- Động mạch trực tràng dưới động mạch trĩ dưới: động mạch trựctràng dưới bên phải và bên trái xuất phát từ động mạch thẹn trong cấp máucho hệ thống cơ thắt, các nhánh tận cấp máu cho 1/3
Trang 1ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Thị Thanh Tú
Trang 2ALT Alanin amino transferaseAST Aspartat amino transferase
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về bệnh trĩ theo y học hiện đại 3
1.1.1 Giải phẫu và sinh lý ống hậu môn 3
1.1.2 Khái niệm, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bệnh trĩ 6
1.1.3 Chẩn đoán bệnh trĩ 9
1.1.4 Các phương pháp điều trị 10
1.2 Quan niệm của y học cổ truyền về bệnh trĩ 12
1.2.1 Bệnh danh và phân loại 12
1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh 13
1.2.3 Các phương pháp điều trị 14
1.3 Tình hình nghiên cứu điều trị bệnh trĩ 16
1.4 Tổng quan về thuốc nghiên cứu 19
1.4.1 Bài thuốc Bổ âm ích khí tiễn 19
1.4.2 Tổng quan về thuốc Daflon 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 26
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Chất liệu nghiên cứu 27
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 28
2.2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu 28
2.2.4 Phân nhóm nghiên cứu 28
2.2.5 Quy trình nghiên cứu 28
2.2.6 Các chỉ tiêu nghiên cứu 29
2.2.7 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả nghiên cứu 30
2.2.8 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 32
Trang 42.5 Xử lý và phân tích số liệu 33
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 33
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân 34
3.1.1 Giới tính 34
3.1.2 Tuổi 34
3.1.3 Thói quen ăn uống và sinh hoạt 35
3.1.4 Độ trĩ, số lượng búi trĩ 35
3.1.5 Mức độ chảy máu 36
3.1.6 Mức độ đau 36
3.2 Hiệu quả điều trị 37
3.2.1 Tác dụng cầm máu 37
3.2.2 Tác dụng giảm đau 38
3.2.3 Tác dụng co nhỏ búi trĩ 39
3.2.4 Tác dụng thu nhỏ độ trĩ 39
3.2.5 Tác dụng giảm triệu chứng táo bón 40
3.2.6 Sự thay đổi huyết áp trung bình sau điều trị 41
3.2.7 Kết quả chung 41
3.3 Tác dụng không mong muốn của thuốc nghiên cứu 42
3.3.1 Trên lâm sàng 42
3.3.2 Trên một số chỉ số cận lâm sàng 42
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 44
4.1 Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân 44
4.1.1 Giới tính 44
4.1.2 Tuổi 44
4.1.3 Thói quen ăn uống và sinh hoạt 44
4.1.4 Độ trĩ, số lượng búi trĩ 44
Trang 54.2 Hiệu quả điều trị 44
4.2.1 Tác dụng cầm máu 44
4.2.2 Tác dụng giảm đau 44
4.2.3 Tác dụng co nhỏ búi trĩ 44
4.2.4 Tác dụng thu nhỏ độ trĩ 44
4.2.5 Tác dụng giảm triệu chứng táo bón 44
4.1.6 Sự thay đổi huyết áp trung bình sau điều trị 44
4.2.7 Kết quả chung 44
4.3 Tác dụng không mong muốn của thuốc nghiên cứu 44
4.3.1 Trên lâm sàng 44
4.3.2 Trên một số chỉ số cận lâm sàng 44
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 2.1 Chẩn đoán Hạ trĩ thể khí huyết hư 26
Bảng 2.2 Thành phần của một thang thuốc “Bổ âm ích khí tiễn” 27
Bảng 2.3 Mức độ chảy máu trên lâm sàng 30
Bảng 2.4 Mức độ đau theo thang điểm VAS 30
Bảng 2.5 Phân loại độ trĩ 31
Bảng 2.6 Đánh giá số lượng búi trĩ 31
Bảng 2.7 Đánh giá triệu chứng táo bón 31
Bảng 2.8 Kết quả điều trị chung 31
Bảng 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân theo giới của 2 nhóm 34
Bảng 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân theo độ tuổi của 2 nhóm 34
Bảng 3.3 Một số yếu tố nguy cơ của 2 nhóm 35
Bảng 3.4 Tỷ lệ bệnh nhân theo độ trĩ trước điều trị của 2 nhóm 35
Bảng 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân theo số búi trĩ trước điều trị của 2 nhóm 35
Bảng 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân theo mức độ chảy máu trước điều trị của 2 nhóm 36
Bảng 3.7 Tỷ lệ bệnh nhân theo mức độ đau trước điều trị của 2 nhóm theo thang điểm VAS 36
Bảng 3.8 Hiệu quả cầm máu sau điều trị của 2 nhóm 37
Bảng 3.9 Hiệu suất cầm máu sau điều trị 7 ngày và 14 ngày của 2 nhóm 37
Bảng 3.10 Sự cải thiện mức độ đau sau điều trị theo thang điểm VAS của 2 nhóm 38
Bảng 3.11 Hiệu suất giảm đau sau điều trị 7 ngày và 14 ngày của 2 nhóm 38
Bảng 3.12 Hiệu quả co nhỏ búi trĩ sau điều trị của 2 nhóm 39
Bảng 3.13 Hiệu quả thu nhỏ độ trĩ sau điều trị của 2 nhóm 39
Bảng 3.14 Hiệu quả giảm táo bón sau điều trị của 2 nhóm 40
Bảng 3.15 Hiệu suất giảm táo bón sau điều trị 7 ngày và 14 ngày của 2 nhóm .40 Bảng 3.16 Tỷ lệ bệnh nhân thay đổi huyết áp trung bình sau điều trị của 2 nhóm 41
Trang 7Bảng 3.19 Ảnh hưởng của thuốc nghiên cứu tới một số chỉ số trong đông máu 42Bảng 3.20 Ảnh hưởng của thuốc nghiên cứu tới một số chỉ số trong công
thức máu 43Bảng 3.21 Ảnh hưởng của thuốc nghiên cứu tới một số chỉ số sinh hóa máu 43
Trang 8Hình 1.1 Giải phẫu ống hậu môn 4
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh trĩ là hiện tượng các mạch máu vùng hậu môn căng to, dễ chảymáu và là một bệnh thường gặp trong các bệnh lý hậu môn trực tràng [1],[2],[3] Năm 2008 – 2009, trong chương trình chăm sóc sức khỏe toàn quốc ở Áo
để sàng lọc ung thư đại trực tràng tại bốn tổ chức y tế, bệnh trĩ chiếm 38,93%trong số 976 người tham gia [4] Ở Mỹ, bệnh trĩ chiếm khoảng 5% dân số vàgần 50% dân số trên 50 tuổi [5] Theo thống kê tại phòng khám hậu môn trựctràng của khoa phẫu thuật tiêu hóa Bệnh viện Việt Đức, bệnh trĩ chiếm tỷ lệ45% số bệnh nhân đến khám về hậu môn trực tràng [6] Điều tra dịch tễ họccủa Nguyễn Mạnh Nhâm và cộng sự ở 5 tỉnh miền Bắc phát hiện được1446/2651 người dân mắc bệnh trĩ chiếm tỷ lệ 55% [7]
Theo y học hiện đại (YHHĐ), việc chẩn đoán xác định bệnh trĩ dựa vàonội soi hậu môn trực tràng Điều trị bệnh trĩ bằng nội khoa, thủ thuật, phẫuthuật Chỉ định điều trị các loại trĩ: trĩ ngoại không có chỉ định thủ thuật vàphẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch; trĩ nội tùythuộc độ trĩ chỉ định nội khoa, quang đông hồng ngoại, thắt vòng cao su, cắttrĩ… ; trĩ sa nghẹt chỉ định điều trị nội khoa đến khi búi trĩ hết phù nề, sau đóphẫu thuật cắt trĩ [1],[8] Theo y học cổ truyền (YHCT), bệnh trĩ có bệnh danh
là Hạ trĩ và là một trong những bệnh thường gặp trong các bệnh ngoại khoacủa YHCT Điều trị bệnh trĩ theo YHCT rất đa dạng: các phương pháp dùngthuốc (thuốc uống, thuốc ngâm, thuốc đắp, thuốc bôi) và phương pháp khôngdùng thuốc như châm cứu
Trang 10Bài thuốc “Bổ âm ích khí tiễn” của Trương Trọng Cảnh là bài thuốc cổphương được Khang Tỏa Bân ghi chép trong cuốn “Cảnh nhạc y phương tinhyếu” [9] Bài thuốc có tác dụng bổ trung ích âm, thăng dương cử hãm và được
sử dụng nhiều trên lâm sàng trong điều trị Hạ trĩ thể khí huyết hư Tuy nhiên,chưa có nghiên cứu khoa học nào đánh giá tác dụng về bài thuốc này Vì vậy,chúng tôi nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu sau:
1 Đánh giá tác dụng của bài thuốc Bổ âm ích khí tiễn trên bệnh nhân hạ trĩ thể khí huyết hư.
2 Theo dõi tác dụng không mong muốn của bài thuốc Bổ âm ích khí tiễn trên lâm sàng và cận lâm sàng.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về bệnh trĩ theo y học hiện đại
1.1.1 Giải phẫu và sinh lý ống hậu môn
1.1.1.1 Giải phẫu ống hậu môn
Ống hậu môn bắt đầu ở nơi bóng trực tràng đột ngột hẹp lại, chạy xuốngdưới và ra sau tới hậu môn, dài khoảng 4cm ở người trưởng thành, thànhtrước hơi ngắn hơn thành sau Ở sau ống hậu môn là một khối mô xơ – cơ, gọi
là thể hậu môn – cụt (ngăn cách với đỉnh xương cụt); ở phía trước, được thểđáy chậu ngăn cách với niệu đạo màng và hành dương vật hoặc với phần dưới
âm đạo; ở hai bên là các hố ngồi – trực tràng Trên toàn bộ chiều dài, ống hậumôn được vây quanh bởi các cơ thắt, giữ ở trạng thái đóng, trừ khi tiết phân
Hệ cơ hậu môn: thành hậu môn được vây quanh bởi cơ thắt hậu môntrong và cơ thắt hậu môn ngoài Cơ thắt hậu môn trong là một ống cơ trơnvòng dày 5 – 8mm bao quanh ¾ trên của ống hậu môn, từ đường tiếp nối hậumôn – trực tràng tới đường trắng Cơ thắt hậu môn ngoài là một ống cơ vânnằm nông hơn cơ thắt hậu môn trong và bao quanh toàn bộ ống hậu môn Ốnghậu môn được chia thành ba phần, tính từ trên xuống, là phần sâu, phần nông
và phần dưới da Phần dưới da bao quanh đầu dưới ống hậu môn, ở dưới bờdưới cơ thắt trong, hai phần kia bao quanh cơ thắt trong
Trang 12Hình 1.1 Giải phẫu ống hậu môn [10]
Lớp niêm mạc hậu môn: lòng ống hậu môn được phủ bởi lớp biểu mô có
3 lớp từ trong ra ngoài, bắt đầu bằng lớp tế bào trụ đơn tiếp đến biểu môvuông tầng, lát tầng và kết thúc là biểu mô giả da ở đoạn cuối cùng của ốnghậu môn Bên cạnh sự chuyển tiếp cấu trúc là sự thay đổi về chức năng - sinh
lý quan trọng trong lòng ống hậu môn [11]
Động mạch vùng hậu môn – trực tràng:
- Động mạch trực tràng trên (động mạch trĩ trên): là nhánh tận của độngmạch mạc treo tràng dưới [12]
- Động mạch trực tràng giữa (động mạch trĩ giữa): động mạch trực trànggiữa bên phải và bên trái xuất phát từ động mạch hạ vị, cấp máu cho phầndưới bóng trực tràng và phần trên của ống hậu môn [13],[14]
- Động mạch trực tràng dưới (động mạch trĩ dưới): động mạch trựctràng dưới bên phải và bên trái xuất phát từ động mạch thẹn trong cấp máucho hệ thống cơ thắt, các nhánh tận cấp máu cho 1/3 dưới hậu môn và vùng
da hậu môn
Tĩnh mạch vùng hậu môn – trực tràng:
- Đám rối tĩnh mạch trĩ trong: máu từ đám rối tĩnh mạch trĩ trong đượcdẫn về tĩnh mạch trực tràng trên, đổ về tĩnh mạch mạc treo tràng dưới (hệcửa) Khi đám rối tĩnh mạch trĩ trong giãn tạo nên trĩ nội
Trang 13- Đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài: máu từ đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài đổ vàotĩnh mạch trực tràng giữa và dưới rồi đổ vào tĩnh mạch hạ vị (hệ chủ) Đámrối tĩnh mạch trĩ ngoài giãn, tạo ra trĩ ngoại Hai đám rối này được phân cáchnhau bởi dây chằng Parks, khi dây chằng thoái hóa mất độ bền chắc, hai đámrối sát liền nhau, trĩ nội mất liên kết với trĩ ngoại tạo nên trĩ hỗn hợp Khi trĩhỗn hợp to ra, không nằm riêng rẽ, liên kết nhau tạo thành trĩ vòng [15] Các nối thông động - tĩnh mạch: Durett cho thấy có sự thông thươnggiữa động - tĩnh mạch ở lớp dưới niêm mạc của ống hậu môn và máu ở trĩ làmáu động mạch nên tác giả đưa ra lý thuyết thông động tĩnh mạch góp phầngây bệnh.
Thần kinh vùng hậu môn – trực tràng: hậu môn trực tràng được chi phốibởi thần kinh sống và thần kinh thực vật [14] Hoạt động bài tiết phân tự chủthông qua sự chi phối của hai hệ thần kinh này
- Thần kinh sống: hệ thần kinh sống có dây thần kinh hậu môn, tách từdây cùng III và dây cùng IV Dây thần kinh hậu môn vận động cơ thắt hậumôn và cảm giác quanh lỗ hậu môn, phẫu thuật làm tổn thương dây thần kinhhậu môn sẽ mất tự chủ khi đại tiện
- Thần kinh thực vật: hệ thần kinh thực vật có các sợi thần kinh tách từđám rối hạ vị Các dây giao cảm từ các hạch giao cảm thắt lưng Các sợi phógiao cảm xuất phát từ hai nguồn: các sợi tận cùng của dây thần kinh X đi quađám rối mạc treo tràng dưới, qua dây cùng trước và dây hạ vị đi xuống (cácnhánh này vận động và chỉ huy việc tiết dịch trực tràng); các dây cùng tách ra
từ đoạn cùng của tủy sống và mượn đường đi của rễ trước thần kinh cùng II,III, IV tới đám rối hạ vị chi phối cho các cơ quan niệu đạo – sinh dục (điềunày giải thích cho các rối loạn tiểu tiện ở các bệnh nhân có phẫu thuật ở vùnghậu môn trực tràng do sự chi phối của thần kinh thực vật) [16],[17]
Trang 141.1.1.2 Sinh lý hậu môn
Sự tự chủ hậu môn: khả năng tự chủ của hậu môn tùy thuộc vào mộtchuỗi quá trình phức tạp, có quan hệ chặt chẽ với nhau Hiện nay với nhữnghiểu biết về sinh bệnh học bệnh trĩ, các nhà hậu môn học công nhận đám rốitĩnh mạch trĩ là trạng thái sinh lý bình thường, tạo nên lớp đệm ở ống hậumôn, giúp kiểm soát sự tự chủ của đại tiện [18],[19]
Khi phân xuống trực tràng làm tăng áp lực trong bóng trực tràng và kíchthích các bộ phận nhận cảm áp lực, từ đó gây ra các phản xạ giúp hậu môn tựchủ (phản xạ ức chế và phản xạ bảo vệ)
Cơ chế đại tiện: ống hậu môn với chức năng sinh lý chính là đào thảiphân bằng động tác đại tiện Hoạt động sinh lý bình thường của ống hậu mônhoàn toàn tự chủ [20],[21] Khi muốn đi đại tiện thì cơ thể phải hủy bỏ cơ chếgiữ phân, phân xuống đến trực tràng áp lực trong bóng trực tràng đến ngưỡng(45mmHg) thì có cảm giác buồn đại tiện: phản xạ ức chế cơ thắt ngoài và bó mutrực tràng xuất hiện, làm hai cơ này giãn ra, kết hợp với tư thế ngồi gấp đùi 900
sẽ làm mất góc hậu môn - trực tràng; động tác rặn làm tăng áp lực trong ổ bụngđẩy phân xuống, lúc này hiệu ứng van không còn, áp lực trực tràng tăng caovượt quá sức cản của ống hậu môn, phân được tống ra ngoài [22]
1.1.2 Khái niệm, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bệnh trĩ
1.2.2.1 Khái niệm
- Kết quả các công trình nghiên cứu về mạch máu và mô học cho thấy trĩ
là một cấu trúc mạng mạch bình thường được nhiều tác giả công nhận [23],[24] Trong điều kiện bệnh lý nào đó, một động mạch bị tắc nghẽn thì mạngmạch sẽ đóng vai trò bù trừ mà bình thường tầm quan trọng của nó ít đượcbiết đến Khi mất khả năng bù trừ sẽ nảy sinh ra bệnh trĩ và xuất hiện triệuchứng chảy máu gặp trong bệnh trĩ [14]
Trang 15- Trĩ nội là những búi giãn của các nhánh của tĩnh mạch trực tràng trên
được bọc bởi niêm mạc Các nhánh của tĩnh mạch trực tràng trên nằm trongcác cột hậu môn ở các vị trí 5, 7 và 11giờ rất hay bị giãn Búi giãn có thể chỉnằm trong ống hậu môn, nhô ra khỏi ống hậu môn lúc đi ngoài rồi trở lại,hoặc nhô ra khỏi ống hậu môn mà không co trở lại được [11]
- Trĩ ngoại là những búi giãn của các nhánh của tĩnh mạch trực tràng dướikhi chúng từ bờ hậu môn chạy sang bên Chúng được phủ bởi da [11]
- Hai đám rối tĩnh mạch trĩ trong và trĩ ngoài được phân cách nhau bởidây chằng Parks, khi dây chằng thoái hóa mất độ bền chắc, hai đám rối sátliền nhau, trĩ nội sẽ mất liên kết với trĩ ngoại tạo nên trĩ hỗn hợp Khi trĩ hỗnhợp to ra, không nằm riêng rẽ, liên kết nhau tạo thành trĩ vòng [15]
1.1.2.2 Nguyên nhân
Nguyên nhân của bệnh trĩ chưa được xác định một cách rõ ràng Nguyênnhân này thường do táo bón và thói quen đại tiện không bình thường Điểmkhông bình thường sinh lý được chứng minh nhất quán nhất là tăng áp lực hậumôn tối đa lúc nghỉ Nhưng nhiều chứng cứ khác lại chỉ ra, bất thường sinh lý đóchỉ là một hiện tượng thứ phát hơn là nguyên nhân của bệnh trĩ Trong số nhiềuphương diện chưa được khám phá, phải kể tới những vấn đề sau: chức năng củacác cơ dọc của thành ruột có liên quan tới bệnh trĩ, mô tả và tính đáp ứng dược
lý học của các cơ dưới biểu mô hậu môn và vai trò lâm sàng của các tác nhândược lý đặc biệt có khả năng làm đảo ngược một số những biến đổi sinh lý đãđược quan sát [24]
Đa số các tác giả cho rằng bệnh trĩ xuất hiện trên những cơ địa đặc biệt (ditruyền), do những yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh gây ra như:
- Tuổi: tuổi càng cao càng dễ mắc bệnh
- Giới: ở Việt Nam, nữ mắc bệnh nhiều hơn nam
- Yếu tố nòi giống (người Do Thái bị trĩ nhiều hơn)
Trang 16- Yếu tố nghề nghiệp (đứng, ngồi lâu ).
- Yếu tố tâm sinh lý: bực bội, buồn vui quá mức, lao động trí óc căngthẳng
- Rối loạn lưu thông ruột
- Các bệnh của hậu môn, trực tràng: viêm đại tràng mạn, viêm loét đạitrực tràng chảy máu, u hậu môn trực tràng và tiểu khung…
- Thai kỳ: trĩ thường gặp ở phụ nữ mang thai, sau mỗi lần mang thai, trĩđều nặng hơn [23],[25]
Thuyết huyết động: được mô tả theo các nghiên cứu mô học và quan sáttrên kính hiển vi điện tử, thuyết này liên quan đến cả tuần hoàn động - tĩnhmạch Vi tuần hoàn của ống hậu môn chứa các Shunt động - tĩnh mạch có khảnăng phản ứng với các kích thích nội tiết hoặc sinh lý thần kinh Các Shuntđộng - tĩnh mạch ở tuần hoàn nông dưới niêm mạc đóng lại khi nghỉ ngơi, chophép sự trao đổi máu trong mô Khi chúng giãn ra đột ngột dưới tác động củacác kích thích làm gia tăng lượng máu trong động tĩnh mạch trĩ, kết quả là môkhông được nuôi dưỡng Hiện tượng này kèm theo sự co thắt mạch và làm gia
Trang 17tăng áp lực đột ngột, giãn đám rối tĩnh mạch trĩ Điều này giải thích tại saochảy máu trong bệnh trĩ là máu đỏ tươi: do đám rối tĩnh mạch trĩ giãn ra vàchứa đầy máu động mạch Các triệu chứng lâm sàng có thể nặng lên do viêmnhiễm và huyết khối, khi dòng máu tĩnh mạch bị tắc nghẽn bởi gắng sức, táo bón,trĩ sa [29],[30]
1.1.3 Chẩn đoán bệnh trĩ
Bệnh trĩ lúc mới xuất hiện thường biểu hiện không rõ ràng, chẩn đoánxác định dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng [1]
1.1.3.1 Triệu chứng lâm sàng
- Biểu hiện lâm sàng: gồm 5 triệu chứng hay gặp nhất [31]
+ Đại tiện ra máu tươi: là triệu chứng sớm và hay gặp nhất, thường biểuhiện ở các mức độ khác nhau như thành tia, nhỏ giọt hoặc dính vào giấy vệsinh Mất máu kéo dài gây tình trạng thiếu máu mạn tính
+ Sa trĩ: sa từng búi hoặc cả vòng trĩ, búi trĩ sa nặng hay nhẹ tùy theomức độ, có thể tự co lên hoặc phải dùng tay đẩy vào, có khi sa tụt hẳn rangoài lỗ hậu môn
+ Đau: trĩ bình thường không gây đau trừ khi có biến chứng huyết khối,viêm nhiễm hoặc kèm theo các bệnh khác (nứt kẽ hậu môn)
+ Ngứa: thường gặp, gây trày xước và chảy máu
+ Chảy dịch: trong bệnh trĩ chất tiết là kết quả của quá trình viêm gồm chấtlỏng hoặc chất nhày Bệnh nhân cảm thấy ẩm ướt ở bờ hậu môn hoặc chất tiếtlàm bẩn quần lót Chất tiết có thể gây ngứa và làm chảy máu do gãi
- Thăm hậu môn - trực tràng là động tác thăm khám bắt buộc đối với
bệnh nhân trĩ Khi không có biến chứng, búi trĩ mềm khó phát hiện Thămtrực tràng bằng ngón tay để kiểm tra khả năng co thắt của cơ thắt vòng hậumôn, xác định tổn thương của búi trĩ, xác định tổn thương đi cùng với bệnh trĩ
Trang 18như áp xe, rò hậu môn, nứt kẽ hậu môn, ung thư hậu môn - trực tràng [Phụlục 1].
- Thăm khám:
+ Nhìn thấy trĩ ngoại, trĩ sa hỗn hợp (thì thấy niêm mạc hậu môn)
+ Trĩ độ 2: có khi nhìn thấy rìa hậu môn hơi phồng lên ở vị trí búi trĩ (trĩngoại), banh 2 mông và bảo bệnh nhân rặn mạnh, búi trĩ lòi ra ngoài, thôi rặn thìbúi trĩ tụt vào
+ Trĩ độ 3: búi trĩ nhìn thấy ngay, ở ngoài phủ bởi niêm mạc, có thể phần trĩngoại phủ bởi da phồng lên, rãnh liên trĩ lúc này còn rõ
+ Trĩ độ 4: cả trĩ nội và ngoại cùng to lên, phần trĩ nội to hơn, bị sừng hóanhiều hay ít
1.1.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng
Nội soi ống cứng trực tràng để đánh giá tổn thương của bệnh trĩ, phân độtrĩ nội và đánh giá tổn thương khác như nứt kẽ, polyp trực tràng, viêm loéttrực tràng và đặc biệt là phát hiện ra ung thư trực tràng về đại thể Những tổnthương viêm loét, ung thư trực tràng dễ nhầm với bệnh trĩ do đều có biểu hiệnđại tiện ra máu [Phụ lục 2],[32]
1.1.3.3 Phân độ trĩ nội
Dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng phân loại như sau:
+ Độ 1: Các tĩnh mạch giãn cương tụ, đội niêm mạc phồng lên tronglòng trực tràng, khi rặn không lòi ra ngoài
+ Độ 2: Các tĩnh mạch trĩ giãn nhiều hơn và tạo thành các búi rõ rệt Khirặn, các búi trĩ sa ra ngoài hậu môn và tự co lên được
+ Độ 3: Khi rặn nhẹ, các búi trĩ sa ra ngoài hậu môn, không tự co lênđược, phải đẩy lên
+ Độ 4: Búi trĩ to, luôn sa ra ngoài hậu môn, không đẩy lên được [1]
1.1.4 Các phương pháp điều trị
- Nguyên tắc:
Trang 19+ Ưu tiên điều trị bằng các phương pháp bảo tồn, chỉ khi điều trị cácphương pháp bảo tồn không hiệu quả hoặc trĩ có biến chứng hoặc kèm theocác bệnh khác mới chỉ định phẫu thuật.
+ Loại bỏ yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ [23],[8]
- Mục tiêu chính: giảm các triệu chứng khó chịu và cải thiện chất lượngsống cho bệnh nhân
1.1.4.1 Điều trị nội khoa
Là sự lựa chọn ban đầu trong điều trị trĩ, gồm hai nội dung chính:
- Ngăn chặn yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ:
+ Chế độ ăn uống: chế độ ăn nhiều chất xơ, uống nước đều đặn, tránhdùng các thức ăn, đồ uống gây táo bón, kích thích
+ Chế độ sinh hoạt: đại tiện ngày 1 - 2 lần, tập thói quen đi đại tiện đúnggiờ, không đi đại tiện khi chưa mót rặn, vệ sinh hậu môn bằng nước ấm (sau khi
đi ngoài và ngâm hậu môn vào nước ấm 10 - 15 phút, ngày 2 - 3 lần) Làm việcvừa sức, tránh những công việc nặng nhọc, đòi hỏi gắng sức nhiều, tránhnhững công việc đứng lâu, ngồi lâu làm tăng áp lực ổ bụng Tránh thức khuya,tránh căng thẳng thần kinh
+ Thuốc bôi giảm đau, chống nóng rát như Preparation H,
+ Thuốc chống nhiễm khuẩn: dùng kháng sinh
+ Thuốc chống phù nề: dùng alpha chymotrypsin hoặc Amitase
Trang 20Điều trị nội khoa có tác dụng tốt với trĩ nội độ I, II Điều trị nội khoaphối hợp trong các đợt trĩ cấp, độ III, IV để làm giảm các triệu chứng, chuẩn
bị tốt cho điều trị với các thủ thuật [23]
1.1.4.2 Điều trị bằng thủ thuật
Điều trị bằng thủ thuật bao gồm: tiêm xơ búi trĩ, thắt trĩ bằng vòng cao
su, nong hậu môn, quang đông hồng ngoại Chỉ định trong điều trị trĩ nội độ I,
II, III chảy máu [33],[34] Chống chỉ định trong điều trị trĩ nội độ III, độ IV, tụmáu, nhồi máu lớn, viêm nhiễm, trĩ hỗn hợp, trĩ ngoại [35]
1.1.4.3 Điều trị phẫu thuật
Điều trị trĩ bằng phẫu thuật là phương pháp điều trị tiệt căn nhất, baogồm phẫu thuật cắt bỏ búi trĩ (phẫu thuật Milligan – Morgan, phẫu thuậtWhitehead, phẫu thuật Toupet A, phẫu thuật Parks, phẫu thuật Ferguson, )
và phẫu thuật không cắt búi trĩ mà chỉ triệt mạch nuôi trĩ (phẫu thuậtLongo, thắt động mạch trĩ dưới hướng dẫn của Doppler) [33],[36],[37].Nhược điểm của phẫu thuật là gây đau, can thiệp vào giải phẫu học bìnhthường và kèm theo nguy cơ biến chứng Do vậy, chỉ lựa chọn phẫu thuậttrong các trường hợp sau: trĩ nội độ III, trĩ độ IV, trĩ vòng sa, trĩ lớn bị sa,trĩ có huyết khối hoặc chảy máu đáng kể, hoặc khi tất cả các phương phápđiều trị khác thất bại [38],[39]
1.2 Tổng quan về bệnh trĩ theo y học cổ truyền
1.2.1 Bệnh danh và phân loại
- Ngoại khoa Đại thành (Kỳ khôn đời Thanh) chia bệnh trĩ làm 24 loại:tạng ung trĩ, tỏa giang trĩ, phiền hoa trĩ, liên hoa trĩ, trùng điệp trĩ, nội ngoạitrĩ, huyền đởm trĩ, nội trĩ, huyết tiễn trĩ, khí trãng trĩ, diên giang trĩ, dươngmai trĩ, tử mẫu trĩ, thư hùng trĩ, lăng giác trĩ, bồ đào trĩ, hạnh đào trĩ, thạchlựu trĩ, anh đào trĩ, ngưu nãi trĩ, kê quán trĩ, xuyên trường trĩ, kê tầm trĩ, thử
vỹ trĩ [40]
Trang 21- Danh y Tuệ Tĩnh phân chia bệnh trĩ làm 5 loại: trĩ ngoại, trĩ nội, thử trĩ,nung sang, trùng trĩ [41].
- Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác chia bệnh trĩ thành 5 loại: mẫu trĩ, tẫn trĩ,khí trĩ, tửu trĩ, huyết trĩ [42]
Hiện nay, đa phần các tài liệu giảng về YHCT đều chia bệnh trĩ thành 3 thể:thể huyết ứ, thể thấp nhiệt, thể khí huyết đều hư [43],[8]
1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh
1.2.2.1 Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh trĩ
- Trong “Hoàng đế nội kinh”, Bạch Thoại Tố vấn đã ghi chép nguyênnhân sinh ra bệnh trĩ là do “cân mạch hoành giải trường tích thành trĩ”(nguyên nhân sinh ra trĩ là do cân mạch bị giãn rộng) [44]
- Trong “Trung y ngoại khoa học giảng nghĩa” tóm tắt có các nguyênnhân sau:
+ Do ăn uống: ăn quá nóng, ăn quá cay, ăn đồ sống lạnh, ăn béo ngậy,uống nhiều rượu, no đói thất thường
+ Do chế độ sinh hoạt: đứng lâu, ngồi lâu, vác nặng đi xa, phòng sự quá độ.+ Do nguyên nhân khác: ỉa chảy mạn, táo bón kéo dài, thể chất quá suyyếu, mang thai nhiều lần
+ Sau mắc các bệnh làm rối loạn chức năng của các tạng phủ như can,tâm, tỳ, thận (can khắc tỳ, can tâm thận âm hư, tâm tỳ hư ) gây khí hư, huyết
ứ làm trung khí hư hạ hãm sinh ra bệnh trĩ
- Trong YHCT của Trung Quốc đề cập đến nguyên nhân gây ra trĩ nội vàtrĩ ngoại:
+ Nguyên nhân gây trĩ nội: ăn uống không điều độ, đứng ngồi lâu, vácnặng đi xa, mang thai nhiều lần làm nội sinh táo nhiệt hạ xuống đại tràng,kinh lạc bị giao cắt, tuần hoàn trở ngại, uất tích thành bệnh trĩ
Trang 22+ Nguyên nhân gây trĩ ngoại: thấp nhiệt hạ chú, đi lỵ nhiều lần hoặc nứthậu môn, độc tà xâm nhập, làm vận hành khí huyết bị trở ngại, kinh mạch bịtắc gây nên; nhiệt làm tổn thương huyết lạc, ứ huyết gây nên [44].
1.2.2.2 Nguyên nhân gây chảy máu từ búi trĩ
- Hạ trĩ thể khí huyết hư, trong đó tỳ hư không thống nhiếp huyết gâyxuất huyết
- Hạ trĩ thể huyết nhiệt và thấp nhiệt: do nhiệt bức huyết vong hành gâyxuất huyết
- Hạ trĩ do sang thương: phân táo kết rắn nhiều gây xuất huyết [45]
1.2.3 Các phương pháp điều trị
1.2.3.1 Thuốc uống trong
- Điều trị theo thể bệnh: có 3 thể (huyết ứ, thấp nhiệt, khí huyết hư): + Hạ trĩ thể huyết ứ:
Triệu chứng: khi đại tiện có máu đỏ tươi kèm theo phân, lượng máu ít chỉthấm vào giấy vệ sinh hoặc tưới lên cục phân từng giọt, lượng máu có thể nhiềunhư cắt tiết gà
Pháp điều trị: lương huyết, chỉ huyết
Phương dược: Hòe giác địa du hoàn, Lương huyết địa hoàng thang, Hòehoa tán [43],[46]
+ Hạ trĩ thể thấp nhiệt:
Triệu chứng: vùng hậu môn đau, tiết nhiều dịch, trĩ sa ra ngoài khôngđẩy vào được, có thể có điểm hoại tử trên bề mặt trĩ, đại tiện táo
Pháp điều trị: thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết chỉ thống
Phương dược: Tần cửu phòng phong thang, Tần cửu bạch truật hoàn,Chè trĩ số 9 của Viện YHCT Việt Nam [43],[47],[48]
+ Hạ trĩ thể khí huyết hư:
Triệu chứng: đại tiện ra máu lâu ngày, hoa mắt, ù tai, sắc mặt trắng nhợt,rêu lưỡi trắng mỏng, người mệt mỏi, đoản hơi, mạch trầm tế
Trang 23Pháp điều trị: ích khí thăng đề, bổ huyết chỉ huyết
Phương dược: Bổ trung ích khí thang [49],[50],[51], Tứ quân tử thanggia vị [43], Bổ âm ích khí tiễn [9]
1.2.3.2 Thuốc dùng ngoài
Dùng các bài thuốc ngâm rửa điều trị trĩ nội và ngoại: có thể dùng mộttrong các bài thuốc sau:
- Bài 1: Kha tử 100g, Phèn phi 10g [52]
Cách sử dụng: cho 1 lít nước đun Kha tử sôi 15 phút, pha Phèn phi rồingâm rửa
- Bài 2: Xuyên bối mẫu 10g, Ngũ bội tử 10g [46]
1.3 Tình hình nghiên cứu điều trị bệnh trĩ
Sự kết hợp của nền YHCT sâu sắc và nền YHHĐ phát triển, bệnh trĩngày càng được phát hiện, chẩn đoán và điều trị sớm Bên cạnh đó, các côngtrình nghiên cứu khoa học cũng đa dạng trên thế giới và ở Việt Nam:
Trang 24Trên thế giới:
Năm 2015, Giannini I và cộng sự nghiên cứu 134 bệnh nhân trĩ cấp, chia
2 nhóm ngẫu nhiên: nhóm A 66 bệnh nhân điều trị với hỗn hợp diosmin,troxerutin, youperidin và nhóm B 68 bệnh nhân điều trị bằng giả dược; đãđưa ra kết luận: việc sử dụng hỗn hợp diosmin, troxerutin và youperidin là antoàn và hiệu quả để kiểm soát các triệu chứng của bệnh trĩ cấp tính, hơn thếnữa ở bệnh nhân được điều trị có sự kiểm soát nhanh hơn và sự tồn tại củaphù và huyết khối thấp hơn [53]
Năm 2017, He YH và cộng sự nghiên cứu trên 3000 bệnh nhân mắc bệnhtrĩ hỗn hợp nhằm đánh giá sự an toàn và hiệu quả của quy trình Ruiyun đốivới bệnh trĩ (RPH) hoặc RPH với phẫu thuật cắt trĩ Milligan – Morgan đơngiản (sMMH) trong điều trị bệnh trĩ hỗn hợp Thiết kế nghiên cứu với 5 loạiphẫu thuật: RPH, MMH đơn độc, thủ thuật điều trị sa tử cung và trĩ (PPH)một mình, RPH+sMMH, PPH+sMMH cho kết luận RPH có hoặc không cóMMH đơn giản có thể làm giảm tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật và cải thiệnhiệu quả chữa bệnh trong điều trị bệnh nhân mắc bệnh trĩ [54]
Ở Việt Nam:
Năm 1996, Hoàng Đình Lân nghiên cứu tác dụng của bài thuốc Chè trĩtrên bệnh nhân trĩ tiến triển so sánh với thuốc Ginkor, đã đưa ra kết luận:thuốc YHCT có tác dụng rất tốt với các triệu chứng cơ năng (khỏi 90,56%) vàthực thể (khỏi 56,6%), tốt hơn thuốc Ginkor đặc biệt là triệu chứng cơ năngtốt hơn hẳn, thuốc YHCT không có tác dụng phụ [55]
Năm 1999, Lê Lan Hương thông qua nghiên cứu đã kết luận: châm tê kếthợp thuốc tê tại chỗ với công thức huyệt châm (Bát liêu xuyên Trường cường
và ụ ngồi xuyên Hội âm) để mổ trĩ độ III, IV có kết quả tốt so với gây tê tạichỗ đơn thuần, kết quả châm tê kết hợp gây tê tại chỗ mổ thành công 88,9%
ca loại A so với gây tê đơn thuần chỉ đạt 62,3% ca loại A [56]
Trang 25Năm 2000, Nguyễn Thị Cường nghiên cứu điều trị trên 68 bệnh nhân trĩnội bằng dòng điện một chiều trực tiếp cho kết quả tốt về tác dụng cầm máu ởnhững BN trĩ nội độ I, II, III đang chảy máu; độ trĩ càng nhỏ thì tác dụng thunhỏ và làm biến mất búi trĩ của dòng điện một chiều càng cao [57].
Năm 2001, Nguyễn Tất Trung với nghiên cứu trên 141 bệnh nhân ở cácthể trĩ nội độ II xuất huyết, trĩ nội độ III và trĩ hỗn hợp nội ngoại đã kết luậnđiều trị trĩ bằng thủ thuật thắt trĩ kết hợp tiêm khô trĩ B có kết quả tốt hơn và tỉ
lệ tái phát thấp hơn so với chỉ điều trị bằng thắt trĩ [58]
Cùng năm 2001, Tạ Văn Sang trong nghiên cứu 69 bệnh nhân có vếtthương hở sau mổ trĩ bằng kem Bạch đồng nữ đối chứng với BetadineOitment đã đưa ra kết luận: kem Bạch đồng nữ làm thời gian liền vết thương
hở sau mổ trĩ nhanh hơn, có tác dụng ức chế và diệt khuẩn tốt hơn BetadinOiment và không có tác dụng không mong muốn [59]
Năm 2002, Trần Văn Doanh đánh giá thuốc mỡ “Motris” (thành phần:
Xà sàng tử, Nghệ, Hoàng bá, tá dược: Sáp ong, Dầu mè) có tác dụng điều trịtốt vết thương cho bệnh nhân sau mổ trĩ [60]
Năm 2004, Hà Thị Nga với nghiên cứu Bột ngâm trĩ (thành phần: Lámóng, Binh Lang, Hoàng Bá) trong điều trị vết thương cho bệnh nhân sauphẫu thuật trĩ có tác dụng tốt: chống chảy máu, chống rỉ ướt vết thương,chống sưng nề vết thương, giảm đau, làm mọc tổ chức hạt, làm lành sẹo [61].Năm 2005, Đỗ Quốc Hương thông qua nghiên cứu đánh giá tác dụng củachè tan “TVS” kết hợp với thủ thuật thắt trĩ để điều trị trĩ nội II, III đã đưa rakết luận: chè tan “TVS” có tác dụng chống chảy máu, chống sưng nề, chống
rỉ ướt, giảm đau, chống táo bón, làm thời gian rụng trĩ rút ngắn, thời gian liềnsẹo nhanh ở BN trĩ nội II, III sau thắt trĩ [62]
Năm 2005, Nguyễn Thị Gái nghiên cứu thuốc “Chè tan thông u” vớinhóm đối chứng là Daflon đã đưa ra kết luận: 2 nhóm có tác dụng cầm máu
Trang 26trong trĩ chảy máu tương đương nhau, trên bệnh nhân có trĩ nội độ I, III tắcmạch Chè tan thông u có tác dụng giảm sưng nề và giảm đau hậu môn rất rõrệt đặc biệt là thể huyết ứ [63].
Năm 2005, Nguyễn Văn Hanh thông qua nghiên cứu đã đánh giá: thuốc
“Nang tiêu viêm” có tác dụng điều trị trĩ nội độ II, III đợt cấp (chảy máu, tắcmạch) và tắc mạch trĩ ngoại; thời gian cầm máu tương đương Daflon, giảmsưng nề và giảm đau đối với trĩ tắc mạch tốt hơn Daflon; có tác dụng thểhuyết ứ tốt hơn thể nhiệt độc [64]
Năm 2007, Trần Thị Thanh Hoa đánh giá điều trị bệnh trĩ bằng điện caotần (Máy ZZ II D) kết hợp chè trĩ số 9 cho kết quả tốt hơn điều trị bệnh trĩbằng điện cao tần (Máy ZZ II D) đơn thuần [48]
Năm 2009, Nguyễn Trung Học qua nghiên cứu so sánh kết quả điều trịphẫu thuật bệnh trĩ theo hai phương pháp Longo và Milligan - Morgan tạibệnh viện Việt Đức năm 2018 - 2019 đã rút ra một số kết luận: thời gian mổtrung bình giữa hai nhóm không có sự khác biệt; mức độ đau sau mổ, thờigian nằm viện, thời gian trở lại sinh hoạt bình thường, thời gian trở lại laođộng của nhóm dùng phương pháp Milligan - Morgan nhiều hơn; kinh phíđiều trị bằng phương pháp Milligan - Morgan cao hơn [65]
Năm 2009, Trần Thị Hồng Phương nghiên cứu tính an toàn và hiệu quảcủa chè tan Bổ trung ích khí gia vị điều trị trĩ nội chảy máu với nhóm chứng làDaflon đã đưa ra kết luận: chè tan Bổ trung ích khí không có độc tính cấp vàkhông có độc tính bán trường diễn ở liều thông thường; thời gian cầm máu trungbình tốt hơn nhóm chứng Daflon; tác dụng co nhỏ búi trĩ, chống viêm giảm rỉướt hậu môn, giảm đau, giảm triệu chứng táo bón tốt nhất ở trĩ nội độ I, II [51].Năm 2012, Nguyễn Mậu Thực đánh giá bài thuốc Điều vị thừa khí cótác dụng nhuận tràng trên bệnh nhân sau mổ trĩ tương đương tác dụng củathuốc Forlax [66]
Trang 27Năm 2016, Nguyễn Thị Ánh Tuyết qua nghiên cứu, đánh giá tác dụngcủa viên nang cứng Thiên hoàng sa điều trị BN trĩ nội độ I, II có chảy máu cókết quả tốt trên một số triệu chứng điển hình: 100% bệnh nhân hết chảy máu,100% bệnh nhân đỡ đau, 96,7% bệnh nhân hết táo bón [67].
1.4 Tổng quan về thuốc nghiên cứu
1.4.1 Bài thuốc Bổ âm ích khí tiễn
1.4.1.1 Xuất xứ, thành phần
- Xuất xứ: Bổ âm ích khí tiễn là bài thuốc cổ phương có trong cuốn sách
“Cảnh nhạc y phương tinh yếu” [9]
- Thành phần và liều lượng: Đảng sâm 12g, Hoài sơn 09g, Đương quy 09g,Thục địa 16g, Sài hồ bắc 8g, Trần bì 04g, Thăng ma 12g, Cam thảo 03g
- Chữa hư lao thể khí âm lưỡng hư
- Chữa thương hàn do chính khí hư (âm huyết hư) ghét nóng, ghét lạnh
1.4.1.4 Phân tích bài thuốc
Bài thuốc lấy Thục địa, Đảng sâm là chủ dược, có tác dụng bổ âm íchkhí, bổ nguyên khí; Thăng ma, Sài hồ tăng cường thăng đề (thăng dương khí);Hoài sơn bổ khí kiện tỳ, Trần bì lý khí, Đương quy dưỡng huyết; Cam thảodẫn thuốc vào trung khí
1.4.1.5 Tổng quan về các vị thuốc trong bài thuốc Bổ âm ích khí tiễn
- Đảng sâm:
+ Bộ phận dùng: rễ phơi hoặc sấy khô của cây Đảng sâm (Codonopsis
pilosula (Franch.) Nannf.), họ Hoa chuông (Campanulaceae).
Trang 28+ Tính vị: tính bình, vị ngọt.
+ Quy kinh: tỳ, phế
+ Tác dụng: kiện tỳ khí, phế khí, dưỡng huyết, bổ trung ích khí
+ Ứng dụng lâm sàng: chữa ho do phế khí hư nhược, chữa hen kéo dài dothận hư không tàng khí, chữa cơ thể suy nhược do tỳ vị khí hư, bổ trung ích khíchữa chứng sa (sa trực tràng, sa tử cung), chữa xanh xao do khí hư hoặc do khíhuyết lưỡng hư
+ Liều lượng: 10 – 15g/ngày
+ Kiêng kỵ: không dùng chung với Lê lô [68],[69]
- Hoài sơn:
+ Bộ phận dùng: rễ đã chế biến, phơi hay sấy khô của cây Củ mài, còn gọi
là Hoài sơn (Dioscorea persimilis Prain et Burkill), họ Củ nâu (Dioscoraceae).
+ Liều lượng: 12 – 40g/ngày
+ Kiêng kỵ: có thực tà thấp nhiệt thì không dùng [68],[69]
- Đương quy:
+ Bộ phận dùng: rễ đã phơi hay sấy khô của cây Đương quy (Angelica
sinensis (Oliv.) Diels.), họ Hoa tán (Apiacerae).
+ Tính vị: tính ấm, vị cay, ngọt
+ Quy kinh: can, tâm, tỳ
Trang 29+ Tác dụng: bổ huyết, hành huyết Toàn quy: hòa huyết (vừa bổ huyết,vừa hoạt huyết) Quy vĩ: hoạt huyết hóa ứ Quy thân: dưỡng huyết bổ huyết.Quy đầu: chỉ huyết.
+ Ứng dụng lâm sàng: chữa thiếu máu do huyết hư; chữa kinh nguyệtkhông đều, bế kinh, thống kinh; chữa táo bón do huyết hư; chữa sưng đau dosang chấn Đương quy trích rượu: dùng điều trị bế kinh, đau bụng kinh, sưngđau do sang chấn
+ Liều lượng: 6 – 12g/ngày
+ Kiêng kỵ: tỳ vị có thấp nhiệt, đại tiện lỏng không nên dùng [68],[69]
- Thục địa:
+ Bộ phận dùng: rễ củ đã chế biến của cây Địa hoàng (Rhemannia
glutinosa (Gaertn.) Libosch.), họ Hoa mõm sói (Scrophulariaceae).
+ Tính vị: tính ấm, vị ngọt
+ Quy kinh: can, tâm, thận
+ Tác dụng: bổ huyết, dưỡng âm
+ Ứng dụng lâm sàng: chữa các chứng do can, thận âm hư; chữa cácchứng do huyết hư, chữa hen suyễn do thận hư không nạp phế khí
+ Liều lượng: 9 – 15g/ngày
+ Kiêng kỵ: kỵ sắt, tỳ vị hư hàn không dùng [68],[69]
- Sài hồ:
+ Bộ phận dùng: rễ đã phơi hoặc sấy khô của cây Bắc Sài hồ (Bupleurium
sinense DC.) hoặc cây Hiệp diệp Sài hồ (Bupleurium scorzonerifolium Will.), họ
Hoa tán (Apiacerae)
+ Tính vị: tính lạnh, vị cay, đắng
+ Quy kinh: can, đởm, tâm bào, tam tiêu
+ Tác dụng: hòa giải biểu lý, sơ can, thăng dương
+ Ứng dụng lâm sàng: chữa chứng hàn nhiệt vãng lai; sơ can giải uấtchữa kinh nguyệt không đều, tâm căn suy nhược; chữa bệnh loét dạ dày tá
Trang 30tràng, hội chứng ruột kích thích do can tỳ bất hòa; chữa chứng sa (sa dạ con,
sa trực tràng) do khí hư hạ hãm
+ Liều lượng: 3 – 9 g/ngày
+ Kiêng kỵ: không dùng cho người can dương vượng, âm hư hỏa vượng[68],[69]
- Trần bì:
+ Bộ phận dùng: vỏ quả quýt chín phơi hoặc sấy khô và để lâu năm của
cây Quýt (Citrus reticulata Blanco.), họ Cam (Rutaceae).
+ Bộ phận dùng: thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Thăng ma
(Cimicifuga dahurica (Turcz) Maxim.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae).
+ Tính vị: tính lạnh, vị cay, ngọt
+ Quy kinh: phế, tỳ, vị, đại tràng
+ Tác dụng: phát tán phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc, thăng dương.+ Ứng dụng lâm sàng: chữa cảm mạo phong nhiệt, chữa các chứng sa (sa
dạ dày, sa dạ con, sa sinh dục) do khí hư hạ hãm, thúc đẩy mọc ban (sởi),chữa đau răng, đau họng do vị nhiệt
+ Liều lượng: 3 – 9g/ngày [68],[69]
- Cam thảo:
+ Bộ phận dùng: rễ còn vỏ hoặc đã cạo lớp bần, được phơi hay sấy khô
của ba loài Cam thảo (Glycyrrhyza uralensis Fish.; Glycyrrhyza glabra L.;
Glycyrrhyza inflata Bat.), họ Đậu (Fabaceae).
Trang 31+ Tính vị: tính bình, vị ngọt.
+ Quy kinh: tâm, phế, tỳ, vị và thông 12 kinh
+ Tác dụng: kiện tỳ ích khí, nhuận phế chỉ ho, giải độc, chỉ thống, điềuhòa tác dụng các thuốc
+ Ứng dụng lâm sàng: Chích Cam thảo chữa tỳ vị hư, tâm khí hư; SinhCam thảo: nhuận phế chỉ ho chữa viêm họng Cam thảo chữa đau dạ dày, điềuhòa các vị thuốc trong bài thuốc
+ Liều lượng: 4 – 10g/ngày
+ Kiêng kỵ: không dùng chung với các vị Đại kích, Nguyên hoa, Hải tảo,Cam toại [68],[69]
1.4.2 Tổng quan về thuốc Daflon
Tác dụng trên mạch máu trở về tim bằng cách:
+ Làm giảm tính căng giãn và ứ trệ tĩnh mạch
+ Trong vi tuần hoàn, thuốc bình thường hóa tính thấm mao mạch vàtăng sức bền mao mạch
- Dược lý lâm sàng:
Trang 32Các nghiên cứu mù đôi có đối chứng, trong đó tác dụng của Daflon500mg trên huyết động tĩnh mạch có thể được chứng minh và lượng giá, đãkhẳng định tính chất dược lý nói trên ở người.
Quan hệ liều – tác dụng: đã xác lập quan hệ liều – tác dụng có ý nghĩathống kê đối với các thông số ghi biến đổi của thể tích tĩnh mạch: dung kháng,tính căng giãn và thời gian tống máu Tỷ số liều – tác dụng tối ưu đạt đượckhi dùng 2 viên thuốc
Hoạt tính tăng trương lực tĩnh mạch: Daflon 500mg làm tăng trương lựctĩnh mạch Máy ghi biến đổi thể tích cho thấy có sự giảm thời gian tống máu
ở tĩnh mạch
Hoạt tính vi tuần hoàn: các nghiên cứu mù đôi đối chứng với giả dượccho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Ở bệnh nhân có dấu hiệu maomạch bị giòn, Daflon 500mg làm tăng độ bền mao mạch, nhờ phương pháp đosức bền mạch máu thể
- Dược động học:
Ở người, sau khi uống chất có chứa diosmin đánh dấu bởi 14C:
+ Bài xuất chủ yếu qua đường phân, trung bình có 14% liều dùng đượcbài xuất qua nước tiểu
+ Thời gian bán thải là 11h
+ Thuốc được chuyển hóa mạnh mẽ, bằng chứng là có những acidphenol khác nhau trong nước tiểu
- An toàn trên lâm sàng:
Thử nghiệm mù đôi đối chứng với giả dược đã chứng minh tác dụng củathuốc với tĩnh mạch trong điều trị suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới
- Chỉ định:
+ Điều trị những triệu chứng liên quan tới suy tĩnh mạch – mạch bạchhuyết (nặng chân, đau, chèn chân vào cuối ngày)
Trang 33+ Điều trị những triệu chứng liên quan tới cơn trĩ cấp.
- Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú
+ Lúc có thai: nghiên cứu thực nghiệm trên động vật không chứng minh
là thuốc có tác dụng gây quái thai ở động vật Hơn nữa, hiện chưa có thôngbáo về tác dụng độc hại ở người
+ Lúc nuôi con bú: vì chưa có dữ liệu về việc thuốc bài xuất vào sữa,không khuyến cáo cho con bú khi dùng thuốc này
- Tác dụng ngoại ý: đã có báo cáo về một số trường hợp rối loạn tiêu hóa
và rồi loạn thần kinh thực vật nhẹ, không cần ngừng điều trị [70]
Trang 34Chương 2 CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Chất liệu nghiên cứu
2.1.1 Thuốc nghiên cứu
- Thành phần một thang thuốc “Bổ âm ích khí tiễn” bao gồm:
Bảng 2.1 Thành phần của một thang thuốc “Bổ âm ích khí tiễn”
STT Thành
phần
Bộ phậndùng Tên khoa học
Sốlượng
Tiêu chuẩn
Dược điển Việt Nam IV
2 Hoài sơn Rễ củ Rhizoma Dioscoreae 09g Dược điển Việt
- Cách sử dụng và liều dùng: uống thuốc Bổ âm ích khí tiễn, tổng liều là
14 thang, uống trong 14 ngày Mỗi thang được sắc thành 03 túi, uống 01túi/lần, 03 lần/ngày vào lúc: 9h, 14h, 19h khi thuốc còn ấm
Trang 352.1.2 Thuốc đối chứng
- Tiêu chuẩn: Viên Daflon 500mg do hãng Les Laboratoires ServierIndustrie (France) sản xuất dưới dạng viên bao, hạn sử dụng còn trước tháng 8năm 2020
- Cách sử dụng và liều dùng: uống Daflon 500mg, tổng liều là 50 viên,uống trong 14 ngày
+ 4 ngày đầu: uống 02 viên/lần, 03 lần/ngày vào lúc: 9h, 14h,19h
+ 3 ngày tiếp: uống 02 viên/lần, 02 lần/ngày vào lúc: 14h, 19h
+ 7 ngày cuối: uống 01 viên/lần, 02 lần/ngày vào lúc: 14h, 19h
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán trĩ nội độ I, II điều trị tại khoa ngoại - Bệnhviện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
2.2.1.1 Tiêu chuẩn chung
- Tuổi ≥18
- Không phân biệt giới, nghề nghiệp
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu [Phụ lục 3]
2.2.1.2 Theo y học hiện đại
Được chẩn đoán trĩ nội độ I, II trên lâm sàng và cận lâm sàng:
- Độ I: các tĩnh mạch trĩ giãn cương tụ, đội niêm mạc phồng lên vàotrong lòng trực tràng, khi rặn không lòi ra ngoài
- Độ II: các tĩnh mạch trĩ giãn nhiều hơn và tạo thành các búi rõ rệt Khirặn các búi trĩ sa ra ở hậu môn và tự co lên được
2.2.1.3 Theo y học cổ truyền
Bệnh nhân được chẩn đoán Hạ trĩ thể khí huyết hư
Bảng 2.2 Chẩn đoán Hạ trĩ thể khí huyết hư
Vọng chẩn
Người mệt mỏi, sắc mặt trắng Sắc lưỡi hồng nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng
Có thể thấy búi trĩ sa ra ngoài hậu môn và tự co lên được