1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai: luận văn thạc sĩ

95 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tế cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được, cơ chế cũng bộc lộ một số hạn chế cần phải nghiên cứu khắc phục, như: quy trình lập, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐÀO LÊ KIỀU OANH

Trang 3

Đồng Nai – Năm 2017

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, số liệu

và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng được sử dụng, công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình

Biên Hòa, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Sơn Tùng

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các giảng viên Khoa Đào tạo Sau Đại học của Trường Đại học Lạc Hồng, Ban Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai, các đồng nghiệp ở phòng Tổ chức-Hành chính quản trị, phòng Tài chính - Kế toán và phòng Kế hoạch - Tổng hợp của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên chính - Người hướng dẫn khoa học TS Đào Lê Kiều Oanh đã hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người thân

của tôi đã không ngừng động viên, cổ vũ tôi về tinh thần trong suốt những năm tháng học tập và thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, đề tài nghiên cứu chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót hạn chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các giảng viên và tất cả các bạn

Tôi xin trân trọng cảm ơn./

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Ngân sách nhà nước, một bộ phận quan trọng trong nền tài chính quốc gia, một công

cụ hữu hiệu mà các quốc gia vẫn sử dụng trong quá trình vận động và tồn tại của mình Trong những năm gần đây trình độ khoa học kỹ thuật của thế giới phát triển rất nhanh chóng, do đó các đơn vị hành chính sự nghiệp cũng được hưởng lợi do các máy móc tiên tiến, hiện đại đáp ứng cho nhu cầu hiện đại hóa kỹ thuật hóa, nhất là trong giai đoạn cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính hiện nay Tuy nhiên để mua sắm được các máy móc thiết bị này trước đây rất khó khăn do hạn chế về tài chính và thủ tục mua sắm rườm rà

Từ khi Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 ra đời, các đơn vị hành chính sự nghiệp được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính

Các đơn vị hành chính sự nghiệp tận dụng cơ hội này để thực hiện quản lý tài chính tại đơn vị mình và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai cũng không nằm ngoài xu hướng này Tuy nhiên khi thực hiện quản lý tài chính, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã gặp những khó khăn, vướng mắc cần phải tháo gỡ để hoàn thiện quản lý tài chính tại đơn vị mình Từ thực tế trên tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai” làm đề tài Luận văn thạc sĩ Tài chính - Ngân hàng nhằm đưa ra các giải pháp giúp cho công việc quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai ngày càng hoàn thiện

Trước tiên, tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, trong đó đưa ra kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam về quản lý tài chính theo hướng tự chủ, rút ra bài học kinh nghiệm cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai

Sau đó bằng các phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu tác giả đã cho thấy thực trạng tài chính và mức độ quản lý tài chính của sở trong giai đoạn 2012-2016 Mặc dù cơ chế quản lý tài chính đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực trong công tác quản lý tài chính ở sở nhưng nhìn chung vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần phải được

Trang 6

giải quyết Để thực hiện được các mục tiêu trong quá trình tự chủ, phát huy những mặt tích cực và kết quả đạt được, sở cần tiếp tục nghiên cứu để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế, chính sách và các quy định tài chính hiện hành đồng thời tìm kiếm các giải pháp khắc phục những mặt hạn chế, khó khăn còn tồn tại của việc quản lý tài chính hiện nay nhằm hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả cơ chế quản lý tài chính

Trên cơ sở tìm ra những nguyên nhân còn tồn tại và những khó khăn cần giải quyết, tác giả đã đưa ra các giải pháp cụ thể, đồng độ nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của sở Các giải pháp này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, không có một giải pháp duy nhất để có thể giải quyết hết những khó khăn bất cập của thực trạng đã được nêu lên Vì vậy các giải pháp này phải được thực hiện một cách đồng bộ để mang lại hiệu quả cao Và cuối cùng để thực hiện được các giải pháp này một cách triệt để không chỉ cần có sự cố gắng nỗ lực của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai

mà còn cần đến sự can thiệp tạo điều kiện thuận lợi của các cơ quan quản lý Nhà nước

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tổng hợp các nguồn thu của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

Bảng 2.2 Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho sở giai đoạn 2012-2016 38

Bảng 2.3 So sánh nguồn kinh phí thường xuyên và không thường xuyên của

Bảng 2.4 Các nguồn thu sự nghiệp và thu khác tại sở giai đoạn 2012-2016 41

Bảng 2.5 Bảng tổng hợp chi ngân sách của Sở Lao động – Thương binh và Xã

Bảng 2.7 Chi không thường xuyên và chi khác của sở giai đoạn 2012-2016 49 Bảng 2.8 Mức tự đảm bảo kinh phí thường xuyên tại sở giai đoạn 2012-2016 50

Bảng 2.9 Tổng hợp chi lương tăng thêm tại Sở Lao động – Thương binh và

Bảng 2.10 Số tiền trích lập các quỹ tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đố 1.2 Chu trình lập, chấp hành dự toán thu chi trong các đơn vị hành

Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu hỗn hợp tại Sở Lao động –

Trang 9

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Tổng quan nghiên cứu 3

6 Những đóng góp của luận văn 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 6

1.1 Tổng quan về đơn vị hành chính sự nghiệp 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đơn vị hành chính sự nghiệp 6

1.1.1.1 Khái niệm đơn vị hành chính sự nghiệp 6

1.1.1.2 Đặc điểm đơn vị hành chính sự nghiệp 7

1.1.1.3 Vai trò đơn vị hành chính sự nghiệp 8

1.2 Quản lý tài chính tại đơn vị hành chính sự nghiệp 9

1.2.1 Khái niệm về tài chính và quản lý tại chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp

9

1.2.1.1 Khái niệm về tài chính 9

1.2.1.2 Khái niệm quản lý tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp 9

1.2.2 Đặc điểm của quản lý tài chính trong đơn vị hành chính sự nghiệp 15

1.2.3 Nội dung quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp 17

1.2.3.1 Quản lý các nguồn lực tài chính 17

Trang 10

1.2.3.2 Quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính 18

1.2.3.3 Quản lý trích lập và sử dụng các quỹ 20

1.3 Các công cụ quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp 21

1.3.1 Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước 21

1.3.2 Quy chế chi tiêu nội bộ 21

1.3.3 Công tác kế hoạch 22

1.3.4 Hạch toán kế toán, kiểm toán 22

1.3.5 Hệ thống thanh tra, kiểm tra 22

1.3.6 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính 23

1.4 Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp hiện nay 23

1.5 Kinh nghiệm về quản lý tài chính theo của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 25

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 25

1.5.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam 28

1.5.3 Bài học kinh nghiệm về thực hiện quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 29

Kết luận chương 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI 31

2.1 Khái quát chung về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 31

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 31

2.1.2 Hệ thống và cơ cấu quản lý của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 31

2.1.3 Tình hình hoạt động của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai từ năm 1975 đến nay 33

2.2 Thực trạng về quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2012 – 2016 36

Trang 11

2.2.1 Quản lý các nguồn lực tài chính 36

2.2.1.1 Quản lý nguồn thu từ ngân sách Nhà nước cấp 38

2.2.1.2 Quản lý nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp và các nguồn thu khác 40

2.2.2 Thực trạng quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính 42

2.2.2.1 Quản lý chi thường xuyên 44

2.2.2.2 Quản lý chi không thường xuyên và chi khác 48

2.2.3 Quản lý việc trích lập và sử dụng các quỹ 50

2.3 Thực trạng sử dụng các công cụ quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 53

2.3.1 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước 53

2.3.2 Quy chế chi tiêu nội bộ 54

2.3.3 Công tác kế hoạch 54

2.3.4 Công cụ hạch toán kế toán, kiểm toán 55

2.3.5 Kiểm tra, thanh tra 56

2.3.6 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính 56

2.4 Những măt đạt được, hạn chế và nguyên nhân 57

2.4.1 Kết qủa đạt được 57

2.4.1.1 Nguồn thu sở có xu hướng tăng lên 57

2.4.1.2 Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm 57

2.4.1.3 Góp phần đa dạng hóa và nâng cao hoạt động nghiên cứu khoa học 57

2.4.1.4 Từng bước cải thiện cơ sở vật chất và nâng cao thu nhập của cán bộ công chức 58

2.4.1.5 Tổ chức bộ máy, biên chế theo hướng gọn nhẹ và hoạt động hiệu quả 58

2.4.2 Những hạn chế 58

2.4.3 Nguyên nhân 60

Kết luận chương 2 62

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI 63

3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 63

Trang 12

3.1.1 Định hướng phát triển của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai

đến năm 2030 63

3.1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 64

3.1.3 Quan điểm định hướng về hoàn thiện quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 65

3.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai 66

3.2.1 Hoàn thiện công tác quản lý các nguồn lực tài chính 66

3.2.2 Hoàn thiện công tác quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính 69

3.2.3 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ làm công tác quản lý tài chính 72

3.2.4 Tăng cường công tác hạch toán kế toán, kiểm toán đi đôi với công khai tài chính 74

3.2.5 Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ 75

3.3 Kiến nghị đối với nhà nước 76

Kết luận chương 3 79

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra các chính sách và giải pháp về đẩy mạnh cải cách nền hành chính công, nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế - xã hội: “Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước…Tách các hoạt động công quyền với các hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng để các tổ chức cung ứng dịch vụ công cộng thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, 2006) Sau khi thực hiện thành công thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước Để triển khai thực hiện rộng rãi trong các cơ quan hành chính nhà nước, ngày 17/10/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2005/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước Cơ chế tự chủ đã tạo điều kiện cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai thực hiện tốt việc kiểm soát chi tiêu nội bộ, đáp ứng yêu cầu về công khai minh bạch trong tổ chức sắp xếp công việc, nhân sự, chi tiêu tài chính được thực hiện, tạo điều kiện tăng thu nhập cho cán bộ công chức Tuy nhiên, thực tế cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được, cơ chế cũng bộc lộ một số hạn chế cần phải nghiên cứu khắc phục, như: quy trình lập, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước; công tác kiểm tra; xây dựng và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ tại các đơn vị; quản lý và sử dụng nguồn tăng thu tiết kiệm chi, chủ động sáng tạo trong công tác quản lý tài chính,…

Xuất phát từ nội dung chỉ đạo trên, ngày 25/04/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Nghị định này đã tạo hành lang pháp lý nhằm nâng cao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp Trong các nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì tự chủ tài chính luôn là vấn đề trọng

Trang 14

tâm cần được xây dựng cẩn thận, thực hiện một cách khoa học và sáng tạo nhất Đối với các cơ sở y tế công lập nói chung và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai nói riêng, việc thực hiện nội dung trong Nghị định 43/2006/NĐ-CP là một nhiệm vụ cấp thiết, đây thực sự là bước ngoặt lớn nhằm xoá bỏ tư duy và lề lối làm việc mang tính bao cấp sang hoạt động tự chủ, mở ra một giai đoạn mới trong công tác quản lý tài chính Sau khi thực hiện qua các năm Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã rất tích cực cải cách và đổi mới cơ chế quản lý tài chính, đã chủ động khai thác tối đa các nguồn thu, nâng cao hiệu quả các khoản chi phí, tích cực cân đối thu chi đảm bảo tự chủ

về tài chính Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của sở, nhu cầu về tài chính ngày một gia tăng, trong khi nguồn ngân sách Nhà nước cấp ngày một hạn hẹp, do vậy đòi hỏi sở cần phải có giải pháp hữu hiệu hơn nữa giúp nâng cao mức độ tự chủ tài chính, thực hiện tốt

mục tiêu nhiệm vụ được giao Nhận thức được tính cấp thiết này tác giả chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu về thực trạng quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2012-2016 để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý tài chính của sở trong những năm tới được tốt hơn

Mục tiêu cụ thể:

- Phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý tài chính và sử dụng các công cụ quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn nghiên cứu, từ đó rút ra được những mặt đã làm được và những mặt chưa làm được trong việc quản lý tài chính cũng như nguyên nhân của các tồn tại

- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi để hoàn thiện việc quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại Sở

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh

và Xã hội tỉnh Đồng Nai

Phạm vi nghiên cứu:

Trang 15

Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu lấy báo cáo và phân tích được lấy từ báo cáo tài chính của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai từ năm 2012 đến năm

2016

Không gian nghiên cứu: tại các đơn vị hành chính sự nghiệp của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát thực tế để phân tích, so sánh và tổng hợp thông tin Luận văn sử dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng và các phương pháp của thống kê như: so sánh, tổng hợp, phân tích… để xử lý nguồn thông tin thu được làm cơ sở đưa ra các nhận định, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai Phương pháp thu thập thông tin về thực trạng tổ chức quản lý tài chính tại các đơn

vị khảo sát bao gồm: Phát phiếu điều tra, thực hiện và tham gia tìm hiểu thực tế công tác quản lý tài chính tại đơn vị

5 Tổng quan nghiên cứu

Công tác phân tích và đánh giá việc hoàn thiện quản lý tài chính thuộc ngành Lao động cũng đã có vài tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu Tuy nhiên, những đề tài về hoàn thiện quản lý tài chính ở các ngành thì chủ yếu do các tác giả ở Việt Nam nghiên cứu và thực hiện, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của đài truyền hình Việt Nam” của Nguyễn Văn Nam, người hướng dẫn: PGS.TS Đào Văn Hùng, 2008, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Đề tài này nêu lên được lý thuyết về cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu, thực trạng cơ chế tự chủ tài chính của đài truyền hình Việt Nam, và một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của đài truyền hình Việt Nam Tuy nhiên do đề tài nghiên cứu số liệu giai đoạn 2005-2007 khi nền kinh tế thế giới nói chung và nước ta nói riêng phát triển tương đối tốt nên nguồn ngân sách hà nước cấp cho đài truyền hình Việt Nam còn khá, và các văn bản pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính mới ra đời hơn 1 năm vẫn còn nhiều bất cập nên đài truyền hình Việt Nam chưa dám mạnh dạn áp dụng cơ chế tự chủ tài chính mà chỉ mới bắt đầu thăm dò và thực hiện để rút

Trang 16

kinh nghiệm Do đó những giải pháp đưa ra để hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của đài truyền hình Việt Nam trong đề tài này không còn thực sự phù hợp với giai đoạn hiện nay

- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn TP.HCM” của Nguyễn Tấn Lượng, người hướng dẫn: TS Lê Tấn Phước, 2011, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Đề tài này nêu lên được những vấn

đề chung về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập, thực trạng về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP.HCM, và các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP.HCM Tuy nhiên do đề tài lấy số liệu tổng hợp của các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn TP.HCM ở giai đoạn nước ta mới bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên ngân sách nhà nước cấp cho các trường đại học chưa bị giảm nhiều, hơn nữa bởi vì công tác quản lý tài chính ở các trường đại học và sở khác nhau do đặc điểm hoạt động nên không thể áp dụng toàn bộ các giải pháp được đưa ra trong đề tài này vào sở

- Luận văn thạc sĩ “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” của Nguyễn Thị Thanh Hoa, người hướng dẫn: TS Nguyễn Phượng Lê,

2015, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Đề tài này nêu lên được lý thuyết về cơ chế và thực trạng tự chủ tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước, một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước Tuy nhiên do đề tài lấy số liệu tổng hợp tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước nên các giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính mang tính chất chung chung, khi áp dụng cho từng đơn vị sự nghiệp phải tìm hiểu và chọn lọc lại để thực hiện

Các công trình này tác giả đều đã đưa ra được các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác quản lý tài chính nói chung và hơn nữa đã đưa ra được một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính, tuy nhiên tác giả chưa nêu được ảnh hưởng của tổ chức hạch toán tới hiệu quả quản lý tài chính, các giải pháp mà các tác giả đưa ra chưa dựa trên nền tảng chuẩn mực kế toán công quốc tế Tuy nhiên đây cũng là cơ sở quan trọng để tác giả có thể kế thừa, xây dựng mô hình tổ chức hạch định tài chính để đưa ra được tác động của từng yếu tố của tổ chức hạch định tài chính đến hiệu quả quản lý tài chính của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai

Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về tổ chức hạch

Trang 17

định tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm tăng cường quản lý tài chính phục vụ cho hoạt động quản lý của các đơn vị nói riêng và cho ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nói chung

Do đó, việc nghiên cứu về công tác phân tích và đánh giá việc hoàn thiện quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai tác giả có thể tin tưởng rằng với công trình nghiên cứu của mình tác giả sẽ có những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn tổ chức hạch định tài chính nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung và của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai nói riêng

6 Những đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn ở Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai:

- Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa kích thích các nghiên cứu tiếp theo ở Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai để khám phá những nhân tố mới cũng như tầm quan trọng của các nhân tố trong việc hoàn thiện quản lý tài chính tại sở

- Kết quả nghiên cứu góp phần hỗ trợ các nhà quản lý tại Sở Lao động – Thương binh

và Xã hội tỉnh Đồng Nai nắm bắt được các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của từng nhân

tố trong việc hoàn thiện quản lý tài chính tại sở

7 Bố cục của luận văn

Kết cấu nội dung luận văn ngoài các phần mở đầu, kết luận và phụ lục gồm có ba chương sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý tài chính tại đơn vị hành chính sự nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và

Xã hội tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và

Xã hội tỉnh Đồng Nai

Trang 18

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI

ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

1.1 Tổng quan về đơn vị hành chính sự nghiệp

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đơn vị hành chính sự nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm đơn vị hành chính sự nghiệp

Điều 9 luật Viên chức được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước,

tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước” Theo quy định trên

và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thì đơn vị sự nghiệp công lập được xác định bởi các tiêu thức cơ bản sau:

- Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật

- Hoạt động cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, y tế, văn hóa thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm…

- Được Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao

- Đơn vị sự nghiệp được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí nhất định trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức

- Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng

Phân loại Đơn vị sự nghiệp công lập: Theo điều 9 của Nghị định số

43/2006/NĐ-CP thì căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)

Trang 19

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách Nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động) Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời gian 3 năm Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp

1.1.1.2 Đặc điểm đơn vị hành chính sự nghiệp

+ Hoạt động theo dự toán được cấp có thẩm quyền giúp và được ngân sách Nhà nước cấp toàn bộ hoặc một phần dự toán kinh phí hoạt động thường xuyên được cấp có thẩm quyền duyệt, báo cáo qua dịch vụ kế toán thuế

Các loại hình hoạt động của các đơn vị sự nghiệp rất đa dạng, phức tạp, không vì mục đích sinh lợi, hầu hết các đơn vị sự nghiệp không có thu hoặc có thu ít chi đủ đáp ứng một phần chỉ tiêu Các hoạt động chủ yếu được trang trải bằng nguồn của Ngân sách Nhà nước

+ Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp trong của một ngành dọc được tổ chức thành đơn vị dự toán cao cấp như sau:

- Đơn vị dự toán cấp I: Là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do cấp chính quyền tương ứng giao (Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân quận, huyện, ) và chịu trách nhiệm phân bổ dự toán ngân sách năm xuống cho đơn vị cấp dưới ; quản lý, điều hành ngân sách năm của sếp mình và cấp dưới trực thuộc Đơn vị dự toán cấp I đến các Bộ ở Trung ương, các Sở ở các tỉnh, thành phố hoặc các phòng chức năng ở cấp quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh,v.v

- Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I, có nhiệm vụ nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị

dự toán cấp in, có trách nhiệm tổ chức, điều hành quản lý kinh phí của cấp và đơn vị dự toán cấp dưới

Trang 20

- Đơn:vị dự toán cấp dưới của cấp I: Là Đơn vị dự toán, trực tiếp sử dụng kinh phí nhận từ đơn vị dự toán cấp IỊ hoặc dự toán cấp I (nếu không có cấp II), có trách nhiệm tổ chức, thực hiện quản lý kinh phí của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp dưới

- Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp II: Được nhận kinh phí để thực hiện phân công việc cụ thể, khi chủ tiêu phải thực hiện việc quản lý kinh phí theo sự hướng dẫn của đơn

vị dự toán cấp III, báo cáo qua dịch vụ kế toán thuế trọn gói

+ Hàng quý, hằng năm đơn vị phải lập dự toán thu chi theo các định mức, chế độ, tiêu chuẩn do Nhà nước quy định; hoặc Nhà nước cho phép Thủ trưởng đơn vị được quy định một số khoản chi tiêu thường xuyên được thực hiện theo quy chế chỉ tiêu nội bộ (Đối với các đơn vị Thực hiện chế độ tự chi, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 43/2006/NĐCP ngày 25/04/2006 của Chính phủ)

1.1.1.3 Vai trò đơn vị hành chính sự nghiệp

Cơ chế tự chủ tài chính là yêu cầu tất yếu khi Nhà nước thực hiện chủ trương trao quyền tự chủ cho các đơn vị hành chính sự nghiệp Nhà nước với vai trò quản

lý, xây dựng cơ chế nhằm đảm bảo cho hệ thống các đơn vị trực thuộc hoạt động ổn định theo định hướng chung Cơ chế ban hành mang tính chất hướng dẫn, khuyến khích và kiểm soát Cơ chế tự chủ tài chính tạo hành lang pháp lý cho quá trình hoạt động đơn vị hành chính sự nghiệp Nó bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật, Thông tư, Nghị định, Quyết định v.v… tạo cơ sở hoạt động cho các đơn vị hành chính sự nghiệp Hiện nay Nghị định 43 cùng các văn bản pháp luật đi kèm điều chỉnh các nội dung về: nội dung định mức thu chi, thực hiện trích lập các quỹ tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp Mỗi loại hoạt động đơn vị đều có quy định và hướng dẫn cụ thể Thông qua cơ chế tự chủ tài chính, Nhà nước có thể phân phối, sử dụng các nguồn tài chính đáp ứng duy trì hoạt động và phát triển của đơn vị, thúc đẩy sử dụng kinh phí tiết kiệm, có hiệu quả Với vai trò khuyến khích, cơ chế tự chủ tài chính còn làm tăng tính chủ động sáng tạo và

ý thức tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp Khi được trao quyền tự chủ, các đơn vị hành chính sự nghiệp sẽ chú trọng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động Do đó kích thích sự sáng tạo trong cách nghĩ và cách làm Thủ trưởng đơn vị cần phải phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Tuy nhiên cần hiểu rõ trao quyền tự chủ không đồng nghĩa với trao quyền tự do Quyền đi đôi với trách nhiệm và

Trang 21

nghĩa vụ Với mục đích quản lý, cơ chế tự chủ còn bao hàm vai trò kiểm tra, giám sát đối với các đơn vị được trao quyền tự chủ Các quy định về kiểm tra, giám sát là cơ sở để các

cơ quan chức năng xử lý vi phạm Vì vậy nó giúp hình thành ý thức tự chịu trách nhiệm mỗi đơn vị

1.2 Quản lý tài chính tại đơn vị hành chính sự nghiệp

1.2.1 Khái niệm về tài chính và quản lý tại chính tại các đơn vị hành chính sự

nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm về tài chính

Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội

Tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp là phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của các quỹ tiền tệ trong các đơn vị hành chính sự nghiệp Xét về hình thức, nó phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình sử dụng các quỹ bằng tiền Xét về bản chất, nó là những mối quan hệ tài chính biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ bằng tiền nhằm phục

vụ cho sự nghiệp cho cán bộ công chức và nhân dân của đất nước

1.2.1.2 Khái niệm về quản lý tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp

- Đơn vị hành chính sự nghiệp được thành lập và hoạt động trên cơ sở nguồn ngân sách do nhà nước cấp không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng không phải vì thế mà không tính đến vấn đề hiệu quả, ngược lại chính trong lĩnh vực phi lợi nhuận này yêu cầu về hiệu quả sử dụng nguồn tài chính lại trở nên đặc biệt quan trọng “Tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp là các hoạt động thu chi tiền xuyên suốt quá trình lập và chấp hành dự toán thu chi của các đơn vị hành chính sự nghiệp” như vậy quản lý tài chính trong các đơn vị này thực chất chính là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong lĩnh vực tài chính nhằm thực hiện việc huy động, phân bổ và

sử dụng một cách chặt chẽ, có hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã định như tạo lập nguồn thu ổn định, sử dụng kinh phí nhà nước đúng mục đích, quản lý giám sát việc sử dụng tài sản tại đơn vị vv , xây dựng các quy định quản lý thu chi để điều tiết việc sử dụng và phân phối nguồn lực tài chính nhà nước có hiệu quả

Trang 22

Cũng như các hoạt động quản lý khác, quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp cũng mang những đặc điểm tương tự, nhưng do gắn liền với lĩnh vực tài chính ở các đơn vị hành chính sự nghiệp nên theo tác giả có một số đặc điểm tiêu biểu trên các góc độ như sau:

+ Nếu xét trên góc độ đối tượng quản lý: Đối tượng quản lý là các hoạt động thu chi tài chính chủ yếu gắn với nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn hình thành khác, nhằm bảo đảm cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị hành chính sự nghiệp và không vì mục tiêu lợi nhuận

+ Nếu xét trên góc độ chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp là các cơ quan, bộ phận chuyên trách quản lý tài chính Nhiệm vụ của các chủ thể này được phân cấp theo từng đối tượng quản lý, đồng thời tiếp nhận các nhiệm vụ do cấp Trung ương và địa phương giao phó

+ Nếu xét trên góc độ cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý tài chính là sự kết hợp giữa

cơ chế quản lý chung của Nhà nước với cơ chế riêng phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính sự nghiệp, từng hoạt động gắn liền với sự tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị hành chính sự nghiệp như: cơ chế tạo lập nguồn kinh phí, cơ chế phân phối và sử dụng nguồn kinh phí, cơ chế kiểm tra giám sát Cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp sẽ có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý

về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo tài chính phù hợp

- Mục tiêu hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp là phục vụ lợi ích chung, tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp là tài chính công, vì vậy công tác quản

lý tài chính ở các đơn vị hành chính sự nghiệp phải bảo đảm được các yêu cầu cơ bản sau: + Thống nhất và tuân thủ nghiêm ngặt chế độ, chính sách Nhà nước hiện hành: Thông qua việc chấp hành nghiêm túc các chế độ, chính sách, Nhà nước thể hiện rõ sự quản lý thống nhất và công bằng với các đơn vị hành chính sự nghiệp Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống khuôn khổ pháp lý về chứng từ, tài khoản và sổ kế toán cũng như báo cáo tài chính phải được xây dựng phù hợp với các cơ chế chính sách tài chính và quản lý của nhà nước, đồng thời phù hợp với việc vận dụng tại các đơn vị trên cơ sở thống nhất giữa các đơn vị trong cùng một lĩnh vực

+ Bảo đảm tính hiệu quả: Hiệu quả của công tác quản lý tài chính ở các đơn vị

Trang 23

hành chính sự nghiệp mang lại không nhỏ cả về mặt kinh tế và xã hội Xét về góc độ xã hội, quản lý tài chính tốt sẽ kéo theo một loạt các hiệu ứng tích cực trong các công tác quản lý khác, nhờ đó không chỉ Nhà nước mà cả những người dân đều được thụ hưởng dịch vụ và chất lượng công hiệu quả, đảm bảo tốt nhiệm vụ chính trị được giao Để đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý tài chính, tổ chức hạch toán phải được thực hiện sao cho: Thông tin cung cấp về đối tượng phải đầy đủ, kịp thời, mặt khác phải đầy đủ các thông tin chi tiết cần thiết để có thể xác định được các chỉ tiêu so sánh hiệu quả, từ đó nhà quản lý

có thể đưa ra các biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước

+ Công khai, minh bạch: Đây là một yêu cầu rất cơ bản cho công tác quản lý tài chính ở các đơn vị hành chính sự nghiệp Công khai, minh bạch ở đây phải được thực hiện ngay từ những khâu đầu tiên của quá trình lập, chấp hành và thực hiện, quyết toán ngân sách, phải được triển khai từ đơn vị cơ sở đến các cơ quan quản lý cấp trên Để làm được điều này đòi hỏi số liệu cung cấp phải rõ ràng, phản ánh đầy đủ các nội dung theo yêu cầu của quản lý tài chính

+ Phân cấp quản lý đúng mức: Quá trình phân cấp quản lý phải đảm bảo theo một lộ trình thích hợp, phải có sự chuẩn bị kỹ càng, thận trọng, phù hợp với tình hình và khả năng cụ thể ở từng đơn vị hành chính sự nghiệp Việc phân cấp này phải tạo điều kiện giảm thiểu các chồng chéo của công tác quản lý nhưng vẫn phát huy được khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị hành chính sự nghiệp và đảm bảo được các nguyên tắc thống nhất quản lý của Nhà nước, tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật

- Để đạt được mục tiêu đề ra trong quản lý tài chính cần sử dụng linh hoạt các công

cụ quản lý như các quy định, cơ chế tài chính, hệ thống các tiêu chuẩn, định mức trong thu, chi ngân sách nhà nước cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực Các công cụ này được

sử dụng linh hoạt trong tất cả các khâu công việc của quản lý tài chính, bao gồm:

+ Lập và chấp hành dự toán thu, chi đối với từng nguồn kinh phí theo đúng quy định và phù hợp với đặc điểm từng đơn vị

+ Quản lý, sử dụng các khoản thu (thu sự nghiệp, thu phí lệ phí và các khoản thu khác), vốn và tài sản của đơn vị theo đúng quy định hiện hành

Trang 24

+ Quản lý chi tiêu theo dự toán và theo quy chế chi tiêu nội bộ của từng đơn vị + Trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định của chế độ tài chính hiện hành

Các nội dung trên thể hiện khá rõ qua các bước công việc trong chu trình quản lý ngân sách tại các đơn vị và được khái quát qua sơ đồ 1.2:

Trang 25

(Nguồn: Theo qui định của Thông tư số 59 ngày 23 tháng 6 năm 2003 của Bộ Tài chính)

Trang 26

- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm vụ của năm

kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành Căn cứ kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề, các đơn vị hành chính sự nghiệp lập dự toán thu, chi cho năm kế hoạch

- Căn cứ vào dự toán thu, chi ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao, Bộ chủ quản (đối với đơn vị hành chính sự nghiệp trung ương), cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị hành chính sự nghiệp địa phương) lập phương án phân bổ gửi cơ quan tài chính cùng cấp thẩm tra, sau khi có ý kiến thống nhất của cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan chủ quản giao dự toán cho đơn vị thực hiện

- Trên cơ sở dự toán thu, chi đã được giao, các đơn vị hành chính sự nghiệp chủ động thực hiện dự toán Trước hết là đối với các khoản thu, thông thường trong các đơn

vị hành chính sự nghiệp các khoản thu bao gồm:

+ Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp

+ Nguồn thu sự nghiệp

+ Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật

+ Nguồn khác (nếu có)

- Trên cơ sở nguồn thu, các đơn vị tiến hành chi tiêu theo dự toán được phê duyệt, bao gồm các khoản chi thường xuyên và chi không thường xuyên Các khoản chi này được thực hiện trên cơ sở dự toán và phải tuân thủ các quy định trong quản lý tài chính hiện hành Thực hiện dự toán thu, chi là một công việc có khối lượng lớn trong tổng số khối lượng công việc của bộ máy kế toán, do vậy để đảm bảo hiệu quả quản lý tài chính đòi hỏi các công việc này phải được phân công phù hợp và tuân thủ đầy đủ các quy định trong kiểm tra, giám sát

- Quyết toán là công việc cuối cùng trong chu trình tiếp nhận, sử dụng và quyết toán các nguồn kinh phí trong các đơn vị hành chính sự nghiệp gắn với các hoạt động thu, chi ngân sách, công việc này thực hiện sau khi đã thực hiện xong dự toán thu, chi tại các đơn

vị Do đặc điểm phân cấp quản lý ngân sách nên công việc lập, gửi và thẩm định quyết toán được thực hiện theo một chu trình gắn với các cấp đơn vị dự toán

- Quá trình lập, gửi và quyết toán được thực hiện theo chu trình tương tự như lập dự toán, các đơn vị dự toán cấp 3 lập báo cáo quyết toán của đơn vị mình, gửi cho đơn vị cấp

Trang 27

trên, các đơn vị dự toán cấp 1 và cấp 2, tổng hợp báo cáo quyết toán trên cơ sở báo cáo của đơn vị mình và báo cáo của đơn vị cấp dưới trực thuộc, thẩm định và phê duyệt báo cáo quyết toán của các đơn vị cấp dưới

- Kiểm tra, kiểm soát là công việc được thực hiện trong tất cả các bước của chu trình lập và chấp hành dự toán thu, chi tại các đơn vị hành chính sự nghiệp Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính sự nghiệp có trách nhiệm tự kiểm tra tình hình tài chính kế toán ở đơn vị mình nhằm đánh giá khả năng, năng lực thực hiện, trình độ tổ chức, triển khai công việc và việc chấp hành các chế độ, chính sách của Nhà nước gắn với từng giai đoạn của chu trình ngân sách Bên cạnh đó, cũng cần có sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên của các cơ quan chủ quản và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo cho việc sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, lành mạnh, đồng thời giúp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức và thực hiện công việc, góp phần nâng cao năng lực và trình độ quản lý cho các đơn vị Việc kiểm tra, kiểm soát chủ yếu tập trung vào một số nội dung như kiểm tra các khoản thu, chi, trích lập và sử dụng các quỹ và tình hình sử dụng quản lý tài sản cũng như công tác tổ chức quản lý tài chính tại đơn vị

1.2.2 Đặc điểm của quản lý tài chính trong đơn vị hành chính sự nghiệp

Các đơn vị hành chính sự nghiệp mặc dù hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau vừa chịu sự quản lý theo ngành vừa chịu sự quản lý theo lãnh thổ, nhưng xét về mặt bản chất hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp và mối quan hệ trong tổng thể các hoạt động quản lý nhà nước nói chung thì các đơn vị hành chính sự nghiệp còn chịu sự quản lý và chi phối gián tiếp của nhiều ngành nhiều lĩnh vực có liên quan Một đơn vị hành chính sự nghiệp nếu xét theo đặc điểm hoạt động có thể thuộc một trong hai nhóm, đơn vị sự nghiệp hoặc cơ quan quản lý nhà nước hoạt động ở mọi lĩnh vực khác nhau theo chức năng nhiệm vụ được giao, nhưng cho dù hoạt động trong lĩnh vực nào các đơn vị này cũng phải chịu sự quản lý và chi phối của các đơn vị có liên quan như: cơ quan quản

lý tài chính (Bộ Tài chính, Sở Tài chính, Phòng Tài chính), kho bạc nhà nước nơi đơn vị

mở tài khoản, và hơn cả chính là cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp, theo tác giả mối quan

hệ giữa đơn vị hành chính sự nghiệp và các đơn vị chức năng khác trong hệ thống quản lý nhà nước được thể hiện qua sơ đồ 1.3

Trang 28

Các đơn vị thuộc các ngành, lĩnh vực khác có quan hệ phối hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp Tất cả sự phối hợp đan xen trong quản lý của các đơn vị hành chính sự nghiệp tạo nên một mạng lưới các mắt xích có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận hành của bộ máy quản lý nhà nước nói chung Do vậy, xét ở phạm vi một đơn vị hành chính sự nghiệp cụ thể, bộ máy quản lý phải được thiết lập phù hợp nhằm đảm bảo cho hoạt động của bản thân đơn vị và toán bộ hệ thống quản lý nhà nước nói chung được diễn

ra thuận lợi Để đáp ứng và thỏa mãn được các mối quan hệ ngang dọc trong hệ thống quản lý, các bộ phận chức năng các phòng, ban trong đơn vị hành chính sự nghiệp phải được bố trí đầy đủ, phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị trong mối quan hệ với các đơn vị khác Số lượng các bộ phận trong bộ máy quản lý phụ thuộc vào đặc điểm, quy mô hoạt động và đặc điểm quản lý của từng đơn vị nhưng theo lý thuyết về khoa học quản lý,

mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại các đơn vị hành chính đơn vị hành chính sự nghiệp có thể được tổ chức theo các mô hình trực tuyến, chức năng hoặc mô hình hỗn hợp Tác giả cho rằng dù đơn vị được tổ chức theo mô hình nào thì cũng bao gồm các bộ phận có quan

Trang 29

Trong mô hình này các bộ phận trong một đơn vị chịu sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu bộ phận và chịu sự quản lý chung của thủ trưởng đơn vị Các bộ phận trong một đơn vị có mối quan hệ phối hợp lẫn nhau trong quá trình hoạt động Khi chức năng nhiệm vụ của các đơn vị hành chính sự nghiệp khác nhau thì mô hình tổ chức bộ máy quản lý cũng khác nhau và theo đó yêu cầu về thông tin kế toán phục vụ cho quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng cũng khác nhau, vì thế bộ máy tài chính và tổ chức công tác tài chính cũng phải được tổ chức sao cho phù hợp Mặt khác một đơn vị hành chính sự nghiệp luôn thuộc một hệ thống quản lý ngành cụ thể và chịu sự phân cấp chung của ngành trên cơ sở đặc điểm hoạt động, do đó các nội dung của tổ chức bộ máy

kế toán như nhân sự, mô hình tổ chức bộ máy và phân công nhiệm vụ tại các đơn vị này cũng bị ảnh hưởng bởi mô hình phân cấp quản lý và vị trí của đơn vị trong hệ thống quản

lý nói chung của ngành

1.2.3 Nội dung quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp

1.2.3.1 Quản lý các nguồn lực tài chính

Theo điều 14 của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thì quản lý các nguồn lực tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp hay còn gọi là quản lý các nguồn thu bao gồm các nguồn chủ yếu như sau: nguồn ngân sách nhà nước cấp, nguồn thu sự nghiệp của đơn

vị và nguồn thu khác

Nguồn ngân sách Nhà nước cấp, gồm:

- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức

- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác)

- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao

- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giảm biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có)

Trang 30

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm

- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Kinh phí khác (nếu có)

Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:

- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật

- Thu từ các hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị

- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có)

- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng Nguồn thu khác:

- Thu từ các dự án viện trợ, quà biếu, quà tặng

- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

Để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động, các đơn vị hành chính sự nghiệp được khuyến khích tạo lập thêm các nguồn tài chính đáp ứng cho hoạt động đơn vị theo quy định của Nghị định 43, đặc biệt đối với các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước

Các đơn vị hành chính sự nghiệp được chủ động mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Các đơn vị hành chính sự nghiệp được phép sử dụng tài sản Nhà nước cho các hoạt động dịch vụ nhưng phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước

1.2.3.2 Quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính

Trang 31

Theo điều 15 của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thì quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp bao gồm: quản lý chi hoạt động thường xuyên, chi không thường xuyên và chi khác

Chi hoạt động thường xuyên

Kinh phí chi hoạt động thường xuyên bao gồm ngân sách nhà nước cấp chi hoạt động thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị để chi theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao gồm:

- Chi cho con người: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội Đây là khoản chi bù đắp hao phí lao động, đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động cho cán bộ viên chức của đơn vị Khoản chi này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi của các bệnh viện

- Chi nghiệp vụ chuyên môn: chi thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, chi hội nghị, chi đoàn ra đoàn vào, chi mua tài liệu

- Chi mua sắm sửa chữa: các khoản chi mua sắm trang thiết bị, chi cho việc sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị phục vụ cho công việc chuyên môn

- Chi thường xuyên khác

Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính đối với các khoản chi thường xuyên, Thủ trưởng các đơn vị hành chính sự nghiệp được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Đồng thời, Thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc, quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định

Chi không thường xuyên

- Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

- Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức

- Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia

- Chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định

- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao

Trang 32

- Chi thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có)

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết

- Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)

Chi khác

Các khoản chi từ các dự án tài trợ, viện trợ của các hoạt động hợp tác quốc tế, chi

từ nguồn tài trợ cho người có hoàn cảnh khó khăn, quà biếu tặng… Các khoản chi trên được quản lý và sử dụng riêng theo nội dung chi tiết đã thỏa thuận với nhà tài trợ và thực hiện quyết toán theo quy định của Nhà nước

1.2.3.3 Quản lý trích lập và sử dụng các quỹ

Theo điều 19 của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thì hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trải các khoản chi phí, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước theo quy định (thuế và các khoản phải nộp), số chênh lệch thu lớn hơn chi (thu, chi hoạt động thường xuyên và nhiệm vụ Nhà nước) Giám đốc sẽ chủ động quyết định việc trích lập quỹ sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn của đơn vị và đơn

vị thực hiện theo trình tự như sau:

- Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt động

sự nghiệp

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, đối với đơn vị tự chủ một phần được quyết định tổng mức thu nhập tăng thêm trong năm nhưng tối đa không quá 02 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định Đối với đơn vị tự chủ hoàn toàn được quyết định tổng mức thu nhập tăng thêm trong năm theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi mức trích tối đa hai Quỹ không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân trong năm Như vậy, đơn vị tự chủ hoàn toàn được quyền chủ động về chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ viên chức trong đơn vị

Sử dụng các quỹ: Theo điều 20 của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP

Trang 33

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ, viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: nhằm mục đích đảm bảo thu nhập tương đối ổn định cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút, không đảm bảo kế hoạch đề ra

- Quỹ khen thưởng: dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong

và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị

- Quỹ phúc lợi: dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị Trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức, chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giảm biên chế

1.3 Các công cụ quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp

Căn cứ vào nhu cầu quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp thì

tác giả đã đưa ra các công cụ quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp như sau:

1.3.1 Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước

Bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp Các văn bản pháp luật quy định các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính ở các đơn vị hành chính sự nghiệp Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước thực hiện theo hướng tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị hành chính sự nghiệp thì đó sẽ là động lực nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản

lý tài chính của mỗi đơn vị hành chính sự nghiệp

1.3.2 Quy chế chi tiêu nội bộ

Công cụ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính, nó đảm bảo các khoản thu chi tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp được thực hiện theo quy định Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả các

Trang 34

nguồn lực tài chính Thông qua quy chế chi tiêu nội bộ sẽ thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu, duy trì và khuyến khích mở rộng các nguồn thu, đảm bảo chi tiêu thống nhất trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, thực hiện chi tiêu tiết kiệm và hợp

Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, các đơn vị hành chính sự nghiệp tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ công chức trong đơn vị thực hiện và kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi

cơ bản của năm báo cáo làm cơ sở dự kiến năm kế hoạch

1.3.4 Hạch toán kế toán, kiểm toán

Hạch toán kế toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính Để ghi nhận,

xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của đơn vị hành chính sự nghiệp phải kịp thời, chính xác

Thông qua công tác kiểm toán, đơn vị hành chính sự nghiệp có thể kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản, sử dụng kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản, vi phạm các chế độ chính sách, kinh tế của Nhà nước

1.3.5 Hệ thống thanh tra, kiểm tra

Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp Đồng thời phát hiện ngăn chặn những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính cho nên cần thực

Trang 35

hiện công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ và hiệu quả

1.3.6 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính

Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý Năng lực cán bộ là yếu tố quyết định trong quản lý nói chung và trong quản lý tài chính nói riêng

Trình độ quản lý của lãnh đạo đơn vị hành chính sự nghiệp tác động rất lớn tới cơ chế quản lý tài chính tại đơn vị hành chính sự nghiệp Lãnh đạo là người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quyết định việc xây dựng dự toán thu chi, quy định mức tiền lương, thu nhập tăng thêm, phúc lợi và trích lập quỹ của đơn vị hành chính sự nghiệp

Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của đơn vị hành chính sự nghiệp ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của Nhà nước nhằm góp phần vào hiệu quả hoạt động chung của đơn vị hành chính sự nghiệp

1.4 Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý tài chính đối với các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hiện nay

Cơ chế tự chủ tài chính đang dần tạo ra những chuyển biến xuất phát từ nội tại các đơn vị sự nghiệp công lập Thông qua cơ chế giao quyền tự chủ, các đơn vị sự nghiệp định hướng lại tổ chức và mục tiêu phát triển Trong đó, quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp được chú trọng Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn cho thấy, cơ chế tự chủ tài chính hiện nay còn nhiều vướng mắc như việc ban hành văn bản chính sách không đồng bộ, hay cơ chế tự chủ tài chính chưa bám sát với đặc thù của từng ngành Để nâng cao quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp theo hướng tự chủ trước hết phải hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính hiện nay

- Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính nhằm khắc phục những hạn chế của cơ chế

quản lý tài chính hiện nay

Cơ chế tự chủ tài chính được áp dụng từ ngày 16/01/2002 với việc ban hành Nghị định số 10 về cơ chế tài chính cho đơn vị sự nghiệp có thu của Chính phủ Tuy nhiên, thực tế cho thấy Nghị định 10 hạn chế các đơn vị sự nghiệp có thu ở lĩnh vực tài chính,

Trang 36

trong khi đó để đổi hướng thực sự các đơn vị hành chính sự nghiệp cần được tự chủ hơn nữa Nghị định 43 ra đời như một bước hoàn thiện nhằm trao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập

Về tài chính các đơn vị hành chính sự nghiệp hoàn toàn được chủ động về nguồn thu chi tài chính, được quyết định các khoản thu, mức thu theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ; được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán

bộ công chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; được chủ động sử dụng nguồn kinh phí tự chủ ngân sách nhà nước cấp, được quyết định các mức chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước quy định Về sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm cho phép các đơn vị được tự chủ trong việc trích lập các Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo nguyên tắc người nào có hiệu suất công tác cao được trả thu nhập cao hơn… Đồng thời được phép sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu

tư xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị theo quy định của pháp luật Nhìn chung, Nghị định 43 đã tạo hành lang pháp lý rộng rãi cho các đơn vị hành chính sự nghiệp phát huy tối đa quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm để phát triển đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ

Tuy nhiên sau nhiều năm áp dụng, Nghị định 43 bắt đầu cho thấy một số vướng mắc đối với đơn vị hành chính sự nghiệp Nhiều chính sách là tiền đề của việc giao quyền

tự chủ cho đơn vị hành chính sự nghiệp còn chưa được ban hành, sửa đổi, bổ sung Các

bộ quản lý ngành, lĩnh vực chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động sự nghiệp của đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm chưa được xây dựng rõ ràng Vì vậy, trong thời gian tới các Bộ, cơ quan quản lý ngành, Chính phủ cần phải sớm nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện để cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng phát huy hiệu quả trong thực tế

Trang 37

- Nâng cao tự chủ tài chính nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo

Các đơn vị hành chính sự nghiệp được trao quyền tự chủ xuất phát từ yêu cầu thực

tế quản lý Nhà nước nhằm thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất quan trọng Với mục tiêu hiệu quả hoạt động cao hơn, Nhà nước cần thực hiện rà soát và hoàn thiện hơn nữa cơ chế tự chủ tài chính cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển, tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động của đơn vị

Để đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình thì việc bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực sự cho đơn vị hành chính sự nghiệp là điều cần thiết Đơn vị

sự nghiệp công được tự chủ trong việc huy động các nguồn vốn để đầu tư tăng cường cơ

sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, tạo điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động sự nghiệp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao

Cơ chế tự chủ tạo điều kiện cho đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ, phát huy tính dân chủ, chủ động, sáng tạo của người lao động, nâng cao kỹ năng quản lý và chất lượng hoạt động sự nghiệp công, hướng cơ chế hoạt động chuyển dần từ cơ chế quản lý theo yếu tố "đầu vào" sang cơ chế quản lý theo "đầu ra"

- Nâng cao tự chủ tài chính khuyến khích việc khai thác mở rộng nguồn thu, giảm gánh nặng chi tiêu cho ngân sách nhà nước

Trong điều kiện tiềm lực tài chính của ngân sách Nhà nước có hạn nhưng nhu cầu chi cho các lĩnh vực ngày càng lớn thì việc tích cực khai thác nguồn thu của các đơn vị hành chính sự nghiệp sẽ giảm gánh nặng chi tiêu cho ngân sách đồng thời tạo điều kiện thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa, tăng tiềm lực tài chính đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất cung ứng các dịch vụ công cho xã hội

Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp tham gia tích cực vào các xu hướng

xã hội hóa, thực hiện chuyển dần sang cơ chế hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động theo loại hình đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động

1.5 Kinh nghiệm về quản lý tài chính theo của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho quản lý tài chính tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

Trang 38

Tại các quốc gia trên thế giới, tổ chức hạch định tài chính tại các đơn vị công nói chung bị ảnh hưởng bởi mô hình tổng kế toán nhà nước, mức độ áp dụng chuẩn mực tài chính công quốc tế và cơ sở tài chính áp dụng cho tài chính lĩnh vực công tại quốc gia đó Điều này thể hiện ở nội dung tổ chức hạch định tài chính không giống nhau mà trước hết

là tổ chức bộ máy tài chính sau đó là tổ chức công tác tài chính

Hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình tổng kế toán nhà nước chủ yếu là mô hình tập trung và mô hình phân tán, trong mỗi mô hình tại các quốc gia khác nhau vận dụng các cơ sở kế toán khác nhau và mức độ áp dụng chuẩn mực tài chính công quốc tế không giống nhau Tổ chức hạch định tài chính trong các đơn vị công thuộc lĩnh vực Lao động – Xã hội tại các quốc gia trên thế giới bị quyết định bởi đặc điểm quản lý tài chính

và ngân sách tại mỗi quốc gia kết hợp với mực độ vận dụng chuẩn mực tài chính công quốc tế và mô hình tổng kế toán áp dụng, theo nghiên cứu của tác giả tổ chức hạch định tài chính trong các đơn vị công thuộc lĩnh vực Lao động – Xã hội có những điểm đặc thù theo các mô hình sau:

Tại các quốc gia vận dụng mô hình tổng kế toán nhà nước kiểu tập trung và áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế như tại Pháp, hoặc các bang của Mỹ Tại các quốc gia này các đơn vị công thuộc lĩnh vực Lao động – Xã hội cũng giống như các lĩnh vực khác cùng tuân thủ các quy định quản lý tài chính và ngân sách cũng như các quy định trong hạch toán thu, chi ngân sách và quyết toán ngân sách nhà nước trong mô hình tổng kế toán thống nhất: Ngân sách được phân phối theo ngành và quản lý tại cấp trung ương theo mô hình tài khoản kho bạc duy nhất, công việc hạch toán tuân theo mô hình tổng kế toán nhà nước tập trung Chẳng hạn tại Pháp, không tồn tại đơn vị tài chính độc lập trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp Việc ghi chép tài chính của các đơn

vị này là nhiệm vụ của kế toán viên công trực thuộc hệ thống kho bạc nhà nước Như vậy

kế toán viên công tại Pháp vừa thực hiện kế toán ngân sách vừa thực hiện kế toán toàn bộ các hoạt động của Nhà nước và thực hiện ghi chép luôn các khoản thu, chi, sự biến động

về tài sản trong các đơn vị thuộc khu vực công Do vậy các đơn vị công thuộc lĩnh vực Lao động – Xã hội, không tổ chức bộ máy tài chính riêng tất cả công việc thuộc trách nhiệm của kế toán viên công trực thuộc kho bạc Nhà nước, các đơn vị chỉ lập dự toán ngân sách gửi cho các cơ quan chức năng, kinh phí của từng đơn vị không về tài khoản

Trang 39

kho bạc riêng của đơn vị mà được chuyển vào một mã riêng của ngành Lao động – Xã hội thuộc tài khoản kho bạc duy nhất của Chính Phủ Hệ thống tài chính tại các đơn vị này được thiết kế theo chuẩn mực và tuân thủ các quy định của Luật, ví dụ: Hệ thống báo cáo tài chính được lập thông thường bao gồm các báo cáo như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính

Tại các quốc gia vận dụng mô hình tổng kế toán nhà nước kiểu phân tán như tại Thụy Sĩ chẳng hạn Tại đây đã triển khai mô hình tổng kế toán nhà nước dựa trên cơ sở kế toán dồn tích và chuẩn mực kế toán công quốc tế từ năm 2007, tại quốc gia này các thông tin về tất cả các mục trên báo cáo tài chính đều được dựa trên cùng một nguyên tắc ghi nhận và được ghi nhận phân tán bởi các đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách được quản lý trên cơ sở báo cáo thu chi và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Tại các đơn vị thuộc lĩnh vực Lao động - Xã hội, các công việc của tổ chức hạch định tài chính được thực hiện như một đơn vị độc lập Hoặc tại Nam Phi, quốc gia này đã triển khai áp dụng mô hình tổng kế toán nhà nước Các đơn vị công thuộc lĩnh vực Lao động – Xã hội được phân cấp quản lý theo phân cấp trong bộ máy hành chính bao gồm các đơn vị ở trung ương, tỉnh và địa phương Quy trình phân bổ dự toán do Vụ ngân sách, Vụ Nội bộ thuộc Bộ Ngân khố đảm nhiệm, theo đó sẽ được phân cho các Bộ, các đơn vị thuộc ngân sách trung ương Quy trình này cũng được thực hiện đối với đơn vị

ở cấp tỉnh và địa phương tương ứng Căn cứ vào hạn mức được giao các đơn vị chủ động

và chịu trách nhiệm thực hiện thanh toán thông qua tài khoản tại Ngân hàng Theo quy định tại Phần 32.1 của Luật quản lý tài chính công, trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc mỗi tháng, Bộ Ngân khố phải phát hành/báo cáo Chính phủ một báo cáo phản ánh tình hình thực thu và thực chi của Quỹ Thu Quốc gia Các đơn vị sử dụng ngân sách nói chung

và các đơn vị công thuộc lĩnh vực Lao động – Xã hội nói riêng vận hành các chế độ tài chính theo quy định, tùy đối tượng cụ thể: các đơn vị thuộc chính quyền trung ương thực hiện kế toán tiền mặt có điều chỉnh, các đơn vị công thực hiện chuẩn mực tài chính được thừa nhận của Nam Phi và các chuẩn mực theo IPSAS Các đơn vị sử này thực hiện kế toán độc lập, trên hệ thống riêng của mình, lập báo cáo theo quy định của chuẩn mực và các nguyên tắc kế toán do Nam Phi quy định Bên cạnh đó các đơn vị này còn phải lập thêm báo cáo theo mẫu biểu thống nhất gửi Tổng kế toán để tổng hợp báo cáo toàn quốc

Trang 40

Sau khi chuẩn bị xong các báo cáo theo mẫu biểu quy định, các đơn vị thuộc trung ương gửi về Tổng kế toán để tổng hợp báo cáo chung theo hình thức văn bản và file dữ liệu dưới dạng file Excel Như vậy, đối với thông tin báo cáo của các đơn vị, thể hiện rõ 2 loại: (1) Báo cáo tình hình của đơn vị và (2) Thông tin theo mẫu chung để tổng hợp báo cáo toàn quốc cho Tổng kế toán

1.5.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam

Qua thực tiễn tại một số quốc gia trên thế giới về tổ chức hạch định tài chính trong lĩnh vực công nói chung và trong các đơn vị thuộc lĩnh vực Lao động – Xã hội nói riêng

có thể rút ra các bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau:

Thứ nhất, tổ chức hạch định tài chính trong các đơn vị ngành Lao động – Xã hội có

quan hệ mật thiết và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mô hình tổng kế toán nhà nước đang vận hành do vậy để tổ chức hạch định tài chính tại các đơn vị này đem lại hiệu quả thì cần thiết phải xây dựng một mô hình tổng tài chính trên cơ sở chuẩn mực tài chính công quốc

tế áp dụng phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam

Thứ hai, việc vận dụng chuẩn mực tài chính công quốc tế hoặc ban hành chuẩn

mực tài chính công cho riêng quốc gia có nhiều tác dụng, đặc biệt là tăng cường tính minh bạch công khai trong hoạt động chi tiêu ngân sách của Chính Phủ Do vậy việc vận dụng

ở Việt Nam là cần thiết, đây cũng là cơ sở để từng bước hoàn thiện khung pháp lý trong tổ chức hạch định tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp ngành Lao động – Thương binh và Xã hội

Thứ ba, hệ thống các quy định pháp lý về chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ

kế toán và báo cáo tài chính được quy ñịnh linh hoạt trên khung pháp lý chung (theo chuẩn mực tài chính công và Luật) còn cụ thể vận dụng tùy thuộc vào thực tiễn tại đơn vị

cơ sở

Thứ tư, cần phải có sự đổi mới hệ thống quản lý tài chính công phù hợp, ứng dụng

công nghệ thông tin trong kế toán và quản lý ngân sách tại các đơn vị hành chính sự nghiệp các cấp, tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Thứ năm, qua kinh nghiệm quốc tế để tăng tính chủ động trong sử dụng nguồn tài

chính, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia việc giao quyền tự chủ sâu rộng về tài

Ngày đăng: 08/08/2019, 22:45

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w