Xuất phát từ tình hình thực tế như vậy nên qua quá trình giảng dạy ở lớp 3 nhiều năm, tôi nghĩ việc hướng dẫn học sinh lớp 3 giải tốt các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị là vi
Trang 1MỤC LỤC Nội dung Trang
1 MỞ ĐẦU……… 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5.Những điểm mới của SKKN 3
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3
2.1 Cơ sở lí luận của SKKN 3
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 4
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ………7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……… 16
3.1 Kết luận……… 16
3.2 Kiến nghị………17
Trang 21.MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội quan tâm,
bởi “ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai ” Để ngày mai có những người chủ xứng đáng, xã hội có những công dân tốt, là nhờ công lớn của ngành Giáo dục, nhất là trong thời đại 4.0 ngày nay Nền GD – ĐT cần phải đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực, có sức khỏe, có kiến thức khoa học kỹ thuật phục vụ cho đất nước Nguồn lực
đó chính là con người Hiện nay, sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Việt Nam nói chung
và việc giảng dạy ở Tiểu học nói riêng được mọi tầng lớp nhân dân quan tâm, bởi Tiểu học là bậc học đặt nền móng cho các bậc học tiếp theo Trong đó cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho học sinh, vì môn Toán là môn học mang tính khoa học, nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thưc Nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kỹ năng cơ bản để nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh Môn toán còn góp phần rèn luyện phương pháp suy luận logic, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển óc thông minh, tư duy độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh Điều đó rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động Đồng thời cần thiết để học các môn học khác và học tiếp Toán ở bậc Trung học
Như chúng ta đã biết, căn cứ vào sự phát triển tâm, sinh lí của học sinh Tiểu học mà cấu trúc nội dung môn Toán rất phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh Ở lớp 3, các em được học các kiến thức, kĩ năng ở thời điểm kết thúc của giai đoạn 1, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên các em phải nắm chắc được tất
cả các cơ sở ban đầu về giải toán nói riêng, tất cả các kĩ năng khác nói chung Đặc biệt, ở lớp 3 sang học kì II, các em bắt đầu được làm quen với các dạng toán hợp
cơ bản, trong đó có dạng toán liên quan rút về đơn vị Dạng toán này có vị trí rất quan trọng trong chương trình Toán ở trường tiểu học, bởi nó bộc lộ mối quan hệ qua lại với các môn học khác và mạch kiến thức toán ở các lớp 4,5 Nó góp phần vào hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức, phát triển tư duy tổng hợp và ứng dụng cao trong thực tế Nó đòi hỏi các em phải có kĩ năng giải toán tốt, kĩ năng ứng dụng trong thực tế hàng ngày Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều năm giảng dạy khối 3, tôi thấy: hầu hết các em nắm được kĩ năng giải toán của giáo viên truyền đạt tới như là một văn bản của lí thuyết, và nó có ứng dụng vào thực tế như thế nào thì chưa cần biết Đó là điều băn khoăn, suy nghĩ cho mỗi giáo viên chúng ta Có những bài toán các em làm xong, không cần thử lại, không cần xem áp dụng vào thực tế có đúng không, cứ để kết quả như vậy mặc dù có thể sai Ví dụ : khi giải bài toán tính tuổi
mà tuổi bố hoặc mẹ lại ít hơn tuổi con, hay tính số đơn vị còn lại mà nhiều hơn tổng đơn vị lúc ban đầu…Một số em làm đúng nhưng là học vẹt, nhớ vẹt, không
Trang 3hiểu bản chất của dạng toán, bài toán, nên nhanh quên Đó là những tác hại lớn khi học toán Mặt khác một số giáo viên khi dạy toán còn chưa trú trọng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Chưa giúp học sinh tập nêu các nhận xét hoặc các quy tắc ở dạng khái quát nhất định mà đây chính là cơ hội phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa trong học toán cuối giai đoạn 1 ở Tiểu học, một
số còn ngại đổi mới phương pháp dạy học
Xuất phát từ tình hình thực tế như vậy nên qua quá trình giảng dạy ở lớp 3 nhiều năm, tôi nghĩ việc hướng dẫn học sinh lớp 3 giải tốt các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị là việc làm cần thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giải toán cho học sinh và góp phần tích cực trong phong trào đổi mới PPDH nâng cao chất
lượng dạy và học Vì vậy tôi đã tập trung nghiên cứu, thực hành và rút ra “Một sô kinh nghiệm giúp các em học sinh lớp 3 học tôt dạng toán liên quan đến rút vê đơn vị ” Kính mong đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo góp ý, để SKKN được hoàn
thiện hơn!
1.2 Mục đích nghiên cứu :
Dựa trên thực trạng dạy và học môn toán ở lớp 3 nói chung, bài toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng, tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm muốn giúp giáo viên nắm vững quy trình giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị Từ đó giúp cho việc giảng dạy dạng toán này đạt hiệu quả cao hơn, góp phần hình thành cho học sinh kỹ năng tính toán chính xác trong cuộc sống, tránh những sai sót có thể xảy ra Tạo cho các em có tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch,
có kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn thận, kiên trì, tự tin Giúp các em yêu thích Toán học, cũng như tích lũy kiến thức cho các lớp học trên
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung và phương pháp dạy học Toán 3, Dạng toán giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị,
- Giáo viên và học sinh lớp 3A trường Tiểu học Phú Lộc
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu, lí luận: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan.Tìm hiểu sách giáo khoa; sách giáo viên; chương trình bồi dưỡng giáo viên; sách tham khảo…
- Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra khảo sát học sinh thông qua làm bài tập
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Kiểm tra chất lượng qua mỗi giai đoạn Phân tích tổng hợp kết quả ở từng giai đoạn
- Phương pháp luyện tập thực hành: giáo viên ra bài tập để học sinh luyện tập thực hành
Trang 4- Phương pháp thống kê: giáo viên thống kê dạng bài và tình hình thực trạng học tập của học sinh
1.5 Những điểm mới của SKKN.
- SKKN được trình bầy khoa hoc, logic, dễ hiểu hơn
- Trên cơ sở của SKKN trước, SKKN lần này có tính đột phá, phù hợp và nâng cao được hiệu quả, chất lượng hơn trong quá trình thực hiện giảng dạy dạng toán; có liên quan đến rút về đơn vị cho HS lớp 3
- Các giải pháp đưa ra trong SKKN lần này cụ thể, tường minh, chi tiết và có hiệu quả sử dụng cao
- Thiết thực đối với giáo viên, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nói chung và dạy khối 3 nói riêng
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Quá trình dạy học Toán 3 phải góp phần thiết thực vào việc hình thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và làm việc tích cực, chủ động, khoa học, sáng tạo cho học sinh Cho nên, giáo viên cần tổ chức hoạt động học tập thường xuyên tạo ra các tinh huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh
tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ vấn đề
đó, huy động các kiến thức và các công cụ đã có để tìm ra con đường hợp lí nhất giải đáp từng câu hỏi đặt ra trong qua trình giải quyết vấn đề, diễn đạt các bước đi trong cách giải, tự mình kiểm tra lại các kết quả đã đạt được Tuy nhiên, để tổ chức được các hoạt động học tập, giáo viên cần xác định được: Nội dung dạng toán, bài toán cần cho học sinh lĩnh hội là gì? Cần tổ chức các hoạt động như thế nào? Dạy học giải toán có lời văn là một trong những con đường hình thành và phát triển trình độ tư duy của học sinh Các em biết phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích , tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định Mặt khác, người giáo viên phải thường xuyên chia sẻ, thảo luận cùng các đồng nghiệp
để rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy sao cho hiệu quả nhất
Nội dung dạy giải toán ở lớp 3 được sắp xếp hợp lí, đan xen và tương hợp với mạch kiến thức khác, phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 3 Nên giáo viên phải chủ động tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động theo chủ đích nhất định với sự trợ giúp đúng mức của giáo viên, của sách giáo khoa và đồ dùng
dạy học, để mỗi cá nhân học sinh tự “ khám phá” phát hiện và tự giải quyết bài toán
thông qua việc biết thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới, với các kiến thức liên quan đã học, với kinh nghiệm của bản thân Đây là các cơ sở để các em giải tốt dạng toán rút về đơn vị nói riêng, học giải dạng toán hợp nói chung
Trang 5Phương pháp dạy học môn Toán có liên quan chặt chẽ với khoa học toán học Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học là sự vận dụng các phương pháp dạy học toán nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, các điều kiện dạy học ở
Tiểu học Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, trong quá trình dạy học Toán giáo viên thường phải vận dụng linh hoạt các phương pháp trực quan, thực hành, gợi mở, vấn đáp, giảng giải,…tùy theo mức độ ở từng lớp Nội dung dạy bài toán có liên quan đến rút về đơn vị ở lớp 3 được chia thành 2 kiểu bài đó là: Bài toán có liên quan đến rút về đơn vị bằng 2 phép tính chia, nhân ( Kiểu bài 1 ), bài toán có liên quan đến rút về đơn vị bằng 2 phép tính chia, chia ( Kiểu bài 2 ) được sắp xếp hợp lý, đan xen phù hợp với quá trình học tập của học sinh Vì thế việc hình thành và rèn luyện kỹ năng giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh lớp 3 là hết sức cần thiết Nó có tác dụng mạnh mẽ trong việc rèn luyện kỹ năng giải toán ngày một nâng cao đồng thời bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho học sinh Nhìn lại quá trình giảng dạy dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, về cơ bản thì ai cũng cho rằng các em dễ tiếp thu, dễ làm bài, dễ nhớ ít sai Nhưng đi sâu hơn nữa, theo cái nhìn chủ quan của tôi, với dạng toán này các em cũng có những nhầm lẫn đáng tiếc nếu như các em không nắm chắc đặc điểm cơ bản, phương pháp giải
cơ bản của hai kiểu bài trong dạng toán này Nếu hướng dẫn học sinh từng kiểu bài một trong một tiết thì các em làm bài gần như theo khuôn mẫu, ít sai sót Nếu hướng dẫn học sinh luyện tập song song cả hai kiểu bài hoặc học xong cả hai kiểu bài rồi, mà các em không nắm vững sẽ sai, nhầm dễ dàng Điều này sẽ xảy ra với các em lực học trung bình, trung bình yếu Cho nên, việc nghiên cứu phương pháp giúp các em giải tốt dạng toán này ở lớp 3 sẽ phải dần từng bước được khắc phục, đổi mới, kích thích học tập theo nhận thức chủ đạo của học sinh thì chất lượng mới cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở tất cả học sinh
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
+ Thực trạng chung:
Đơn vị trường Tiểu học Phú Lộc nơi tôi ở đa số người dân làm nghề nông Nhiều gia đình cả bố mẹ đi làm ăn xa để kiếm sống, rồi để con ở nhà với ông bà
Có nhiều phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em, phụ huynh học sinh phó mặc con mình cho thầy cô giáo Chính vì vậy việc dạy học gặp không
ít khó khăn song với lương tâm trách nhiệm của một nhà giáo tôi cố gắng theo dõi
và kèm cặp truyền đạt kiến thức cho các em
Năm học 2018-2019, tôi được Ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp 3A Sĩ số 26 học sinh(có 11 nữ) Đối tượng học sinh của lớp là yếu và trung bình khá,
có hoàn cảnh khó khăn 3 em Tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
+ Thuận lợi:
- Môn Toán là môn học mà phần đông học sinh hiện nay ham học
- Phần lớn các em là những học sinh mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
Trang 6- Nội dung chương trình môn Toán lớp 3 phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc học tốt môn Toán lớp 3 của các em
- Bản thân giáo viên có nhiều năm công tác, có kinh nghiện trong giảng dạy, tận tụy với học sinh, luôn tìm tòi và tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt giáo viên đã có nhiều năm liền dạy lớp 3 nên phần nào có những kinh nghiệm trong giảng dạy
+ Khó khăn:
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em học rất nhanh nhớ nhưng cũng mau quên, mức độ tập trung thực hiện yêu cầu của bài học chưa cao
- Học sinh chủ yếu là con nhà nông thôn, có một số học sinh bố (mẹ) đi làm ăn xa,
- Việc tự giác học bài của học sinh còn hạn chế, gia đình chưa quan tâm kèm cặp bảo ban cho các em học bài, Bên cạnh đó còn có đối tượng là học sinh mồ côi cha/mẹ, học sinh nghèo,…nên cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em
- Học lực môn Toán của các em ở những năm học trước không đồng đều, một số
em chưa nắm vững kiến thức Toán lớp 2, chưa có kỹ năng trình bày bài làm, có học sinh đọc còn chậm hoặc chưa thuộc các bảng nhân, chia
- Học sinh còn hạn chế về khả năng tự phát hiện vấn đề, tự sửa sai và tự nhận xét đánh giá Nhiều học sinh còn ngại học, không chú ý suy nghĩ làm bài, dựa dẫm vào bạn và giáo viên
- Toán là môn học nhiều học sinh hứng thú nhưng lại cũng khó khăn đối với những học sinh tiếp thu chậm Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải biết kết hợp các phương pháp giảng dạy, biết gợi mở óc tò mò, khả năng sáng tạo, độc lập của học sinh,…thì tiết dạy mới đạt hiệu quả cao
- Chính vì vậy mà ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của các em Cụ thể là khi học sinh làm một bài toán giải có liên quan đến rút về đơn vị thường mắc những lỗi sau :
- Khi làm bài học sinh đọc đề chưa kỹ, sau đó giải bài toán ngay, làm xong không kiểm tra kết quả cho nên khi giáo viên chữa bài thì các em mới biết mình làm sai
- Một vài GV vần chưa thực sự đầu tư, đi sâu nghiên cứu đổi mới phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh
+ Thực trạng việc dạy và học giải dạng toán liên quan đến rút về đơn vị lớp 3:
* Thực trạng việc dạy của giáo viên:
Khi dạy dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, giáo viên vẫn còn một số tồn tại sau:
- Phân bố thời gian chưa hợp lí, phương pháp dạy học còn nhiều thiếu sót, chưa phù hợp với trình độ, tâm sinh lí của học sinh, phương pháp dạy học còn cứng nhắc, chưa phát huy được tính sáng tạo của học sinh, cách thức tổ chức dạy học chưa phù hợp, tinh thần trách nhiệm của giáo viên đối với học sinh chưa cao
Trang 7- Bên cạnh đó còn có một số giáo viên rất lúng túng trong việc hướng dẫn cụ thể từng bước của dạng toán, mà chỉ dừng lại ở chỗ học sinh giải được bài toán là xong.Dẫn đến một lúc nào đó học sinh không nhớ được từng bước giải cơ bản của dạng toán, học sinh sẽ lúng túng trước một bài toán có dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị
* Thực trạng của việc học của HS khi học dạng toán “Giải bài toán rút về đơn vị”:
Trong nhiều năm theo dõi học sinh học toán, đặc biệt là trực tiếp theo dõi các em học sinh lớp 3 giải toán, tôi thấy các em có một thói quen không tốt đó là: Đọc đầu bài qua loa, sau đó giải bài toán ngay, làm xong không cần kiểm tra lại kết quả Thế nên, khi được chữa bài, các em mới biết là mình sai Đối với dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị, khi giáo viên hướng dẫn xong kiểu bài 1, các em làm bài khá tốt, ít nhầm lẫn, nhưng còn sai nhiều trong tính toán, đến khi dạy xong kiểu bài 2, các em làm bài có phần nhầm lẫn nhiều hơn, nhiều em thực hiện ở bước 2 đáng lẽ là phép chia thì các em lại làm phép nhân (giống ở kiểu bài 1) Học sinh làm bài hay có sự nhầm lẫn khi giải dạng toán này
Để đánh giá đúng thực trạng việc giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị, cuối năm học 2017-2018, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp 3A Kết quả cụ thể như sau:
Tổng
số
học
sinh
khảo
sát
Kiểu bài 1
- Tìm giá trị 1 phần: Đây là bước rút
về
đơn vị (phép chia)
- Tìm giá trị của các phần: Lấy giá trị
1 phần nhân với số phần (Phép nhân)
Kiểu bài 2:
-Tìm giá trị của 1 phần: Đây là bước rútvề đơn vị (Phép chia)
- Tìm số phần: Lấy giá trị các phần chia
cho giá trị 1 phần (phép chia)
Điểm
< 5
Điểm
5 - 6
Điểm
7 - 8
Điểm
9 - 10
Điểm
< 5
Điểm
5 - 6
Điểm
7 - 8
Điểm
9 - 10
SL TL SL TL S L TL S L T L S L TL SL TL S L TL SL TL
26
em 11 42.3 9 34.6 6 23.1 0 0 14 53.8 7 26.9 5 19. 3 0 0
Sau khi chấm bài, theo kết quả tổng hợp như trên tôi nhận thấy:
- Có nhiều em làm đúng cả 2 bài
- Một số em làm nhầm ở bước 2 từ kiểu bài 1 sang kiểu bài 2 và ngược lại
- Một số em có phép tính sai
- Còn một vài em sai cả hai bài
* Nguyên nhân:
Trang 8Qua thực tế giảng dạy kết hợp với việc điều tra khảo sát, thống kê về thực
trạng cách giải dạng toán “giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị”của học sinh
lớp 3A Tôi nhận thấy rằng các em học sinh giải sai dạng trên là do:
- Học sinh chưa nắm vững được bản chất các bước giải đặc trưng để giải dạng toán liên quan đến rút về đơn vị
- Các em chưa có tính toán cẩn thận, kiên trì trong giải toán, tư duy logic của các
em còn chưa phát triển đó là:
+ Chưa chịu khó đọc kĩ đề bài để nhớ các yếu tố của bài toán
+ Học sinh chưa có thói quen tóm tắt đề bài trước khi giải
+ Chưa xác định được bài toán thuộc dạng toán nào, cách giải ra sao
+ Chưa nắm bắt được cách giải dạng toán điển hình
+ Trình bày bài chưa đẹp, chưa khoa học
+ Chưa có thói quen kiểm tra lại bài khi giải xong
Mặt khác, cũng có thể là các em chưa được củng cố rõ nét về sự khác nhau giữa hai kiểu bài trong dạng toán này nên việc sai đó không tránh khỏi.Còn nữa, đây là các bài toán áp dụng rất thực tế mà các em quên mất phương pháp thử lại nên kết quả đưa ra chưa chính xác.Vì vậy cần có biện pháp tích cực để làm bớt đi những sai lầm mà các em đang mắc phải Với dạng bài này các em hay mắc phải phần lớn là ở dạng bài 2 qua đó mà kết quả điểm thấp Vậy cần phải có biện pháp hữu hiệu để góp phần làm giảm điểm yếu cho các em
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, năm 2018-2019, tôi tiếp tục đổi mới phương pháp dạy dạng toán này cho học sinh lớp 3A tôi chủ nhiệm Mục đích chính giúp các em có phương pháp giải Toán nói chung, phương pháp giải dạng toán có liên quan đến rút về đơn vị nói riêng Các em chủ động thực hiện giải Toán không máy móc mà phải dựa vào tư duy, phân tích tổng hợp dựa trên phương pháp giải và thực tế đề bài
2.3 Các giải pháp thực hiện:
Từ thực trạng trên, để đạt hiệu quả tốt hơn trong việc giải bài toán dạng toán rút về đơn vị, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong lớp và trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dụng, tôi càng bám sát vào các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học toán ở Tiểu học nói chung, của lớp 3 nói riêng sao cho phù hợp và nhận thức của học sinh, các em có hứng thú tốt khi học tốt, tạo không khí lớp học sôi nổi, chất lượng cao Và muốn cho học sinh giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi đã đưa ra các giải pháp trong giảng dạy như sau:
* Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung để giải các bài toán.
Để giải một bài toán bất kì đã học, đều phụ thuộc vào các phương pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước cơ bản để giải một bài toán như sau:
Trang 9* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bước 2: Tóm tắt đề toán.
* Bước 3: Phân tích bài toán.
* Bước 4: Viết bài giải.
* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
- Đôi với bước 1: Đọc kĩ đề toán.Yêu cầu học sinh đọc ít nhất 3 lần đề toán, mục
đích để giúp các em nắm được ba yếu tố cơ bản Những “dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cần thiết liên quan đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng hơn Tránh thói quen xấu
là vừa đọc xong đề đã làm ngay
- Đôi với bước 2: Tóm tắt đề toán: Mục đích của “tóm tắt” bài toán là phân tích đề
toán để làm rõ giả thiết (bài toán cho biết gì? và kết luận bài toán hỏi gì ?) của bài toán, thu gọn bài toán theo giả thiết, kết luận của bài toán, làm rõ mối quan hệ giữa
“cái đã cho” và “cái phải tìm” rồi từ đó tìm ra cách giải bài toán một cách hợp lí Bởi vậy, dạy tóm tắt bài toán trước khi giải bài toán là rất cần thiết Vậy, không nhất thiết bắt buộc phải viết “tóm tắt” vào phần trình bày bài giải (tùy theo yêu cầu của bài toán, theo từng giai đoạn học tập của học sinh, giáo viên có thể cho học sinh viết tóm tắt vào bài giải hoặc không)
Đối với những em học sinh yếu, sau khi tóm tắt xong tôi yêu cầu các em diễn đạt lại nội dung bài toán thông qua tóm tắt để các em nắm vững hơn nội dung bài toán
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt các cách sau tới học sinh:
+ Cách 1: Tóm tắt bằng chữ
+ Cách 2: Tóm tắt bằng chữ và dấu
+ Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng
+ Cách 4: Tóm tắt bằng hình tượng trưng
+ Cách 5: Tóm tắt bằng lưu đồ
+ Cách 6: Tóm tắt bằng sơ đồ Ven
+ Cách 7: Tóm tắt bằng kẻ ô
Thông thường, ở dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, tóm tắt bằng lời được lựa chọn nhiều hơn.Trong khi tóm tắt, học sinh cần lưu ý đến tên của mỗi đơn
vị (đại lượng), có mấy đơn vị, mối quan hệ giữa các đơn vị đó
Ví dụ 1: Một cửa hàng có 6 bao gạo chứa được 42kg gạo Hỏi 4 bao gạo như
thế có thể chứa được bao nhiêu ki lô gam gạo?
Trang 1042kg
Tóm tắt:
6 bao gạo: 42kg hoặc
4 bao gạo: ….kg ?
? kg
Ví dụ 2: có 36 lít dầu đựng vào 6 thùng Hỏi có 54 lít dầu thì cần có bao
nhiêu thùng như thế để đựng ? (biết số dầu ở mỗi thùng như nhau)
Tóm tắt:
36 l dầu : 6 thùng hoặc :
54 l dầu : …thùng ? 36l dầu
54l dầu : …thùng ?
- Đôi với bước 3: Phân tích bài toán Phân tích mối quan hệ giữa các dữ liệu đã cho
với kết luận để tìm ra cách giải bài toán.Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề bài để tìm ra cách giải bài toán Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường:
+ Bài toán cho biết gì?
+ Bài toán hỏi gì?
+ Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
+ Cái này biết chưa? Còn cái này thì sao?
+ Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài kĩ hơn, tự các em giải được toán Cần cho học sinh được rèn luyện khả năng diễn đạt bằng lời nói và bằng chữ viết khi phải giải thích các vấn đề liên quan đến phân tích đề toán, tìm cách giải bài toán và nhất là khi diễn tả câu trả lời, trình bày bài giải của bài toán Có thể lúc đầu học sinh tự thực hiện các hoạt động diễn đạt này còn khó khăn, nhưng đây là “cơ hội” thuận lợi để các em được phát triển tư duy, khả năng giải quyết vấn đề
- Đôi với bước 4: Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài,
các em sẽ dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác Giáo viên chỉ việc yêu cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp
- Đôi với bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải: Qua quá trình quan sát
học sinh giải Toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời Khi giáo viên hỏi: “Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng Vì vậy việc kiểm tra, đánh giá kết