1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁ TRỊ của PHƯƠNG PHÁP SIÊU âm TIM 3d THÀNH NGỰC và QUA THỰC QUẢN TRONG ĐÁNH GIÁ HÌNH THÁI, cấu TRÚC VAN BA lá

79 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên siêu âm, tâm thất phải nên được khảo sát ở nhiều mặt cắt,đánh giá bằng cả các thông số định tính và định lượng, bao gồm đường kínhthất phải và nhĩ phải, các chỉ số phản ánh chức năn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU THỦY

GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP SIÊU ÂM TIM 3D THÀNH NGỰC VÀ QUA THỰC QUẢN TRONG ĐÁNH GIÁ HÌNH THÁI, CẤU TRÚC VAN BA LÁ

Chuyên ngành : Tim mạch

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II

Trang 2

1 TS Nguyễn Thị Thu Hoài

Trang 3

SA : Siêu âm

SATQTQ : Siêu âm tim qua thực quảnSATTN : Siêu âm tim thành ngực

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Van ba lá trước kia chưa được sự quan tâm thích đáng của các bác sỹ vàbệnh nhân, các nhà khoa học còn gọi là van bị “bỏ quên” hay van bị “lãngquên” Những năm gần đây đánh giá về van ba lá ngày càng nhiều lên, thu hútđược sự chú ý và quan tâm của các đồng nghiệp Các nhân tố được quan tâmhiện nay là đánh giá chức năng van ba lá từ đó đánh giá tiên lượng của bệnhnhân, sự cải thiện sự hiểu biết về giải phẫu cũng như chức năng của van ba lá

và sự tiến bộ của các kỹ thuật trong việc phẫu thuật sửa và thay van ba látrọng bệnh hở van ba lá Hở van ba lá được phân loại là do tổn thương nguyênphát tại van hoặc là do tự nhiên, và phần lớn hở van cơ năng không ảnhhưởng đến chức năng van tim Trước đây người ta tin rằng hở van ba lá cơnăng xuất phát từ các bệnh bên tim trái, và tình trạng này sẽ được giải quyếtsau khi điều chỉnh các bệnh lý cơ bản, điều này ngày nay đã được chứng minh

là không đúng Trên thực tế giãn vòng van, hở van ba lá và rối loạn chức năngthất phải vẫn tiếp tục diễn ra trên bệnh nhân đã phẫu thuật van động mạch chủ

và van hai lá thành công

Hầu hết hở van ba lá là hở van ba lá tự nhiên không có triệu chứng.Ngược lại là trạng hở van bá nhiều, các nguyên nhân dẫn đến van ba lá hởnhiều từ đó dẫn đến một loạt các triệu chứng về tim mạch Trước kia, cácnhà lâm sàng nghĩ tình trạng van ba lá sẽ được cải thiện hoặc trở về bìnhthường sau khi điều chỉnh các bệnh lý cơ bản Hiện nay điều này đã đượcchứng minh là không đúng, nhiều bệnh nhân sau mổ vẫn tiếp tục có giãnvòng van ba lá sau mổ thay van hai lá hay van động mạch chủ () Một điềugây tranh cãi hiện nay là tình trạng hở van ba lá có được chú ý hay chẩnđoán chính xác trước mổ cùng các van khác như hai lá hay van động mạch

Trang 7

chủ không? Nếu có thì sẽ đánh giá van ba lá như thế nào để có thể đưa raphương pháp điều trị hợp lý.

Mặc dù có nhiều cách để ghi hình và đánh giá chức năng van ba lá,nhưng hiện nay siêu âm tim 3D, có dựng hình van tim đã cho thấy đây là một

kỹ thuật tiên tiến để đánh giá van 3 lá Mọi bệnh nhân trước khi phẫu thuậtđều được đánh giá kỹ lưỡng về cấu trúc và chức năng của van ba lá bằng siêu

âm tim 2D, 3D Vì sự xuất hiện của hở van ba lá có thể bị ảnh hưởng của cácyếu tố huyết động, và cũng cần thiết phải đánh giá van ba lá trong trạng tháinghỉ của bệnh nhân Một điều cần thiết là phải xác định trước phẫu thuật xem

có cần sửa hay thay van ba lá hay không, dựa trên các hình ảnh chất lượng tốtcủa siêu âm tim 3D, cũng như đánh giá các yếu tố liên quan đến bệnh nhân vàcuộc mổ

Siêu âm tim 3D còn đánh giá được chính xác mức độ nặng nhẹ của hởvan ba lá, việc nên hay không nên can thiệp vào van ba lá trong cuộc mổ sửachữa hoặc thay thế các cấu trúc bên tim trái

Nghiên cứu này nhằm mục đích đưa ra một cái nhìn tổng quan về đánhgiá siêu âm tim của hở van ba lá, các thông số có sẵn để phân loại mức độ của

hở van ba lá và các thông số có thể được sử dụng để hỗ trợ bác sĩ phẫu thuậtxem xét can thiệp

Với mục đích đánh giá chính xác mức độ hở van ba lá giúp phẫu thuậtviên quyết định can thiệp vào van ba lá hay không, chúng tôi tiên hành nghiên

cứu “Giá trị của phương pháp siêu âm tim 3D thành ngực và siêu âm tim 3D qua thực quản trong đánh giá hình thái, cấu trúc van ba lá” với hai mục tiêu:

Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 8

1. Mô tả tổn thương van ba lá bằng siêu âm tim 3D thành ngực và qua thực quản.

2. So sánh với phương pháp siêu âm tim 2D và chụp cắt lớp vi tính.

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH LÝ VAN BA LÁ

1.1.1 Cấu tạo của van ba lá liên quan đến siêu âm tim

Bộ máy van ba lá tương tự như cấu tạo của các van nhĩ thất khác baogồm các lá van, dây chằng, cơ nhú, một vòng van và phía trên là cơ tim củanhĩ phải phía dưới là cơ tim của thất phải Có rất ít mô sợi góp phần vào vòngvan ba lá, dẫn đến di động nhiều trong chu chuyển tim và dễ bị giãn

Van ba lá có diện tích lớn nhất và có vị trí cao nhất trong các van vớidiện tích vòng van là 8-12 cm 2 Van ba lá có ba lá van; trước, sau và vách, với

lá trước là lớn nhất [24]

Hình dạng của các lá van, dây chằng và cơ nhú là rất khác nhau Lávách là lá ít thay dổi nhất, những lá khác có sự thay đổi, thường có một vài khíamép van và nhiều chỗ nối [] Ba cơ nhú thường tồn tại, tuy nhiên những cơ nàyquá khác nhau về kích thước và số lượng, phần sau có lúc không có [25]

Tương tự như van hai lá, vòng van của van ba lá có hình yên ngựakhông phẳng, với các điểm cao và thấp Như lá vách nhỏ khá cố định với vách

Trang 9

ngăn bên dưới, sự giãn nở được cho là xảy ra chủ yếu ở kích thước váchngăn-bên Sự giãn nở này dẫn đến một vòng van hình tròn và phẳng hơn, gópphần vào cơ chế sinh lý bệnh của hở van ba lá cơ năng [28].

1.1.2 Bệnh lý liên quan đến van ba lá

Van ba lá có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện, tuy nhiên phổ biếnnhất, và do đó có liên quan nhất đến siêu âm tim là tình trạng hở van ba lá

a. Hở ba lá

Các hướng dẫn gần đây nhất của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ phân loại

cơ chế hở của van ba lá theo nguyên nhân: do cơ chế nguyên phát hoặc do cơchế chức năng

Hở van ba lá do nguyên nhân nguyên phát liên quan đến khuyết điểmcủa chính các lá van Điều này bao gồm bệnh thấp khớp, bệnh myxomatous

và carcinoid Bệnh Ebstein's, viêm nội tâm mạc, chấn thương và những tìnhtrạng do người thầy thuốc gây nên bao gồm thay đổi lá van ba lá do máy tạonhịp tim [27] là quá trình có thể gây nên hở van ba lá nguyên phát

Cho đến nay, cơ chế chức năng của hở van ba lá là cơ chế bệnh lý phổbiến nhất chiếm 75% trường hợp hở van ba lá Nguyên nhân bao gồm bệnhtim bên trái (rối loạn chức năng hoặc bệnh van tim) dẫn đến tăng áp phổi, cácnguyên nhân khác gây tăng áp phổi và bất kỳ bệnh lý nào của thất phải (bệnh cơtim, thiếu máu cục bộ thất phải, nhồi máu thất phải, nhồi máu phổi, giãn nhĩ phảigây rung nhĩ) Nguyên nhân phổ biến nhất của hở van ba lá chức năng gặp phảitrong phẫu thuật tim là do bệnh van và rối loạn chức năng tim trái

Hở mức độ nhẹ (từ rất nhẹ đến nhẹ) của van ba lá phổ biến với tỷ lệ dân

số lên tới 65-75% và thậm chí có thể được gọi là hở van ba lá sinh lý Siêu âm

Trang 10

tim của hở van ba lá như vậy cho thấy các lá van bình thường, không có sựgiãn của thất phải và một luồng phụt ngược trung tâm được định vị vào mộtvùng nhỏ tiếp giáp với van có thểnhỏ không tồn tại trong suốt tâm thu [26].

+ Hở van ba lá do thầy thuốc gây nên

Sự phổ biến ngày càng tăng của các thiết bị được đặt xuyên qua van ba

lá, chẳng hạn như máy tạo nhịp tim hoặc máy khử rung tim có thể dẫn đếnmột mức độ hở van ba lá do thầy thuốc Các biến chứng liên quan như viêmnội tâm mạc nhiễm khuẩn có thể dẫn đến phá hủy các lá van đáng kể và hở ba

lá nghiêm trọng hơn Rất hiếm khi, các biến chứng liên quan đến các thiết bịnày có thể dẫn đến hẹp ba lá

Trang 11

Hình 1.1: Siêu âm tim qua thực quản 3D của dây dụng cụ qua van ba lá

Hình 1.2: Ảnh 3D của hở van ba lá có dây điện cực của thiết bị khử rung tim

+ Sự hở van ba lá do dẫn truyền cơ tim

Tạo nhịp thất phải không đồng bộ có thể làm sớm xuất hiện hở van ba

lá, với cách giải quyết tiếp theo là ngừng tạo nhịp tim [29] Chỉ định này nênđược xem xét khi hở van ba lá xuất hiện mới hoặc xấu đi được quan sát sauCPB vì tạo nhịp có thể đóng góp gây ra tình trạng này

b. Hẹp ba lá

Trang 12

Vì van ba lá lớn nhất trong các van tim, hẹp van ba lá đáng kể là ítgặp Nguyên nhân bao gồm bệnh thấp tim và carcinoid, viêm nội tâm mạc, tắcnghẽn do khối u hoặc hiếm khi là do dị tật bẩm sinh [19].

c. Bệnh bẩm sinh

Một số bệnh tim bẩm sinh (congenital heart disease-CHD) có thể dẫnđến rối loạn chức năng của van ba lá Chúng bao gồm bệnh Ebstein, hẹp lỗvan ba lá và các bất thường nhĩ thất khác

Bệnh Ebstein có thể dẫn đến hở van ba lá đáng kể Những phát hiệnquan trọng là một lá trước lớn và sự dịch chỗ bám của van ba lá vào thất phảigây ra tình trạng nhĩ hoá thất phải và làm giảm thể tích thất phải còn lại[31] Hẹp lỗ van ba lá là một bất thường tim bẩm sinh hiếm gặp dẫn đếnkhông có van ba lá Tình trạng này thường xảy ra với hạ huyết áp của thấtphải, thông liên thất và thông liên nhĩ [34]

1.2 Siêu âm tim trong đánh giá van tim

1.2.1 Nguyên lý siêu âm tim

Siêu âm là những rung động cơ gới có cùng bản chất với các âm thanhnghe được (20Hz-20KHz) và có tần số từ 20KHz-1GHz

Tuy nhiên trong y học người ta sử dụng tần số sóng từ 1-10 MHz Sóngsiêu âm chỉ lan truyền trong môi trường vật chất có tính chun giãn và có thểbiến dạng được

Ở một môi trường đã cho, tốc độ lan truyền (V) là hằng định, ta cócông thức sau:

V = F x λ

Trang 13

Trong đó thì F là tần số, λ là độ dài của bước sóng Mối liên hệ trên làrất quan trọng vì nó cho kết quả:

- Nếu tần số tăng, độ dài của sóng giảm kết quả là độ phân giải hìnhảnh tốt hơn (hình rõ nét hơn)

- Nếu tần số tăng, chùm sóng siêu âm sẽ yếu đi và làm cho độ xuyênsóng siêu âm kém có ngĩa là sẽ không cho phép thăm dò được tổ chức ở sâu

1.2.2 Siêu âm TM - mode(Time motion mode)

Dùng để thể hiện sự chuyển động cùng phương với tia siêu âm của cácvật thể theo thời gian bằng cách thể hiện hình ảnh B-mode theo diễn biến thờigian với các tốc độ quét khác nhau Kết quả là nếu nguồn hồi âm đứng yên thì

sẽ tạo ra đường thẳng ngang qua màn hình, còn nếu mặt phản hồi chuyểnđộng song song với phương của tia siêu âm thì sẽ nhận được đường congphản ánh sự chuyển động của mặt phản hồi

1.2.3 Siêu âm tim hai bình diện

Kỹ thuật này cho phép thăm khám tim theo hai bình diện, do thời gianthực nên nó cho hình ảnh giải phẫu vận động tim theo mặt phẳng định trước.Chùm tia siaau âm truyền theo đầu dò quyets cấu trúc tim ở góc chọn (30-90o)

Trang 14

nó cho hình ảnh hai chiều theo góc quạt Hình ảnh góc quạt được thực hiệntheo theo hai kỹ thuật: cơ học và điện tử.

Quyét cơ học: hình ảnh hai chiều tạo ra từ sự xoay cơ học hay là vậnđộng tới lui của một hay nhiều tinh thể thạch anh Để có được hình ảnh M-mode phải tắt quét hình quạt Hiện nay các máy thế hệ mới không còn sửdụng đầu dò kiểu này nữa

Quyết điện tử: hình ảnh siêu âm 2D hình thành từ hoạt hóa điện cao tốccảu nhiều tinh thể thạch anh tiếp nối nhau Hệ thông máy này cho phiếp sửdụng đồng thời siêu âm M-mode và hình ảnh động 2D Có thể ghi đồng thờisiêu âm Doppler với siêu âm M-mode và siêu âm 2D

1.2.4 Siêu âm Doppler tim

Siêu âm Doppler tim cho phép thực hiện thăm dò huyết động khôngxâm lấn Đánh giá mức độ hẹp van tim thông qua xác định độ chênh áp quavan, diện tích lỗ van: có mối liên hệ giữa độ chênh áp qua van và tốc độ cựcđại của dòng chảy ở chỗ hẹp Trong thực tế độ chênh áp tối đa tính trênDoppler bằng 4 lần bình phương tốc độ dòng chảy cực đại qua chỗ hẹp Độchênh áp trung bình thực hiện khi chuyển tốc độ dòng chảy thành đường cong

áp lực Độ chênh áp này thấy tương quan với độ chênh áp trung bình thây trênthông tim Tất cả độ chênh áp phải được đọc tùy theo lưu lượng máu qua chỗhẹp Độ nặng của hẹp van bị đánh giá tăng thêm trong trường hợp có hở vanphối hợp hoặc là bị đánh giá nhẹ đi trong trường hợp cung lượng tim thấp.Tính độ chênh áp được thực hiện nhờ Doppler liên tục bởi lẽ tốc độ dòngchảy thường vượt quá khả năng của Doppler xung có tần số thấp

1.2.5 Siêu âm tim 3D

Trang 15

1.2.5.1 Nguyên lý siêu âm tim 3D

Nguyên lý siêu âm tim 3D là tái tạo hình ảnh dựa trên các hình ảnh 2Dthành phần Siêu âm 3D hoạt động dựa vào việc thu nhập các dữ kiện thể tíchtrên tập hợp các hình ảnh trong không gian của nhiều mặt cắt Hình ảnhDoppler màu cũng được lồng vào hình ảnh giải phẫu 3D

Siêu âm 3D thời gian thực (real-time): cùng một lúc, đầu dò thunhận được các dữ liệu 3 chiều, với hình ảnh tim đang co bóp, từ bất kỳgóc quét nào

Có thể thực hiện siêu âm 3D bằng đường qua thành ngực cũng như quathực quản ở cả người lớn lẫn trẻ em Nhờ siêu âm 3D ta có thể thăm khám chitiết cấu trúc giải phẫu của tim, đánh giá các van tim ở cả trục dọc lẫn ngangcũng như từ cả mặt trên và mặt dưới van, và các góc độ khác nhau Có thểphát hiện bất thường hình dáng chức năng tim do các bệnh khác nhau nhưbênh tăng huyết áp , bệnh tim thiếu máu cục bộ Đặc biệt khi thực hiện siêu

âm tim 3D và cản quang thì là một tham dò có giá trị cho phép đánh giákhuếch tán cơ tim, sâu hơn nữa ta có thể tính được bằng đơn vị gam và tỷ lệphần trăm thực sự của cơ tim thất trái thiếu máu cục bộ Loại siêu âm này cótriển vọng và đặc biệt có ích trong phẫu thuật tim vì ó giúp phẫu thuật viênđặt kế hoạch trước khi mổ do siêu âm tim 3D cho thấy cấu trúc thực, chi tiết

về hình thái của từng thành phần tim bị bệnh

Kỹ thuật siêu âm tim 3D có độ chính xác cao trong việc đánh giá chứcnăng thất trái nhất là nhờ đầu dò thế hệ loại ma trận quét ảnh hình tháp thay vìcắt từng nhát cắt mỏng Như vậy sẽ tính được thể tích tâm thu và tâm trương củathất theo chế độ thực với thời gian (vì trước đây phải chờ thời gian dựng hình)

Kỹ thuật này này lợi điểm là không xâm nhập và khác với các kỹ thuật khác là

Trang 16

không cần phải giả định hình dáng cấu trúc thất Người ta cũng đã chứng minh làsiêu âm tim 3D dùng để đánh giá chức năng thất trái và thất phải có độ chính xáccao hơn khi so sánh với hình ảnh cộng hưởng từ Cách tính thể tích buồng tim,khối lượng cơ tim, chức năng tim đã được hợp thức hóa.

1.3 SIÊU ÂM TIM ĐÁNH GIÁ VAN BA LÁ

1.3.1 Đánh giá van ba lá trên siêu âm tim qua thành ngực (TTE)

Đánh giá van ba lá được thực hiện phổ biến nhất là với hình ảnh siêu

âm qua thành ngực (TTE) Những lợi ích của phương thức này bao gồm:không xâm lấn, có thể được lặp lại một cách dễ dàng và thoải mái và ít rủi rocho bệnh nhân

Siêu âm qua thành ngực sử dụng bốn cửa sổ hình ảnh chính: cạnh ức,dưới sườn, từ mỏm và trên hõm ức.Trong số này, các cửa sổ chính để hiển thịvan ba lá là mặt cắt trục dài cạnh ức, bốn buồng từ mỏm và dưới sườn, tuynhiên không có cửa sổ nào trong số này có thể thấy hình ảnh của tất cả các lávan ba lá[26] Hướng dẫn AHA / ACC hiện tại xác định độ giãn vòng vantrong không gian hình ba chiều, trong đó sửa chữa van ba lá nên được cânnhắc khi giãn vòng van lớn hơn 40 mm hoặc lớn hơn 21 mm / m2 dựa trêncách đo vòng van trên mặt cắt 4 buồng ở siêu âm tim qua thành ngực [32]

Cả 4 cửa sổ này cũng được sử dụng để chụp ảnh 3D trên siêu âm timthành ngực, có thể hiển thị đồng thời cả ba lá van của van ba lá [33] 3D siêu âmtim thành ngực cung cấp chế độ xem chi tiết về cấu trúc van ba lá ở phần lớnbệnh nhân, tuy nhiên, nó vẫn phụ thuộc vào hình ảnh 2D đầy đủ và rõ nét [34]

1.3.2 Đánh giá van ba lá trên siêu âm tim qua thực quản (TEE)

Trang 17

Mặc dù hầu hết bệnh nhân bị bệnh van tim chuẩn bị phẫu thuật tim đã

có SATTN trước phẫu thuật, việc thực hiện SATQTQ toàn diện vẫn rất quantrọng Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng có thể phát hiện thêm các tổn thươngphối hợp trên SATQTQ và hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật và ra quyết địnhphẫu thuật

Vị trí thuận lợi của đầu dò SATQTQ, cho phép chụp ảnh độ phân giảicao hơn so với SATTN với sự phân định cấu trúc giải phẫu được cải thiện

Sau khi chèn, đầu dò TEE có bốn vị trí đầu dò tiêu chuẩn và các mặtphẳng hình ảnh liên quan, trong thực quản và dạ dày:

• Thực quản trên (UE): mặt phẳng hình ảnh này được sử dụng đểchụp ảnh động mạch chủ lên và các mạch lớn liên quan bao gồmcác tĩnh mạch phổi;

• Thực quản giữa (ME): máy bay này cung cấp tầm nhìn tốt nhất về

4 buồng tim Phần lớn các hình ảnh TEE thu được trong mặtphẳng này;

• Mặt cắt dạ dày (TG): sâu hơn mặt phẳng VHL, trong dạ dày Đây là

vị trí có thể quan sát được các mặt cắt ngang qua TT và TP;

• Mặt cắt dạ dày sâu TG: sâu hơn so với mặt cắt dạ dày Mặt cắt nàyđược sử dụng chủ yếu để căn chỉnh lấy van động mạch chủ đochênh áp qua van ĐMC bằng SA Doppler

Mặc dù thường được coi là một phương pháp không xâm lấn, nhưngSATQTQ đi kèm với những rủi ro riêng Có một số chống chỉ định tuyệt đối

và tương đối đối với việc sử dụngSATQTQ Tỷ lệ biến chứng chung củaSATQTQ và sử dụng trong phẫu thuật là 0,2%

Trang 18

1.4 SIÊU ÂM ĐÁNH GIÁ TÂM THẤT PHẢI

Tâm thất phải đóng vai trò quan trọng trong tử suất và bệnh suất timmạch Đánh giá kích thước và chức năng thất phải khá phức tạp, do đặc điểmgiải phẫu hình lưỡi liềm đặc biệt Sự tập trung quá mức vào tâm thất trái, cũngnhư kết quả khác biệt giữa những kỹ thuật thăm dò khác nhau, càng làm chovấn đề siêu âm thất phải gặp nhiều khó khăn và thiếu sự đồng thuận Gần đây,Hội siêu âm tim Hoa Kỳ phối hợp với Hội hình ảnh tim mạch Châu Âu vàHội siêu âm tim Canada, đã công bố khuyến cáo chuẩn hóa các phương pháp

đo kích thước và chức năng thất phải ở người lớn Phần tiếp theo của bảnkhuyến cáo này cung cấp các giá trị tham chiếu cập nhật kích thước tâm thấtphải và hầu hết các thông số chức năng tâm thu, tâm trương thất phải, có thểthay thế cho các khuyến cáo trước đó

1.4.1 Khuyến cáo chung về lượng giá tâm thất phải

Tất cả các nghiên cứu lâm sàng cần đánh giá chức năng thất phải mộtcách toàn diện Trên siêu âm, tâm thất phải nên được khảo sát ở nhiều mặt cắt,đánh giá bằng cả các thông số định tính và định lượng, bao gồm đường kínhthất phải và nhĩ phải, các chỉ số phản ánh chức năng tâm thu thất phải: FAV,vận tốc vòng van ba lá trong thì tâm thu (S’), vận động vòng van ba lá trongthì tâm thu (TAPSE), phân suất diện tích thất phải (RIMP) Ngoài ra cần đánhgiá thêm áp lực tâm thu thất phải, thông qua phổ Doppler vận tốc dòng hở ba

lá và ước tính áp lực nhĩ phải dựa vào kích thước và sự thay đổi theo hô hấpcủa tĩnh mạch chủ dưới Nếu có thể làm được siêu âm 3D, nên bổ sung nhữngchỉ số khác như thể tích và phân số tống máu thất phải 71 Bảng 7 và 9 tóm tắtcác phương pháp đo, cũng những ưu điểm và hạn chế của từng thông số Bảng

8 và 10 liệt kê các giá trị tham chiếu, dưới dạng trị số trung bình và độ lệchchuẩn ở người lớn bình thường, không có bệnh tim hoặc phổi (Phụ bảng 7)

Trang 19

Khuyến cáo này sử dụng cùng phương pháp với các khuyến cáo về tâm thấtphải trước đây, theo đó nghiên cứu đa phân tích được áp dụng cho tất cả cácthông số.

Không phải tất cả các giá trị được khuyến cáo đều giống với kết quảđược công bố từ Khuyến cáo trước 71 Trên cơ sở những dữ liệu mới xuất bản,

đã có những thay đổi nhỏ về giá trị tham chiếu của đường kính thất phải, S’,TAPSE và RIMP, hay giá trị của thể tích và phân số tống máu thất phải dựatrên siêu âm 3D (Bảng 8 và 10) Hầu hết các kết quả đều không được hiệuchỉnh theo giới, diện tích da, chiều cao72 – 75 Vì vậy, những bệnh nhân cóchiều cao, hay diện tích da quá lớn, hoặc quá nhỏ làm kết quả đo vượt quá giátrị tham chiếu, đòi hỏi bác sỹ phải chú thích rõ trong bảng kết quả siêu âm.Một số nhóm đối tượng khác như bệnh nhân tim bẩm sinh, hay vận động viêncác môn đòi hỏi độ bền, cũng không có các giá trị tham chiếu tương ứng 76

1.4.2.Cửa sổ Doppler và hình ảnh cơ bản

Những mặt cắt cơ bản để đánh giá kích thước thất phải, chức năng tâmthu và tâm trương thất phải, áp lực thất phải tâm thu bao gồm: Mặt cắt 4buồng từ mỏm tim, mặt cắt 4 buồng tập trung vào thất phải, và mặt mặt cắt 4buồng sửa đổi (Hình 7A), mặt cắt trục dọc và trục ngắn cạnh ức, mặt cắtbuồng nhận thất phải cạnh ức, mặt cắt dưới bờ sườn 71 Trong hầu hết trườnghợp, mặt cắt định khu vào thất phải có ưu điểm hơn mặt cắt 4 buồng từ mỏm

vì quan sát được toàn bộ thành tự do của thất phải Vì vậy khuyến cáo sửdụng các mặt cắt tập trung vào thất phải, để đo đạc các giá trị của thất phải.Hình 7A và Bảng 7 chỉ ra những mặt cắt khác nhau, cũng như các phươngpháp đo được khuyến cáo

1.4.3 Đo lường thất phải

Trang 20

1.4.3.1 Đo kích thước thất phải

Việc lượng hóa kích thước thất phải là cần thiết giúp làm giảm sai số doước lượng bằng mắt và giữa các người làm khác nhau77 Đo đạc kích thướcthất phải bằng siêu âm tim hai bình diện gặp một số khó khăn do thất phải cóhình dạng đặc biệt, không có các mốc giải phẫu cụ thể được sử dụng để đođạc Phương pháp đo vẫn đang được sử dụng mặt cắt 4 buồng từ mỏm cónhiều sai số khi đo kích thước thất phải và diện tích thất phải khi thay đổi vịtrí đầu dò và xoay đầu dò (Hình 7B) Mặt cắt đánh giá tốt nhất kích thước thấtphải là mặt cắt 4 buồng tập trung vào thất phải, đầu dò có thể đặt ở phía bênhoặc về sát xương ức (Hình 7A hoặc bảng 7) Điều chỉnh đầu dò để mỏm thấttrái ở chính giữa của diện quạt của mặt cắt và bộc lộ kích thước lớn nhất củavùng đáy thất phải Trường hợp khó quan sát thành tự do thất phải do kíchthước lớn hoặc do che khuất bởi xương ức sẽ ảnh hưởng tới sự chính xác củaviệc đo kích thước thất phải Các dữ liệu gần đây đề xuất sử dụng chỉ số kíchthước thất phải theo diện tích da cơ thể, tuy nhiên đa số các nghiên cứu nàylại không sử dụng mặt cắt tập trung vào thất phải và thường sử dụng giá trịdiện tích thất phải hơn là kích thước thất phải73,74 Các giá trị tham khảo kíchthước thất phải được liệt kê ở Bảng 8 Nhìn chung, được coi là giãn thất phảikhi kích thước thất phải vùng đáy > 41mm và kích thước thất phải vùng giữa

> 35mm ở mặt cắt tập trung vào thất phải

1.4.3.2 Đo thể tích thất phải

Siêu âm tim 3 chiều cho phép đánh giá thể tích thất phải (Hình 8) màkhông bị ảnh hưởng bởi các hạn chế của phương pháp đo truyền thống trênsiêu âm 2 bình diện mặc dù có những khó khăn về mặt kỹ thuật, đặc biệtnhững bệnh nhân có hình ảnh không rõ nét hoặc thất phải giãn quá lớn,phương pháp siêu âm 3 chiều vẫn ước tính được khá chính xác thể tích cuốitâm thu và cuối tâm trương thất phải, trên cơ sở đó tính ra phân suất tống máuthất phải

Trang 21

Việc sử dụng siêu âm tim 3 chiều vào đánh giá thất phải được khuyếncáo bởi Hội hình ảnh tim mạch Châu Âu và Hội siêu âm tim Hoa Kỳ61 Khiđánh giá thể tích thất phải, điều quan trọng là phải lựa chọn được nhát cắtđánh giá thể tích thất phải tối đa và tối thiểu ở cuối tâm trương và cuối tâmthu Vùng bè cơ và dải điều hòa được tính vào trong buồng thất phải Khi viềnthể tích thất phải trên các nhát cắt động, cần di chuyển theo sự dịch chuyểncủa nội mạc cũng như vòng van ba lá trong chu chuyển tim.

Siêu âm tim 3D có xu hướng ước tính thể tích thất phải thấp hơn so vớicộng hưởng từ78, tuy nhiên có giá trị tương tự cộng hưởng từ trong việc xácđịnh mối tương quan giữa thể tích thất phải và phân suất tống máu với tuổi vàgiới72 Khi đánh giá bằng siêu âm tim 3D, nữ giới có chỉ số thể tích thất phảithấp hơn và phân suất tống máu cao hơn75 Thể tích thất phải giảm dần khituổi bệnh nhân tăng thêm Ước tính cứ tăng thêm 10 tuổi thì thể tích thất phảicuối tâm thu giảm 5ml, thể tích thất phải cuối tâm trương giảm 3ml Đồngthời phân suất tống máu cũng tăng khoảng 1% sau mỗi 10 năm75 Người ta đãtiến hành phân tích gộp trên tất cả các nghiên cứu để đi đến bảng giá trị thamchiếu về thể tích và phân suất tống máu thất phải như trong Bảng 8 và Bảng

10 Các chi tiết về yếu tố tuổi, giới, diện tích da cơ thể được liệt kê trong Phụbảng 875 Trên hình ảnh cộng hưởng từ, người ta còn thấy thể tích thất phải bịảnh hưởng bởi chủng tộc72 Điều này chưa có số liệu trên siêu âm tim 3D

Khuyến cáo: Kích thước thất phải cần được đánh giá thường quy bằng

siêu âm tim 2D sử dụng nhiều cửa sổ mặt cắt khác nhau, để đưa ra các sốliệu cả về định tính và định lượng Ở các trung tâm có kinh nghiệm siêu âmtim 3D, khi việc đánh giá thể tích thất phải có vai trò quan trọng trong lâmsàng, nên khuyến khích đánh giá thể tích thất phải bằng phương pháp siêu

âm tim 3D

Theo các số liệu đã xuất bản hiện tại, giá trị tham chiếu giới hạn trên

Trang 22

của thể tích thất phải cuối tâm trương ở nam giới là 87ml/m2; ở nữ giới là 74ml/m2; thể tích thất phải cuối tâm thu ở nam giới là 44 ml/m2 và ở nữ giới là

36 ml/m2 Tuy nhiên vẫn cần các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn nữa

Bảng 1.1 Khuyến cáo siêu âm đánh giá kích thước thất phải

Kích thước thất phải

(vùng buồng nhận) * Kích thước thất phải

vùng đáy (RVD1): kích thước ngang lớn nhất vùng 1/3 đáy vùng buồng nhận thất phải cuối thì tâm trương đo ở mặt cắt tập trung vào thất phải Kích thước thất phải vùng giữa (RVD2)=

đường kính ngang thất phải đoạn 1/3 giữa vùng buồng nhận thất phải, khoảng giữa mỏm thất phải và vị trí đo RVD1, ngang mức cơ nhú, đo cuối thì tâm trương

Dễ đo đạc Đơn giản Nhanh

Có nhiều dữ liệu đã xuất bản

Kích thước thất phải

có thể bị đánh giá thấp hơn thực tế do thất phải có hình dạng trăng lưỡi liềm

Kích thước thất phải

đo bằng phương pháp này bị ảnh hưởng bởi quay đầu dò và các mặt cắt khác nhau đánh giá thất phải; để cho phép so sánh giữa các nghiên cứu khác nhau, bản kết quả siêu

âm nên nêu rõ các thông số được đo đạc

ở mặt cắt nào

Kích thước thất phải

vùng đường ra*

Đường kính đường ra thất phải đoạn gần = khoảng cách từ thành trước thất phải đến chỗ nối của vách liên thất và van ĐMC ở mặt cắt trục dọc cạnh ức hoặc tới van

Dễ đo đạc Đơn giản Nhanh

Kích thước đường ra thất phải đoạn gần phụ thuộc vào vị trí nhát cắt và thay đổi giữa các lần đo so với kích thước ĐRTP

Trang 23

động mạch chủ ở mặt cắt

trục ngắn cạnh ức ở cuối

thì tâm trương

Đường kính đường ra

thất phải đoạn xa= kích

thước ngang đo ngay

trước van động mạch

đoạn xa.

Nguy cơ ước tính dưới mức hoặc quá mức nếu mặt cắt ĐRTP bị chéo

Kích thước ĐRTP có thể không chính xác trong trường hợp có biến dạng thành ngực

và cột sống

trương.

Xác định viền nội mạc thành trước thất phải thường không được rõ

nét Chưa có giá trị về giới hạn bình thường.

Thông số có tính chất cục bộ, có thể không phản ánh được kích thước toàn bộ thất phải (ước lượng quá mức hoặc dưới mức)

Trang 24

ở vách liên thất tới vòng van ba lá vùng giữa tại cuối thì tâm trương và cuối thì tâm thu

Các vùng cơ bè, cơ nhú

và dải điều hòa được tính vào bên trong diện tích thất phải

Tương đối dễ

đo đạc

Gặp khó khăn trong trường hợp hình ảnh thành tự do thất phải không rõ nét

Khó đo trong trường hợp có nhiều bè cơ thất phải

Kích thước thất phải

sẽ bị ước lượng thấp

đi nếu nhát cắt bị ngắn hơn so với bình thường.

Do thất trái có chuyển động xoắn và thất phải có dạng trăng khuyết nên hình ảnh thất phải cuối tâm trương có thể không giống với mặt cắt thất phải cuối tâm thu

Có thể không phản ánh chính xác kích thước toàn thể thất phải (ước lượng dưới mức hoặc quá mức)

Thể tích thất phải trên Ghi hình ở chế độ 3D Phương pháp

Phụ thuộc vào chất

Trang 25

siêu âm 3D multibeat, giảm độ sâu và

góc quét (đạt độ phân giải theo chiều dọc >20-

25 thể tích/ giây) cho phép đánh giá toàn bộ thể tích buồng thất phải

Tính năng tự động phát hiện thời điểm cuối tâm trương và cuối tâm thu

Phần cơ bè và dải điều hòa được tính trong buồng thất phải

duy nhất đánh giá thể tích toàn diện thất phải bao gồm

cả phần buồng nhận và phần đường ra và vùng mỏm Không phụ thuộc vào ước đoán hình dạng thất phải.

Có giá trị tương đương phương pháp

đo trên cộng hưởng từ

lượng hình ảnh, nhịp tim đều và sự phối hợp của bệnh nhân

Cần có phương tiện

để thực hiện siêu âm tim 3D và phải được đào tạo

Giá trị tham chiếu có đăng trên một vài xuất bản

Trang 26

Đo bề dày thành thất

phải

Đo bề dày thành tự do thất phải bằng phương pháp M mode hoặc phương pháp 2D, đo cuối thì tâm trương ở vị trí thành tự do thất phải cách vòng van ba lá một khoảng bằng chiều dài lá trước van ba lá ở trạng thái mở hết, song song với thành tự do thất phải.

Phần cơ bè, cơ nhú và mỡ thượng tâm mạc cần bị loại bỏ ra ngoài vùng đo đạc

Phóng đại hình ảnh tập trung vào vùng giữa thành tự do thất phải và thực hiện một số nghiệm pháp hô hấp giúp nhìn rõ đường viền nội mạc

Dễ thực hiện Đo tại một vị trí

Có thể ước tính quá mức bề dày thành thất phải nếu phương pháp

M mode cắt bị chéo

Khó khăn khi đo đạc khi lá tạng màng ngoài tim quá dày Không có tiêu chuẩn

để định nghĩa thành tự

do thất phải mỏng một cách bất thường.

* Tất cả các kích thước đường thẳng đo từ bờ trong tới bờ trong

Bảng 1.2 Giá trị bình thường kích thước buồng thất phải

Trang 27

Thông số Trung bình ± độ lệch Giới hạn bình thường

Chỉ số diện tích cuối tâm trương ĐRTP

theo diện tích da cơ thể (cm 2 /m 2 )

Trang 28

Diện tích cuối tâm thu thất phải (cm 2 )

Chỉ số thể tích cuối tâm trương thất phải

theo diện tích da cơ thể (ml/m 2 )

1.4.4 Chức năng tâm thu thất phải

Chức năng tâm thu thất phải được đánh giá sử dụng nhiều thông số khác

Trang 29

nhau (Bảng 9) bao gồm RIMP (chỉ số chức năng co bóp thất phải), TAPSE,2D FAC (phân suất thay đổi diện tích thất phải trên siêu âm 2D); 3D EF (phân

số tống máu thất phải trên 3D); S’; sức căng cơ thất phải theo chiều dọc và tốc

độ thay đổi sức căng cơ theo chiều dọc đo bằng Doppler mô (TDI) và siêu âmđánh dấu mô cơ tim (2D STE)25 Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh ứngdụng và giá trị lâm sàng của các chỉ số RIMP, TAPSE, 2D FAC và S’ vòngvan ba lá cũng như sức căng cơ thất phải theo chiều dọc đo bằng phươngpháp đánh dấu mô Phân suất tống máu thất phải đo trên siêu âm tim 3D (RVEF) tỏ ra có giá trị tin cậy và có thể lặp lại nếu được đo đạc đúng và ngàycàng có nhiều cơ sở dữ liệu về giá trị tham chiếu bình thường của chỉ số EFnày (Bảng 10 và Phụ bảng 8)

1.4.4.1 RIMP

RIMP là chỉ số đánh giá khả năng hoạt động của toàn bộ thất phải Cácthông số về thời gian co đồng thể tích, thời gian giãn đồng thể tích, thời giantống máu nên được đo trong cùng chu chuyển tim sử dụng Doppler xung hoặcDoppler mô qua vòng van ba lá vị trí thành bên (Bảng 9) Khi sử dụng Dopplerxung, điều quan trọng là lựa chọn hai chu chuyển tim có khoảng RR tương tựnhau Hạn chế này không ảnh hưởng tới đo RIMP theo phương pháp Doppler

mô Giá trị RIMP có thể thấp một cách giả tạo trong trạng thái có tăng áp lực nhĩphải do làm giảm thời gian giãn đồng thể tích RIMP > 0.43 đo bằng Dopplerxung hoặc > 0.54 đo bằng Doppler mô được coi là có suy chức năng thất phải

1.4.4.2.TAPSE

Chỉ số TAPSE dễ đo đạc và phản ánh chức năng co bóp thất phải theochiều dọc Chỉ số này được đo trên siêu âm M mode, con trỏ đặt thẳng gócvới hướng qua vòng van ba lá tại vị trí thành bên ở mặt cắt 4 buồng từ mỏm

Trang 30

(Bảng 9) Mặc dù chỉ số này chủ yếu phản ánh chức năng tâm thu thất phảitheo chiều dọc, nhưng nó đã được chứng minh có mối tương quan với cácthông số đánh giá chức năng tâm thu thất phải toàn bộ như đánh giá phân suấttống máu thất phải bằng phương pháp đánh dấu phóng xạ, đánh giá phân suấtdiện tích thất phải trên siêu âm 2D hoặc phân suất thể tích thất phải trên 2D(2D EF) Vì đây là phép đo khá phụ thuộc vào vị trí đặt đầu dò, chỉ số TAPSE

có thể ước lượng quá mức hoặc dưới mức chức năng tâm thu thất phải Mặc

dù có biến thiên về giá trị TAPSE theo giới và chỉ số diện tích da cơ thể, khigiá trị TAPSE < 17mm có giá trị gợi ý suy chức năng tâm thu thất phải

1.4.4.3 2D FAC (Phân suất diện tích thất phải trên 2D)

Phân suất diện tích thất phải là chỉ số dùng để ước lượng chức năng tâmthu thất phải Khi đo đạc thông số này cần đảm bảo lấy được toàn bộ thất phảivào khuôn hình bao gồm cả vùng mỏm và vùng thành tự do, trong thì tâm thu

và thì tâm trương Khi viền diện tích thất phải, buồng thất phải bao gồm cảphần cơ bè (Bảng 9) Phân suất diện tích thất phải (FAC) < 35% được coi là

có suy chức năng tâm thu thất phải

1.4.4.4 Vận tốc tâm thu tại vòng van ba lá vị trí thành bên tính theo siêu

âm Doppler mô (S’)

Vận tốc S’ được đo đạc khá dễ dàng, độ tin cậy cao và có thể thực hiệnlặp lại nhiều lần Giá trị này có tương quan khá tốt với các phương pháp khácđánh giá chức năng tâm thu toàn bộ thất phải Người ta đã thực hiện trên một

cỡ mẫu lớn những người khỏe mạnh để đưa ra giá trị tham chiếu theo tuổi chochỉ số này (Bảng 9) Trong khi đo, cần phải đặt vùng đáy thất phải và vòngvan thẳng góc với hướng của siêu âm Doppler để vận tốc không bị ước tínhdưới mức Tương tự với chỉ số TAPSE, vận tốc sóng S’ khi đo có thể bị ảnh

Trang 31

hưởng bởi chuyển động của quả tim Vận tốc sóng S’ , 9.5 cm/s đo ở thành tự

do được coi là có suy chức năng tâm thu thất phải

Trang 32

1.4.4.5 Siêu âm đánh giá sức căng và tốc độ căng cơ tim.

Sức căng cơ tim và tốc độ căng cơ tim là các thông số có giá trị để ướctính chức năng tâm thu thất phải toàn bộ và theo vùng Sức căng cơ tim theochiều dọc được đánh giá bằng phần trăm co ngắn thành tự do thất phải theochiều từ đáy tim đến mỏm tim, còn tốc độ căng cơ tim theo chiều dọc là tốc

độ thay đổi sự co ngắn này Giá trị sức căng cơ tim thất phải theo chiều dọc ít

bị gây nhiễu bởi sự vận động của quả tim79,81, nhưng lại phụ thuộc vào tìnhtrạng quá tải thất phải cũng như kích thước và hình dáng thất phải Sức căng

cơ tim thất phải theo chiều dọc được đo ở mặt cắt 4 buồng tập trung vào thấtphải Ưu điểm của đánh giá sức căng theo phương pháp siêu âm tim đánh dấu

mô (STE) so với doppler mô cơ tim (TDI) là không bị phụ thuộc vào góc đặtđầu dò Đánh giá sức căng thất phải bằng phương pháp siêu âm đánh dấu mô

bị ảnh hưởng bởi chất lượng hình ảnh, sự truyền âm và các yếu tố nhiễu khác.Khi vị trí đặt các điểm ở vùng đáy quá thấp (ví dụ ở mặt nhĩ của vòng van balá) có thể làm giá trị sức căng tại vùng đáy bị thấp giả tạo Độ rộng của vùngcần đánh giá (ROI) cũng chỉ giới hạn ở bề dày cơ tim, loại bỏ thành phầnmàng tim Điều này tương đối khó hơn khi đánh giá thất phải vì thành tự dothất phải tương đối mỏng (Bảng 9)

Khi đánh giá sức căng toàn bộ (GLS) thất phải theo chiều dọc, hiện tạivẫn phải mượn phép đo và phần mềm đánh giá thất trái sau đó áp dụng chothất phải Thuật ngữ sức căng toàn bộ thất phải theo chiều dọc được đánh giádựa trên sức căng trung bình của thành tự do thất phải hoặc thành tự do thấtphải và vách liên thất Trong một số báo cáo gần đây chỉ ra sức căng toàn bộthất phải chỉ đánh giá dựa trên thành tự do thất phải có giá trị tiên lượng trongmột số bệnh như: suy tim 82,83, nhồi máu cơ tim cấp84, tăng áp lực động mạchphổi và bệnh amyloidosis85,86, đồng thời dự đoán suy thất phải sau khi đặtdụng cụ hỗ trợ thất trái88

Trang 33

Phần lớn các bằng chứng có được từ các số liệu nghiên cứu đơn trungtâm đã được nêu phía trên, liên quan chủ yếu tới phương tiện về chẩn đoánhình ảnh và phần mềm của hai nhà cung cấp, trong khi các số liệu gộp trên cơ

sở nghiên cứu một số lượng nhỏ các cá thể Các giá trị tham khảo hiện tại chosức căng toàn bộ thành tự do thất phải đánh giá bằng phương pháp siêu âmđánh dấu mô được trình bày trong Bảng 10 Các số liệu được thực hiện bởicùng một nhà cung cấp máy đề xuất giá trị sức căng toàn bộ thành tự do thấtphải >-20% (tức là < 20% giá trị tuyệt đối) được coi là bất thường

Khuyến cáo: Đánh giá sức căng thất phải bằng phương pháp siêu âm

đánh dấu mô đặc biệt là thành tự do thất phải được xem là một phương pháp

có độ tin cậy trong lâm sàng, có thể lặp lại nhiều lần Hiện tại chưa có giá trịtham chiếu cho sức căng toàn bộ cũng như sức căng vùng thất phải Cần cóthêm nhiều nghiên cứu lớn với sự tham gia của nhiều nhà cung cấp máy đểđưa ra được số liệu là các giới hạn bình thường

1.4.4.6 Đánh giá phân suất tống máu thất phải bằng siêu âm ba chiều.

Siêu âm ba chiều đánh giá phân suất tống máu thất phải là phép đánh giátổng thể chức năng tâm thu thất phải Mặc dù phân số tống máu thất phải vềbản chất không phản ánh trực tiếp chức năng co bóp thất phải nhưng nó chophép đánh giá mối tương tác giữa khả năng co bóp thất phải và khả năng chịutải thể tích thất phải Giá trị phân suất tống máu thất phải có giá trị trên lâmsàng ở những trường hợp sau mổ tim (không có sự chuyển động đáng kể củavách liên thất) trong khi các chỉ số đánh giá chức năng thất phải theo chiềudọc như TAPSE và vận tốc sóng S’ thường giảm và không phản ánh đượcchính xác chức năng thất phải81,89,90 Siêu âm tim ba chiều ngày càng có giátrị khi so sánh với phương pháp cộng hưởng từ tim78,91 Trong siêu âm tim bachiều, phương pháp đánh giá thể tích bằng bán tự động phát hiện ra viền nội

Trang 34

mạc được khuyến cáo sử dụng để đánh giá phân suất tống máu thất phải trênsiêu âm tim ba chiều.

Điểm hạn chế của siêu âm tim ba chiều trong đánh giá phân suất tốngmáu thất phải bao gồm: sự phụ thuộc vào điều kiện tải, ảnh hưởng của vậnđộng vách liên thất, cửa sổ quan sát hình ảnh không đạt chất lượng hoặc nhịptim không đều Như đã đề cập trong Phụ bảng 8, cũng giống như thể tích thấtphải, phân suất tống máu thất phải có xu hướng cao hơn ở nữ giới so với namgiới do thể tích nhỏ hơn Do vậy khuyến cáo phải nêu giá trị theo giới tính

Khuyến cáo: Tại các phòng siêu âm tim có đủ trang thiết bị và có kinh

nghiệm làm siêu âm tim ba chiều, nên đánh giá phân suất tống máu thất phảibằng siêu âm tim ba chiều như là một phương pháp để lượng giá chức năngthất phải, trong đó cần để cập tới các hạn chế đã nêu ở trên Một cách ướctính, phân suất tống máu thất phải < 45% được coi là giảm chức năng tâm thuthất phải, tuy nhiên một số phòng siêu âm chọn các giá trị tham chiếu theogiới và lứa tuổi

Bảng 1.3 Khuyến cáo đánh giá chức năng thất phải

khuyến cáo

Trang 35

Đánh giá chức năng toàn bộ

thất phải bằng siêu âm

Doppler xung (RIMP)

RIMP (chỉ số Tei) theo phương pháp Doppler xung:

RIMP = (TCO – ET)/ET

lượng

Ít bị ảnh hưởng bởi nhịp tim

Yêu cầu khoảng cách R-R phải bằng nhau giữa hai lần đo

Không đáng tin cậy khi áp lực buồng nhĩ phải tăng

Đánh giá RIMP bằng siêu âm

Không đáng tin khi áp lực nhĩ phải tăng

(TCO – ET)/ET cùng một chu

chuyển tim nên không cần chọn các khoảng R-R đều nhau

Đánh giá chức năng tâm thu

toàn bộ thất phải bằng FAC

Phân số thay đổi diện tích thất phải (FAC) ở mặt cắt 4 buồng từ mỏm tập trung vào thất phải:

Có giá trị tiên lượng

Phản ánh co bóp thất phải cả theo chiều dọc

Bỏ qua vai trò của đường ra thất phải trong chức năng tổng thể thất phải

Trang 36

RV FAC(%) =

100 x (EDA – ESA)/EDA

và theo chiều ngang

Tương quan với phân suất tống máu thất phải đo trên cộng hưởng

từ tim

Khả năng sai số giữa các lần đo

ESV)/EDV

=100x(EDV-Đánh giá được

cả ĐRTP trong chức năng tổng thể của thất phải.

Tương quan với phân số tống máu thất phải đánh giá bằng cộng hưởng từ tim

Phụ thuộc vào chất lượng hình ảnh thu được

Phụ thuộc vào tải thể tích

Yêu cầu phân tích offline và người có kinh nghiệm

Giá trị tiên lượng chưa được chứng minh

Trang 37

Chức năng tâm thu thất phải

theo chiều dọc –TAPSE

Sự dịch chuyển của vòng van ba

lá theo chiều dọc

đo bằng phương pháp M mode đo

Có giá trị tiên lượng

Có giá trị tương đương với phân suất tống máu

Phụ thuộc vào góc đặt chùm tia siêu âm.

Phản ánh một phần chức năng

từ thời điểm cuối tâm trương tới đỉnh thì tâm thu

Sử dụng mặt cắt 4 buồng từ mỏm với que chỉ đặt thẳng góc với hướng chuyển động theo chiều dọc của vòng van

đo bằng phương pháp đồng vị phóng xạ

toàn thể của thất phải *

Vận tốc sóng S’ trên siêu âm

Doppler mô

Vận tốc đỉnh tâm thu đo tại vòng van ba lá bằng Doppler mô TDI (cm/s) đo ở mặt cắt 4 buồng từ mỏm, chùm tia Doppler đặt thẳng góc với thành tự

Dễ thực hiện

Có thể đánh giá lặp lại

Có giá trị tương

tự phương pháp đánh giá phân suất tống máu

Phụ thuộc vào góc đặt chùm tia siêu âm.

Không phản ánh được toàn diện chức năng toàn thể thất phải đặc biệt sau mổ tim, lấy huyết khối

Trang 38

do thất phải bằng xạ hình

Có giá trị tiên lượng

động mạch phổi hoặc ghép tim

Sóng S trên siêu âm Doppler

màu

Vận tốc đỉnh tâm thu vòng van ba

lá đo bằng Doppler màu TDI (cm/s)

Các phép đo đạc được thực hiện sau khi đã lưu hình

Cho phép đánh giá tại nhiều vị trí trên cùng một nhát bóp của tim

Phụ thuộc góc đặt chùm tia Doppler

Không phản ánh toàn diện chức năng tâm thu thất phải đặc biệt sau mổ tim, bóc huyết khối động mạch phổi hoặc sau ghép tim

Giá trị tuyệt đối

và giới hạn tham chiếu thấp hơn

so với vận tốc sóng S’

Cần phân tích offline

Trang 39

Sức căng toàn thể thất phải –

GLS

Giá trị sức căng tối đa đo bằng phương pháp siêu

âm đánh dấu mô,

là giá trị trung bình của ba vùng của thành tự do thất phải đánh giá

ở mặt cắt 4 buồng tập trung vào thất phải (%)

Phụ thuộc góc

Có giá trị tiên lượng

Phụ thuộc vào nhà cung cấp máy

ET: Thời gian tống máu; IVCT: thời gian co đồng thể tích; IVRT: Thời gian giãn

đồng thể tích; TCO: thời gian đóng mở van ba lá

Ngày đăng: 09/08/2019, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. American Society of Echocardiography (2003), "Recommendations for evaluation of the severity of native valvular regurgitation with two- dimensional and Doppler echocardiography", J Am Soc Echocardiography, 16 (17), pp. 777 - 802 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recommendations forevaluation of the severity of native valvular regurgitation with two-dimensional and Doppler echocardiography
Tác giả: American Society of Echocardiography
Năm: 2003
11. Deloche A, Carpentier A. (1990), "Valve repair with Carpentier techniques. The second decade.", J Thorac Cardiovasc Surg, 99(6), 990- 1001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Valve repair with Carpentiertechniques. The second decade
Tác giả: Deloche A, Carpentier A
Năm: 1990
12. Elyse Foster (2007), "Quantitative Assessment of Severity of Mitral Regurgitation by Serial Echocardiography in a Multicenter Clinical Trial of Percutaneous Mitral Valve Repair", American Journal of Cardiology, 100(10), p1577-1583 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantitative Assessment of Severity of MitralRegurgitation by Serial Echocardiography in a Multicenter ClinicalTrial of Percutaneous Mitral Valve Repair
Tác giả: Elyse Foster
Năm: 2007
13. Eugene W (1986), "Follow up: Mitral valve prolapse with rigid annular calcification: A new technique for mitral valve replacement", Tex Heart Inst J., 13(2),p263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Follow up: Mitral valve prolapse with rigid annularcalcification: A new technique for mitral valve replacement
Tác giả: Eugene W
Năm: 1986
14. John S. Gottdiener, James Bednarz, Richard Devereux, et al (2004),"American Society of Echocardiography Recommendations for Use of Echocardiography in Clinical Trials", J Am Soc Echocardiogr, 17:1086- 1119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Society of Echocardiography Recommendations for Use ofEchocardiography in Clinical Trials
Tác giả: John S. Gottdiener, James Bednarz, Richard Devereux, et al
Năm: 2004
15. Krauss J, Pizarro R, Oberti PF, Falconi M, et al. (2006), "Prognostic implication of valvular lesion and left ventricular size in asymptomatic patients with chronic organic mitral regurgitation and normal left ventricular performance", Am Heart J., 152(5), 1004.e1001-1008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prognosticimplication of valvular lesion and left ventricular size in asymptomaticpatients with chronic organic mitral regurgitation and normal leftventricular performance
Tác giả: Krauss J, Pizarro R, Oberti PF, Falconi M, et al
Năm: 2006
16. Maurice Enriquez-Sarano (2005), "Quantitative determinant of the outcome of asymptomatic mitral regurgitation", N Engl J Med, 352(9), 875-883 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantitative determinant of theoutcome of asymptomatic mitral regurgitation
Tác giả: Maurice Enriquez-Sarano
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w