19 A stachyoides
20B Mặt dưới phiến lá nhiều lông, cánh môi dài gần bằng thùy tràng
21A Cuống lá dài 2,5-4,5 cm; cụm hoa bông gần như hình
trụ……… …20 A pinnanensis
21B Cuống lá dài đến 1 cm; cụm hoa bông, dạng gần tròn hay hình
nón……… 21 A strobiliformis
1B Phần phụ trung đới kéo dài thành mào
22A Đầu ống đài chia thành 4 thùy dạng răng; cánh môi chia 4
thùy… 22 A hirsuta
22B Đầu ống đài chia thành 2-3 thùy dạng răng; cánh môi không thành chia 4 thùy 23A Lá bắc màu đỏ tươi; đầu ống đài chia thành 2 thùy dạng
răng……… 23 A purpurata
23B Lá bắc không có màu đỏ tươi; đầu ống đài chia thành 3 thùy dạng răng
24A Cuống lá không có hay dài dưới 1 cm
25A Quả hình thoi, có 10-12 cạnh nổi ……….…24 A oxymitra
25B Quả hình bầu dục hay hình cầu, không có cạnh nổi
26A Lá bắc con cỡ 1,2-1,4 x 0,8-1 cm, bao 2-3 hoa……… … 25 A calcicola 26B Lá bắc con cỡ 0,2-0,4 x 0,1-0,2 cm, bao 1 hoa……… 26 A oblongifolia
24B Cuống lá dài trên 1cm
27A Lá bắc dài 4-6 cm; cánh môi nguyên……… 27 A phuthoensis
27B Lá bắc dài dưới 4 cm hay tiêu giảm; cánh môi xẻ 2-3 thùy
28A Lưỡi lá dài dưới 1cm ……….28 A intermedia
28B Lưỡi lá dài trên 1cm
29A Lá bắc con dài 0,7-0,8 cm; thùy tràng dài 1-1,2 cm……… …29 A maclurei
29B Lá bắc con dài 1,2-3,5 cm; thùy tràng dài 1,5-3,8 cm
30A Lá bắc con dài 1,2-1,4 cm; đài dài 0,8-0,9 cm; thùy tràng dài 1,5-1,8
cm……… … 30 A tonkiensis
30B Lá bắc con dài 3-3,5 cm; đài dài 2-2,5 cm; thùy tràng dài 3,2-3,8
cm……… …31 A latilabris
1.2.3 Thành phần hóa học
Trang 21Hiện nay chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu một cách tổng quát về thành phần hóa
học của các loài thuộc chi Alpinia, các thông tin về thành phần hóa học chủ yếu dựa trên
các nghiên cứu về loài đơn lẻ Theo đó, thành phần hóa học chính của các loài thuộc chi
Alpinia bao gồm:
v Tinh dầu: Hầu hết các loài thuộc chi Alpinia đều có chứa tinh dầu với các thành phần chủ yếu là các hợp chất mono- và sesquiterpenoid Tuy nhiên, tùy từng loài mà có
sự tích lũy hàm lượng tinh dầu khác nhau
Bảng 1.3 Hàm lượng và thành phần tinh dầu một số loài thuộc chi Alpinia ở Việt Nam
Loài - Nơi thu hái Lá Thân
giả Thân rễ Hoa Quả
Trang 22v Thành phần khác:
• Các hợp chất steroid (b-sitosterol, 6b-hidroxistigmast-4-en-3-on và b
sitosterol-3-O-b-D-glucopyranoside) và các hợp chất phenolic (alpinentin, cardamomin và 3,5-dihidroxy-1,7-diphenyl-l-hepten) được phân lập từ loài Alpinia pinnanensis T L
trans-Wu & S J Chen [8]
• Các flavonoid như galangin, 3-O-methyl galangin được phân lập từ thân rễ cây
Alpinia officinarum Hance [25]; 4’,7-dimethylkaempferol,
5-hydroxy-3’,4’,7-trimethoxyflavanone, 4’,5,7-trimethoxyflavonol, kaempferol được phân lập từ thân rễ
cây Alpinia tonkinensis Gagnep [27]
1.2.4 Giá trị sử dụng của chi Alpinia
1.2.4.1 Nhóm cây cho tinh dầu
Hầu hết tất cả các loài trong họ Gừng (Zingiberaceae) nói chung và chi Riềng
(Alpinia) nói riêng đều có chứa tinh dầu Tùy theo từng loài, từng chi mà hàm lượng
tinh dầu thu được khác nhau Tinh dầu có giá trị cao nên được sử dụng trong các lĩnh
vực mỹ phẩm, dược phẩm, y học… Cụ thể một số loài như: Ry (A latilabris Ridl.), Riềng malacca (A malaccensis (Burm f.) Rose), Riềng meng hai (A menghaiensis S
Q Tong & Y M Xia), Riềng nhiều hoa (A polyantha D Fang), Riềng pinna (A
pinnanensis T L Wu & S J Chen)… [11]
1.2.4.3 Nhóm cây ăn được
Một số loài được người dân lấy ngọn hay lá nấu canh hoặc làm rau ăn trong bữa ăn
hàng ngày như Riềng quảng tây (A kwangsiensis T L Wu & S J Chen), Riềng meng hai (A menghaiensis S Q Tong & Y M Xia)… [11]
1.2.4.4 Nhóm cây gia vị
Một số loài dùng được cả hạt, củ, lá, hoặc thân để làm gia vị cho các món ăn hàng
ngày ngon miệng hơn, điển hình như Riềng nếp (A galanga (L.) Wild.), Lương khương (A oblongifolia Hayata), Riềng thuốc (A officinarum Hance)… [11]
Trang 23CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phương tiện nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm phần trên mặt đất (thân giả, lá, cụm hoa, quả) và phần
dưới mặt đất (thân rễ) của cây Riềng dài lông mép (Alpinia blepharocalyx) có nguồn
gốc tại thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc và được trồng theo dõi tại Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam (VFM) tại xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội được thu hái vào 2 thời điểm là ngày 23/07/2018 và ngày 28/02/2019 Sau khi thu hái, mẫu được làm khô tự nhiên trong bóng râm; mẫu lá, quả và thân rễ được giữ ở dạng tươi để cất tinh dầu Một phần lá và thân rễ được bảo quản trong cồn
60o để làm vi phẫu thực vật Một phần mẫu được để khô tự nhiên, bảo quản trong túi nilon sạch, sử dụng để định tính sơ bộ các hợp chất hữu cơ khác (lá, thân rễ) và làm mẫu
vi phẫu học bột (lá, thân rễ)
Tiêu bản thực vật khô gồm bẹ lá, cuống lá, phiến lá và cụm hoa được lưu giữ tại Bảo tàng thực vật (HNU), khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội với mã số tiêu bản là HNU 024063 và 024064 (Phụ lục 2)
2.1.2 Phương tiện nghiên cứu
2.1.2.1 Hóa chất, dung môi
v Dùng trong nghiên cứu đặc điểm thực vật: nước cất, nước Javen, acid acetic 5%, cloralhydrat 75%, xanh methylen, đỏ son phèn, glycerin
v Dùng trong định tính sơ bộ các thành phần hóa học: NaOH 10%, FeCl3 5%, HCl đặc, H2SO4 đặc, TT diazo, TT Fehling A & B, Na2CO3, chì acetat 10%, dd gelatin 1%,
TT Mayer, TT Dragendorff, TT Bouchardat, acid picric…
v Dùng trong SKLM và GC-MS:
• Dung môi: ethanol, ethyl acetat, n-hexan, methanol, nước cất…
• Bản mỏng Silicagel 60 - F254 của Merck
Trang 24• Dao lam, phiến kính, lam kính
• Dụng cụ khác: nồi cất tinh dầu thể tích 5 lít, bát sứ, chày, cối, thuyền tán, khay tráng men…
v Máy móc, thiết bị:
• Máy xay
• Tủ sấy, bếp điện
• Cân kĩ thuật Sartorius TE412
• Bộ dụng cụ cất tinh dầu theo Dược điển Mỹ (USP29)
• Kính hiển vi LEICA DM 1000
• Máy ảnh Canon Cyber-shot
• Hệ thống sắc ký bản mỏng bán tự động CAMAG (HPTLC)
• Máy sắc ký khí kết hợp khối phổ Agilent Technologies (GC-MS)
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm thực vật
v Mô tả đặc điểm hình thái của mẫu nghiên cứu, xác định tên khoa học của mẫu nghiên cứu
v Mô tả đặc điểm vi học của mẫu nghiên cứu:
• Vi phẫu: lá, thân rễ
• Bột: lá, thân rễ
2.2.2 Nghiên cứu thành phần hóa học
v Định tính sơ bộ các hợp chất hữu cơ có trong mẫu
v Xác định hàm lượng tinh dầu trong quả, lá, thân rễ
v Định tính các thành phần hóa học trong tinh dầu quả, lá, thân rễ bằng SKLM
v Xác định thành phần cấu tử của tinh dầu trong quả, lá, thân rễ bằng phương pháp GC-MS
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu cảm quan
Quan sát và mô tả các bộ phận của mẫu nghiên cứu về các đặc điểm thực vật, hình dáng, kích thước, màu sắc, mùi bằng mắt thường và chụp ảnh trong điều kiện có đủ ánh sáng tự nhiên, tốt nhất là ánh sáng mặt trời
2.3.2 Phương pháp giám định tên khoa học
Trang 25Giám định tên khoa học của cây trên cơ sở phân tích các đặc điểm hình thái, đặc điểm
của bộ phận sinh sản; so sánh, đối chiếu với loài Alpinia blepharocalyx K Schum var
blepharocalyx trong các tài liệu [5], [26]; đối chiếu với Khóa phân loại thực vật trong
tài liệu [1]; cùng với sự hỗ trợ của các chuyên gia phân loại thực vật tại Bảo tàng thực vật (HNU) để xác định tên khoa học của loài
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hiển vi
v Đặc điểm vi phẫu: mẫu dược liệu (lá, thân rễ) được cắt, nhuộm, lên tiêu bản theo các bước như tài liệu [13], mô tả đặc điểm vi phẫu và chụp ảnh
v Đặc điểm bột: lá, thân rễ của dược liệu được nghiền nhỏ thành bột bằng thuyền tán, rây qua rây 180 lấy bột mịn, lên tiêu bản và quan sát, mô tả đặc điểm của bột và chụp ảnh [13]
- Pha tĩnh: bản mỏng Silicagel 60 - F254 của Merck
- Pha động: hệ dung môi khai triển: Hệ 1: n-hexan - EtOAc (85:15)
Hệ 2: n-hexan - EtOAc (8:2)
• Sau khi khai triển sắc ký, sấy nhẹ bản mỏng cho bay hơi hết dung môi Quan sát
và chụp ảnh sắc ký đồ ở bước sóng 254 và 366 nm Phun TT hiện màu vanilin/ethanol/H2SO4 đặc, chụp ảnh sắc ký đồ sau khi hiện màu ở ánh sáng thường, ở bước sóng 254 và 366 nm
2.3.6 Phương pháp xác định hàm lượng nước trong dược liệu
Hàm lượng nước trong dược liệu được xác định bằng phương pháp cất với dung môi [6]
Trang 26• Rửa sạch ống hứng và ống sinh hàn với nước rồi làm khô
• Thêm 200 ml toluen (TT) và khoảng 2 ml nước vào bình cầu khô Cất khoảng 2 giờ, để nguội trong 30 phút rồi đọc thể tích nước cất được ở ống hứng (V1), chính xác đến 0,05 ml
• Thêm vào bình cầu một lượng m (g) mẫu thử đã cân chính xác tới 0,01 g có chứa khoảng 2-3 ml nước Thêm vài mảnh đá bọt Đun nóng nhẹ trong 15 phút; khi toluen bắt đầu sôi thì điều chỉnh nguồn cấp nhiệt để cất với tốc độ khoảng 2 giọt dịch cất trong
1 giây Khi đã cất được phần lớn nước sang ống hứng thì nâng tốc độ cất lên 4 giọt dịch cất trong 1 giây Tiếp tục cất cho đến khi mực nước cất được trong ống hứng không tăng lên nữa
• Dùng 5 ml đến 10 ml toluen (TT) rửa thành trong ống sinh hàn rồi cất thêm 5 phút nữa Sau đó, tách bộ cất ra khỏi nguồn cấp nhiệt, để cho ống hứng nguội đến nhiệt
độ phòng Nếu còn những giọt nước còn đọng trên thành ống sinh hàn thì dùng 5 ml toluen (TT) để rửa kéo xuống Khi lớp nước và lớp toluen đã được phân tách hoàn toàn, đọc thể tích nước trong ống hứng (V2)
• Hàm lượng nước trong dược liệu được tính theo công thức sau:
𝑋% = %&&.()* + ),)
.
Trong đó: V1: số ml nước cất được sau lần cất đầu;
V2: số ml nước cất được sau lần cất thứ hai; m: số g mẫu đã cân đem thử
2.3.7 Phương pháp xác định hàm lượng tinh dầu trong dược liệu
Sử dụng bộ dụng cụ định lượng tinh dầu theo Dược điển Mỹ (USP29)
• Mẫu thân rễ, lá, quả của dược liệu sau khi thu hái được bảo quản trong túi nilon
để trong bóng râm
• Các mẫu dược liệu được chia nhỏ Cân chính xác một lượng mẫu nhất định đem
đi cất tinh dầu, một lượng phù hợp đem xác định hàm ẩm
• Cho dược liệu vào nồi cất, thêm nước ngập dược liệu khoảng 3-4 cm
• Lắp đặt bộ dụng cụ cất tinh dầu và tiến hành cất kéo hơi nước, cất cho đến khi thể tích tinh dầu không tăng lên nữa (thời gian cất khoảng 5-6 giờ) Đọc thể tích tinh dầu sau khi cất
• Xác định hàm lượng tinh dầu theo tỉ lệ phần trăm thể tích trên khối lượng dược liệu khô tuyệt đối theo công thức:
Trang 27𝐻% = 1.(%&&+2)).%&0
Trong đó: H%: hàm lượng tinh dầu (%);
V: thể tích tinh dầu cất được (ml);
M: khối lượng dược liệu đem cất (g);
X: độ ẩm của dược liệu (%)
2.3.8 Phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ
Sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS) gồm có thiết bị sắc ký khí kết nối với detector khối phổ Mẫu sau tách trên cột phân tích của thiết bị sắc ký khí sẽ được detector khối phổ nhận biết Hiện nay, phương pháp này được áp dụng phổ biến để định tính (dựa vào thời gian lưu) hay định lượng (dựa vào chiều cao hay diện tích peak) tinh dầu
Hệ thống máy sắc ký GC-MS được thực hiện trên hệ thống GC: Agilent Technologies
7890 A và hệ thống MS: Agilent Technologies 5975 C, cột sắc ký HP-5MS với chiều dài cột 30 m, đường kính cột 0,25 mm Khí mang Heli, tốc độ khí mang 1 ml/phút Tinh
dầu được pha loãng với dung môi n-hexan, thể tích tiêm mẫu 1 microlit, không chia
dòng Cài đặt các thông số nhiệt độ thích hợp
Phổ được so sánh với thư viện Wiley, Flavor và Nist để phân tích kết quả
Tiến hành:
• Pha loãng tinh dầu cất được bằng dung môi n-hexan đến nồng độ 1/1000 Lọc
bằng giấy lọc và cho vào lọ vial
• Khởi động hệ thống sắc ký khí
• Cài đặt chương trình nhiệt độ: 45oC trong 5 phút, sau đó tăng dần lên 240oC (tốc
độ 4oC/phút) đến phút thứ 70 và tối đa 280oC (tốc độ 10oC/phút) đến phút 74
• Tiến hành phân tích
Trang 28CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ, BÀN LUẬN
3.1 Nghiên cứu về thực vật
3.1.1 Đặc điểm thực vật
Cây thuộc loại thân thảo, sống nhiều năm Thân khí sinh do các bẹ lá hình lòng máng
ôm chặt tạo thành dòng (C), cao khoảng 1,5-3 m, có khi lên tới 4 m; đường kính khoảng
2-4 cm; có màu xanh, hơi xám vàng, bề mặt có khía, không có lông
Thân rễ khoẻ, bò dưới lòng đất, bề mặt có lá tiêu giảm thành vảy mỏng, màu nâu, có mùi thơm nhẹ Thiết diện ngang của thân rễ hình tròn, đường kính 2-4 cm, có khi lên tới
6 cm; màu trắng (L)
Lá đơn, nguyên, mọc so le, hướng lên trên, cuống lá hợp với thân một góc khoảng
45o (A) Phiến lá mỏng, hình mũi mác, ngọn lá nhọn, dài khoảng 20-100 cm, rộng
khoảng 10-20 cm Mặt trên phiến lá xanh đậm, không có lông; mặt dưới màu xanh nhạt, được phủ bởi lớp lông tơ mịn Độ dày phiến lá giảm dần từ cuống lên đến ngọn và từ gân ra đến mép lá Phần ngọn lá và mép lá được phủ đầy lông mịn Gân chính chạy thẳng từ cuống lên ngọn với kích thước giảm dần, đường kính khoảng 0,3-0,5 cm; gân chính lồi ở mặt dưới và lõm ở mặt trên Các gân phụ rất nhỏ, chạy song song với nhau
và hợp với gân chính một góc 45o về phía ngọn lá Cuống lá màu xanh phủ nhiều lông mịn, thiết diện gần tròn, đường kính khoảng 0,5-0,7 cm, dài khoảng 1,5-2,5 cm Lưỡi
nhỏ dài khoảng 1 cm, màu xanh nhạt, được phủ đầy lông ở mép và đỉnh (C)
Cụm hoa dạng chùm, mọc ở ngọn thân; cuống màu xanh, thẳng, dài khoảng 20-35
cm và được phủ đầy lông cứng (B) Tổng bao lá bắc hình trứng hẹp, màu xanh, mép nâu
đỏ, dài khoảng 12-20 cm, dễ rụng (C) Lá bắc con màu nâu, xẻ đến gốc, đầu có lông, khô, giòn và dễ rụng (M) Mỗi lá bắc con bao một hoa Hoa to, không đều, lưỡng tính, mẫu 3 Mỗi hoa dài khoảng 5-6 cm (E) Cuống hoa ngắn, khoảng 0,5-1 cm; mỗi cuống
mang một hoa Đài hoa hình ống, dài khoảng 2-2,5 cm, xẻ sâu một bên, màu trắng; phần
đỉnh có màu nâu, chia 3 răng, trên có lông mi (M) Tràng hoa có kiểu hình hoa lan Ống
tràng trắng, dài khoảng 2,5-3,5 cm, phần trên chia 3 thùy màu trắng Thùy lưng hình trứng, dài khoảng 3 cm, rộng khoảng 2 cm 2 thùy bên hình elip, chiều rộng bằng nửa
thùy lưng (M)
Cánh môi lớn dài khoảng 4,5 cm chia 2 phần: phần trên hẹp hơn chia 2 thùy, hơi nhăn
và phần dưới rộng gấp 3 lần phần trên (phần dưới rộng khoảng 4,5 cm) Ở giữa cánh môi có màu đỏ sẫm xen kẽ các vệt vàng-trắng, phần trung tâm có màu cam, 2 bên mép
Trang 29màu vàng-trắng và phần đỉnh có các sọc đỏ-cam (M) Chỉ nhị màu trắng - hơi đỏ ở phần dưới, kích thước 8 x 2-3 mm, ôm lấy vòi nhụy, phần phụ trung đới không có (G) Nhị
hữu thụ thuộc vòng trong, đối diện với cánh môi; nhị lép 2 bên hình dùi, dài khoảng 3
mm; vòng nhị ngoài mất hẳn Bao phấn 2 ô, dài khoảng 1,5 cm, đính ở gốc (G) Vòi
nhụy hình sợi, trắng, dài khoảng 4-5 cm, chui qua khe hở giữa bao phấn và thò ra ngoài
(G) Đầu nhụy trắng, loe thành phễu rộng khoảng 1,5 mm, trên có rất nhiều lông mịn (H) Bầu hình bầu dục, dài khoảng 5 mm, đường kính khoảng 4 mm, bên ngoài phủ
nhiều lông cứng, tuyến mật màu vàng đậm Ba lá noãn tạo thành bầu dưới 3 ô, mỗi ô
chứa nhiều noãn đính trung trụ (I)
Quả nang, hình cầu hoặc hình bầu dục, đường kính khoảng 1-3 cm Quả khi non có
màu xanh, khi chín chuyển dần sang vàng, cam, rồi chuyển dần sang đỏ (J) Bên trong
chứa rất nhiều hạt đa giác màu xanh (khi non) đến nâu (khi chín) tạo thành khối cầu,
được phủ bởi một lớp áo hạt màu trắng trong, có mùi thơm (K) Hạt có nội nhũ
Trang 30Hình 3.1 Ảnh chụp cây và một số bộ phận của cây Riềng dài lông mép
Trang 313.1.2 So sánh đặc điểm thực vật của mẫu nghiên cứu với Alpinia blepharocalyx trong các tài liệu
Bảng 3.1 So sánh đặc điểm thực vật của mẫu nghiên cứu với Alpinia blepharocalyx trong các tài liệu
Đặc điểm Mẫu nghiên cứu Alpinia
blepharocalyx
[5]
Alpinia blepharocalyx
Cây thân thảo
Thân giả Cao 1,5-3 m, có khi cao tới
4 m, đường kính 2-4 cm
Màu xanh, hơi vàng, bề mặt có khía, không lông
Cao 1,5-2,5 m Cao 1-3 m
Thân rễ Thân rễ khoẻ, bề mặt có lá
tiêu giảm thành vảy mỏng màu nâu Đường kính 2-4
lá
Mỏng, hình mũi mác, ngọn lá nhọn, kích thước
20-100 cm x 10-20 cm
Mặt trên xanh đậm, không
có lông; mặt dưới xanh nhạt, có lông Mép và ngọn lá phủ nhiều lông
Hình mũi mác hẹp, kích thước
35-60 x 4-15 cm
Mặt trên nhẵn;
mặt dưới có lông thưa hoặc không
Hình mác hay mác ngược, kích thước
45-60 x 4-15 cm,
đầu thuôn dài, có đỉnh nhọn
Gần trục xanh đậm, không lông;
xa trục xanh nhạt,
có lông hoặc không lông hoặc suy giảm
Trang 32Gân lá Gân chính chạy dọc lá,
đường kính khoảng 0,5cm
0,3-Mặt dưới lồi, mặt trên lõm
Gân phụ hợp với gân chính góc khoảng 45o, hướng về ngọn lá
Cuống
lá
Dài từ 1,5-2,5 cm, thiết
diện gần tròn, đường kính 0,5-0,7 cm
Màu xanh, phủ nhiều lông mịn
Dạng chùm rủ 20-30 cm
Màu xanh, elip 3-4 cm
Khô, giòn, sớm rụng, ít hoặc không có lông tơ Bao một hoa Cuống
Trang 33Đài
hoa
Đài hình ống, dài khoảng 2,5 cm, chia 3 thùy, màu trắng, phần trên màu nâu
và có lông mi
Hình ống, 2,2-2,5
cm, xẻ xiên xuống, trên 3 răng nhọn, đầu có lông
mi
Hình elip 2-2,5
cm, xẻ 1 bên Mép có lông mịn Chia 3 thùy
Thùy lưng hình trứng, rộng khoảng 2 cm; 2 thùy bên elip, thùy lưng rộng gấp đôi thùy bên
Ống tràng dài
khoảng 2-2,5 cm,
ngoài có lông mềm, gốc phía trong có lông
Phần trên chia 3 thùy, các thùy dài 2,5-3 cm, thùy lưng rộng 2 cm, gấp đôi 2 thùy bên
Hình ống 1 cm, có
lông tơ phần giáp với cuống
Thùy giữa gần tròn, rộng 2 cm; thùy bên hình mác 2-2,5 cm Các thùy lép hình kim
Ở giữa đỏ sẫm, xen kẽ các vệt màu vàng-trắng; phần trung tâm màu cam; 2 bên màu vàng; phía trên sọc đỏ-cam
Cánh môi hình trứng rộng, cỡ
3,2-3,7 x 3-3,5
cm
Phía trong màu đỏ sẫm, có vân đỏ toả tia lên phía trên và 2 bên, mép
và đầu trắng hay vàng nhạt
Hình trứng
3-3,5 x 3 cm
Có màu đỏ lẫn vàng, đầu nhọn
Nhị lép 2 bên hình dùi, dài khoảng 3 mm
Chỉ nhị hình bán dày, cỡ 6-8 x 1,5-
2 mm
Nhị lép 2 bên, dài đến 2,5 mm, hình dùi
Chỉ nhị dài 7 mm
Trang 34Ba lá noãn tạo thành bầu dưới 3 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn đính trung trụ
Hình bầu dục, dài đến 5 mm, có lông
tơ trắng
Hình thuôn, có lông tơ
Vòi
nhụy
Hình sợi, trắng, dài khoảng 4-5 cm chui qua khe hở giữa 2 bao phấn và thò ra ngoài
Vòi nhụy dài hơn bao phấn, màu trắng
Đầu
nhụy
Màu trắng, loe thành phễu rộng khoảng 1,5 mm, gắn nhiều lông
Núm nhụy hình phễu, màu trắng
Quả Quả Quả nang, hình cầu hoặc
bầu dục; đường kính khoảng 1-3 cm; bên ngoài phủ nhiều lông cứng
Khi non có màu xanh, khi chín chuyển dần sang vàng, cam rồi chuyển đỏ
Quả hình trái xoan rộng đến tròn, cỡ
3 x 2,5 cm
Vỏ quả có lông
Quả nang hình elip 3 x 2 cm
Hạt Nhiều hạt hình đa giác
màu xanh đến nâu tạo thành khối cầu, được phủ bởi lớp áo hạt màu trắng trong Hạt có nội nhũ, có mùi thơm
Hạt màu ghi sáng, khối hạt hình cầu, đường kính 1,2-1,6 cm
Màu vàng xám đến nâu đậm, khối cầu, đường kính 1,2-1,6 cm
Từ phần mô tả thực vật, hình ảnh (Hình 3.1.), bảng so sánh các đặc điểm hình thái với loài gần nhất là Alpinia blepharocalyx K Schum trong Thực vật chí Việt Nam [5]
và Alpinia blepharocalyx K Schum var blepharocalyx trong Thực vật chí Trung Quốc