Qua hệ thống TLS, cónhiều bất thường mới trong các giai đoạn phát triển của phôi được phát hiện.Những phát hiện mới này có thể góp phần vào quá trình đánh giá chất lượngphôi, giúp chọn đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
=======
ĐÀO HUY THÀNH
CHUYÊN ĐỀ 1
MỘT SỐ BẤT THƯỜNG CỦA PHÔI GIAI ĐOẠN PHÂN CHIA
QUA HỆ THỐNG TIME-LAPSEMỘT SỐ BẤT
THƯỜNG CỦA PHÔI GIAI ĐOẠN PHÂN CHIAẮT
QUA HỆ THỐNG TIME-LAPSE
Chuyên ngành: Mô – Phôi Thai Học
Mã số: 62720102
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ
mtDNA : Mitochondrial DNA – DNA ty thể
DNA : Desoxyribonucleic acid
ATP : Adenosine triphosphate
MRT : Mitochondrial replacement – Kỹ thuật thay thế ti thể
ST : Spindle transfer - Chuyển đổi thoi vô sắc
PNT : Pronuclear transfer - Chuyển đổi tiền nhân
IVF : In Vitro Fertilization – Thụ tinh trong ống nghiệm
ICSI : Intra cytoplasmic Sperm Injection – Tiêm tinh trùng vào trong bào tương AND : Acid deoxyribonucleic
ART : Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
BF : Tái hòa nhập phôi bào
DUC : Phân chia trực tiếp không đồng đều
Hpi : Số giờ sau thụ tinh
ICSI : Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
IVF : Thụ tinh trong ống nghiệm
MNB : Phôi bào đa nhân
RC : Phân chia ngược
TLS : Hệ thống time-lapse
TLS: hệ thống time-lapse
ART: kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Trang 4Hpi: số giờ sau thụ tinh
DUC: phân chia trực tiếp không đồng đều
RC: phân chia ngược
BF: tái hòa nhập phôi bào
ICSI: tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
MNB: phôi bào đa nhân
AND: Acid deoxyribonucleic
mtDNA : mitochondrial DNA – DNA ty thể
DNA : Desoxyribonucleic acid
ATP : Adenosine triphosphate
MRT : Mitochondrial replacement – Kỹ thuật thay thế ti thể
ST : Spindle transfer - Chuyển đổi thoi vô sắc
PNT : Pronuclear transfer - Chuyển đổi tiền nhân
IVF : In Vitro Fertilization – Thụ tinh trong ống nghiệm
ICSI : Intra cytoplasmic Sperm Injection – Tiêm tinh trùng vào trong bào tương
Trang 5ĐẠI CƯƠNG 3
1 Ty thể .3
1.1 Cấu tạo hình thái .3
1.2 Thành phần hoá học 4
1.3 Chức năng .5
1.4 Hệ gen của ty thể 6
2.Bệnh lý ty thể .7
2.1 Đột biến ty thể 7
2.2 Bệnh lý ty thể .8
3 Kỹ thuật thay thế ty thể .11
3.1 Chuyển đổi tiền nhân 12
3.2 Chuyển đổi thoi vô sắc .14
3.3 Chuyển đổi tế bào chất .18
3.4 Chuyển đổi phôi bào .20
4 Mối liên quan đến sự không tương thích giữa gen ti thể - hạt nhân 22
KẾT LUẬN .23
ĐẶT VẤN ĐỀ .1
ĐẠI CƯƠNG .4
1 Phôi giai đoạn phân chia .4
1.1 Sự lượng phôi bào trong giai đoạn phân chia .4
1.2 Phân mảnh tế bào .8
1.3 Kích thước các phôi bào .10
1.4 Số lượng nhân trong phôi bào .13
1.5 Bào tương .15
1.6 Sự kết khối .18
2 Những bất thường của phôi giai đoạn phân chia được quan sát qua hệ thống time-lapse .19
2.1 Bất thường trong phân chia phôi bào .23
Trang 62.4 Bất thường số lượng nhân của phôi bào .45
2.5 Bất thường trong bào tương: không bào .53
2.6 Bất thường giai đoạn kết khối .60
KẾT LUẬN .67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Hình 1 Phôi giai đoạn 2 tế bào, 4 tế bào và 8 tế bào .8
Hình 2: Fragment dạng phân tán .10
Hình 3: Fragment dạng khu trú .10
Hình 4: Phôi 2 tế bào kích thước đồng đều (trái) và không đồng đều (phải) 12
Hình 5: Phôi 4 tế bào có kích thước phôi bào đồng đều (trái) và không đồng đều (phải) .12
Hình 6: phôi 8 tế bào có kích thước phôi bào đồng đều (trái) và không đồng đều (phải) .13
Hình 7: Phôi 2 tế bào với 2 phôi bào đa nhân và 25% fragment .14
Hình 8: Rỗ tế bào chất Nhiều vết rỗ nhỏ được phân tán trong tế bào chất của phôi bào 17
Hình 9: Phôi 2 tế bào với hiện tượng vón hạt tế bào chất, tạo nên quầng sáng ở cả 2 phôi bào 17
Hình 10: Phôi 5 tế bào xuất hiện các không bào trong bào tương (mũi tên) .18
Hình 11: Phôi giai đoạn kết khối .19
Hình 12: Sự phân chia trực tiếp của phôi bào .24
Hình 13: Phân chia trực tiếp từ 1 phôi bào thành 3 phôi bào .25
Hình 14: a nguyên phân bình thường b nguyên phân đa cực .26
Hình 15: Sự phân chia ngược của phôi .31
Hình 16: Phân chia ngược loại II từ 4 phôi bào 5 phôi bào 4 phôi bào 31
Hình 17: Phân chia ngược loại I .34
Hình 18: Quá trình tái hòa nhập của fragment (mũi tên) vào phôi bào 44
Hình 19: Sự xuất hiện và biến mất của các không bào trong phôi .60
Hình 20: Quá trình kết khối qua hệ thống time-lapse .66
Trang 8Hình 2: Hệ gen ty thể người chứa đựng 16.569 cặp base mã hóa trong 37 gen, chia
ra 28 gen trên mạch H (H-strand) và 9 gen trên mạch L (L-strand) .6
Hình 3: Phả hệ minh họa sự di truyền của bệnh di truyền ty thể .7
Hình 4: Đặc điểm di truyền của gen trong ty thể .8
Hình 5: A: Chuyển đổi tiền nhân; B: Chuyển đổi thoi vô sắc .17
Hình 6: Chuyển đổi tế bào chất Tế bào chất của người hiến được chuyển đến tế bào trứng người nhận Tinh trùng được tiêm đồng thời trong quá trình chuyển để thụ tinh cho noãn bào nhận 20
Hình 7: Chuyển đổi phôi bào: Một phôi bào từ phôi của một người mẹ bị bệnh được chuyển sang noãn bào hiến tặng khỏe mạnh 21
Trang 9Đ1AGEREF _
Sự đánh giá chất lượng phôi chính xác là rất quan trọng đối với một chu
kỳ thụ tinh trong ống nghiệm thành côngA precise embryo quality evaluation
sustain a successful in vitro fertilization (IVF) program Ở hầu hết các trungtâm IVF trên thế giới, việc đánh giá chất lượng phôi chủ yếu dựa vào quan sáthình thái phôi giai đoạn phân chiaIn most IVFclinics around the world, this quality assessment relies mainly on themorphological evaluation of cleavage stage embryos Các nhà phôi học sẽ dựavào kinh nghiệm để đánh giá mối tương quan giữa hình thái và khả năng làm
should be able to correlate the features observed at the optical microscopewith the implantation potential of each particular embryo(Alikani et al., 2000; Ebner et al., 2003; Alpha Scientists in ReproductiveMedicine and ESHRE Special Interest Group of Embryology, 2011)
Để đạt được mục tiêu này, nhiều thang điểm đánh giá dựa trên các đặc điểmhình thái của phôi phân chia đã được đề xuất [1], [2]To achieve this goal,many scoring systems based on the morphological features of the dividingembryo have been developed (Giorgetti
et al., 1995; Veeck, 1999; Fisch et al., 2001; de Placido et al., 2002;Baczkowski et al., 2004; reviewed by Rienzi et al., 2005; Torello´
et al., 2005; Holte et al., 2007) These embryo classification systemsare based on the evaluation of the number of blastomeres, thedegree of fragmentation, the symmetry of the blastomeres, the presence ofmultinucleation and the compaction status It is very importantthat the features related to implantation potential are assessed accurately andsimilarly The purpose of this chapter is to illustrate morphological aspects
Trang 10useful for the evaluation of the implantation potential ofthe embryos.
Theo phương pháp truyền thống, phôi sẽ được lấy ra khỏi tủ ấm vào mộtthời điểm nhất định mỗi ngày, và được đánh giá chất lượng bởi một nhà phôihọc dưới kính hiển vi quang học Tuy vậy, sự phát triển phôi là một quá trìnhliên tục, và việc đánh giá theo phương pháp truyền thống có thể bỏ sót nhữnghiện tượng bất thường xảy ra giữa các thời điểm kiểm tra phôi Hơn nữa, việclấy phôi ra khỏi tủ nuôi cấy hàng ngày sẽ làm phơi nhiễm phôi với các yếu tốbên ngoài, đồng thời làm thay đổi vi môi trường nuôi cấy, do đó có thể ảnhhưởng đến chất lượng phôi Vì vậy, một hệ thống nuôi cấy có khả năng theodõi, đánh giá phôi liên tục và giữ phôi trong môi trường ổn định cần đượcnghiên cứu
Trong những năm gần đây, các hệ thống time-lapse (TLS) đã đượcnghiên cứu và phát triển để giải quyết vấn đề trên TLS có thể chụp ảnh kỹthuật số của phôi trong khoảng thời gian liên tục, và lưu những hình ảnh đóvào bộ nhớ máy tính để dễ dàng kiểm tra Điều này cho phép các nhà phôihọc đánh giá chất lượng của phôi mà không cần lấy chúng ra khỏi tủ nuôi cấy.Những lợi thế tiềm năng của TLS bao gồm khả năng duy trì môi trường nuôicấy ổn định, hạn chế sự tiếp xúc của phôi với những thay đổi trong môitrường, thành phần khí, nhiệt độ và chuyển động Ngoài ra, TLS có thể cảithiện khả năng lựa chọn các phôi tốt trong ART bằng cách sử dụng thông tin
có được từ việc giám sát liên tục sự phát triển của phôi Qua hệ thống TLS, cónhiều bất thường mới trong các giai đoạn phát triển của phôi được phát hiện.Những phát hiện mới này có thể góp phần vào quá trình đánh giá chất lượngphôi, giúp chọn được phôi có chất lượng tốt nhất trong một chu trình điều trịIVF Chuyên đề này sẽ đề cấp đến kiến thức cơ bản về phôi giai đoạn phânchia, những bất thường của phôi giai đoạn phân chia được phát hiện qua TLS,
và ảnh hưởng của những bất thường đó trên lâm sàng
Trang 11Quá trình sao mã của mtADN xảy ra ở trong ty thể và độc lập với nhân.Khác với ADN của nhân, mtADN không có các đoạn intron Tỷ lệ đột biến ởADN trong ty thể cao hơn khoảng 10 lần so với ADN trong nhân, tình trạngnày xảy ra do ty thể thiếu hệ thống enzyme sửa chữa ADN và cũng có lẽ docác gốc oxy tự do (free oxygen radical) được giải phóng trong quá trình oxyphosphoryl hóa Các bệnh do đột biến mtDNA lần đầu tiên được mô tả năm
1988, kể từ đó, đã có hơn 150 đột biến (bao gồm trên 100 đột biến mất đoạn
và khoảng 50 đột biến điểm) đã được xác định có liên quan đến các bệnh lýnghiêm trọng của con người bao gồm chứng bệnh cơ, bệnh thoái hóa thầnkinh, tiểu đường, ung thư và vô sinh [1] Sự quan tâm đến đột biến DNA tythể đã tăng lên do số lượng bệnh lý ty thể ngày càng tăng và chúng có thể ảnhhưởng đến bệnh nhân suốt cuộc đời Ngoài ra, đột biến mtDNA ngày càngliên quan đến một loạt các tình trạng sức khoẻ cộng đồng phổ biến, bao gồmbệnh Alzheimer, Parkinson và Huntington [2], [3], [4], [5], [6]
Hiện nay, không có phương pháp chữa khỏi bệnh do đột biến ty thể màchỉ điều trị làm giảm triệu chứng và chậm tiến triển bệnh Chẩn đoán ditruyền trước sinh đã được áp dụng, để xác định và chuyển các phôi không cóđột biến mtDNA gây bệnh Tuy nhiên, tư vấn di truyền ở hầu hết các bệnhnhân có nguy cơ đột biến mtDNA đang gặp nhiều thách thức do những hạnchế trong việc đánh giá mức độ đột biến mtDNA và dự báo chính xác nhữngrủi ro [7], [8] Do đó, có một nhu cầu đáng kể để xem xét các cách tiếp cậnđiều trị mới có thể ngăn ngừa sự lây truyền đột biến mtDNA từ mẹ sang con
Sự thay thế hoàn toàn của mtDNA đột biến trong trứng của bệnh nhân vớimtDNA khỏe mạnh sẽ là phương pháp đáng tin cậy nhất để tránh tái phát cácbệnh của mtDNA Vì vậy chuyên đề này sẽ đề cập đến những kiến thức cơbản về bệnh ty thể, các phương pháp thay thế ty thể, ưu nhược điểm cũng nhưnhững ứng dụng trên lâm sàng
Trang 12ĐẠI CƯƠNG
1 Phôi giai đoạn phân c hiaắt
Phôi giai đoạn phân chiaắt (Cleavage stage) được đặc trưng bởi sự phânchia đơn giản và liên tục của các phôi bào (Cleavage stage) [1] Giai đoạn nàykéo dài từ giai đoạn 2 phôi bào cho đến giai đoạn kết khối (compact) gồm 8 –
16 phôi bào [3][1] Hình thái phôi giai đoạn phân cắt đóng vai trò quan trọngtrong đánh giá chất lượng phôi Vì vậy, nhiều hệ thống thang điểm đánh giá
và phân loại phôi giai đoạn này đã được nghiên cứu và phát triển[2] Những
hệ thống thang điểm này thường dựa vào các đặc điểm hình tháichỉ số baogồm: số lượng phôi bào, số lượngđộ mảnh vỡphân mảnh tế bào (fragment),
sựđộ đồng đều về hình dạng của các phôi bào, sự xuất hiện của phôi bào đanhân (multinucleation), tình trạng kết khối (compact) và những bất thườngtrong bào tương
1.1 Sự phân chialượng phôi bào trong giai đoạn phân chia
Số lượng phôi bào được dùng sử dụng như một chỉ số có giá trị tiênlượng cao nhất về chất lượng phôi [4] (VanRoyen et al., 1999; Alikani et al., 2000; Fisch et al., 2001) Số lượng phôi bàovào ngày 1, 2 hoặc 3 sau thụ tinh là một yếu tố quan trọng để tiên lượng khảnăng làm tổ và mang thai của phôi Phôi chất lượng tốt sẽ phân chia một cách
Trong phôi phát triển bình thường, sự phân bào xảy ra sau mỗi 18 - 20 tiếng.Phôi phân chia quá chậm hoặc quá nhanh có thể do có sự bất thường chuyểnhóa hoặc khiếm kkhuyết về nhiễm sắc thể [5], [6] (Edwards et al., 1980;
1995; Ziebe et al., 1997; Van Royen et al., 1999; Leese, 2002) Các nghiêncứu time - lapse gần đây chỉ ra rằng những sự kiện xảy ra trong khoảng thời
Trang 13gian giữa các lần phân bào cũng rất quan trọng Nếu tất cả các phôi bào phân
chia một cách đồng bộ và chính xác chính xác tuyệt đối, chúng ta chỉ có thể quan sát thấy phôi 2, 4 hoặc 8 tế bào tại các thời điểm kiểm tra Tuy nhiên, người ta thường quan sát thấy phôi 3, 5, 6, 7 hoặc 9 tế bào Đây là dấu hiệu cho thấy sự phân chia phôi bào là không đồng bộ [7], [8] (Scott et al., 2007;
Lemmen et al., 2008; Wong et al., 2010; Meseguer et al., 2011;reviewed by Kirkegaard et al., 2012) Thời điểm đánh giá phôi sau thụ tinh
cần được tiến hành chính xác để đánh giá đúng quá trình động học của sự phân chia tế bào ( [9]Scott et al., 2007).
Số lượng phôi bào vào ngày 1, 2 hoặc 3 sau thụ tinh là một yếu tố quantrọng để tiên lượng khả năng làm tổ và mang thai của phôi Để đánh giá sựquá trình phân chiaắt phôi ( dựa trên số lượng phôi bào), tỷ lệ phân cắt tối ưu
đã được xác định tại hội nghịthảo đồng thuận Istanbul đã thống nhất nhữngmốc cụ thể, bao gồm là: Ngày 1 (26 ± 1 h sau ICSI, 28 ± 1 h sau IVF) : 2 tếbào; Ngày 2 (44 ± 1 h): 4 tế bào và Ngày 3 (68 ± 1 h): 8 tế bào [10] (AlphaScientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special Interest Group of
Sự phân cắt sớm (lần phân chia lần đầu tiên xảy ra trước 26 ±+ 1 giờ đối với(ICSII) ,và 28 ±+ 1 giờ đối với (IVF) đã được chứng minh là có tương quanvới chất lượng phôi tốt, sự phát triển phôi nang và tỷ lệ có thai tốt [11](Lundin et al., 2001; Fenwick et al., 2002) Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằngvới phôi ngày 2, chuyển những phôi có 4 phôitế bào cho kết quả làm tổ vàmang thai cao hơn đáng kể so với nhữngchuyển phôi có số lượng tế bào thấp
[2](Thurin et al., 2005; Holte et al., 2007; Scott et al., 2007).Tương tự, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng đối với chuyển phôi ngày 3, tỷ lệ
Trang 14phôi làm tổ và có thai sống cao nhất với những phôi cógiai đoạn 8 tế bào(được phát triển từ phôi có 4 phôi bào vào ngày 2) [12](vanRoyen et al., 1999; Racowsky et al., 2011) Chất lượng phôi giai đoạn phâncắt tại thời điểm chuyển phôi dường như cũng có vai trò trong việc dự đoánthai mất sớm Hourvitz và cộng sựet al (2006) thấy rằng chuyển những phôingày 3 có ≤ ít hơn hoặc bằng 5 phôi bào cho cóliên quan tỷ lệ đến sự mất thai
mất sớm cao (early pregnancy loss) [13]
Mối tương quan giữa số lượng phôi bào tại các điểm thời gian quan sátkhác nhau và bất thường nhiễm sắc thể cũng đã được ghi nhậnnghiên cứu.Munne (2006) thấy rằng những phôi ngày 2 có 4 phôi bào có tỷ lệ bất thườngnhiễm sắc thể thấp nhất, trong khi Magli và cộng sựet al (2007) cho thấy rằng
điều này cũng đúng với những phôi có từ 7 - 8 tế bào vào ngày 3 [14] Điềutương tự cũng được Finn et al (2010) mô tả: những phôi ngày 3 có 7 - 8 phôibào có tỷ lệ euploidy cao hơn so với những phôi có ≤ 6 phôi bào hoặc ≥ 9phôi bào [15]
Trang 16Hình 1 Phôi giai đoạn 2 tế bào, 4 tế bào và 8 tế bào: Cấu tạo của ty thể
1.2 Phân mảnh tế bào (fragments)
Rất thường xuyên, qQuá trình phân chia của phôi thường xuấtxuất ra cácmảnh vụn bào tương (fragments)., Các mảnh bào tương này được bao bọc bởimàng tế bào nhưng bên trong không chứa DNA [16] dẫn đến sự hiện diệncủa các mảnh vụn không có nhân (Antczak and van Blerkom,1999) Do đó,fragments được định nghĩa là sự hiện diện của các cấu trúc không nhân cónguồn gốc từ phôi bào [17] Kích thước và sự phân bố của các fragmentsbêntrong không gian được bao quanh bởi zona pellucida (ZP) rất thay đổi [18]
Trang 17(Alikani et al.,1999), và Số lượngmức độ fragments được sử dụng rộng rãi để
dự đoántiên lượng khả năng làm tổ của phôi [19] (Ebner et al., 2001; Ziebe etal., 2003; Munne´, 2006) Mức độ fragments thường được tính bằng tỷ lệphần trăm trên tổng thể tích bào tương Mức độ fragments được xác định lànhẹ (10%), vừa (10 - 25%) và nặng (>25%) ĐộNếu fragments dướikhôngđạt 10% tổng thể tích của phôi thì được cho rằngcoi như không có tác độngđến khảtiềm năng phát triển của phôi [1](Van Royen et al., 2001; Holte et al.,2007)
Một phần nhỏ của bào tương được bọc bởi màng tế bào nhưng thườngkhông chứa DNA được hình thành trong quá trình phân chia tế bào.Do đófragments được định nghĩa là sự hiện diện của các cấu trúc không có nhân cónguồn gốc từ phôi bào (Keltz et al., 2006) và đánh giá mức độ fragments cótrong hầu hết các hệ thống tính điểm phôi Mức độ fragments thường đượcbiểu thị bằng tỷ lệ phần trăm của tổng thể tích bào tương Mức độ phân mảnhtương đối được xác định là nhẹ (10%), vừa (10 - 25%) và nặng (>25%)
Thường rất khó để phân biệt giữa một fragment kích thướccỡ lớn không cónhân với một phôi bào Johansson và cộng sự (2003) thấy rằng các cấu trúc cóđường kính 45 mm mảnhnằm trongcủa tế bào chất có đường kính 45 mm củaphôivào nNgày 2 và đường kính 40 mm trong tế bào chất của phôivàonNgày
3 không chứa DNA, và các tác giả đã đềhọ đề xuất một tiêu chuẩn xác địnhfragments là các cấu trúc dưới những kích thước này.Mức độ fragment cao tương quan nghịch vớilàm giảm khả năngtỷ lệ làm tổ
và mang thai [12] (Racowsky et al., 2000)giảm khả năng hình thành phôinang và có thể ảnh hưởng đến sự phân bố các tế bào trong quá trình biệt hóa [20], trong khi sự hiện diện của một lượng nhỏ fragments không có tác độngtiêu cực hoặc thậm chí có thể có tác động tích cực [18] (Alikani et al., 1999 )
Hai loại fragment khác nhau đã được quan sát bằng time-lapse phôi người:fragment thực sự, đặc trưng là các fragments xuất hiện liên tục và ổn định có
Trang 18nguồn gốc rõ ràng từ phôi bào; và fragment giả, đặc trưng bởi sự xuất hiệnthoáng qua trong hoặc ngay sau phân bào, nhưng không còn được phát hiệntrong quá trình phát triển tiếp theo (Van Blerkom et al., 2001).Tăng phân mảnh dẫn đến giảm khả năng hình thành phôi nang và có thể ảnhhưởng đến sự phân bố các tế bào trong quá trình biệt hóa (Hardy et al., 2003).
Sự phân bố của các fragments không gian của các fragment trong khoangdưới màng Zona (perivitelline space - PVS) có thể được phân thành hai loại:phân tán (hình ) và tập trung (hình ) Mức độ fragments càng cao càng khóphân biệt giữa hai loại này Fragments thuộc loại phân tán có liên quan đến sựgia tăng tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể [21](Magli et al., 2007) Mức độfragments càng cao, càng khó phân biệt giữa hai loại này
Hình 2: Fragment dạng phân tán
Trang 19Hình 3: Fragment dạng khu trú
1.3 Kích thước các phôi bào
Phôi bào khi phân chia bình thường sẽ tạo ra hai tế bào con có kíchthước bằng nhau Sự phân chia không đồng đều (một tế bào phân cắt thànhhai tế bào có kích thước không giống nhau) có thể dẫn đến sự phân bố khôngđồng đều các phân tử tế bào chất (protein, mRNA, )Khi sự phân chia diễn rakhông đồng bộ, một trong những phôi bào của thế hệ tiếp theo sẽ thừa hưởng
ít hơn một nửa lượng tế bào chất từ phôi bào mẹ, dẫn đếndo đó xuất hiên mộtdòng tế bào bị khiếm khuyết trong phôi Hơn nữa, sự phân chia không đồngđều đã được chứng minh là có tương quan với tỷ lệ phôi bào đa nhân và lệchbội cao hơn [22] Những phôi 4 và 8 tế bào màcó kích thước các phôi bàobằng nhau đã được chứng minh có tỷ lệ phôi bào đa nhân và lệch bội thấphơn, đồng thời tăng tỷ lệ làm tổ [22](Hardarson et al., 2001; VanRoyen et al., 2001; Hnida et al., 2004; Scott et al., 2007) Sau hai lần phân cắt,hợp tử trở thành phôi 4 tế bào Bốn tế bào của phôi thường được sắp xếp theohình tứ diện trong một không gian hình cầu bao bọc bởi ZP Tuy nhiên, trongmột số trường hợp, các phôi bào sắp xếp gần như trong một mặt phẳng khônggian duy nhất do sự định hướng không chính xác của các trục phân chia Điều
Trang 20này có thể liên quan tới thay đổi sự phân cực của phôi (Edwards and Hansis,2005)
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng mức độ đồng đều về kích thướcphôi bào trong phôi ngày 2 có liên quan với tăng tỷ lệ mang thai [23] sauđiều trị hỗ trợ sinh sản (Giorgetti et al.,1995; Ziebe et al., 1997; Hardarson et al., 2001; Holte et al., 2007)
Sự phân chia không đồng đều (một tế bào phân cắt thành hai tế bào có kíchthước không giống nhau) có thể dẫn đến sự phân bố không đồng đều các phân
tử tế bào chất (protein, mRNA, ) và đã được chứng minh là có tương quanvới tỷ lệ phôi bào đa nhân và lệch bội cao hơn (Hardarson et al.,
Kích thước phôi bào phụ thuộc vào giai đoạn phân chia và sự đều đặn củatừng lần phân chia Các phôi bào của phôi 2, 4 và 8 tế bào phải có kích thướcbằng nhau (phôi đặc trưng cho giai đoạn (stage-specific embryos)) Ngược lại,phôi bào của những phôi có số lượng tế bào khác 2, 4 và 8 nên có kích thướckhác nhau vì có sự không đồng bộ trong việc phân chia một hoặc nhiều phôibào Một phôi 3 tế bào tốt nhất nên có một phôi bào lớn và hai phôi bào nhỏ;một phôi 5 tế bào - ba phôi bào lớn và hai phôi bào nhỏ hơn; phôi 6 tế bào -hai phôi bào lớn và bốn phôi bào nhỏ hơn và phôi 7 tế bào - một phôi bào lớn
và sáu phôi bào nhỏ hơn
Trang 21
Hình 4: Phôi 2 tế bào kích thước đồng đều (trái) và không đồng đều (phải)
Hình 5 : pP hôi 4 tế bào có kích thước phôi bào đồng đều (trái) và không
đồng đều (phải)
Trang 22
Hình 6 : phôi 8 tế bào có kích thước phôi bào đồng đều (trái) và không
đồng đều (phải)
1.4 Số lượng nhân trong phôi bào
Mỗi phôi bào chỉ nên có duy nhất một nhân Phôi bào Đđa nhân đã đượcghi nhận là có liên quan đến các rối loạn về về di truyền [24] (Kligman et al.,
1996; Hardarson et al., 2001) Nó làm giảm khả năng tỷ lệ phân chia,a và khảnăng làm tổ của phôi ( [25] Pelinck et al., 1998; Van Royen et al., 2003;Moriwaki et al., 2004) và có tương quan vớiliên quan đến tỷ lệ hỏng thai cao
2004) Phôi bào đa nhân có thể được đánh giá vào nNgày 1 (26–28±1 h insemination), ngày 2 (44 ± 1 h post-insemination) và ngày 3 trong quá trìnhphát triển (68 ± 1 h post-insemination) , tTuy nhiên khó đánh giá hơn, vào
post-ngày 3, đặc điểm này khó đánh giá hơn do cấu trúcphôi bào có số lượng nhiều
hơn và kích thước bé hơn [27] phức tạp hơn của phôi ngày 3(Van Royen et al., 2003) Sự xuất hiện của phôi bào đa nhân Các bất thườnghình thái thườngđược cho là có liên quan đến nhau và sự phân chia không
đồng đều của phôi [28].đã được chứng minh là có liên quan đến sự xuất hiện
của phôi bào đa nhân (Hardarson et al., 2001) và fragments (Hnida et al.,2004)
Phôi bào đa nhân cũng có thể được chia thành 2 loại: phôi bào có 2 nhânhoặc nhiều hơn 2 nhân Các Pphôi bào đa nhân thường bị loại trừ khi chuyểnphôi Tuy nhiên, người ta đã chứng minh được rằng các phôi bào ngày 1 có 2nhân vẫn có thể phân cắt thành phôi bào có bộ nhiễm sắc thể bình thường
[29] (Staessenvà Van Steirteghem, 1998)
Trang 23.Đánh giá phôi bào đa nhân nên được đưa vào trong các quy trình đánh giáphôi nào để chọn phôi chất lượng cao nhất, và mặc dù những phôi bào đanhân vẫn có thể cho ra thai sống, chúng nên được thay thế bởi những phôi tốthơn
Hình 7 : Phôi 2 tôi chất lượng cao nhất, và mặc dù những phôi
The absence or presence of a single nucleus per blastomere has
been shown to be a predictor of embryo implantation potential (Moriwaki etal., 2004; Saldeen and Sundstro¨m, 2005) Visualization of fourmononucleated blastomeres in a 4-cell embryo (Figs 265 and 266) predicted ahigher implantation rate than in cases where zero (Fig 266) to threemononucleated blastomeres (Fig 268) were seen (Saldeen andSundstro¨m, 2005) However, other studies have found that gradingembryo nuclear score on Day 2 had no additive value for the prediction ofimplantation rate above that predicted by Day 3 embryomorphology (Bar-Yoseph et al., 2011)
Trang 241.5 Bào tương
Tế bào chất của phôi giai đoạn phân chiaắt thường trong suốt hoặc códạng hạt mịn (Hartshorne, 2000) Những bất thường bào tương, chẳng hạnnhư sự vón hạt tế bào chất (cytoplasmic granularity), rỗ tế bào chất(cytoplasmic pitting) và sự hiện diện củaa các không bào (vacuoles) cần đượcghi nhận khitrong đánh giá hình thái của phôi ngày 2 và 3 Tuy nhiên, giá trịtiên lượng của các hiện tượng này đối với chất lượng phôi hoặc khả năng làm
tổ phôi là không rõ ràng
Rỗ tế bào chất được đặc trưng bởi sự hiện diện của nhiều lỗ nhỏ đườngkính xấp xỉ 1,5 micromet trên bề mặt tế bào chất [30] (Biggers và Racowksy,2002) Rỗ tế bào chất xuất hiện trong phôi ngày 3 dường như có tương quanvới sự cải thiện hình thành phôi nang [31], [32](Rienzi et al., 2003)(Desai etal., 2000) Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều kiện nuôi cấy có thể gây rỗ
tế bào chất [30](Biggers và Racowsky, 2002; Ebner và cộng sự, 2005b).Trong trường hợp rỗ nhiều có thể làm tăng nguy cơ mất túi thai sớm [33](Ebner và cộng sự, 2005b)
Tế bào chất của phôi bào có thể bị sạm đi do hiện tượng vón hạt trungtâm kết hợp với một quầng sáng quanh vỏ, do các bào quan rút về phía trungtâm của phôi bào (Hình 273) Veeck thấy rằng những phôi này thường giảmkhả năng làm tổ hoặc đã được định sẵn để thoái hóa [34] ( Veeck,1999).Tương tự, những phôi có các vùng vón hạt và vùng sáng xen kẽ trong phôibào có khả năngtỷ lệ thoái hóa cao hơn (Hình 274)
Sự xuất hiện kKhông bào xuất hiện rất có lẽ là bất thường phổ biến nhất
trong bào tương trứng hoặc/ phôi người Các không bào rất đa dạng về kíchthước và số lượng (Figs 275 trừ280) Về bản chất, Cchúng là các thể vùi trong
tế bào chất được bọc màng, bên trong chứa chất lỏngdịch gần giống tương tự
Trang 25với dịch khoang dưới màng ZP [35] (Van Blerkom, 1990) Trong khi khôngbào đã được nghiên cứu và mô tả kỹ lưỡng trong ở tế bào trứng, có rất ítthông tin về tỷ lệ xuất hiện và vai trò của chúng trong sự phát triểnđối với
phôi Ngoài việc không bào có thể được nhìn thấy ngay tại thời điểm thuthậplấy noãn hoặc được tạo ra nhân tạo bởi ICSI, chúng cũng có thể phát sinh
ở giai đoạn kết khối (Ebner et al., 2005a) Sự xuất hiện lặp lại của không bàovào ngày 4 có liên quan đến sự chậm phát triển, tác động bất lợi đối với sựhình thành phôi nang [36] (Ebner et al., 2005a) Người ta tin rằng sự xuất hiệncủa một số lượng ít không bào nhỏ không ảnh hưởng đến phôi (Các nhà khoahọc Alpha trong Y học sinh sản và Nhóm phôi quan tâm đặc biệt ESHRE,2011), nhưng trong trường hợp xuất hiện nhiều (Figs 277 điều280) thì có thểgây bất lợi cho phát triển phôi và nên được cân nhắc khi lựa chọn
Hình 8 : R nh có thể gâ Nhih vết rỗ nhỏ được phân tán trong tế bào chất
của phôi bào
Trang 26Hình 9 : Phôi 2 tt rỗ nhỏ hii 2 tt rỗ nhỏ được phân tán trong tế qui 2 tt rỗ
nhỏ được phân t
Hình 10 : Phôi 5 tt rỗ nhỏ được phân tán trong tế bào chất của (mũi tên)
1.6 Stên)rỗ nhỏ được phân tá
Trang 27Vào ngày thứ 4 của quá trình phát triển, pPhôi người có hình dạng mộtkhối tế bào không rõ ranh giới vào ngày thứ 4 của quá trình phát triển, gọi làphôi dâu Một phôi dâu chất lượng tốt baosẽ cógồm 16 - 32 phôi bào và tất cả
đều tham gia đều được kết khối [37] (Tao et al., 2002)
Sự gia tăng kết dính giữa các phôitế bào bắt đầu từ giai đoạn 8 tế bào vàsau đó tiến triển nhanh theo thời gian Protein kết dính tế bào E-cadherin đượcchuyển từ bào tương ra màng tế bào Quá trình này có liên quan đến sự kíchhoạt bộ gen của phôi [32](Desai et al., 2000) và do đó được coi là một dấuhiệu tốt về khả năng phát triển của phôi Thành phần chất môi trường nuôi cấy
và các điều kiện môi trường có thể đóng vai trò tích cực với sự kết khối sớm
Sự kết khối có thể được quan từ khi phôibắt đầu từ trước giai đoạn 8 tế bào làbình thường, trong khi phôi có hơn 10 phôi bào không mà chưa có dấu hiệukết khối là không bìnhbất thường (Hình 296).Nghiên cứu của Skiadas et al.vàcộng sự (2006) cho thấy rằng phôi kết khối sớm tăng khả năng làm tổ; tuynhiên điều này chỉ đúng với phôi chất lượng tốt ( fragments dưới 10%) [38].Hội nghị đồng thuận Istanbul đã xác định rằng để một phôi ngày 4 được coi là
có chất lượng tốt thì, tất cả các phôi bào phải được đưa vào trạng thái kếtkhối, trong khi những phôi chỉ có một số tế phôi bào tham gia kết khối hoặc
có fragment bị xuất ra trongkhỏi quá trình kết khối sẽ giảm khả năng làm tổ
Các tế bào bên ngoài của phôi được biệt hóa để tạo thành lá nuôi (Cauffman
et al.,2009)
Trang 28Hình 11 : Phôi giai đon ngoài của
2 Những bất thường của phôi giai đoạn phân chiacắt được quan sát qua
hệ thống time – - lapse
Việc lựa chọn phôi có khả năng phát triển cao nhất là điều kiện tiênquyết cho một chu trình IVF thành công Các phương thức đánh giá phôitruyền thống dựa trên các đặc điểm hình thái được quan sát dưới kính hiển vitại các mốc thời gian nhất định mỗi ngàyReliable selection of embryos withthe highest developmental competence is a prerequisite forsuccessful IVF treatment Current embryo assessment is based ondevelopment rate and morphological features
as evaluated under a microscope atcertain, distinct time-points Cách làm này này hạn chế tính chính xác khi
Trang 29đánh giá phôi do quá trình phát triển của phôi là liên tục, và bất thường có thểxảy ra và biến mất giữa các lần kiểm tra phôi Hệ thống time-lapse khắc phụcnhược điểm này bằng cách cung cấp hình ảnh liên tục về toàn bộ quá trìnhphát triển của phôi, từ đó cho ta phát hiện thêm một số bất thường khó quansát được bằng phương pháp đánh giá truyền thống Althoughembryo grading schemes vary betweenfertility clinics, most laboratories gradethe cleavage stage embryo on the degree
of fragmentation, presence and number
of nuclei and size, number and symmetry of blastomeres per embryo (1–6).Blastocysts are evaluated with regard
to the expansion of the blastocoel andthe number and cohesiveness of cells in the inner cell mass (ICM) andtrophectoderm (TE) (7) Standardizedtiming of observations is critical (8)
competence is not firmly correlated,morphological assessment has limitedpredictive value in the identification ofthe most viable embryos (8) Thismight be explained to some extent by
observations (9) and the high degree ofinterobserver and intraobservervariability (10–12) Models based onsequential early embryo parameters in
intervals of inspection have been
Trang 30shown to improve selection and implantation rates (13–15) Therefore
it is reasonable to assume that morefrequent observations will providesubstantially more information on therelationship between development andtiming and thereafter embryo viability.This assumption forms the theoreticalbasis of the potential benefits of timelapse monitoring (TLM) in human IVFembryo selection An increasing number of studies report a correlationbetween timing of key events andimplantation potential or surrogateend points such as aneuploidy anddevelopment potential Yet, timing ofdevelopment depends presumably onboth culture conditions, treatment andpatient populations, which mightcomplicate the uncritical transferability
of any model from one setting to
review is to discuss the evidenceregarding time lapse as a selection
the future assisted reproductive
technology (ART) laboratory
Time-lapse cinematography provides an uninterrupted evaluation
of embryo morphological and dynamic parameters The innovation of a
Trang 31only provides a great research tool for studying early embryo
to improve clinical outcome [8, 9] We assembled a time-lapse prototype
study mouse and human embryo development but the application was
research Single embryo transfers are an efficient strategy to reduce
accurate assessment of embryo developmental potential remains an essential challenge Conventional embryo selection is based on static morphological grading systems, which may limit accurate embryo assessment
Trang 322.1 Bất thường trong phân chia phôi bào
Các bất thường phân chia của phôi có thể được xác định bằng cách sửdụng hệ thống time-lapse Các bất thường này khó được phát hiện với cáchquan sát truyền thống do tính chất động của chúng, cùng với sự xuất hiện và
mờ dần liên tục của hạt nhân Với hệ thống time-lapse, có thể phân biệt giữacác phôi bào và fragment cỡ lớn, bằng cách quan sát phôi trong giai đoạn xuấthiện hạt nhân và bởi động học của quá trình phân chia
2.1.1 Phân chia trực tiếpsớm (Direct cleavage /rapid cleavage):
a định nghĩa
Thời gian một chu kỳ tế bào bình thường của phôi bào kéo dài khoảng
10 đến 12 giờ [39] Tuy vậy, hệ thống time-lapse đã phát hiện những chu kỳ tếbào cực ngắn, chỉ kéo dài khoảng 5 giờ Các chu kỳ tế bào cực ngắn như vậyliên quan đến thiếu sót trong quá trình sao chép ADN, dẫn tới sự phân bốDNA không đồng đều giữa các phôi bào [7], [40] Hiện tượng này gọi là "sựphân chia trực tiếp không đồng đều" (Direct Uneven Cleavage/DUC) Qua hệthống time-lapse, DUC được xác định là sự phân chia đột ngột từ một phôibào thành ba phôi bào trong vòng dưới 5 giờ (hình)Sự phân cắt sớm mô tả sựbất thường phân chia theo đó một phôi bào mẹ phân chia trực tiếp thành bahoặn nhiều hơn phôi bào con
Để mô tả hiện tượng này, thuật ngữ "phân chia trực tiếp" (directcleavage) được sử dụng đầu tiên vào năm 2012 dựa trên các nghiên cứu sửdụng time-lapse, trong đó quan sát thấy phôi giai đoạn 2 phôi bào pháttiến
triển thành 3 phôi bào trong khoảng thời gianvòng dưới 5 tiếng [40] và có thểxảy ra bất kỳ lúc nào giai đoạn phôi phân chia[1] Do đó, hiện tượng này còn
có tên gọi khác là "phân cắt sớm" (rapid cleavage) Phân cắt sớmDUC dạng từ
1 tế bào tế bào thành 3 tế bào dễ thấy nhất trong giai đoạn phân chia thứ nhất
và thứ hai của phôi (từ hợp tử thành 3 phôi bào, hoặc từ 2hai phôi bào thành 5hoặc 6 phôi bào) và có thể đi kèm bất thường đa nhân
Trang 33Hình 12 : S2h thường đa nhân.ặc 6 phôi bào) v
b cách phát hiện
phương pháp theo dõi phôi truyền thống dựa trên các đánh giá hình thái tĩnh,
có thể hạn chế việc đánh giá phôi chính xác Để phát hiện và nghiên cứu hiệntượng phân chia sớm, cần phải theo dõi liên tục qua hệ thống time-lapse
c cơ chế + khả năng xuất hiện
Zaninovic và các cộng sự quan sát thấy DUC ở 12% số phôi nghiên cứu.Thời gian một chu kỳ tế bào của phôi bào thường kéo dài khoảng 10 đến 12 giờ[8] Các chu kỳ tế bào cực ngắn liên quan đến thiếu sót trong quá trình sao chépADN, dẫn tới sự phân bố DNA không đồng đều giữa các phôi bào [9, 10] Hiệntượng này gọi là "sự phân chia sớm không đồng đều" (DUC) Bằng cách sử dụng
hệ thống time-lapse, DUC được xác định là sự phân chia đột ngột từ một phôi bàothành ba phôi bào con trong vòng dưới năm giờ Nhiều báo cáo thấy rằng sự phântách không đồng đều là phổ biến trong tế bào trứng có ba tiền nhân [11-13] Trongphôi ngườiTần suất xuất hiện của DUC với từng giai đoạn phân chia phôi là khácnhau,: : 58% ở lần phân tách đầu tiên (DUC-1), 25% ở lần phân tách thứ hai (DUC-2) và 6,7% ở lần phân tách thứ ba (DUC-3) [41] Tương tự, theo một
Trang 34nghiên cứu năm 2016 của Zhan , trong số tất cả các DUC, DUC-1 và DUC-2 xảy
ra thường xuyên hơn so với DUC-3 (tương ứng 34,7% và 37,4% so với 14,3%)[42]DUC-1 (ở giai đoạn phân chia thứ 1) xuất hiện với tần số dao động từ 8,3%-26% [10, 14-16] DUC được quan sát thấy ở giai đoạn phân chia thứ 2 với tần số
từ 17-18% [5, 14] Giảm thiểu bất thường này cho thấy rằng sự xuất hiện củanguyên phân ba cực (tripolar mitosis) có thể làm suy yếu sự phát triển phôi sớmtrong phôi hai nhân của con người [5, 10, 14, 17]
Hình 13 : Phân chia trất thường này cho thấy rằng sự xuất hi
Zaninovic thấy rằng sự phát triển phôi đã bị suy giảm khi xuất hiện DUC
và chỉ có 9% phôi DUC đạt đến giai đoạn phôi nang [41]Tỷ lệ DUC-1 vàDUC-2 tương tự nhau (9,8% và 9,1%) và cao hơn đáng kể so với DUC-3(3,7%) Trong số tất cả các DUC, DUC-1 và DUC-2xảy ra thường xuyên hơnsau đó DUC-3 (tương ứng 34,7% và 37,4% so với 14,3%).Tỷ lệ DUC caotrong các chu kỳ IVF (n = 684) và ICSI (n = 2471) cũng được xác nhận bằngcách phân tích các chu kỳ với 4 phôi 2PN trở lên (n = 2383, 75,5% của tất cảcác chu kỳ) Trong 71,1%chu kỳ (ICSI 69,1%, IVF 78,5%), hơn một nửa số
Trang 35phôi có DUC và chỉ 0,1%(ICSI 0,1%, IVF 0,4%) là các chu kỳ không cóDUC.
Nguyên phân ba cực (tripolar mitosis) là một trong những cơ chế được
đề xuất để giải thích sự phân chia bất thường này Sự xuất hiện của nguyênphân ba cực (tripolar mitosis) là do bất thường trong hình thành hệ thống thoi
vô sắc, có thể làm suy yếu sự phát triển phôi [43] DC có thể do các lỗi trong
bộ thoi vô sắc, ví dụ, ba cực
Hình 14 : a nguyên phân bình thường
b nguyên phân đa cnh
Trong giai đoạn phân cắt sớm của phôi, các hệ thống lắp ráp thoi vô sắc(SAC) không thực sự hoạt động chính xác đầy đủ vàChúng chỉ trở nêncó đầy
đủ chức năng sau khi kích hoạt bộ gen phôi (EGA) [44][17, 44] SAC đầy đủchức năng có thể làm giảm tỷ lệ phôi bào đa nhân (mắc bệnh Multinuclear
NBlastomere / MNB) và DUC trong các giai đoạn tế bào sau này Các nghiêncứu tiếp theo là cần thiết để làm sáng tỏ các cơ chế hình thành MNB và cácphân chia bất thường tiếp theoDUC
Trang 36Có sự tương quan mạnh mẽ giữa DUC và MNB Nguy cơ xuất hiệnDUC trong phôi MNB cao gấp 2,5-3,1 lần so với phôi đơn nhân Một khảnăng có thể có về tỷ lệ DUC cao trong phôi bào đa nhân có thể là sự tổnthương DNA trong các tế bào đa nhân, gây ra sự sao chép quá mức của trungthể hoặc hệ thoi vô sắc đa cực Nó có thể được xác định bằng các tính toán từcác bản ghi của hệ thống time-lapse , ví dụ nếu t3-t2 = 0, khi phôi giai đoạn 2
tế bào không quan sát được trong các hình ảnh thu được từ hệ thống, mà nóphân chia trực tiếp thành 3 tế bào Zaninovic và các đồng nghiệp đã báo cáo
DC ở 12% phôi: 58% ở lần phân tách đầu tiên, 25% ở lần phân tách thứ hai và6,7% ở lần phân tách thứ ba.Nhóm này báo cáo rằng sự phát triển phôi đã bịsuy giảm khi có xảy ra DC và chỉ có 9% phôi như vậy đạt đến giai đoạn phôinang
DC-1 dẫn đến phôi kém phát triển hơn so với các giai đoạn sau (phân chia thứhai hoặc thứ ba) Bất thường nhiễm sắc thể được phát hiện ở 89 % phần trăm
phôi DUC [42]phân cắt trực tiếp Sự phân cắt sớm (RC) (được định nghĩa bởiRubio et al[1] là sự phân tách trực tiếp (DC), từ hai thành ba phôi bào, trongvòng chưa đầy 5 giờ) được báo cáo xảy ra trong khoảng 14 phần trăm của tất
cả các phôi đã nghiên cứu Bằng chứng cho thấy phôi như vậy có khả nănglàm tổ thấp; do đó, cần tránh lựa chọn tối đa khi chuyển phôi[1]
d Cc ác yếu tố liên quan
Để nghiên cứu mối tương quan giữa DUC và tuổi mẹ, phôi được phânthành 5 nhóm tuổi theo hướng dẫn của Hiệp hội Công nghệ hỗ trợ sinh sản(SART) [45] [20] Tỷ lệ xuất hiệnmắc DUC là tương tự nhau ở tất cả cácnhóm tuổi người mẹphụ nữ (p = 0,18), cũng như ở các nhóm tuổi người bố (p
Trang 37= 0,19, Bảng 1) Hơn nữa, không có sự khác biệt nào giữa tỷ lệ mắc DUCgiữa noãn tự thân và tế bào noãn của người cho [42]
Mối tương quan giữa sự xuất hiện của DUC và nguồn tinh trùng được
thiết lậpnghiên cứu bằng cách phân tích các phôi ICSI được tạo ra bởi tinhtrùng lấy từ tinh hoàn, từ mào tinh và tinh trùng tươixuất tinh bằng ICSI Cáctrường hợpTỷ lệ DUC-2, DUC-3 hoặc DUC-Plus tương tự nhau với giữa cácnhóm tinh trùng xuất tinhtươi, tinh trùng lấy từ mào tinh và tinh hoàn Tuynhiên, tỷ lệ mắc DUC-1 cao hơn đáng kể ở tinh trùng lấy từ mào tinh và tinhhoàn (13,6%, p = 0,001 và ) (11,4%, p = 0,034) khi so sánh với tinh trùng
tươixuất tinh (9,1%) [42]
DUC and fertilization method
Mối tương quan giữa sự xuất hiện của DUC và nguồn tinh trùng đượcthiết lập bằng cách phân tích phôi được tạo ra bởi tinh trùng từ tinh hoàn, màotinh và xuất tinh bằng ICSI Các trường hợp DUC-2, DUC-3 hoặc DUC-Plustương tự nhau với tinh trùng xuất tinh, tinh trùng lấy từ mào tinh và tinh hoàn.Tuy nhiên, tỷ lệ mắc DUC-1 cao hơn đáng kể ở tinh trùng lấy từ mào tinh vàtinh hoàn (13,6%, p = 0,001) (11,4%, p = 0,034) khi so sánh với tinh trùngxuất tinh (9,1%)
DUC and multinucleation
có sự tương quan mạnh mẽ giữa DUC và phôi bào đa nhân Nguy cơxuất hiện DUC trong phôi đa nhân cao gấp 2,5-3,1 lần so với phôi đơn nhân.Một khả năng có thể có về tỷ lệ DUC cao trong phôi bào đa nhân có thể là sựtổn thương DNA trong các tế bào đa nhân, gây ra sự sao chép quá mức củatrung thể hoặc hệ thoi vô sắc đa cực Ngoài ra, tỷ lệ phôi bào đa nhân xuấthiện sau DUC-2 và DUC-3 không khác biệt đáng kể so với phôi không DUC
Trong giai đoạn phân cắt sớm, các hệ thống lắp ráp thoi vô sắc (SAC) khôngthực sự hoạt động đầy đủ và trở nên đầy đủ chức năng sau khi kích hoạt bộ
Trang 38gen phôi (EGA) [17, 44] SAC đầy đủ chức năng có thể làm giảm tỷ lệ mắcbệnh MNB và DUC trong các giai đoạn tế bào sau này Các nghiên cứu tiếptheo là cần thiết để làm sáng tỏ các cơ chế hình thành MNB và các phân chiabất thường tiếp theo
e hệ quả
Các Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối tương quan rõ ràng giữa
sự xuất hiện của DUC, với sự phát triển phôi và khả năng làm tổ của phôi ở cả
động vật [46] [22] và con người [5, 9, 10,12, 14, 17] Nghiên cứu của chúngtôi xác nhận rằng DUC ở giai đoạn phân chia sớm có liên quan tới suy giảmkhả năng hình thành phôi nang, giảm khả năng làm tổ và kết quả có thai trêntrên lâm sàng thấp Trong khi đó, DUC những giai đoạn sau có tác động nhẹhơn DUC-Plus và MNB- ở giai đoạn 1 tế bào gây bất lợi nhất cho sự pháttriển phôi, trong khi DUC những giai đoạn sau có tác động nhẹ hơn nang
Khi sử dụng đánh giá phôi truyền thống không dùng time-lapse, tỷ lệ hìnhthái tốt của phôi ngày 3 có DUC-1 là 27,4% so với 56,4% đối với phôi khôngDUC Tỷ lệ phôi phôi tốt của DUC-2 (57,1%) và DUC-3 (91,8%) bằng hoặccao hơn so với phôi không DUC Điều này ngụ ý rằng phôi DUC nhiều khảnăng sẽ được chọn đểcho ET trên Dchuyển phôi ngày 3 khi được đánh giá
không có time-lapse Mặt khác, tỷ lệ hình thành phôi nang của phôi DUC là40,2% đối với DUC-3, 18,8% đối với DUC-2, 8,2% đối với DUC-1 so với61,0% ở phôi không DUC
Time-lapse cũng cung cấp thông tin chi tiết về hành vi của các phôi bàotrong quá trình phát triển phôii nang Hầu hết các phôi bào con của phôi bào
mẹ có DUC không tham gia vào quá trình nén và tạo khoang Những phôi bào
đó được loại trừ khỏi quá trình phát triển và có thể bị thoái hóa Hiện tượngnày không chỉ giới hạn ở phôi DUC, mà còn được quan sát thấy ở phôi cóhành vi phân chia bất thường khác
Trang 39Clinical outcome of DUC embryos
Trong chuyển phôi D3, phôi DUC cho thấy tỷ lệ làm tổ đã biết (KID-FH)giảm đáng kể: 6,3% vớitrong DUC-3; 2,7% vớitrong DUC-2; về 0% trongcảvới DUC-1 (n = 225) so với tỉ lệ 12,4% của trong phôi không DUC Điềutương tự cũng được ghi nhận đối với tỷ lệ thai sống đã biết (KID-LB): 4,3%)trongvới phôi DUC-3; 1,6% vớitrong DUC-2; về 0% vớitrong DUC-1 so với8,5% ở phôi không DUC (n = 2147) Không có trẻ nào sinh ra từ phôi DUC-2(n = 5) hoặc DUC-3 (n = 5) cho thấy có bất kỳ dị tật bẩm sinh lớn nào
2.1.2 Reverse cleavage/RC ( Phân chia ngược (Reverse cleavage/RC))
a Đđ ịnh nghĩa
Khi quan sát sự phát triển phôi bằng hệ thống time-lapse, một số phôigiai đoạn phân cắt có hiện tượng giảm số lượng phôi bào Hiện tượng này
được gọi là phân chia ngược (RC)
Hình 15 : sS ự nh.cược gọi là tượngg h
Trang 40Liu và cs (2014) chia RC thành 2 loại, bao gồm RC type I : tái hòa nhập phôi bào (blastomere fusion) và RC type II : thất bại phân chia tế bào (failed cytokinesis) [47].
Hình 16 : pP hân chia ngưO_ lo chia to chia ngưO_I 5 phôi bào 4 phôi
bào
Sự phân loại này dựa trên sự phân tách tế bào hoàn toàn (loại I) haykhông phân tách hoàn toàn mà chỉ tiến triển thành dạng “hình số 8” trước khitái hòa nhập (loại II)This study classified all RC-affected embryos into twotypes based on whether the initial cleavage attempt achieved complete cellseparation (type I) or progressed only to a ‘‘figure of 8’’ shape (type II) beforerejoining., examples of which can be seen online (Supplemental Videos 1 and2) Loại II được quan sát thấy thường xuyên hơn loại I Type II was seen farmore frequently than type I (Table 1)
Sự thất bại của tất cả các phôi RC trong quá trình làm tổ và mang thai lâm sàng thuộc nghiên cứu này cho thấy cả hai loại RC đều có tác động đáng kể đến khả năng phát triển của phôiEarlier descriptions of RC described only the