Với công suất khai thác lớn, trữ lượng dầu mỏ ở các nước đang suy giảm rất nhanh.. CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNHPVS – Phục hồi biên lợi nhuận cùng giá dầu Hoạt động trong lĩnh vực cung c
Trang 1DIỄN BIẾN NGÀNH DẦU KHÍ THẾ GIỚI
1 Trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới
2 Năng lực khai thác và thời gian khai thác
3 Nhu cầu tiêu thụ và mức xuất/nhập khẩu
4 Dự báo nguồn cung trong các năm tới
5 Diễn biến giá dầu do thay đổi nguồn cung
DIỄN BIẾN NGÀNH DẦU KHÍ TRONG NƯỚC
ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH
Nhóm hưởng lợi từ giá dầu tăng Nhóm trung lập
Nhóm không thuận lợi khi giá dầu tăng
BSR
PVG, PLX
Triển vọng Ngành Dầu khí
1 Sản lượng khai thác suy giảm
2 Các mỏ dầu có trữ lượng lớn
Trang 2NGÀNH DẦU KHÍ THẾ GIỚI
1 Trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới
Tổng trữ lượng dầu mỏ toàn thế giới hiện nay ước tính 1,37 nghìn tỷ thùng, bao gồm cả dầu thô và khí tự nhiên Lượng dầu mỏ trên thế giới phân bổ không đồng đều và tập trung một lượng lớn ở các nước như Venezuela, Ả Rập, Canada, … Việt Nam hiện đứng thứ 28 trong danh sách các quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn, tuy nhiên các mỏ nằm rải rác tại vùng nước sâu và xa, khối lượng khai thác thấp Chỉ một số mỏ trữ lượng lớn và đang được khai thác Tổng lượng dầu mỏ các quốc gia khác là 78 tỷ thùng, chênh lệch khá lớn với các nước đứng đầu Trữ lượng xác minh năm 2014 và gần đây không có sự thay đổi lớn cho thấy các mỏ dầu được tìm mới không nhiều Các nước vẫn đang tích cực nghiên cứu tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế, tuy nhiên dầu mỏ vẫn có tác động rất lớn tới nền kinh tế thế giới do đây không chỉ là nguồn năng lượng mà còn là sản phẩm trung gian sản xuất các mặt hàng quan trọng khác như phân bón, cao su, nhựa, hóa chất …
2 Năng lực khai thác và thời gian khai thác còn lại
Nga đang là nước khai thác dầu mỏ lớn nhất thế giới với sản lượng ~ 10,5 triệu thùng mỗi ngày Các sản phẩm dầu được tiêu thụ tại Nga và xuất khẩu sang Châu Âu
Mỹ là nước khai thác dầu mỏ lớn thứ 3 trên thế giới, ước tính khoảng 8,5 triệu thùng mỗi ngày Dầu mỏ Mỹ khai thác chủ yếu được sử dụng trong nước do nhu cầu tiêu thụ rất lớn của quốc gia này
Với công suất khai thác lớn, trữ lượng dầu mỏ ở các nước đang suy giảm rất nhanh Tổng trữ lượng trên toàn thế giới ước tính chỉ đủ để khai thác trong vòng một thập kỷ tới, và chủ yếu ở các nước như Venezuela, Ả Rập … trong khi khá nhiều nước sẽ cạn kiệt nguồn cung sau 10-20 năm tới Với tốc độ khai thác hiện tại, dự kiến Việt Nam sẽ hết nguồn cung trong 40 năm tới Tuy nhiên thực tế các mỏ dầu của Việt Nam đều khá nhỏ và nằm rải rác tại vùng nước sâu, khó khai thác Dự báo từ năm 2020 trở đi, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu dầu khí do nhu cầu ngày càng lớn
trong khi nguồn cung không đảm bảo (Theo Hiệp hội năng lượng Việt Nam) Hoạt động khai thác, thăm dò mới chưa
hiệu quả do lượng vốn chi cho hoạt động thăm dò suy giảm mạnh cùng các yếu tố chính trị khác
Hình 1: Trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới
300.88
35.25
4.40
78
0.00
50.00
100.00
150.00
200.00
250.00
300.00
350.00
ĐVT: Tỷ thùng Nguồn: Tạp chí năng lượng Việt Nam
Trữ lượng xác minh năm 2014 Trữ lượng xác minh năm 2017
Hình 2: Năng lực khai thác Nguồn: Indexmundi.com
10,550,000
301,800
21
11
107
18 40
0 20 40 60 80 100 120
0
2,000,000
4,000,000
6,000,000
8,000,000
10,000,000
12,000,000
Nước
Nga
Ả Rập
Xê Út
Hoa Kỳ
Quốc
Việt Nam
Sản xuất (thùng/ngày)
Số năm khai thác
Trang 33 Nhu cầu tiêu thụ và mức xuất – nhập khẩu
Tính tới thời điểm đầu năm 2018, Mỹ là nước tiêu thụ dầu
mỏ lớn nhất thế giới hiện nay với hơn 19 triệu thùng mỗi ngày Mặc dù công suất khai thác lớn thứ 3 thế giới, lượng
tiêu thụ quá lớn khiến Mỹ là nước phải nhập khẩu dầu mỏ
lớn nhất thế giới, ước tính 7,2 triệu thùng mỗi ngày
Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ hai Tiếp theo là đến các quốc gia phát triển và đông dân khác như Nhật, Ấn Độ, Đức …
Nga, Canada và Ả Rập là các nước có khả năng xuất khẩu dầu mặc dù sức tiêu thụ nằm trong nhóm đứng đầu thế giới Venezuela chỉ xuất khẩu khoảng 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày do năng lực khai thác của nước này còn lạc hậu
Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, việc giá dầu giảm sẽ tác động tích cực tới các quốc gia phải nhập khẩu Thực tế, giá dầu liên tục biến động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tồn kho, chính sách khai thác mỗi quốc gia, … và cả yếu tố đầu cơ hàng hóa
4 Dự báo nguồn cung trong các năm tới
Năm 2014, giá dầu đạt đỉnh và bắt đầu có xu hướng đi xuống Năm 2015, mức chênh lệch giữa lượng cung và cầu lớn nhất lên đến gần 2 triệu thùng mỗi ngày
Giá dầu chạm đáy tháng 1/2016 và bắt đầu tăng giá trở lại Năm 2017, lượng cung và cầu tương đối cân bằng Theo IEA, dự báo trong các năm tới (hình bên), lượng cầu sẽ ngày càng gia tăng do nền kinh tế ngày càng phát triển, mức tiêu hao năng lượng ngày càng lớn Tuy nhiên chúng tôi đánh giá với những căng thẳng thương mại thế giới có phần gia tăng có thể làm suy giảm lượng cầu dầu, dẫn đến chênh lệch giữa cung cầu không thật cách biệt như dự báo của IEA
Nếu các nước có chính sách thống nhất về sản lượng, giá dầu dự báo sẽ tăng do đây là lượng tài nguyên hữu hạn, không có khả năng phục hồi Tuy nhiên thực tế sản lượng khai thác giữa các nước khó có thống nhất chung do lợi ích quốc gia mỗi nước Ngay cả các thành viên xuất khẩu dầu trong opec cũng tăng sản lượng nếu giá dầu tăng mạnh
Hình 3: Công suất tiêu thụ và mức nhập khẩu mỗi ngày
Nguồn: Indexmundi.com
19,150,000
-7,259,100
7,273,000
5,100,900
-10,000,000
-5,000,000
0
5,000,000
10,000,000
15,000,000
20,000,000
25,000,000
Tiêu thụ
(thùng/ngày)
Chênh lệch Xuất - Nhập khẩu (thùng/ngày)
Hình 4: Dự báo cung – cầu các năm tới (triệu thùng/ngày)
Nguồn: Cơ quan năng lượng quốc tế IEA
94.1
98.2
2
-0.4
-1.5 -1 -0.5 0 0.5 1 1.5 2 2.5
86
88
90
92
94
96
98
100
102
104
2013 2014 2015 2016 2017 2018F2019F2020F2021F
Trang 45 Diễn biến giá dầu các năm qua
Mức giá dầu mỏ năm 2013-2014 tương đối ổn định ở 110 usd/thùng Năm 2015, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu thô khiến lượng cung tăng lên Ả Rập đã ngay lập tức tăng sản lượng khai thác nhằm giành lại thị phần khiến nguồn cung dư thừa áp đảo, giá dầu sụt giảm mạnh chạm đáy vào 1/2016, giảm về ~ 27 usd/thùng tương ứng mức giảm 75% Hiện nay, mức cung – cầu đã tương đối cân bằng và giá dầu tăng dần Giá dầu Brent đạt ~79 usd/thùng trong khi dầu WTI ~ 72 usd/thùng
Trữ lượng dầu mỏ có xu hưởng giảm, ngày càng khó khai thác; trong khi đó nhu cầu về năng lượng ngày càng lớn Chúng tôi dự báo giá dầu sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới
Hình 5: Giá dầu Brent tăng mạnh từ năm 2016 do cung – cầu được cân bằng (ĐVT: usd/thùng)
Trang 5NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM
1 Sản lượng khai thác dầu suy giảm
Trong các năm trước đây, khoản chi cho thăm dò giếng dầu tốn từ 2-2,5 tỷ usd/năm, tuy nhiên từ năm 2015 tới nay
mức đầu tư chỉ đạt ~500 triệu usd, giảm 5 lần (Tổng giám đốc PVN) Hoạt động thăm dò không được đẩy mạnh, các
mỏ mới đều nhỏ và ở vị trí sâu, xa dẫn tới khả năng khai thác khó khăn, mức hoàn vốn lớn
Trong khi đó, các mỏ lớn đang được khai thác dần cạn kiệt dẫn tới sản lượng liên tục suy giảm Theo số liệu khai thác vào tháng 5/2018, sản lượng chỉ đạt 1,02 triệu tấn mỗi tháng, tương đương 230.000 thùng dầu/ngày (7 thùng dầu được quy đổi tương đương 1 tấn)
Theo bản đồ dầu khí Việt Nam, các mỏ dầu khí được phân vào 7 nhóm bao gồm:
- Bể Sông Hồng, - Bể Phú Khánh
- Bể Cửu Long, - Bể Nam Côn Sơn
- Bể Malay – Thổ Chu, - Bể Tư Chính – Vũng Mây
- Và nhóm bể Trường Sa, Hoàng Sa
2 Các mỏ dầu lớn trong nước hiện nay
1 Bạch Hổ
Trữ lượng ~ 300 triệu tấn, bắt đầu khai thác vào năm 1986
Đây là mỏ lớn nhất trên cả nước, thuộc bể khí Cửu Long, năng lực khai tháng 38 nghìn tấn mỗi ngày, chiếm trên 80%
sản lượng cả nước Mỏ Bạch Hổ có vai trò hết sức quan trọng, tuy nhiên theo số liệu thống kê thì trữ lượng mỏ hiện còn rất thấp, chỉ duy trì khai thác được 4-5 năm tới
- Vietsovpetro trực thuộc PVN
- Mỏ Bạch Hổ nằm cách Vũng Tàu
124 km và không xảy ra tranh chấp với các quốc gia khác
2 Sư tử đen
Thuộc bể khí Cửu Long, bắt đầu khai thác năm 2003 Năng lực khai thác khoảng 7 nghìn tấn mỗi ngày và duy trì khai thác được ~ 4-5 năm tới
- Công ty liên danh Cửu Long với 50% vốn của PVN và 50% của Hàn Quốc, Monaco
- Các mỏ Sư tử trắng, sư tử vàng, sử
tử đen nằm cách bờ biển Vũng Tàu
~ 100km (phía trong của mỏ Bạch Hổ) và không xảy xa tranh chấp với các quốc gia khác
3 Sư tử vàng
Thuộc bể khí Cửu Long, bắt đầu khai thác năm 2008 Năng lực khai thác khoảng 9 nghìn tấn mỗi ngày và duy trì khai thác được ~ 3-4 năm tới
trắng
Thuộc bể khí Cửu Long, bắt đầu khai thác năm 2012, trữ lượng 42 triệu tấn
5 Đại Hùng Thuộc bể Nam Côn Sơn, trữ lượng khoảng 48 triệu tấn
6 Lô B – Ô
môn Trữ lượng 100 triệu tấn, chưa triển khai
Nằm trong khu vực bể Malay – Thổ Chu Có thể sớm được triển khai
xanh Trữ lượng ~ 150 triệu tấn, chưa triển khai
Dự án nằm cách bờ biển Quảng Nam 86 km Đây là vùng tương đối nhậy cảm do gần Hoàng Sa
Và các mỏ khác có trữ lượng mỏ nhỏ hoặc chưa triển khai như Cá Rồng Đỏ,
Sao Vàng Đại Nguyệt, Lan Tây, Lan Đỏ …
Hình 6: Sản lượng dầu khai thác trong nước (nghìn tấn)
1,480
1,020
0
200
400
600
800
1,000
1,200
1,400
1,600
May-14 Se
May-15 Se
May-17 Se
Trang 6CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH
PVS – Phục hồi biên lợi nhuận cùng giá dầu
Hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ dầu khí và xây lắp công trình dầu khí, hiệu quả kinh doanh của PVS phụ thuộc gián tiếp vào diễn biến giá dầu trên thị trường Khi giá dầu tăng, các dự án tại mỏ dầu được triển khai mang lại việc làm cho công ty, đồng thời đơn giá cung cấp dịch vụ cũng tăng Ngoài ra, do các hợp đồng xây dựng thường có tiến độ kéo dài, biến động giá nguyên vật liệu đầu vào có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty
Giá dầu chạm đáy đầu năm 2016 và tăng trở lại trong gần
3 năm qua giúp biên lợi nhuận của PVS cải thiện nhẹ, đạt 5,3% trong 6 tháng đầu năm 2018
Do phụ thuộc vào các dự án dầu khí, doanh thu của PVS có
độ trễ và chưa phục hồi hoàn toàn trong năm 2017-2018 Trong năm 2019, các dự án mỏ dầu lớn được triển khai sẽ
là động lực tăng trưởng lợi nhuận công ty, gồm: Mỏ Sao Vàng Đại Nguyệt (500 triệu USD), mỏ Lô Ô Môn (1 tỷ USD),
Sư Tử Trắng giai đoạn 2 (500 triệu USD)
Với dự báo giá dầu tiếp tục tăng, PVS là một trong những
doanh nghiệp rất đáng chú ý trong ngành Chúng tôi nhận
định giá trị hợp lý của cổ phiếu PVS ~ 29.000 đồng
PVC - Hiệu quả kinh doanh chưa cải thiện rõ nét
PVC sản xuất các loại hóa chất, dung dịch khoan phục vụ trong ngành dầu khí Trong 3 năm qua, giá dầu hồi phục giúp biên lợi nhuận công ty không còn suy giảm mạnh như giai đoạn 2014-2016
Tuy nhiên việc giảm sản lượng khai thác và độ trễ của đơn giá cung cấp dịch vụ khiến hiệu quả của công ty chưa hồi phục trở lại 6 tháng đầu năm 2018, PVC lỗ 6 tỷ đồng Với dự báo giá dầu tiếp tục tăng và các mỏ dầu khí mới sẽ được triển khai trở lại trong năm 2019, công suất khai thác tăng, PVC vẫn là một doanh nghiệp đáng chú ý trong ngành Mặc dù hiệu quả kinh doanh suy giảm, trong 2 năm qua công ty vẫn chia cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ khá cao
so với thị giá
Hình 7: Hiệu quả kinh doanh PVS
1,750
845
8.2%
9.3%
4.2% 4.8%
5.3%
0.0%
2.0%
4.0%
6.0%
8.0%
10.0%
12.0%
14.0%
16.0%
18.0%
20.0%
0
500
1,000
1,500
2,000
2,500
3,000
3,500
4,000
4,500
5,000
PVS - Biên lợi nhuận tăng từ năm 2016
Hình 8: Hiệu quả kinh doanh PVC
19.5%
14.3%
7.9%
7.1% 7.4%
-5.0%
0.0%
5.0%
10.0%
15.0%
20.0%
25.0%
30.0%
-2,000
-1,000
0
1,000
2,000
3,000
4,000
5,000
6,000
7,000
Trang 7PVD – Dự báo giá thuê giàn khoan phục hồi từ năm 2019
PVD hoạt động trong lĩnh vực cho thuê giàn khoan và các dịch vụ đi kèm như cung ứng nhân lực vận hành giàn khoan, khắc vụ sự cố tràn dầu, ……
Sự sụt giảm mạnh của giá dầu từ năm 2015 kéo theo sự suy giảm hiệu quả kinh doanh của PVD Độ trễ trong việc điều chỉnh giá cho thuê giàn khoan và giá dầu, cùng với tỷ
lệ sử dụng giàn khoan thấp khiến đơn giá thuê giàn khoan liên tục giảm trong hơn 4 năm qua
Mặc dù hiệu quả suy giảm và phát sinh lỗ 2 năm qua, chúng tôi đánh giá cơ cấu nguồn vốn và tài sản của PVD vẫn tương đối an toàn, giá trị sổ sách đạt 29.380 đồng/cp, cao hơn 30% so với thị giá
Với dự báo giá cho thuê giàn khoan phục hồi trong năm
2019, PVD có thể cải thiện mạnh hiệu quả kinh doanh Do
cơ cấu tài sản, nguồn vốn khá an toàn, giá trị sổ sách cao, mức chiết khấu so với thị giá lớn, PVD là một cơ hội đầu tư hấp dẫn trong trường hợp giá cho thuê giàn khoan tăng trở lại Với mức cho thuê, dự báo trong 2019 ~ 95.000
usd/ngày, chúng tôi nhận định giá của cổ phiếu PVD ở mức
27.000 đồng
PVG – Không thuận lợi khi giá dầu tăng
PVG kinh doanh khí hóa lỏng, dầu khí là nguyên liệu đầu vào Trong giai đoạn 2014-2016, biên lợi nhuận công ty tăng mạnh hưởng lợi từ giá nguyên liệu giảm tuy nhiên từ
2016 tới nay, biên lợi nhuận liên tục suy giảm
Do doanh thu vẫn duy trì tăng trưởng tốt trong các năm qua, lợi nhuận sau thuế của PVG vẫn duy trì với mức tương đối thấp Lũy kế 6 tháng đầu năm 2018, EPS công ty chỉ đạt
~ 200 đồng
Với dự báo giá dầu tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới, hiệu quả hoạt động của PVG sẽ khó giữ được đà tăng trưởng Do đó, chúng tôi nhận định đây sẽ là doanh nghiệp không có lợi thế khi giá dầu tăng
Hình 10: Hiệu quả kinh doanh PVG
-2.0%
0.0%
2.0%
4.0%
6.0%
8.0%
10.0%
12.0%
14.0%
16.0%
-200
0
200
400
600
800
1,000
Hình 9: Hiệu quả kinh doanh PVD
-5.0%
0.0%
5.0%
10.0%
15.0%
20.0%
25.0%
-2,000
0
2,000
4,000
6,000
8,000
10,000
Trang 8PVT – Hiệu quả ổn định do chỉ hoạt động trung gian
PVT là công ty vận tải dầu khí, chuyên vận tải dầu thô bằng đường biển Mặc dù là đơn vị vận tải, chịu ảnh hưởng của biến động giá nhiên liệu tuy nhiên PVT có thể điều chỉnh đơn giá vận tải nhanh chóng hơn các công ty cung cấp dịch
vụ khác Do đó trong những năm qua biên lợi nhuận PVT khá ổn định và không bị ảnh hưởng quá lớn bởi giá dầu
Bên cạnh biên lợi nhuận ổn định, doanh thu của PVT phụ thuộc vào sản lượng dầu khai thác, vận chuyển Do đó doanh thu – lợi nhuận trong các năm qua có mức tăng trưởng khá chậm
Trong trường hợp lãi suất ổn định, sản lượng khai thác dầu tăng, PVT là một doanh nghiệp đáng quan tâm đối với các nhà đầu tư hưởng cổ tức, do tính chất phòng thủ cao và mức chi trả cổ tức tốt trong các năm qua
PVB – Dự báo tăng trưởng lợi nhuận đột biến
PVB hoạt động trong ngành bọc ống dầu khí Do là hoạt động đặc thù, PVB không có đối thủ cạnh tranh ở trong nước Chất lượng sản phẩm cung cấp cũng ở mức cao, do
đó PVB được coi như doanh nghiệp duy nhất đủ khả năng nhận các dự án bọc ống dầu khí trong nước vì vậy PVB luôn
có được biên lợi nhuận gộp rất cao
Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của PVB lại rất không ổn định, phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng thăm
dò, khai thác và triển khai các dự án của PVN Năm 2016, các dự án bọc ống không còn, công ty gần như không phát sinh doanh thu, chịu lỗ chi phí vận hành và khấu hao Năm
2017, hoạt động của công ty vẫn hết sức chậm do thiếu dự
án, các khoản lợi nhuận sau thuế chủ yếu từ hoàn nhập dự phòng
Trong quý 2/2018, doanh thu và các chỉ tiêu sinh lời đã được cải thiện mạnh mẽ với mức biên lợi nhuận tương ứng như năm 2014
Tương tự như PVS, đây là doanh nghiệp sẽ hưởng lợi khi giá dầu tăng và các dự án dầu khí đi vào xây dựng năm
2019 Với quy mô các dự án dầu khí hiện tại, PVB sẽ là doanh nghiệp rất đáng chú ý trong ngành dầu khí do lợi thế ngành đặc thù Chúng tôi nhận định giá trị hợp lý của
cổ phiếu PVB là 29.000 – 31.000 đồng
Hình 11: Hiệu quả kinh doanh PVT
0.0%
2.0%
4.0%
6.0%
8.0%
10.0%
12.0%
14.0%
16.0%
0
500
1,000
1,500
2,000
2,500
PVT - Tỷ suất sinh lời ổn định
Hình 12: Hiệu quả kinh doanh PVB
-1200.0%
-1000.0%
-800.0%
-600.0%
-400.0%
-200.0%
0.0%
200.0%
-4,000
-2,000
0
2,000
4,000
6,000
8,000
10,000
Chỉ tiêu sinh lời tăng do nhận dự án mới
Trang 9PXS - Dự án chậm tiến độ nghiệm thu
PXS hoạt động trong lĩnh vực xây lắp các dự án năng lượng, bao gồm cả ngành năng lượng điện Đây là doanh nghiệp trực thuộc PVX tuy nhiên các dự án có phạm vi khá rộng
và ngoài ngành dầu khí
Trong các năm qua, công ty tập trung thực hiện 2 dự án lớn là Nhiệt điện Thái Bình và Nhiệt điện Sông Hậu Tuy nhiên do khó khăn nguồn vốn, vướng mắc giữa các nhà cung cấp thiết bị khiến dự án chưa thế nghiệm thu Công ty đã sụt giảm mạnh doanh thu và ghi nhận lỗ lớn từ hai dự án này Các hoạt động hiện tại vẫn đang khó khăn
và chưa thể khắc phục trong ngắn hạn
Tuy nhiên do đặc thù là một doanh nghiệp thực hiện dự
án, doanh thu và lợi nhuận của PXS có thể được ghi nhận một lần thay vì từng giai đoạn trong quá trình triển khai Trường hợp nghiệm thu được các dự án trên và nhận thêm
dự án mới, PXS sẽ cải thiện được hiệu quả hoạt động so với 6 tháng đầu năm 2018
GAS – Tăng trưởng lợi nhuận nhờ giá dầu tăng
GAS hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, phân phối khí hóa lỏng Do các hợp đồng đặt mua gas, khí hóa lỏng được
ký định kỳ và theo từng lô, biên lợi nhuận của công ty cũng
đi cùng chiều giá dầu Khi giá dầu giảm, biên lợi nhuận sẽ giảm do chênh lệch của giá nguyên liệu thời điểm mua hàng và giá đầu ra Ngược lại, khi giá dầu tăng, doanh thu
và lợi nhuận GAS sẽ tăng trưởng
Mặc dù chịu ảnh hưởng từ hàng tồn kho, tuy nhiên quy mô
vô cùng lớn (vòng quay hàng tồn kho ~ 40 lần hằng năm) giúp GAS chủ động trong việc giá dầu tăng/giảm, biên lợi nhuận chênh lệch giữa các năm không quá lớn
Với dự báo giá dầu tiếp tục tăng trong thời gian tới, chúng tôi nhận định GAS là một doanh nghiệp hưởng lợi rõ nét
và trực tiếp nhất từ biến động giá dầu Đây là một doanh nghiệp đáng chú ý trong trường hợp giá dầu tiếp tục tăng như dự báo Chúng tôi định giá mức hợp lý cho một cổ
phiếu GAS là 135.000 đồng, trong trường hợp giá bán khí
gas được duy trì để đảm bảo biên lợi nhuận cao
Hình 13: Hiệu quả kinh doanh PXS
-40.0%
-30.0%
-20.0%
-10.0%
0.0%
10.0%
20.0%
30.0%
-1,000
-500
0
500
1,000
1,500
2,000
2,500
3,000
Hình 14: Hiệu quả kinh doanh GAS
0.0%
5.0%
10.0%
15.0%
20.0%
25.0%
30.0%
35.0%
40.0%
45.0%
0
1,000
2,000
3,000
4,000
5,000
6,000
7,000
8,000
GAS - Hưởng lợi từ giá dầu phục hồi
Trang 10PLX – Không hưởng lợi khi giá dầu tăng
Cùng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh sản phẩm từ dầu mỏ như GAS nhưng sản phẩm chủ yếu của PLX là xăng dầu cho vận tải Đây là mặt hàng nhạy cảm do tác động trực tiếp lên giá thành các sản phẩm trung gian khác Việc tăng/giảm giá đều chịu sự điều tiết của Nhà nước do đó khi giá dầu tăng mạnh, PLX sẽ giảm hiệu quả vì giá bán không tăng tương ứng
Do chịu sự tác động lớn từ các chính sách của nhà nước, trong đó bao gồm cả việc duy trì doanh thu để không vượt quá thị phần cho phép, do đó chúng tôi nhận định PLX không thuộc nhóm doanh nghiệp được hưởng lợi từ dầu khí tăng giá
BSR – Hưởng lợi nếu tích trữ tồn kho lớn
BSR sử dụng dầu mỏ để sản xuất các sản phẩm hóa dầu như xăng, nhiên liệu diezen cho động cơ
Giá dầu đầu vào tăng khiến chi phí nguyên vật liệu của BSR tăng cao, tuy nhiên do quá trình sản xuất kéo dài, luôn có mức chênh lệch giữa giá mua nhiên liệu và giá bán dự kiến Trường hợp BSR tích trữ được lượng hàng tồn kho lớn, giá
rẻ, độ trễ do quá trình sản xuất giúp giá bán tăng cao, biên lợi nhuận gia tăng
Công suất sản xuất của BSR dự kiến sẽ tăng từ năm 2019, cùng với biên lợi nhuận gia tăng, chúng tôi nhận định BSR
là một cơ hội hấp dẫn với các nhà đầu tư dài hạn với mức
giá kỳ vọng 25.000 đồng
Hình 16: Hiệu quả kinh doanh BSR
0.0%
5.0%
10.0%
15.0%
20.0%
25.0%
0
500
1,000
1,500
2,000
2,500
3,000
Hình 15: Hiệu quả kinh doanh PLX
-5.0%
0.0%
5.0%
10.0%
15.0%
20.0%
25.0%
-500
0
500
1,000
1,500
2,000
2,500
3,000
3,500
4,000
4,500