1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của thanh khoản tới khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt Nam: luận văn thạc sĩ

99 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Ảnh hưởng của thanh khoản tới khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, được xuất phát t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

TRẦN VIỆT HÀ

ẢNH HƯỞNG CỦA THANH KHOẢN TỚI KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Đồng Nai – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

TRẦN VIỆT HÀ

ẢNH HƯỞNG CỦA THANH KHOẢN TỚI KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Trần Anh Minh

Đồng Nai 2017

Trang 3

Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Trần Anh Minh, người

đã tận tình hướng dẫn, gợi ý cũng như dành nhiều thời gian sửa chữa những sai sót để tác giả có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu này một cách tốt nhất

Tác giả cũng xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên ngân hàng Agribank CN Định Quán- Đồng Nai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả theo học và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời chúc Ban lãnh đạo nhà trường, Ban lãnh đạo khoa Sau đại học, quý Thầy cô, cán bộ công nhân viên ngân hàng Agribank CN Định Quán- Đồng Nai và các bạn học viên thật nhiều sức khỏe, gặt hái được nhiều thành công trong công việc và cuộc sống

Với vốn kiến thức còn hạn hẹp và thời gian thực hiện có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô, hội đồng chấm luận văn và các bạn học viên để luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Đồng Nai, ngày 30 tháng 10 năm 2017

Học viên

Trần Việt Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Ảnh hưởng của thanh khoản tới khả năng sinh lợi của

các ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, được

xuất phát từ tình hình thực tiễn, cùng với sự hướng dẫn hỗ trợ tận tình từ TS Trần Anh Minh Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn Số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Đồng Nai, ngày 30 tháng 10 năm 2017

Học viên

Trần Việt Hà

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Thanh khoản dưới góc độ ngân hàng được hiểu là khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu rút tiền của khách hàng tại bất cứ thời điểm nào với mức chi phí thấp nhất Có nghĩa là bất cứ khi nào khách hàng phát sinh nhu cầu rút tiền thì ngân hàng phải đảm bảo thỏa mãn nhu cầu đó của khách hàng ngay lập tức Diễn biến về rủi ro thanh khoản vừa là nguyên nhân gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, bất ổn cho nền kinh tế vừa bào mòn lợi nhuận của ngân hàng Do vậy, việc tìm hiểu đánh giá các tác động của thanh khoản đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

là cần thiết và luôn được chú trọng nghiên cứu tại các ngân hàng hiện nay

Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của thanh khoản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2016 Dữ liệu nghiên cứu là 18 ngân hàng thương mại Việt Nam tương ứng 126 quan sát Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình Pooled, REM, FEM Kết quả cho thấy mô hình FEM là phù hợp với dữ liệu bảng trong nghiên cứu Các biến Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản, Tỷ lệ đầu tư trên tổng tài sản, Tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi có tác động cùng chiều tới khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam, các biến Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, Tỷ lệ tổng chi phí hoạt động trên tổng thu nhập có tác động ngược chiều tới khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam; Các yếu tố quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản không có tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Từ khóa: Ngân hàng thương mại VN, khả năng thanh khoản, thanh khoản, khả năng sinh lời

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Danh sách các ngân hàng trong nghiên cứu 32

Bảng 4.1: Số lượng ngân hàng giai đoạn 1991-2015 41

Bảng 4.2: Kết quả phân tích thống kê mô tả các biến 44

Bảng 4.3: Kết quả phân tích ma trận tương quan giữa các biến 45

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy ban đầu theo Pooled 46

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Wald loại bỏ TEA (Pooled) 46

Bảng 4.6: Kết quả hồi quy lần 2 theo Pooled 47

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Wald loại bỏ SIZE (Pooled) 47

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy lần 3 theo Pooled 48

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy lần đầu theo FEM 49

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định Wald loại bỏ SIZE (FEM) 49

Bảng 4.11: Kết quả hồi quy lần 2 theo FEM 50

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định Wald loại bỏ NCA (FEM) 50

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy lần 3 theo FEM 51

Bảng 4.14: Kết quả hồi quy lần đầu theo REM 51

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định Wald loại bỏ SIZE (REM) 52

Bảng 4.16: Kết quả hồi quy lần 2 theo REM 52

Bảng 4.17: Bảng tổng hợp kết quả hồi quy theo Pooled, FEM, REM 53

Bảng 4.18: Kết quả kiểm định Hausman 53

Bảng 4.19: Hệ số VIF 54

Bảng 4.20: Kết quả Durbin – Watson 55

Bảng 4.21: Kết quả Adjusted R-squared 55

Biểu đồ 4.1: Số chi nhánh, phòng giao dịch của các NH đến 2015 42

Biểu đồ 4.2: Tổng tài sản của các NH đến 31/12/2014 42

Biểu đồ 4.3: Nợ xấu của hệ thống NH giai đoạn 2004-3/2015 43

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ nghiên cứu 27

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

CDR : Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản

CIR : Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập thuần FEM : Mô hình tác động cố định

NCA : Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản

NH : Ngân hàng

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTM VN : Ngân hàng thương mại Việt Nam

LQR : Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản

POOLED : Phương pháp hồi quy gộp OLS

SIZE : Quy mô ngân hàng

REM : Mô hình tác động ngẫu nhiên

ROA : Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản

TEA : Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

TIA : Tỷ lệ tổng đầu tư trên tổng tài sản

Trang 8

MỤC LỤC

Bìa chính

Bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Danh mục bảng biểu

Danh mục biểu đồ

Danh mục sơ đồ

Danh mục viết tắt

Mục lục

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do thực hiện đề tài 1

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3.1.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3.1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp thực hiện 4

6 Những đóng góp mới của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 4

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6

2.1 Khái quát về thanh khoản của ngân hàng 6

2.1.1 Thanh khoản của ngân hàng 6

2.1.1.1 Khái niệm thanh khoản của ngân hàng 6

2.1.1.2 Đo lường thanh khoản của ngân hàng 7

2.1.2 Rủi ro thanh khoản và nguyên nhân rủi ro thanh khoản 11

2.1.2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản của ngân hàng 11

2.1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 12

2.2 Khái quát về khả năng sinh lời của ngân hàng 15

2.2.1 Khái niệm khả năng sinh lời của ngân hàng 15

2.2.2 Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng 15

Trang 9

2.3 Mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lời 17

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 20

2.4.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 20

2.4.1.1 Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Huyền (2013) 20

2.4.1.2 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013) 20

2.4.1.3 Nghiên cứu của Lê Tấn Phước (2016) 21

2.4.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 21

2.4.2.1 Nghiên cứu của Godwin E Bassey, Comfort Effiong Moses (2015) 21

2.4.2.2 Nghiên cứu của Ali Sulieman Alshatti (2015) 22

2.4.2.3 Nghiên cứu của Ahmad Aref Almazari (2014) 22

2.4.2.4 Nghiên cứu của Victor Curtis Lartey, Samuel Antwi, Eric Kofi Boadi (2013) 23

2.4.2.5 Nghiên cứu của Étienne Bordeleau and Christopher Graham (2010) 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 25

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Quy trình nghiên cứu 26

3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 27

3.3 Phương pháp thu thập số liệu 31

3.4 Phương pháp phân tích hồi quy 32

3.4.1 Phân tích thống kê mô tả 32

3.4.2 Phân tích ma trận tương quan 32

3.4.3 Phân tích hồi quy 33

3.4.3.1 Mô hình hồi quy Pooled 34

3.4.3.2 Mô hình hồi quy FEM 34

3.4.3.3 Mô hình hồi quy REM 34

3.4.4 Kiểm định mô hình 36

3.4.4.1 Kiểm định đa cộng tuyến 36

3.4.4.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 37

3.4.4.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 38

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Tổng quan hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 39

4.1.1 Quá trình phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 39

4.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam 41

4.2 Kết quả thống kê mô tả các biến 43

4.2.1 Kết quả thống kê mô tả các biến 43

Trang 10

4.2.2 Kết quả phân tích ma trận tương quan giữa các biến 44

4.3 Kết quả hồi quy 45

4.3.1 Kết quả hồi quy theo POOLED 45

4.3.2 Kết quả hồi quy theo FEM 48

4.3.3 Kết quả hồi quy theo REM 51

4.3.4 Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy 53

4.4 Kiểm định hồi quy 53

4.4.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 54

4.4.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 54

4.4.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 55

4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 57

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Khuyến nghị 59

5.2.1 Khuyến nghị đối với các ngân hàng thương mại 59

5.2.2 Khuyến nghị đối với ngân hàng nhà nước 61

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 61

5.3.1 Hạn chế của đề tài 61

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 62

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do thực hiện đề tài

Về mặt lý luận, Thị trường tài chính được xem là nền móng cốt lõi của nền kinh tế Trong đó hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính, nó vừa đóng vai trò là nguồn cấp tín dụng quan trọng nhất cho nền kinh tế, vừa đóng vai trò là nhà đầu tư (các ngân hàng đầu tư) để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đồng thời hệ thống Ngân hàng cũng là công cụ để Ngân hàng Trung ương điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia Khi nghiên cứu phạm trù hiệu quả hoạt động của ngân hàng thì không thể không nói đến lợi nhuận của ngân hàng, đồng thời khi đề cập đến vấn đề ổn định thì không thể không bàn về thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay

Đối với nền kinh tế hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc cấp tín dụng Từ đó góp phần tạo công ăn việc làm mới, thu hút lao động có trình độ cao Do đó, một hệ thống ngân hàng tốt, kinh doanh có hiệu quả và đóng góp tích cực vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia

là mục tiêu quan trọng mà bất kỳ một quốc gia nào cũng muốn hướng tới, Việt Nam cũng không ngoại lệ

Tuy nhiên thực tế trong giai đoạn từ năm 2010 cho đến hết năm 2015 đã cho thấy, vấn đề thanh khoản của các ngân hàng thương mại chưa bao giờ được giải quyết ổn thỏa, và luôn tiềm ẩn các nguy cơ đổ vỡ và ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời của ngân hàng Diễn biến về rủi ro thanh khoản vừa là nguyên nhân gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, bất ổn cho nền kinh tế vừa bào mòn lợi nhuận của ngân hàng Do vậy, việc tìm hiểu đánh giá các tác động của thanh khoản đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là cần thiết và luôn được chú trọng nghiên cứu tại các ngân hàng hiện nay

Cùng với xu hướng hội nhập, phát triển hệ thống ngân hàng thương mại bền vững và hiệu quả là yêu cầu tất yếu với mục tiêu cuối cùng là gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên, lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn Thanh khoản không những ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến danh tiếng của ngân hàng Nhằm đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ổn định, việc nghiên cứu tác động của thanh khoản có ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh lợi

của ngân hàng là việc làm thiết yếu Đây cũng chính là lý do tôi chọn đề tài: “Ảnh

Trang 12

hưởng của thanh khoản tới khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp

các ngân hàng thương mại nâng cao hiệu quả hoạt động của mình cũng như công tác quản trị thanh khoản được tốt hơn

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Bất kỳ một ngân hàng nào cũng luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Muốn lợi nhuận cao ngân hàng phải chủ động nguồn vốn kinh doanh của mình để đáp ứng mọi hoạt động của ngân hàng Ngân hàng luôn chú trọng tới việc quản lý thanh khoản của ngân hàng nhằm đáp ứng mọi tình huống trong hoạt động của mình Các nghiên cứu liên quan tới thanh khoản, thanh khoản ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng luôn được chú trọng Các nghiên cứu trong nước tiêu biểu liên quan bao gồm:

- Nguyễn Thanh Huyền (2013), “Tác động của thanh khoản đến khả năng sinh

lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường

Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm về tác động của thanh khoản đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả nghiên cứu trên số liệu của 20 Ngân hàng thương mại (NHTM) trong giai đoạn 2007-2012, mô hình GMM đã được ứng dụng để đánh giá tác động của thanh khoản đến lợi nhuận ngân hàng (đại diện là hai yếu tố: ROE, ROA)

- Lê Tấn Phước (2016), “Tác động từ quản trị thanh khoản đến lợi nhuận của

Ngân hàng thương mại”, Tạp chí Tài chính, chuyên mục: Tín dụng – Ngân hàng, kỳ 2

số tháng 4-2016, Trang 53-56 Nghiên cứu này đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của quản lý thanh khoản đến hiệu quả kinh doanh của 27 NHTM Việt Nam

từ năm 2005-2014 Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản lý thanh khoản thực sự có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh (được đo bằng ROE hoặc ROA) tại các NHTM Việt Nam

Bên cạnh các nghiên cứu trong nước còn có một số nghiên cứu ngoài nước tiêu biểu như sau:

Ali Sulieman Alshatti (2015), “The Effect of the Liquidity Management on

Profitability in the Jordanian Commercial Banks”, Internatinonal Journal of Business

and Management, Vol 10, No 1 Bài nghiên cứu chỉ ra sự tác động của quản lý thanh

Trang 13

khoản đến lợi nhuận của 13 ngân hàng thương mại Jordan đại diện cho hệ thống ngân hàng thương mại Jordan trong thời gian 2005-2012

Ahmad Aref Almazari (2014), “Impact of Internal Factors on Bank Profitability:

Comparative Study between Saudi Arabia and Jordan”, Journal of Applied Finance &

Banking, 4(1), 125-140 Bài nghiên cứu chỉ ra các yếu tố bên trong ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Dữ liệu gồm 23 ngân hàng Saudi

và Jordan (161 quan sát) trong giai đoạn 2005-2011

Victor Curtis Lartey, Samuel Antwi, Eric Kofi Boadi (2013), The Relationship

between Liquidity and Profitability of Listed Banks in Ghana, International Journal of

Business and Social Science, Vol 4 No 3 Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Ghana Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng với dữ liệu thu thập từ 7 ngân hàng trên Sở giao dịch chứng khoán Ghana trong giai đoạn 2005 – 2010

Ngoài các nghiên cứu nêu trên cón rất nhiều nghiên cứu liên quan và sẽ được trình bày ở chương 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau:

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của thanh khoản đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt Nam

- Đưa ra các khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cụ thể là nâng cao khả năng sinh lợi và cải thiện thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng về thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?

- Thanh khoản tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?

- Các ngân hàng thương mại cần có giải pháp gì trong việc cân đối tỷ lệ nắm giữ tài sản có tính thanh khoản hợp lý đề đạt được khả năng sinh lời mong muốn mà vẫn đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của mình?

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Các ngân hàng thương mại Việt Nam

- Thời gian: Số liệu từ năm 2010 – 2016

5 Phương pháp thực hiện

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng một số phương pháp sau:

- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích thực trạng thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2016

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, chọn lựa các biến liên quan, xây dựng mô hình kinh tế lượng để đo lường ảnh hưởng của thanh khoản đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2016

Sau đó, những phát hiện và kết quả sẽ được thảo luận, từ đó các kết luận và khuyến nghị có thể được rút ra

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Đưa ra các kết luận về hiện trạng thanh khoản và tác động của thanh khoản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

- Đề xuất một số khuyến nghị cụ thể có tính khả thi, góp phần vào việc hoàn thiện hoạt động của ngân hàng nói chung, đẩy mạnh khả năng sinh lợi của các ngân hàng thông qua thanh khoản

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu sơ đồ, đề tài được kết cấu gồm

5 chương:

Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 15

đề có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Trong chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu,… và các vấn đề liên quan tới đề tài

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài cũng như để có được sự hiểu biết toàn diện về thanh khoản, khả năng sinh lời và ảnh hưởng của thanh khoản tới khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt Nam ở chương 2, tác giả đề cập tới các cơ sở lý thuyết liên quan: thanh khoản, khả năng sinh lời, mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khái quát về thanh khoản của ngân hàng

2.1.1 Thanh khoản của ngân hàng

2.1.1.1 Khái niệm thanh khoản của ngân hàng

Trong lĩnh vực tài chính, thuật ngữ “thanh khoản” được sử dụng trong nhiều phạm vi khác nhau

Dưới góc độ tài sản, thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại Một tài sản được xem là thanh khoản khi đáp ứng được các tiêu chí sau: Có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường giao dịch, có sẵn thời gian giao dịch, giá cả hợp lý Theo Peter Rose (2004), một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó thỏa mãn đồng thời hai đặc điểm: Có thị trường giao dịch để có thể chuyển hóa tài sản thành tiền và có giá cả tương đối ổn định, không bị ảnh hưởng bởi số lượng

và thời gian giao dịch

Như vậy, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền Tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản chuyển đổi thành tiền nhanh và chi phí thấp

Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu Nhưng thuật ngữ này khi được sử dụng dưới góc độ quản trị NH lại được hiểu là “khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, và các giao dịch tài chính khác”

Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel ban hành tháng 9/2008 thì “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”

Từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa cơ bản và ngắn gọn nhất của thanh khoản như sau:

“Thanh khoản đại diện cho khả năng ngân hàng có thể thực hiện tất cả các nghĩa

vụ thanh toán khi đến hạn (đến mức tối đa) và bằng đơn vị tiền tệ được quy định Do thực hiện bằng tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản”

Trang 17

Có thể thấy rằng thanh khoản không phải là một số tiền cụ thể, hay là một tỉ lệ nào đó Thay vào đó, nó thể hiện phạm vi khả năng thực hiện các nghĩavụ thanh toán của một NH Trái ngược với nó là “thiếu khả năng thanh khoản”, nghĩa là NH thiếu khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán Như vậy nếu hiểu theo nghĩa này thì thanh khoản đại diện cho yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một ngân hàng

Để đi sâu tìm hiểu về thanh khoản tại ngân hàng chúng ta cần biết một số khái niệm cơ bản sau:

- Tính thanh khoản của tài sản: Là khả năng chuyển tài sản thành tiền, được đo

bằng thời gian và chi phí Chi phí ở đây không phải là chi phí để bán tài sản thành tiền

mà là tổn thất (giảm giá) của tài sản Thời gian và chi phí càng cao thì tính thanh khoản của tài sản càng thấp và ngược lại Tính thanh khoản của tài sản phản ánh rủi ro (tổn thất) khi chuyển tài sản thành tiền trong khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên một số trường hợp, một tài sản muốn bán nhanh (thời gian chuyên tiền ngắn) thì chi phí (tổn thất) lại lớn Điều này cho thấy tính thanh khoản của một tài sản phụ thuộc vào nhiều nhân tố và có thể thay đổi giữa các vùng, các nước Vì vậy những tài sản nào đáp ứng cả hai yêu cầu: thời gian ngắn và chi phí thấp mới được xếp vào tài sản thanh khoản

Ngân hàng nắm giữ danh mục tài sản có tính thanh khoản khác nhau Kết cấu tài sản với tính thanh khoản khác nhau tạo nên tính thanh khoản của nhóm tài sản hoặc tổng tài sản

- Tính thanh khoản của nguồn: Ngân hàng huy động vốn để tạo lập nên các tài

sản, trong đó có các tài sản có tính thanh khoản cao Như vậy khả năng huy động tạo khả năng thanh toán cho ngân hàng, phản ánh được tính thanh khoản của nguồn vốn Tính thanh khoản của nguồn được đo bằng thời gian và chi phí để mở rộng nguồn khi cần thiết Thời gian và chi phí càng thấp, tính thanh khoản của nguồn càng cao Tính thanh khoản của nguồn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự phát triển của thị trường tài chính, sự gia tăng thu nhập của dân cư và tính nhạy cảm của thu nhập với lãi suất, vị trí mạng lưới ngân hàng,…

2.1.1.2 Đo lường thanh khoản của ngân hàng

Vấn đề thanh khoản chỉ xuất hiện khi NH đứng trước nhu cầu rút tiền từ khách hàng Khi đó NH không chỉ lo cân đối nhu cầu rút tiền với lượng tiền hiện có, mà còn

là cân đối với khả năng huy động vốn tiếp theo Vì thế việc đánh giá tính thanh khoản

Trang 18

của NH phải nhìn ở trạng thái động, tức là cần phải được xem xét trong tương quan cung – cầu vốn khả dụng của NH trong từng giai đoạn nhất định

* Cung thanh khoản:

Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn để NH sử dụng Luồng tiền vào này được tạo nên từ các nguồn:

(i) Tiền gửi của khách hàng: Đây được xem là nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất của NH Để tăng nhu cầu này, cũng tức là tăng cung thanh khoản cho NH,

NH có thể thực hiện các biện pháp như: điều chỉnh lãi suất huy động hấp dẫn, tạo những dịch vụ hấp dẫn khác ngoài lãi suất (khuyến mại, thưởng…), NH có kết quả hoạt động kinh doanh tốt Trong điều kiện khi mà các cơ hội đầu tư khác trở nên kém hấp dẫn hơn thì nguồn tiền gửi này cũng có thể được tăng lên

(ii) Khách hàng hoàn trả tín dụng: Đây được xem như là nguồn cung thanh khoản quan trọng thứ hai Hoạt động tín dụng là hoạt động chính của NH, mang lại nguồn thu lớn nhất cho NH nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro cao, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cuối cùng của NH Nếu mọi khoản tín dụng đều được thanh toán đúng hạn thì không những đảm bảo được hiệu quả kinh doanh, mà còn là nguồn cung thanh khoản lớn cho

NH

(iii) Đi vay mượn trên thị trường tiền tệ: NH có thể tăng nguồn cung thanh khoản bằng cách đi vay trên thị trường tiền tệ, bao gồm các khoản vay mới, gia hạn và tuần hoàn nợ vay… Các giao dịch diễn ra giữa các NH với các NH khác hay với NHTW (iv) Thu nhập từ bán tài sản: Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, NH có thể chuyển hóa một phần tài sản thanh khoản thành tiền

(v) Doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ: Các khoản thu nhập của NH trong quá trình thực hiện các dịch vụ cho khách hàng như thu phí bảo lãnh, phí mở L/C…

(vi) Phát hành cổ phiếu ra thị trường: Việc NH phát hành cổ phiếu ra thị trường cũng là một nguồn cung thanh khoản lớn cho NH

* Cầu thanh khoản:

Cầu về thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi NH ở những thời điểm khác nhau Nhu cầu này phụ thuộc vào các nhân tố sau:

(i) Nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng: Đây là nhu cầu thanh khoản có tính thường xuyên, tức thời, bao gồm các loại tiền gửi không kì hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kì hạn đến hạn và có thể rút trước hạn Trong đó tiền gửi không kì hạn và

Trang 19

tiền gửi thanh toán, NH luôn phải đảm bảo một khoản tiền dự trữ để đáp ứng nhu cầu thanh toán từ tài khoản này Những nhân tố tạo nên nhu cầu thanh khoản này có thể là

sự biến động của lạm phát trong nền kinh tế, chênh lệch đáng kể về lãi suất huy động giữa các NH, mức lợi tức khác biệt của các cơ hội đầu tư (chứng khoán, bất động sản, vàng, ngoại tệ) so với gửi tiền vào NH

(ii) Nhu cầu vay tiền từ khách hàng: Đây cũng là yếu tố tác động mạnh đến cầu

về thanh khoản đối với NH

Nhu cầu này chịu tác động của các nhân tố như nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp, lãi suất cho vay của NH có tính cạnh tranh cao so với các NH khác, các nguồn vốn khác trở nên khó tiếp cận hơn…

(iii) Hoàn trả các khoản đi vay: Đây là khoản tiền mà NH phải hoàn trả cho các khoản đi vay từ các tổ chức kinh tế, cá nhân, các TCTD khác hay từ NHTW

(iv) Chi phí cung ứng dịch vụ và chi phí lãi: Đây là các khoản chi phí trả lãi huy động, trả lãi phát hành giấy tờ có giá mà NH đã huy động trước đây đến hạn NH phải thanh toán cho khách hàng

(v) Thanh toán cổ tức cho cổ đông: Đây là khoản tiền mà NH phải trả cho các cổ đông của mình

(vi) Mua lại cổ phiếu: Việc NH mua lại các cổ phiếu đã phát hành cũng tác động đến nhu cầu thanh khoản của NH

Mặc dù các loại nhu cầu thanh khoản trên có vai trò rất khác nhau, nhưng đều tạo nên cầu về thanh khoản của NH Nhưng trên thực tế, đôi khi vì tính nguy hiểm cao của nhu cầu thứ nhất (nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng) đến sự an toàn trong hoạt động của NH, nên yếu tố này thường được chú ý nhất khi đề cập đến tính thanh khoản của một NHTM Bên cạnh đó nhu cầu từ khách hàng vay tiền và thực hiện các nghĩa vụ của NH cũng tạo nên cầu về thanh khoản cho NH Vấn đề chỉ khác là, nếu NH không được phép từ chối nhu cầu xuất hiện từ người gửi tiền, thì nhu cầu từ khách hàng vay tiền có thể từ chối được Tuy nhiên, uy tín của NH sẽ suy giảm, nếu NH luôn phải từ chối khách hàng vay tiền vì lý do thanh khoản, bởi điều này đồng nghĩa với việc NH đánh mất cơ hội đầu tư sinh lời cho NH

Xét về thời gian, nhu cầu thanh khoản của một NH bao gồm cả trong ngắn hạn và dài hạn

Trang 20

Nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính tức thời hoặc gần như thế Các khoản tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, các công cụ huy động thuộc thị trường tiền tệ nằm trong phạm vi nhu cầu thành khoản ngắn hạn Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thuộc loại này, đòi hỏi NH phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có tính thanh khoản cao (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTW và các định chế tài chính khác, chứng khoán chính phủ )

Nhu cầu thanh khoản dài hạn do các nhân tố mang tính chất thời vụ, chu kỳ và xu hướng tạo ra Chẳng hạn nhu cầu rút tiền hay vay mượn của cá nhân thường đặc biệt tăng cao vào các dịp lễ hội trong năm để trang trải chi tiêu, mua sắm Để đáp ứng loại nhu cầu thanh khoản này, đòi hỏi NH cần phải dự phòng trước khả năng cung cấp thanh khoản từ nhiều nguồn khác nhau và ở mức độ cao hơn so với nhu cầu thanh khoản ngắn hạn Ví dụ như đặt kế hoạch thu hút các khoản tiền gửi mới, thỏa thuận vay dài hạn từ công chúng hoặc từ quỹ dự trữ của các NH khác

* Trạng thái thanh khoản ròng:

Trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position): ở bất kỳ thời điểm nào, các nguồn cung và cầu thanh khoản đến cùng với nhau tạo thành trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position – NLPt)

Căn cứ vào các dữ kiện trình bày ở trên cho ta kết quả như sau:

NLPt = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản

Ba khả năng có thể xảy ra:

* NLPt =0: Ngân hàng trong tình trạng cân bằng thanh khoản (Cung thanh

khoản bằng với cầu thanh khoản), đây là trường hợp rất hiếm khi xảy ra

* NLPt> 0: Ngân hàng trong tình trạng thặng dư thanh khoản (Liquidity

surplus)

Nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và thời điểm nào cần phải sử dụng nguồn thanh khoản thừa để đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản này được

sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai

Thặng dư thanh khoản là một trạng thái mất cân bằng của các NHTM, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động không hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay Trong phạm vi của một ngân hàng đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lợi của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không còn có khả năng sinh lời (tồn quỹ

Trang 21

tiền mặt quá lớn) hoặc cũng có thể do ngân hàng tăng vốn quá nhanh khi chưa có phương án sử dụng vốn có hiệu quả

Thanh khoản thừa thường được ngân hàng sử dụng như sau:

- Mua các chứng khoán dự trữ đã bán ra trước đó

- Cho vay trên thị trường tiền tệ phù hợp với thời hạn nhàn rỗi của số thanh khoản thừa)

- Gửi tiền tại các NHTM khác

* NLPt < 0: Ngân hàng trong tình trạng thiếu hụt thanh khoản (Liquidity deficit)

Khi hoạt động của ngân hàng không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, của nền kinh tế có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối, nghĩa là thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền kinh tế Khi đó ngân hàng có thể mất cơ hội đầu tư tốt, thậm chí mất khách hàng vay vốn, khách hàng tiền gửi vì ngân hàng thiếu vốn sẽ làm giảm lòng tin của người gửi tiền, khả năng huy động vốn của ngân hàng kém đi

Trường hợp thiếu hụt thanh khoản nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải bổ sung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất Một số biện pháp như:

- Sử dụng dự trữ bắt buộc dư ra nếu có (do tiền gửi kỳ này giảm so với kỳ trước)

- Bán dự trữ bắt buộc thứ cấp (các chứng khoán ngắn hạn do Chính phủ phát hành)

- Vay qua đêm, vay tái chiết khấu tại NHNN

- Huy động vốn từ thị trường tiền tệ

2.1.2 Rủi ro thanh khoản và nguyên nhân rủi ro thanh khoản

2.1.2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản của ngân hàng

Từ trạng thái thâm hụt thanh khoản của NH, có thể hiểu RRTK xảy ra khi NH rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên Như vậy RRTK là loại rủi ro khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp NH thiếu khả năng chi trả

do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán

Trang 22

Theo định nghĩa của Ủy ban Basel, “RRTK là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính”

Như vậy, RRTK xảy ra khi NH không thể tìm đủ nguồn tiền để chi trả hoặc tìm được nhưng với chi phí cao RRTK là loại rủi ro thường trực mà bất kỳ NH nào cũng

có nguy cơ gặp phải, bởi với vai trò cơ bản của NH là sử dụng những khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay với kỳ hạn dài hơn nên luôn tạo ra sự chênh lệch về kỳ hạn của dòng vốn Và chính điều này đã làm cho NH vốn đã dễ bị tổn thương trước các tác động mạnh từ thị trường lại càng có nguy cơ lâm vào tình trạng kém thanh khoản và khi đó RRTK càng có nguy cơ xuất hiện

Thông thường, khái niệm RRTK được hiểu với kỳ hạn ngắn hạn vì đối với các kỳ hạn trung hoặc dài hạn, các NH thường có thể có đủ thời gian để ứng phó, xoay chuyển tình trạng mất cân đối giữa phải thu và phải trả

2.1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

Nguyên nhân gây nên RRTK có nhiều và nó đến từ mọi phía trong hoạt động kinh doanh NH: từ chủ quan, khách quan; từ bản thân NH, từ khách hàng, cơ chế chính sách, từ các loại rủi ro khác đưa lại…

Tuy nhiên trên góc độ nghiên cứu để tìm giải pháp hiệu quả đối với quản trị RRTK, có thể rút ra những nguyên nhân chủ yếu sau:

* Nguyên nhân chủ quan:

Thứ nhất, do kì hạn của TSC và TSN có sự bất cân xứng, bắt nguồn từ chính chức năng chuyển hóa kì hạn của NH: huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn từ dân chúng để cho vay các khoản tín dụng dài hạn Như vậy kì hạn của TSC dài hơn kì hạn của TSN khiến dòng tiền của TSC không cân xứng với dòng tiền cần để đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của các TSN, gây khó khăn cho NH phải lo tìm nguồn bù đắp Thứ hai, rủi ro mất cân đối trong cơ cấu tài sản Điều này xuất phát hầu hết từ áp lực lợi nhuận ngắn hạn của cổ đông lên ban điều hành mà quên mất những nguyên tắc trong trong quản trị TSN và TSC Trong danh mục tài sản của mình, NHTM đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu, trong đó quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ và/hoặctín phiếu kho bạc Trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại dễ dàng cho NHTM đem đi chiết khấu tại NHTW một khi thanh

Trang 23

khoản có vấn đề Bất cứ NHTM nào, đặc biệt là NH nhỏ, đều hiểu điều này nhưng với tiềm lực tài chính yếu thì khó có thể cạnh tranh với các NH lớn trong việc đấu thầu các trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc

Thứ ba, cơ cấu khách hàng không hợp lí NH tập trung tín dụng vào một số khách hàng lớn hoặc tỷ trọng tín dụng cho một ngành, một địa phương nào đó chiếm phần lớn trong tổng dư nợ hoặc trong tổng huy động có một khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, khi những khách hàng này gặp khó khăn không trả nợ đúng hạn hoặc rút một cách bất ngờ thì dẫn đến RRTK

Thứ tư, do các NH chạy theo mục tiêu lợi nhuận trước mắt nên có những chính sách cho vay quá cởi mở, dẫn đến hạ thấp các điều kiện cho vay, cho vay các khách hàng vay có điều kiện kém, hệ quả tất yếu là rủi ro tín dụng và sau rủi ro tín dụng là RRTK

Thứ năm, do các NH không dự tính trước nhu cầu rút tiền hoặc/và các nghĩa vụ phải trả tiền Khi nhu cầu rút tiền và thực hiện nghĩa vụ vượt quá mức dự tính, các NH này sẽ gặp khó khăn về thanh khoản

Thứ sáu, do tiềm lực tài chính của các NH còn hạn chế Vốn điều lệ là số vốn thuộc sở hữu của NH, ghi trong điều lệ của NH, được hình thành khi NHTM mới được thành lập Nó phản ánh quy mô hay thực lực tài chính của NHTM Nếu vốn điều lệ của NHTM càng cao, chứng tỏ NH càng có tiềm lực tài chính, ngược lại, nếu vốn điều lệ của NHTM càng ít thì quy mô hoạt động của NH càng nhỏ Các NH nhỏ thường khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn, hoặc chỉ vay được với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay Có thể nói áp lực rất lớn khi các NH này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong việc giải quyết vấn đề thanh khoản Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong những nguyên nhân đẩy NHTM đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá sản khi nhu cầu thanh khoản tăng đột ngột

Thứ bảy, do kinh doanh nhiều loại tiền tệ, tạo nên RRTK và yêu cầu tài trợ trong từng loại tiền tệ

Thứ tám, do uy tín của NH bị giảm khiến khách hàng gửi tiền nhanh chóng rút các khoản tiền gửi gây nên RRTK Đây là hệ quả của việc kinh doanh yếu kém, công tác PR chưa được đầu tư thỏa đáng

* Nguyên nhân khách quan:

Trang 24

Thứ nhất, do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi suất Lãi suất thay đổi ảnh hưởng lớn tới tâm lý của người gửi tiền Trường hợp lãi suất tăng, khách hàng sẽ rút tiền để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn còn các khách hàng vay giảm tối đa việc vay mới để tránh trả lãi nhiều hơn Khi lãi suất giảm thì phản ứng ngược lại Trong cả hai trường hợp, biến động lãi suất ảnh hưởng đến cả dòng tiền gửi lẫn cho vay, cuối cùng ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NH Ngoài ra, việc thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến thị giá của tài sản tài chính đem bán và ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ liên NH

Thứ hai, chính sách tiền tệ của NHTW Để thực hiện chức năng của mình trong điều hành chính sách tiền tệ, NHTW sử dụng 3 công cụ bao gồm: nghiệp vụ thị trường

mở, quy định về DTBB, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá

- Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động của NHTW mua hoặc bán cho NHTM trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước Khi muốn tăng cung tiền, NHTW mua trái phiếu từ các NHTM, số tiền mà NHTW trả cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho NHTM Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, NHTW bán trái phiếu cho các NHTM, số tiền mà NHTW thu về làm giảm cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng thời cũng làm giảm cung thanh khoản của NHTM

- Quy định về tỷ lệ DTBB là biện pháp điều chỉnh mà NHTW bắt buộc các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHTW Nếu tỷ lệ DTBB cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của NHTM tăng và ngược lại

- Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất NHTW sử dụng trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM Nếu lãi suất này thấp, tức chi phí vay tiền từ NHTW rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các NHTM có thể dễ dàng huy động để đáp ứng cầu thanh khoản

Thứ ba, khuôn khổ pháp lý về an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD Các cơ chế chính sách, văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của NH được ban hành một cách rõ ràng, cụ thể cũng như cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan giám sát NH,

sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống NH

Thứ tư, do chu kỳ kinh doanh của khách hàng Theo thời vụ ở những tháng cuối năm các DN thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công nợ cho những

Trang 25

DN khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, thực hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu hàng hóa tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu về thanh khoản cho NHTM

Thứ năm, do tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu chi trả tức thì Đối với lĩnh vực kinh doanh khác, các DNcó thể trì hoãn nợ với khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh…Nhưng với NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tiền

tệ hết sức nhạy cảm, NHTM không thể trì hoãn chi trả Bất kỳ một sự chậm trễ thanh toán nào đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng, và nếu NHTM không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng có thể kéo đến NH để rút tiền, khó khăn thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và NHTM có thể bị phá sản Mặt khác, trên bảng cân đối

kế toán của NHTM, bên TSN luôn có một tỷ lệ nhất định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có thể rút trước hạn Đây là những TSN mà NHTM

có nghĩa vụ phải trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế NHTM luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản

Thứ sáu, do khủng hoảng kinh tế hoặc khủng hoảng tài chính Khủng hoảng kinh

tế hoặc tài chính dẫn tới chi phí huy động tăng cao, hiệu quả hoạt động cho vay và đầu

tư giảm sút Xét ở một khía cạnh khác, khủng hoảng xảy ra có thể làm giảm sút niềm tin vào hệ thống tài chính, và các tổ chức và dân cư sẽ rút tiền khỏi các NHTM gây ra

áp lực về thanh khoản cho NHTM

Thứ bảy, do tin đồn thất thiệt Tin đồn thất thiệt sẽ gây mất lòng tin cá biệt vào một TCTD Cơ chế mất cân đối giữa giá trị phải trả và giá trị thu được từ hoạt động đầu tư và cho vay sẽ xảy ra và NHTM đối mặt với RRTK

2.2 Khái quát về khả năng sinh lời của ngân hàng

2.2.1 Khái niệm khả năng sinh lời của ngân hàng

Khả năng sinh lợi (profitability) là thước đo hiệu quả bằng tiền, đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Khả năng sinh lời được đo lường thông qua các

tỷ số về khả năng sinh lời

2.2.2 Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng

Tỷ số tài chính là các tỷ số được cấu trúc và tính toán từ dữ liệu báo cáo tài chính của NHTM, nhằm đánh giá một đặc tính nào đó trong hoạt động của ngân hàng

Trang 26

Để đánh giá hoạt động, các tỷ số tài chính của một NHTM nào đó sau khi tính toán cần được so sánh với các tỷ số tài chính của nhóm các NHTM khác hoặc so sánh với các tỷ số tài chính của chính ngân hàng đó nhưng qua các thời kỳ khác nhau Ngay

cả khi không so sánh với các tỷ số tài chính của các ngân hàng khác, xu hướng của các

tỷ số tài chính qua những thời kỳ khác nhau cũng cung cấp được nhiều thông tin có giá trị về tình hình hoạt động của ngân hàng

Tuy nhiên, nhược điểm của đánh giá hoạt động NHTM qua các tỷ số tài chính là

có thể chứa đựng những sai sót tiềm tàng, do khi phân tích chúng ta phải có một số giả định, chẳng hạn như giả định các yếu tố khác không thay đổi Để tránh những sai sót này, chúng ta cần xác định và tính toán nhiều loại tỷ số tài chính khác nhau để có được một cái nhìn tổng quan hơn về bức tranh hoạt động của ngân hàng Dưới đây sẽ đi sâu vào chi tiết phân tích các tỷ số tài chính NHTM

* Các tỷ số đo lường khả năng sinh lời:

Nhóm chỉ số đầu tiên cần xem xét khi đánh giá hoạt động NHTM là nhóm tỷ số

đo lường khả năng sinh lời hay nhóm tỷ số lợi nhuận

- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity - ROE):

Tỷ số ROE được xem là xuất phát điểm cho việc đánh giá tình hình tài chính của một NHTM:

+ ROE tương đối thấp so với những ngân hàng khác sẽ làm giảm đi khả năng thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng và duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

+ ROE thấp có thể hạn chế tăng trưởng của ngân hàng vì khi ấy ngân hàng không

có cơ hội tích lũy để tăng vốn chủ sở hữu trong khi hầu hết các quy định pháp lý đều ràng buộc việc tăng tài sản của ngân hàng gắn chặt với việc tăng vốn chủ sở hữu + ROE có thể chia ra thành nhiều bộ phận để dễ dàng xác định xu hướng hoạt động của ngân hàng

+ Công thức xác định tỷ số này:

Trong công thức trên, số liệu lợi nhuận sau thuế được thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong khi số liệu tổng cộng vốn chủ sở hữu được thu nhập từ

Trang 27

bảng cân đối kế toán Tổng cộng vốn chủ sở hữu bao gồm tổng cộng các khoản vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ ngân hàng ROE là tỷ số đo lường hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của một ngân hàng để tạo ra thu nhập (cổ tức) cho các cổ đông Tỷ số ROE đo lường thu nhập trên 1 đồng vốn chủ sở hữu được đưa vào sản xuất kinh doanh, còn gọi là mức hoàn vốn đầu tư cho vốn chủ sở hữu

Tỷ số ROE có xem xét đến chi phí huy động vốn, việc đo lường khả năng sinh lời này sẽ được kết hợp với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư, và các quyết định huy động vốn

- Lợi nhuận trên tổng tài sản (Return On Assets - ROA):

Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản ROA đo lường khả năng của ban quản lý sử dụng các nguồn lực nói chung và nguồn lực tài chính của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận ROA thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản lý ngân hàng

Công thức tính tỷ số ROA như sau:

Trong công thức này, số liệu lợi nhuận hoạt động được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, cụ thể là mục lợi nhuận hay thu nhập sau thuế, trong khi số liệu tổng tài sản lấy từ bảng cân đối kế toán Tổng tài sản có thể lấy số liệu bình quân bằng tổng tài sản đầu kỳ cộng tổng tài sản cuối kỳ chia đôi hoặc số liệu tổng tài sản ở thời điểm cuối kỳ, tùy theo mục đích phân tích và cách giải thích ý nghĩa của ROA

- Mối quan hệ giữa ROA và ROE:

Trong đó:

Mối quan hệ trên cho thấy, thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản (sử dụng nhiều nợ hơn hay nhiều vốn chủ sở hữu hơn) Một ngân hàng có ROA thấp vẫn có thể đạt ROE ở mức cao nếu như sử dụng nhiều nợ (gồm cả tiền gửi của khách hàng) và sử dụng tối thiểu vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ tài sản

2.3 Mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lời

Trang 28

Trong quản trị thanh khoản, các ngân hàng hướng đến ba mục tiêu chính: Mục tiêu thanh khoản, mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu vì sự an toàn của hệ thống

Thứ nhất, với mục tiêu thanh khoản, nhà quản trị phải biết làm thế nào để đảm bảo được các yêu cầu, trách nhiệm, nghĩa vụ tài chính sẽ đến hạn trong tương lai và khả năng đáp ứng nghĩa vụ đó một cách tốt nhất

Thứ hai, ngành ngân hàng là ngành kinh doanh tiền tệ có tính đặc thù, nhạy cảm, giữa các ngân hàng có sợi dây liên kết đặc biệt, chỉ một biến động hay bất ổn của ngân hàng này có thể ảnh hưởng đến các ngân hàng khác, từ đó ảnh hưởng đến sự an toàn của cả hệ thống Sự ổn định của các ngân hàng được đảm bảo khi thanh khoản của tất

cả các ngân hàng đều tốt Đây là mục tiêu vì sự an toàn hệ thống trong quản trị thanh khoản

Thứ ba, mục tiêu quan trọng nhất của quản trị thanh khoản nói riêng và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nói chung chính là lợi nhuận Nhiều ngân hàng có thể hướng đến chính sách quản trị chấp nhận rủi ro cao để có thể đạt được lợi nhuận hợp lý Điều quan trọng là một ngân hàng có thể đo lường rủi ro để thực hiện lợi nhuận khả quan hơn trong kỳ tới với những thách thức của thị trường và các chính sách điều hành của nhà nước Việc duy trì một trạng thái thừa thanh khoản sẽ làm cho ngân hàng không tận dụng được hết nguồn lực để tăng lợi nhuận; ngược lại, việc thiếu hụt thanh khoản

sẽ làm ngân hàng gia tăng chi phí khi có các biến động nguồn vốn xảy ra

Như vậy, thanh khoản và lợi nhuận là hai đại lượng có mục tiêu khác nhau, tỷ lệ nghịch về lợi ích với nhau Tuy nhiên, nếu xét một cách chi tiết thì không phải thanh khoản và lợi nhuận trái ngược nhau mà thanh khoản giúp cho lợi nhuận tốt hơn Thanh khoản phải được ưu tiên, khi đó, lợi nhuận đã thu giữ mới được đảm bảo tồn tại, nếu không thì việc tạo lại thanh khoản khi đã mất càng làm cho những khoản lợi nhuận kiếm được mất đi Tiếp cận ở khía cạnh này thì sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo, người quản trị không bị mục tiêu lợi nhuận “che mắt” , giúp hệ thống ngân hàng được an toàn và phát triển bền vững

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa thanh khoản và vốn lưu động là vấn đề mà rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm

Tài sản ngắn hạn đại diện cho khả năng thanh khoản của ngân hàng Việc quản lý tài sản thanh khoản là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của quản lý tài

Trang 29

chính Nếu ngân hàng không cân đối được trong việc năm giữ tài sản thanh khoản, nó

có thể sẽ trở thành chi phí cho ngân hàng

Theo Chandra (2001), thông thường thanh khoản cao được coi là một dấu hiệu của sức mạnh tài chính, tuy nhiên theo một số tác giả như Assaf (2003, p.22), thanh khoản cao có thể không phải là trạng thái mà nhiều ngân hàng mong muốn Thực tế là Tài sản ngắn hạn thường mang lại ít lợi nhuận Nó đại diện cho chi phí cơ hội khiến ngân hàng phải giảm đầu tư vào tài sản sinh lời ít đi, do đó làm giảm lợi nhuận của các công ty

Tuy nhiên Arnold (2008) nắm giữ tiền mặt cũng cung cấp một số lợi thế, chẳng hạn như:

(1) Thanh toán cho các chi phí hàng ngày, chẳng hạn như tiền lương, nguyên vật liệu và các loại thuế

(2) Do thực tế là dòng tiền tương lai không chắc chắn, nắm giữ tiền mặt mang lại giới hạn an toàn đối với cuộc suy thoái vừa qua

(3) Sở hữu tiền mặt đảm bảo thực hiện các khoản đầu tư có lợi nhuận cao mà nhu cầu thanh toán ngay lập tức

Do đó nó là một nhiệm vụ quan trọng đối với người quản lý tài chính để đạt được

sự cân bằng thích hợp giữa khả năng thanh khoản và lợi nhuận hợp lý cho các công ty Như vậy, theo Perobeli và cộng sự (2007) quyết định về mức độ thanh khoản cần phải dựa vào nguyên tắc sau đây:

- Tài sản ngắn hạn càng lớn thì lợi nhuận càng giảm (nhưng cũng làm giảm rủi ro thanh toán)

-Tài sản ngắn hạn thấp làm tăng lợi nhuận của ngân hàng nhưng cũng làm tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng đó, bằng cách giảm nguồn vốn dài hạn có thể được chuyển giao cho tài sản ít lợi nhuận

Ngoài ra, theo lý thuyết kinh tế, rủi ro và lợi nhuận có liên quan tích cực (rủi ro càng lớn thì lợi nhuận càng cao) Vì vậy khi thanh khoản cao hơn có nghĩa là ít rủi ro hơn, và cũng có nghĩa là lợi nhuận thấp hơn

Theo Assaf (2003), đầu tư vào tài sản thanh khoản càng nhiều thì lợi nhuận càng thấp, đồng thời chiến lược quản lý thanh khoản cũng ít rủi ro hơn Trong trường hợp này, lợi nhuận thấp hơn so với việc đầu tư ít vào tài sản thanh khoản Ngược lại, với tài sản thanh khoản ít, ngân hàng chấp nhận mất an toàn và tăng nguy cơ phá sản thì lợi

Trang 30

nhuận mang về lớn hơn vì ngân hàng hạn chế khối lượng vốn ngắn với tài sản ít sinh lời của ngân hàng Vì vậy mà bất cứ sự thay đổi nào của thanh khoản cũng mang lại những tác động đối lập với khả năng sinh lời của ngân hàng

Bằng cách này, mỗi ngân hàng nên chọn một lượng tài sản thanh khoản phù hợp hơn với khả năng tiếp nhận rủi ro và lợi nhuận của mình

Như vậy chúng ta thấy rằng các tài liệu cho rằng có một mối quan hệ nghịch đảo giữa thanh khoản và lợi nhuận, và mối quan hệ này đã được thử nghiệm và xác nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

2.4.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

2.4.1.1 Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Huyền (2013)

Nguyễn Thị Thanh Huyền (2013), “Tác động của thanh khoản đến khả năng sinh

lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường

Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm về tác động của thanh khoản đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả nghiên cứu trên số liệu của 20 Ngân hàng thương mại (NHTM) trong giai đoạn 2007-2012, mô hình GMM đã được ứng dụng để đánh giá tác động của thanh khoản đến lợi nhuận ngân hàng (đại diện là hai yếu tố: ROE, ROA) Ngoài ra

mô hình nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa lợi nhuận ngân hàng với đòn bẩy và tỷ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản rủi ro của NHTM, yếu tố vĩ mô tỷ lệ thất nghiệp có tác động đến lợi nhuận ngân hàng trong khi lạm phát và tăng trưởng kinh tế không có tác động đến yếu tố này Như vậy trong bối cảnh bất ổn của nền kinh tế và thị trường tài chính chưa thực sự phát triển, các NHTM Việt Nam càng nắm giữ tài sản thanh khoản thì càng hạn chế rủi ro và tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng

2.4.1.2 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013)

Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013), “Tác động của thanh khoản đối với lợi nhuận

của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học

Kinh tế TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm về tác động của thanh khoản đối với lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam với số liệu của 28 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2012

Nghiên cứu đã chỉ ra các biến vĩ mô có tác động, cụ thể: Tỷ lệ lạm phát tác động cùng chiều nhưng không cao (0.029) đối với tỷ suất sinh lợi ngân hàng (ROA); Tỷ lệ

Trang 31

tăng trưởng GDP: Biến này tác động cùng chiều mạnh nhất (0.302) với tỷ suất sinh lợi ngân hàng (ROA)

Nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm biến tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản và bình phương tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản có tác động, cụ thể: Biến tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản ngân hàng năm t-1 (LAi,t-1) có tác động ngược chiều (-0.061) với tỷ suất sinh lợi ngân hàng (ROA); Biến bình phương tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản ngân hàng năm t-1 (LA2 i, t-i) có tác động cùng chiều (0.095) với tỷ suất sinh lợi ngân hàng (ROA)

2.4.1.3 Nghiên cứu của Lê Tấn Phước (2016)

Lê Tấn Phước (2016), “Tác động từ quản trị thanh khoản đến lợi nhuận của

Ngân hàng thương mại”, Tạp chí Tài chính, chuyên mục: Tín dụng – Ngân hàng, kỳ 2

số tháng 4-2016, Trang 53-56 Nghiên cứu này đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của quản lý thanh khoản đến hiệu quả kinh doanh của 27 NHTM Việt Nam

từ năm 2005-2014 Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản trị thanh khoản thực sự có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh (được đo bằng ROE hoặc ROA) tại các NHTM Việt Nam Tác động của biến tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ vốn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng (đo bởi ROE) là tích cực Biến chất lượng tài sản có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả ngân hàng khi đo bởi ROA Ảnh hưởng của biến tài sản thanh khoản đến ROE là ngược chiều Các tác động tiêu cực này có thể là do sự gia tăng của các khoản tiền gửi

mà các NHTM chưa khai thác được Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng thương mại như: Tăng trưởng GDP (GGDP), Lạm phát (INF), Lãi suất danh nghĩa (INR), Tỷ lệ thất nghiệp (UNR), Tỷ giá (EXR)

2.4.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

2.4.2.1 Nghiên cứu của Godwin E Bassey và Comfort Effiong Moses (2015)

Godwin E Bassey, Comfort Effiong Moses (2015), Bank Profitability And

Liquidity Management: A Case Study Of Selected Nigerian Deposit Money Banks,

International Journal of Economics, Commerce and Management, Vol III, Issue 4 Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 15 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm

2012 Tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng mô hình Trong nghiên cứu, Khả năng sinh lời của ngân hàng trong nghiên cứu này được

đo bởi 2 chỉ số ROA và ROE Các biến thể hiện thanh khoản của ngân hàng như: CRR (Tỷ lệ hiện hành hay tỷ lệ tài sản thanh khoản trên nợ phải trả), LTA (Tỷ lệ tài sản

Trang 32

thanh khoản trên tổng tài sản), LAD (Tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi), CTD (Tỷ lệ tiền mặt trên tổng tiền gửi), LNA (Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản)

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Nếu khả năng sinh lời được đo bằng ROE thì chịu tác động cùng chiều từ LAD, LNA với hệ số lần lượt là 1.940679 và 1.063313 Bên cạnh đó ROE chịu tác động ngược chiều từ CRR, CTD, LTA lần lượt với hệ số -3.663095, -0.11944, -4.770767 và tất cả đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa từ 1% đến 10%

- Nếu khả năng sinh lời được đo bằng ROA thì chịu tác động cùng chiều từ LAD, LNA với hệ số lần lượt là 0.3444, 0.5534 nhưng không có ý nghĩa thống kê ROA cũng chịu tác động ngược chiều từ CRR với hệ số -0.2693 (có ý nghĩa thống kê), từ LTA với hệ số -1.0580 (có ý nghĩa thống kê), từ CTD với hệ số -0.1302 nhưng không

có ý nghĩa thống kê Như vậy nếu khả năng sinh lời của ngân hàng đo bằng ROA chỉ chịu sự tác động ngược chiều từ biến CRR và LTA

2.4.2.2 Nghiên cứu của Ali Sulieman Alshatti (2015)

Ali Sulieman Alshatti (2015), “The Effect of the Liquidity Management on

Profitability in the Jordanian Commercial Banks”, Internatinonal Journal of Business

and Management, Vol 10, No 1 Bài nghiên cứu chỉ ra sự tác động của quản lý thanh khoản đến lợi nhuận của 13 ngân hàng thương mại Jordan đại diện cho hệ thống ngân hàng thương mại Jordan trong thời gian 2005-2012 Lợi nhuận nhuận của các ngân hàng được thể hiện qua chỉ số ROE và ROA Các yếu tố tác động bao gồm tỷ lệ dư nợ tín dụng/tổng tiền gửi, dư nợ tín dụng trên tổng tài sản, Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản, Tài sản thanh khoản/Nợ ngắn hạn Kết quả cho thấy khi gia tăng tỷ lệ vốn và tỷ lệ tài sản thanh khoản động dẫn đến giảm lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Jordan

2.4.2.3 Nghiên cứu của Ahmad Aref Almazari (2014)

Ahmad Aref Almazari (2014), “Impact of Internal Factors on Bank Profitability:

Comparative Study between Saudi Arabia and Jordan”, Journal of Applied Finance &

Banking, 4(1), 125-140 Bài nghiên cứu chỉ ra các yếu tố bên trong ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Dữ liệu gồm 23 ngân hàng Saudi

và Jordan (161 quan sát) trong giai đoạn 2005-2011

Trong nghiên cứu, Khả năng sinh lời của ngân hàng trong nghiên cứu này được

đo bởi chỉ số ROA (lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản) Các biến tác động đến tỷ suất

Trang 33

sinh lời của ngân hàng bao gồm: LQR (Tiền mặt và tương đương tiền/ Tổng tài sản), NCA (Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản), TIA (Tổng đầu tư/Tổng tài sản), TEA (Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản), CDR (Tỷ lệ cho vay/ Tổng tiền gửi), CIR (Tỷ lệ tổng chi phí hoạt động/Tổng thu nhập thuần), SZIE (Quy mô ngân hàng, logarit tổng tài sản).

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Với dữ liệu các ngân hàng Saudi thì ROA chịu tác động cùng chiều từ LQR, TIA, TEA, CDR với hệ số lần lượt là 0.099, 0.047, 0.079 và 0.027 Bên cạnh đó, ROA chịu tác động ngược chiều từ NCA, CIR, SZE lần lượt với hệ số -0.018, -0.078, -0.021 Kết quả cho thấy có tới 79.5% sự tay đổi của ROA được giải thích bởi các biến nghiên cứu trong mô hình

- Với dữ liệu các ngân hàng Jordan thì ROA chịu tác động cùng chiều từ NCA, TEA với hệ số lần lượt là 0.003 và 0.009 Bên cạnh đó, ROA chịu tác động ngược chiều từ LQR, TIA, CDR, CIR, SZE lần lượt với hệ số -0.011, -0.008, -0.004, -0.041, -0.002 Kết quả cho thấy có tới 64.9% sự tay đổi của ROA được giải thích bởi các biến nghiên cứu trong mô hình

2.4.2.4 Nghiên cứu của Victor Curtis Lartey, Samuel Antwi, Eric Kofi Boadi (2013)

Victor Curtis Lartey (2013), The Relationship between Liquidity and Profitability

of Listed Banks in Ghana, International Journal of Business and Social Science, Vol 4

No 3 Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Ghana Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng với dữ liệu thu thập từ 7 ngân hàng trên Sở giao dịch chứng khoán Ghana trong giai đoạn 2005 – 2010 Kết quả cho thấy tính thanh khoản có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời (ROA) với hệ số tác động là 0.025 Nghiên cứu mới chỉ

ra rằng chỉ có 5,6% sự gia tăng lợi nhận có thề do sự gia tăng tính thanh khoản của ngân hàng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Ghana

2.4.2.5 Nghiên cứu của Étienne Bordeleau and Christopher Graham (2010)

Nghiên cứu của Étienne Bordeleau and Christopher Graham, 2010 The Impact

of Liquidity on Bank Profitability Bank of Canada Working Paper 2010 Nghiên cứu thực hiện trên dữ liệu các ngân hàng Canada và Mỹ trong giai đoạn 1997-2009 Biến khả năng sinh lời được thể hiện qua ROA và ROE Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời bao gồm: Tỷ lệ thất nghiệp, Tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát, Tỷ lệ tài sản

Trang 34

thanh khoản, Tỷ lệ thu nhập từ DV trên tổng thu nhập, Tỷ lệ chứng khoán phái sinh trên tổng nợ, Tỷ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản rủi ro Kết quả cho thấy:

Trong ngắn hạn, kết quả cho thấy một mối quan hệ phi tuyến tính tồn tại giữa hai yếu tố này, theo đó lợi nhuận được cải thiện khi các ngân hàng nắm giữ một số tài sản lưu động, tuy nhiên, nếu tiếp tục nắm giữ tài sản lưu động làm giảm khả năng sinh lời của một ngân hàng Kết quả này phù hợp với quan điểm của thị trường vốn là đối với một ngân hàng, nắm giữa tài sản thanh khoản làm giảm rủi ro thanh khoản của nó Tuy nhiên, lợi ích này là có thể cuối cùng sẽ bị xem nhẹ do chi phí cơ hội của việc sở hữu tài sản lưu động mang lại lãi suất thấp cho ngân hàng

Đồng thời, kết quả ước tính cung cấp một số bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa tài sản lưu động và lợi nhuận phụ thuộc vào mô hình kinh doanh của ngân hàng

và sự khó khăn của thị trường vốn Việc áp dụng một mô hình kinh doanh truyền thống, nghĩa là hoạt động huy động và cho vay cho phép một ngân hàng tối ưu hóa lợi nhuận với một mức độ thanh khoản thấp hơn Tương tự như vậy, khi nền kinh tế tăng trưởng, hoạt động trên thị trường vốn dễ dàng, các ngân hàng cần phải giữ tài sản kém thanh khoản hơn để tối ưu hóa lợi nhuận

Từ góc độ chính sách, kết quả của nghiên cứu này là có liên quan, đặc biệt là cho cải cách pháp lý đang diễn ra sau cuộc khủng hoảng tài chính gần đây Như hoạch định chính sách đưa ra các tiêu chuẩn mới thiết lập một mức độ thích hợp của tính thanh khoản cho các ngân hàng, giúp đảm bảo đầy đủ sự ổn định cho hệ thống tài chính nói chung, các kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy các ngân hàng phải cân bằng giữa khả năng phục hồi trước những cú sốc thanh khoản và các chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản lưu động có lãi suất thấp hơn Nếu như giữ tài sản lưu động sẽ làm cho các ngân hàng linh hoạt hơn với những cú sốc thanh khoản, do đó làm giảm tác động tiêu cực từ bên ngoài thì nắm giữ quá nhiều tài sản thanh khoản có thể tạo ra

áp lực đáng kể về mặt giảm lợi nhuận

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các ngân hàng Canada nên nắm giữ tài sản ít lưu động hơn so với các ngân hàng Mỹ để tối ưu hóa lợi nhuận

Như vậy, qua các nghiên cứu đi trước về tác động của thanh khoản đến khả năng sinh lời của ngân hàng có thể thấy các nghiên cứu đều có kết quả là thanh khoản có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng tức là thanh khoản tăng thì lợi nhuận tăng Tuy nhiên đến một giới hạn nào đó, thanh khoản ngân hàng lại có tác động

Trang 35

làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Nguyên nhân là do tài sản thanh khoản thường là những tài sản ít sinh lãi, nắm giữ nhiều tài sản này khiến cho chi phí cơ hội của ngân hàng tăng cao, đầu tư vào tài sản sinh lãi của ngân hàng giảm từ đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Về mặt lý thuyết, khả năng sinh lợi luôn chịu sự ảnh hưởng từ các nhân tố từ nội tại ngân hàng và bên ngoài ngân hàng Trong đó thanh khoản luôn tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng thương mại, đặc biệt tới khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại Trong thực tế, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra sự ảnh hưởng của thanh khoản tới khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại Mặc dù một số nhà nghiên cứu sử dụng các chỉ số khác nhau để đo lường thanh khoản, khả năng sinh lợi Trong chương 2, tác giả đã nêu tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về khả năng sinh lợi, thanh khoản và tác động của thanh khoản tới khả năng sinh lợi để làm cơ sở cho việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp cho các các ngân hàng thương mại

Trang 36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu

Trong đề tài này, tác giả tiến hành nghiên cứu theo quy trình nghiên cứu cụ thể

Quy trình nghiên cứu của tác giả được tiến hành thông qua các giai đoạn chính và thể

hiện qua sơ đồ sau:

(Nguồn: Nghiên cứu tổng hợp của tác giả)

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ nghiên cứu

* Giai đoạn 1: Xây dựng đề cương và xác định vấn đề nghiên cứu

Từ những thực tế tác giả đã đặt ra vấn đề nghiên cứu liên quan đến thanh khoản

và tác động của thanh khoản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt

Nam Tác giả đã nghiên cứu trên các cơ sở lý thuyết về thanh khoản và tác động của

Vấn đề nghiên cứu

- Tính thanh khoản, khả năng sinh lời

- Mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lời

Cơ sở lý thuyết

- Lý thuyết về tính thanh khoản

- Lý thuyết về khả năng sinh lợi

- Các nghiên cứu thực nghiệm có liên

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định ảnh hưởng của thanh khoản tới khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam

Bước 1

Bước 2

Bước 3

Trang 37

thanh khoản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng và tiến hành xây dựng một khung nghiên cứu và đề cương nghiên cứu

* Giai đoạn 2: Xây dựng và thực hiện nội dung đề tài

Sau khi đề cương được hoàn thiện, trên cơ sở lý thuyết tác giả tiến hành nghiên cứu các công trình nghiên cứu thực nghiệm có liên quan với vấn đề nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước Từ đó, xác định các nội dung, phương pháp, mô hình nghiên cứu đề xuất sử dụng trong đề tài

Các bước trong giai đoạn này như sau:

- Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu

- Thu thập dữ liệu thứ cấp của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong 07 năm gần đây từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016

- Sau khi thu thập dữ liệu, tác giả phân tích sơ bộ và chọn lọc tính toán các biến cần thiết liên quan tới mô hình nghiên cứu

- Thực hiện phân tích thống kê mô tả các biến với toàn bộ mẫu dữ liệu thu thập được

- Xây dựng và phân tích ma trận tương quan

- Phân tích hồi quy mô hình theo 3 phương pháp: Pooled, REM, FEM

- Tiến hành kiểm định Hausman để chọn lựa mô hình tác động cố định hay tác động ngẫu nhiên để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất sử dụng trong nghiên cứu này

- Thực hiện các kiểm định như: Kiểm định hiện tượng tương quan; Kiểm định đa cộng tuyến bằng VIF; Kiểm định F-test để kiểm tra độ phù hợp của mô hình

* Giai đoạn 3: Kết luận và hoàn thiện đề tài nghiên cứu

Sau khi hoàn tất nội dung phân tích, kiểm định, từ đó tác giả căn cứ vào kết quả hồi quy và các kết quả nghiên trước đây để đưa ra kết luận và thảo luận liên quan tới vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo để hoàn thiện đề tài hơn

3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Theo Berger (1995), Morris & Shin (2010), Étienne and Christopher (2010), Ahmad (2014), Ali (2015) và Godwin và Comfort (2015) các nghiên cứu này đã sử

Trang 38

dụng tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng

Tỷ số ROA chỉ ra lợi nhuận thu được trên một đồng tài sản; tỷ số này rất quan trọng vì nó phản ánh tính hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn tài chính và đầu tư của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận (Hassan & Bashir, 2003) Đối với bất kỳ ngân hàng nào, ROA đều phụ thuộc vào các quyết định chính sách của ngân hàng cũng như các nhân tố không thể kiểm soát được liên quan đến nền kinh tế và các quy định của chính phủ Rivard & Thomas (1997) đã đề nghị rằng khả năng sinh lợi của ngân hàng nên được đo lường tốt nhất bằng ROA vì ROA không bị bóp méo bởi số nhân vốn chủ sở hữu cao (high equity multipliers) và ROA chứng tỏ là một công cụ đo lường tốt hơn khả năng thu lợi của một ngân hàng trên danh mục tài sản của nó

Theo Ahmad (2014) các biến thuộc nội tại ngân hàng và thể hiện tính thanh khoản tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng bao gồm:

- Tỷ lệ tài sản thanh khoản (LQR):

Theo Étienne and Christopher (2010), Trang (2013), Huyền (2013), Ahmad (2014), Phước (2016), thì Tỷ lệ tài sản thanh khoản năm đo lường bằng Tài sản thanh khoản chia cho Tổng tài sản Biến Tỷ lệ tài sản thanh khoản được đưa vào mô hình hồi quy để đo lường tính thanh khoản của các ngân hàng, khi nắm giữ càng nhiều tài sản thanh khoản thì có tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Trong đó Tài sản thanh khoản = Tiền mặt, vàng bạc, đá quý + Tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam + Tiền, vàng gửi tại và cho vay tại các TCTD khác + Chứng khoán kinh doanh

- Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản (NCA):

Theo Ahmad (2014), Godwin và Comfort (2015) tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản

có tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản cho biết tỷ lệ cho vay của ngân hàng, đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng đem lại doanh thu và lợi nhuận chính của các ngân hàng thương mại Nhự vậy tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản càng cao thì khả năng sinh lời càng lớn

- Tỷ lệ tổng đầu tư/Tổng tài sản (TIA)

Theo Ahmad (2014), Phước (2016) tỷ lệ đầu tư trên tổng tài sản có tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng Tỷ lệ đầu tư càng cao chứng tỏ ngân hàng luôn

mở rộng hoạt động kinh doanh dịch vụ của mình, mở ra kênh sinh lợi mới nhằm đẩy

Trang 39

mạnh khả năng sinh lời của ngân hàng Như suy luận vậy ngân hàng có tỷ lệ đầu tư càng cao thì ngân hàng có khả năng sinh lời càng cao

- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản (TEA)

Theo Ahmad Aref Almazri (2014), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng Những ngân hàng có vốn chủ sở hữu càng lớn thì càng có cơ hội mở rộng hoạt động của ngân hàng, mở rộng chi nhánh hoạt động để đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh của mình Từ đó, khả năng sinh lời của các ngân hàng càng được nâng cao

- Tỷ lệ cho vay/ Tổng tiền gửi (CDR)

Theo Ahmad (2014), Ali (2015), Godwin và Comfort (2015) cho thấy Tỷ lệ cho vay/ Tổng tiền gửi có tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng Tỷ lệ này càng cao càng thể hiện hoạt động cho vay càng được đẩy mạnh và mở rộng Hoạt động cho vay là hoạt động trọng yếu của ngân hàng, hoạt động cho vay càng đẩy mạnh thì

có khả năng sinh lời hơn Bên cạnh đó, hoạt động cho vay của các ngân hàng chủ yếu

sử dụng nguồn vốn huy động, vốn huy động chủ yếu là huy động từ tiền gửi của khách hàng Do đó, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi thể hiện hiệu suất sử dụng vốn huy động, hiệu suất này càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng cho vay càng hiệu quả hay khả năng sinh lời càng cao

- Tỷ lệ tổng chi phí hoạt động/Tổng thu nhập thuần (CIR)

Theo Ahmad (2014) cho thấy Tỷ lệ tổng chi phí hoạt động trên tổng thu nhập thuần có tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng Đối với mỗi ngân hàng thì chi phí hoạt động càng thấp càng tốt Tỷ lệ tổng chi phí hoạt động trên tổng thu nhập thuần càng thấp càng thể hiện được hiệu suất hoạt động của ngân hàng càng cao Như vậy Tỷ lệ tổng chi phí hoạt động trên tổng thu nhập thuần có ảnh hưởng ngược chiều tới khả năng sinh lời của ngân hàng

- Quy mô ngân hàng (SIZE):

Theo Ahmad (2014) cho thấy quy mô ngân hàng có tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng Ngân hàng có quy mô càng lớn càng có cơ hội tiếp cận nhiều khách hàng, mở rộng hoạt động kinh doanh, đẩy mạnh khả năng sinh lời của ngân hàng Như vậy quy mô ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng

Trang 40

Từ các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu của Ahmad (2014) tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu sau:

)1(

7 6

5 4

3 2

- 1, ,7là hệ số hồi quy theo các biến

- ROAlà tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của ngân hàng i vào thời điểm t

- LQRlà tỷ lệ tài sản thanh khoản của ngân hàng i tại thời điểm t

- NCAlà tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t

- TIAlà tỷ lệ tổng đầu tư trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t

- TEAlà tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t

- CDRlà tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi của ngân hàng i tại thời điểm t

- CIRlà tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập thuần của ngân hàng i tại thời điểm t

- SIZElà quy mô của ngân hàng i tại thời điểm t

H2: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản (NCA)

và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thể hiện qua chỉ số ROA

H3: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa Tỷ lệ tổng đầu tư/Tổng tài sản (TIA) và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thể hiện qua chỉ số ROA

H4: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản (TEA) và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thể hiện qua chỉ số ROA

H5: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa Tỷ lệ cho vay/ Tổng tiền gửi (CDR) và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thể hiện qua chỉ số ROA

Ngày đăng: 08/08/2019, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w