1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chỉ đạo dạy học các bài về nhân, chia số có nhiều chữ số với số có đến ba chữ số trong môn toán lớp 4

24 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 289,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘCPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẬU LỘC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CHỈ ĐẠO DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ NHÂN, CHIA SỐ CÓ NHIỀU CHỮ SỐ VỚI SỐ CÓ ĐẾN 3 CHỮ SỐ TRONG MÔN TOÁN LỚP 4

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẬU LỘC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CHỈ ĐẠO DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ NHÂN, CHIA SỐ

CÓ NHIỀU CHỮ SỐ VỚI SỐ CÓ ĐẾN 3 CHỮ SỐ TRONG

MÔN TOÁN LỚP 4

Người thực hiện: Đỗ Thị Hoa Chức vụ: Phó hiệu trưởng Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thành Lộc

Hậu Lộc - Thanh Hóa SKKN thuộc môn : Quản lí

HẬU LỘC, NĂM 2019

môc lôc

g

Trang 2

1- MỞ ĐẦU 1

2.3.2 Chỉ đạo giáo viên giúp học sinh củng cố vững chắc các kiến

thức, kĩ năng cơ bản mà các em đã được học; đặc biệt là các bảng

cộng, bảng trừ không nhớ, có nhớ trong phạm vi 20; các bảng cửu

chương từ 2 đến 9

7

2.3.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng

khuyến khích học sinh phát hiện và dạy học phân hóa

8

2.3.4 Giới thiệu với giáo viên một số cách “ước lượng thương” để

vận dụng khi dạy học sinh chia cho số có 2, 3 chữ số

11

2.3.5 Tổ chức chuyên đề Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán

lớp 4, tập trung vào các bài có nội dung về nhân, chia số có nhiều

chữ số với số có 2,3 chữ số

14

2.3.6 Chỉ đạo đổi mới dạy học luyện tập toán theo hướng phân hóa

dựa vào năng lực của từng học sinh

16

2.3.7 Đổi mới cách dự giờ thăm lớp và kiểm tra chuyên môn đối

với giáo viên

17

2.3.8 Chỉ đạo công tác thi, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh công

bằng, khách quan và coi trọng khuyến khích sự tiến bộ của từng học

sinh

18

Trang 3

1- MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Ở bậc Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, Môn Toán có một vị trí rất quantrọng vì: Toán học với tư cách là môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thếgiới thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức rất cầnthiết cho đời sống, sinh hoạt, lao động Đó cũng là công cụ quan trọng để họcsinh học các môn học khác, để nhận thức thế giới xung quanh và để hoạt động

có hiệu quả trong thực tiễn Bên cạnh đó Toán học còn là môn học giúp học sinhrèn luyện và phát triển tư duy một cách rất tích cực Thông qua việc học tập mônToán, học sinh sẽ được rèn luyện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp,

so sánh, tương tự hóa, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hoá, đặc biệt hóa.Các phẩm chất trí tuệ như: tính độc lập, tính linh hoạt, tính sáng tạo, tính tíchcực, tính chủ động,… của học sinh cũng được rèn luyện và phát huy hiệu quảtrong việc học tập môn Toán

Trong chương trìnhToán ở tiểu học, số học là nội dung trọng tâm của toàn

bộ quá trình dạy học toán từ lớp 1 đến lớp 5 Trong đó phép nhân, phép chia các

số tự nhiên là nội dung cơ bản, quan trọng trong nội dung số học Bởi vì, nhiệm

vụ trọng yếu của môn toán Tiểu học là hình thành cho học sinh kĩ năng tính toán

- một kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống, lao động và học tập của học sinh Vìvậy giáo viên cần tìm hiểu, nghiên cứu để dạy tốt cho học sinh bộ môn này

Giai đoạn lớp 4; 5 là giai đoạn cuối của bậc Tiểu học, là giai đoạn họcsinh học tập sâu hơn nên kiến thức và kĩ năng môn Toán cần trang bị cho họcsinh cũng đa dạng và phong phú hơn, các dạng toán cơ bản, điển hình, các kĩnăng tính toán với số có nhiều chữ số,… đều được giới thiệu ở lớp 4 Bên cạnhcác dạng toán điển hình như: Tìm số Trung bình cộng, Tìm hai số khi biết tổng

và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó,… thìmạch kiến thức về nhân chia với số có nhiều chữ số cũng là nội dung trọng tâm,

Vậy hướng dẫn thế nào để học sinh thực hiện được phép nhân với số cónhiều chữ số: việc đặt tính, tính các tích riêng, tích chung? Làm thế nào để họcsinh biết cách chia cho số có hai, ba chữ số, nhất là biết tìm đúng thương trongcác lần chia ? Làm thế nào để hình thành và rèn cho học sinh kĩ năng nhân chiavới số có nhiều chữ số một cách thành thạo?, … Luôn là những vấn đề mà mỗi

thầy cô giáo và bản thân tôi thấy trăn trở Chính vì thế tôi đã chọn đề tài: "Chỉ đạo dạy học các bài về nhân, chia số có nhiều chữ số với số có đến 3 chữ số trong môn Toán lớp 4” làm nội dung nghiên cứu của mình.

Trang 4

1.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Xác định các biện pháp nhằm cải tiến phương pháp dạy học Toán 4, trọngtâm là các bài về nhân, chia số có nhiều chữ số với số có hai, ba chữ số theohướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và giúp học sinhrèn kĩ năng nhân, chia với số có nhiều chữ số thành thạo

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung và phương pháp dạy học Toán 4, tập trung vào những bài về nhân,chia số có nhiều chữ số với số có hai, ba chữ số

- Học sinh khối 4 của trường Tiểu học Thành Lộc – Hậu Lộc – Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc tài liệu, tra cứu, phân tích các tàiliệu khoa học, sách báo, hồ sơ có liên quan đến đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, phỏng vấn, traođổi, quan sát, tổng kết kinh nghiệm,

- Các phương pháp bổ trợ: Toán học, thống kê,

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Mục tiêu chung dạy học môn toán tiểu học

Mục tiêu dạy học môn toán tiểu học nhằm giúp học sinh:

- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số,

số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơngiản

- Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiềuứng dụng thiết thực trong đời sống

- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí

và diễn đạt chúng (nói và viết); cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đềđơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú họctập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kếhoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

2.1.2 Một số đặc điểm về cấu trúc nội dung, chương trình môn toán ở tiểu học

Chương trình môn toán tiểu học đưa vào một số nội dung có nhiều ứngdụng trong học tập và đời sống Coi trọng công tác thực hành toán học, đặc biệt

là thực hành giải quyết vấn đề trong học tập và trong đời sống

Chương trình được sắp xếp theo nguyên tắc đồng tâm hợp lí, mở rộng vàphát triển dần theo các vòng số, từ các số trong phạm vi 10, trong phạm vi 100,

1000, 100 000 đến các số có nhiều chữ số, phân số, số thập phân đảm bảo tính

hệ thống và thực hiện ôn tập, củng cố thường xuyên

Dạy học số học tập trung vào số tự nhiên và số thập phân Dạy học phân

số chỉ giới thiệu một số nội dung cơ bản và sơ giản nhất phục vụ chủ yếu cho

Trang 5

dạy học số thập phân và một số ứng dụng trong thực tế Các yếu tố đại số đượctích hợp trong số học, góp phần làm nổi rõ dần một số quan hệ số lượng và cấutrúc của các tập hợp số.

Cấu trúc nội dung chương trình toán tiểu học trong đó số học là hạt nhân,đóng vai trò như “cái trục chính” để các mạch kiến thức hình học, đo đại lượng,giải toán, đại số, thống kê đơn giản phải “chuyển động” xung quanh nó, phụthuộc vào nó

Mạch nội dung số học lại được chia làm 3 mảng lớn:

- Các vấn đề về đếm, đọc, viết, so sánh số như: hình thành khái niệm về số tựnhiên, số thập phân; tính chất của dãy số tự nhiên, phân số, số thập phân Hìnhthành khái niệm về hệ đếm thập phân, hàng, lớp;…

- Các biện pháp tính: Cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên; cộng, trừ, nhân, chiaphân số và số thập phân; cộng, trừ, nhân, chia số đo thời gian

- Tính chất của các phép tính và dãy tính: tính chất giao hoán, tính chất kết hợpcủa phép cộng và phép nhân; tính chất phân phối của phép nhân đối với phépcộng, phép trừ; tính chất phân phối (phải) của phép chia đối với phép cộng; quan

hệ giữa các phép tính; vai trò của số 0 trong các phép tính cộng, trừ và số 1trong các phép tính nhân, chia; …

Trong 3 mảng kiến thức của mạch kiến thức số học thì mảng “các biện pháp tính” là quan trọng nhất vì nó vừa là trọng tâm của tuyến kiến thức số học

vừa là hạt nhân của toàn bộ chương trình Tiểu học Trong mảng “các biện pháptính”, ta có thể coi cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên là chiếc chìa khóa vạn năng

để mở cửa vào những nội dung khác trong môn Toán Tiểu học Nếu học sinhkhông biết cộng, trừ, nhân, chia đối với số tự nhiên thì cũng sẽ không thể thựchiện được đối với số thập phân, phân số, các số đo đại lượng, làm các bài về cáctính chất của phép tính, dãy tính cũng như việc giải toán,v.v

2.1.3 Nội dung chương trình số học lớp 4:

a Số tự nhiên Các phép tính về số tự nhiên:

- Lớp triệu Đọc, viết, so sánh các số đến lớp triệu Giới thiệu lớp tỉ

- Tính giá trị các biểu thức chứa chữ dạng: a + b; a – b; a x b; a : b; a + b + c;

a x b x c; (a + b) x c; a x (b + c)

- Tổng kết về số tự nhiên và hệ thập phân

- Phép cộng và phép trừ các số có đến 5, 6 chữ số không nhớ và có nhớ tới 3 lần.Tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các số tự nhiên

- Phép nhân các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, tích có khôngquá 6 chữ số

- Phép chia các số có nhiều chữ số cho số có không quá 3 chữ số, thương cókhông quá 4 chữ số

- Tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các số tự nhiên Quy tắc “Một sốnhân một tổng (hiệu), một tổng (hiệu) nhân một số, một tổng chia một số, một

số chia một tích, một tích chia một số”

- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9

- Tính giá trị các biểu thức số có đến 4 dấu phép tính

b Phân số Các phép tính về phân số:

Trang 6

- Giới thiệu khái niệm ban đầu về các phân số đơn giản Đọc, viết, so sánh cácphân số; phân số bằng nhau.

- Phép cộng, phép trừ hai phân số có cùng hoặc không có cùng mẫu số (trườnghợp đơn giản, mẫu số của tổng hoặc hiệu không quá 100)

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các phân số

- Giới thiệu quy tắc nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự nhiên(trường hợp đơn giản, mẫu số của tích có không quá 2 chữ số)

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số Giớithiệu quy tắc nhân một tổng hai phân số với một phân số

- Giới thiệu quy tắc chia phân số cho phân số khác 0, chia phân số cho số tựnhiên khác 0

- Thực hành tính: tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số, phép tínhkhông có nhớ, tử số của kết quả tính có không quá 2 chữ số; tính nhẩm về nhânphân số với phân số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của tích có không quá

- Giới thiệu biểu đồ Lập biểu đồ đơn giản

Với nội dung số học lớp 4 như trên, học xong chương trình Toán 4, họcsinh sẽ hoàn thiện được biện pháp tính đối với số tự nhiên Cho nên nếu các kiếnthức và kĩ năng tính toán hình thành và phát triển ở lớp 4 không hệ thống và bềnvững thì học sinh tiếp cận với “các biện pháp tính” nói riêng và nội dung toán ởcác lớp trên nói chung sẽ vô cùng khó khăn Chính vì vậy dạy học các biện pháptính cho học sinh lớp 4, trong đó có dạy học phép tính nhân - chia với số cónhiều chữ số là một nội dung khó và rất quan trọng

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến

Từ năm học 2016-2017 đến nay tôi được về công tác tại trường Tiểu họcThành Lộc, được phân công phụ trách chuyên môn chính ở khối 3,4,5 Khi thựchiện nhiệm vụ tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn cơ bản sau:

2.2.1 Thuận lợi:

- Trường đã được công nhận trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2 vàotháng 4/2017 nên cơ sở vật chất khang trang, điều kiện làm việc tốt, điều kiện đilại khá thuận lợi

- Cán bộ quản lí nhà trường tâm huyết với việc đổi mới phương pháp dạy học –giáo dục nên chất lượng dạy học, giáo dục của nhà trường luôn duy trì ổn định ởmức cao

- Bản thân là một Cán bộ quản lý trực tiếp chỉ đạo công tác chuyên môn và phụtrách chính ở khối 3,4,5 nhiều năm liền nên việc nắm bắt tình hình học tập củahọc sinh và những ưu điểm, hạn chế trong việc giảng dạy của từng giáo viên các

Trang 7

lớp rất sát sao, là điều kiện tốt để chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy họcmôn Toán lớp 4 nói chung và dạy học các bài về nhân chia số có nhiều chữ sốvới số có 2,3 chữ số ở lớp 4 nói riêng đạt hiệu quả cao.

- Đội ngũ giáo viên của trường khá mạnh, đặc biệt đội ngũ giáo viên làm cốt cánchuyên môn của trường có kiến thức chuyên môn và tay nghề vững vàng, có thể

tổ chức hiệu quả việc sinh hoạt chuyên môn tại tổ, khối

2.2.2 Khó khăn:

a) Về phía học sinh:

- Kiến thức toán đã được trang bị ở các khối dưới có những giai đoạn chưa hệthống và chưa sâu nên khi kết thúc năm học, sau một kì nghỉ hè là các em quênkiến thức rất nhiều, kể cả các bảng cộng, bảng trừ có nhớ, không nhớ trongphạm vi 20; các bảng cửu chương từ 2 đến 9 cũng không còn nhiều em nhớđược Đây là những công cụ tính toán xuyên suốt cả quá trình học và cả cuộcđời nhưng các em quên nên việc học nhân chia với số có nhiều chữ số gặp rấtnhiều khó khăn

- Kĩ năng thực hiện phép tính nhân, chia của nhiều học sinh rất hạn chế, nhất là

kĩ năng thực hiện tính viết Phép nhân và phép chia được đưa vào dạy từ lớp 2:bảng nhân 2,3,4,5 và bảng chia cho 2,3,4,5 Ở lớp 3, học sinh học tiếp các bảngnhân 6 ; 7 ; 8 ; 9 và bảng chia cho 6 ; 7 ; 8 ; 9; nhân số có hai, ba, bốn, năm chữ

số với số có một chữ số ; chia số có hai, ba, bốn, năm chữ số cho số có một chữ

số Đến lớp 4, học sinh học nhân số tự nhiên với số tự nhiên có đến ba chữ số;chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số tự nhiên có đến ba chữ số; ….) nhưngđến lớp 4 nhiều em vẫn chưa biết nhân chia số có nhiều chữ số với số có mộtchữ số Đầu năm học có những em đặt tính chia mà viết giống đặt tính nhân

- Học sinh gặp nhiều khó khăn khi thực hiện phép chia nhất là phép chia cho số

có 2; 3 chữ số Các em không biết làm thế nào để tìm được thương trong mỗi lầnchia, chưa tìm đúng số bị chia trong các lần chia từ lần thứ hai trở đi, kĩ năngchia và nhân nhẩm rất hạn chế do các bảng cửu chương, bảng cộng, trừ trongphạm vi 20 nhiều em không thuộc

- Nhiều học sinh biết cách chia nhưng thực hiện rất chậm các lần chia vì để tìmthương các em phải thử nhiều lần phép nhân một số với số chia rồi lấy số bị chia

ở từng lần chia trừ cho kết quả nếu số dư bé hơn số chia thì dừng lại Làm nhưvậy các em phải thử nhiều lần rất mất thời gian ảnh hưởng đến số lượng bài tậpcần thực hiện trong một tiết dạy học và hay sai sót, gây tâm lí chán nản chonhiều em

b)Về phía giáo viên

- Nhiều giáo viên chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học để cóthể phát huy hết tính chủ động, sáng tạo của học sinh Chưa chú ý rèn kĩ năngtính toán cho học sinh mà mới chỉ chú ý vào việc hướng dẫn làm bài tập, chữabài tập (chú trọng vào việc nhận xét bài làm đúng, sai và việc trình bày đã đẹpchưa) Chưa chú ý đến việc rèn kĩ năng trình bày bài làm bằng lời nói cho họcsinh

- Giáo viên lên lớp nhiều khi chưa thực sự chú ý đến một số thủ thuật trong dạyToán, chưa mạnh dạn áp dụng một số sáng kiến của mình vào giảng dạy, cònphụ thuộc vào sách thiết kế, sách giáo viên hay các bài soạn sẵn

Trang 8

- Một số ít chưa thực sự tìm tòi, sáng tạo trong việc vận dụng các phương phápdạy học để tìm ra cách thích hợp nhất trong dạy thực hiện nhân, chia số cónhiều chữ số Chưa trăn trở trước những khó khăn học sinh gặp phải trong giờhọc để tìm cách giúp học sinh khắc phục

- Nghiệp vụ chuyên môn, năng lực của đội ngũ không đồng đều Có những giáoviên giảng dạy lớp 4 nhưng điều kiện về kiến thức cũng như nghiệp vụ chưa đápứng tốt với yêu cầu công việc; tinh thần trách nhiệm có những thời điểm chưacao,…

2.2.3 Kết quả thực trạng

Năm học 2016-2017, tôi làm công tác chỉ đạo thi định kỳ cuối học kỳ 1,khi kiểm tra công tác chấm, chữa bài của giáo viên và kết quả bài làm của họcsinh thì điều làm tôi chú ý là kỹ năng thực hiện nhân, chia số có nhiều chữ sốvới số có 2,3 chữ số của học sinh lớp 4 rất hạn chế Tôi đã kiểm tra từng bài,phân tích, thống kê và thu được kết quả sau:

Kết quả thực hiện các phép tính

Phép tính Thực hiện

đúng

Biết thực hiện nhưng còn sai kết quả

Chưa biết thực hiện

- Sau một thời gian nghỉ hè ít được củng cố, ôn tập nên kiến thức của học sinh

đã quên đi nhiều

- Khả năng tiếp thu vận dụng kiến thức, kĩ năng nhân, chia của học sinh khônggiống nhau và nhiều em rất hạn chế

Trang 9

- Việc dạy của một số giáo viên lớp dưới chưa mang tính hệ thống; tinh thầntrách nhiệm với công việc của một bộ phận giáo viên có những thời điểm chưacao Chưa chú ý rèn các kỹ năng theo yêu cầu tiết dạy và các thao tác tư duy chohọc sinh.

- Nội dung dạy về các biện pháp tính, kĩ thuật tính thường đơn điệu, khô khan vàkhó đối với cả giáo viên và học sinh nhưng giáo viên lại ngại tìm tòi nghiên cứu

để đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nên chưa tạo được sự hứngthú cho học sinh Từ đó việc tiếp thu kiến thức nặng nề và chưa sâu

- Kĩ năng thực hiện phép chia của nhiều học sinh hạn chế vì các em chưa có kĩnăng tìm đúng thương trong mỗi lần chia, nhất là chia cho số có 2,3 chữ số

Thực tế kết quả của học sinh làm tôi rất băn khoăn, trăn trở và là lí do đểtôi tìm tòi, nghiên cứu tìm cách cải tiến chất lượng dạy nhân, chia với số cónhiều chữ số ở lớp 4 nói riêng và cải tiến chất lượng về dạy “các biện pháp tính”trong nhà trường tiểu học Thành Lộc nói chung

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Chỉ đạo chặt chẽ việc khảo sát chất lượng, phân loại đối tượng học sinh để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục

Trong các kì khảo sát chất lượng học sinh đầu năm học, tôi đã chỉ đạogiáo viên bắt tay vào việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh để nắm đượcnhững thuận lợi, khó khăn trong việc học tập của từng em Ghi chép tỉ mỉ đặcđiểm tâm lí, sở trường của từng em Tổ chức khảo sát chất lượng học sinh thực

sự nghiêm túc từ khâu coi thi, chấm thi đến việc tổng hợp và phân tích kết quảđạt được Lưu ý giáo viên trong khi coi thi cần tránh việc gây tâm lí căng thẳngcho học sinh nhưng không để cho các em có cơ hội quay cóp Khi chấm yêu cầugiáo viên vận dụng hướng dẫn chấm linh hoạt và chú ý ghi chép những điểm đặcbiệt trong bài làm của học sinh Yêu cầu giáo viên từng lớp và bản thân tôi cũngvậy, lập một quyển sổ theo dõi ghi chép đầy đủ những ưu điểm nổi trội và nhữnglỗi mà từng học sinh mắc phải trong bài làm rồi ghi nhận xét tổng hợp về họcsinh đó, làm căn cứ cho việc chỉ đạo và thực hiện các biện pháp dạy học đếntừng đối tượng học sinh Các công việc này tôi yêu cầu giáo viên thực hiệnthường xuyên mỗi lần kiểm tra, khảo sát chất lượng học sinh để việc rà soát,phân loại học sinh được chính xác, làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung,phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, giáo dục phù hợp và sát thực vớitừng đối tượng học sinh

2.3.2 Chỉ đạo giáo viên giúp học sinh củng cố vững chắc các kiến thức, kĩ năng cơ bản mà các em đã được học; đặc biệt là các bảng cộng, bảng trừ không nhớ, có nhớ trong phạm vi 20; các bảng cửu chương từ 2 đến 9.

Để nắm và vận dụng thành thạo một biện pháp tính, cần qua hai khâu cơbản: làm cho học sinh hiểu biện pháp tính và biết làm tính, luyện tập để tínhđược đúng và thành thạo Bất kì biện pháp tính mới nào cũng phải dựa trên một

số kiến thức, kĩ năng đã biết Giáo viên cần nắm chắc rằng: để hiểu được biệnpháp mới, học sinh cần biết gì, đã biết gì, điều gì là mới Cần xác định được cáckiến thức, kĩ năng cũ sẽ hỗ trợ cho kiến thức, kĩ năng mới như thế nào hay

Trang 10

ngược lại dễ gây nhầm lẫn với các kĩ năng mới như thế nào Do vậy, để chuẩn bịcho học sinh học phép nhân và phép chia với số có 2;3 chữ số ở lớp 4, tôi đã yêucầu giáo viên củng cố, hệ thống và ôn tập các bảng cộng, trừ không nhớ, có nhớtrong phạm vi 20; Các bảng cửu chương từ 2 đến 9; các kĩ năng cộng, trừ với số

có nhiều chữ số; kĩ năng nhân chia số có nhiều chữ số với số có 1 chữ số,…

Để việc ôn tập hiệu quả tôi đã chỉ đạo giáo viên các lớp 2,3,4 thực hiệncông việc này thường xuyên, liên tục trong quá trình giảng dạy Vận dụng đổimới phương pháp dạy học trong quá trình dạy bài mới; trong các tiết dạy về cácbảng cộng, bảng trừ, bảng nhân, bảng chia tôi đã yêu cầu giáo viên sử dụng,khai thác triệt để bộ đồ dùng dạy học toán trong việc hướng dẫn học sinh thànhlập và ghi nhớ các bảng cộng, bảng trừ, bảng nhân, bảng chia để các em ghi nhớkiến thức được lâu và bền vững

Trong mỗi biện pháp tính có thể chứa nhiều kĩ năng bộ phận, trong đó cónhững kĩ năng cũ và kĩ năng mới Những kĩ năng cũ là những kĩ năng học sinh

đã được rèn luyện từ trước còn kĩ năng mới là kĩ năng học sinh chưa từng được

làm quen, chưa từng được rèn luyện Trong số các kĩ năng mới thì kĩ năng khó nhất, học sinh hay vướng mắc nhất gọi là kĩ năng cơ bản.

- Ví dụ: Kĩ năng nhân với số có 2 chữ số ở lớp 4 bao gồm các kĩ năng bộ phận là:

a) Kĩ năng đặt tính,

b) Kĩ năng nhân với số có một chữ số (khi tính các tích riêng)

c) Kĩ năng viết các tích riêng và thực hiện phép cộng các tích riêng này Trong 3 kĩ năng bộ phận thì (a),(b) là kĩ năng cũ; (c) là kĩ năng mới Trong đó kĩ năng (c) là kĩ năng học sinh hay bị vướng khi nhân với số có 2 chữ

số Do đó (c) được xác định là kĩ năng cơ bản của biện pháp nhân với số có 2 chữ số.

- Một ví dụ nữa: Kĩ năng cộng hai số thập phân bao gồm 3 kĩ năng bộ phận:

a) Kĩ năng đặt tính.

b) Kĩ năng cộng hai số tự nhiên.

c) Kĩ năng đặt dấu phẩy ở tổng

Trong ba kĩ năng trên thì (b) là kĩ năng cũ, (a) và (c) là kĩ năng mới trong hai kĩ năng (a), (c) thì (a) là kĩ năng học sinh hay bị vướng hơn cả do đó (a) được xác định là kĩ năng cơ bản của biện pháp cộng hai số thập phân.

2.3.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng khuyến khích học sinh phát hiện và dạy học phân hóa

Tôi đã chỉ đạo giáo viên dạy học môn toán theo quan điểm “Lấy học sinhlàm trung tâm” Tức là trong quá trình dạy học, giáo viên cần tổ chức các hoạtđộng nhằm huy động mọi khả năng của từng học sinh, để học sinh tự tìm tòi,khám phá ra những nội dung mới của bài học Chuẩn bị các điều kiện và phươngtiện hoạt động để học sinh tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề, tự mìnhhoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch để giải quyết vấn đề; pháttriển năng lực, sở trường của mỗi học sinh, tạo cho các em có niềm tin và niềmvui trong học tập

Trang 11

Chuẩn bị đủ đồ dùng để hướng dẫn học sinh thực hành và luyện tập dựavào nội dung của chương trình và từng bài học, phù hợp, vừa sức với từng đốitượng học sinh trong lớp.

Chuẩn bị phương pháp và kế hoạch hướng dẫn học sinh: Lời nói phải rõràng, dễ hiểu, các bước ngắn gọn Cần chú trọng với các bài tập hướng dẫn thựchành, chú ý kết hợp giữa thực hành và luyện tập

Cẩn thận, mẫu mực trong việc chấm chữa bài làm của học sinh, giải đápthắc mắc chi tiết và kịp thời

Khuyến khích giáo viên chủ động và sáng tạo trong công việc đồng thờiphải trân trọng mọi cố gắng, mọi sáng tạo dù còn nhỏ bé của từng học sinh Giáoviên là người tổ chức, điều khiển để học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo chiếmlĩnh tri thức Giáo viên nói ít, giảng giải ít còn học sinh làm việc nhiều Giáoviên cần tổ chức các hoạt động dạy học để tất cả học sinh đều được làm việctheo nguyên tắc “Dạy học thông qua các hoạt động bằng tay của bản thân từng

trẻ em” Tôi đặc biệt lưu ý giáo viên chú ý đến “hoạt động bằng tay” của từng

học sinh trong các giờ học Tức là tự bản thân từng em phải được thực hiện cáchoạt động (viết, tính toán, thực hành với các đồ dùng học tập, vẽ, đo, đếm, …)

để khám phá, chiếm lĩnh các nội dung của bài học chứ không chỉ dừng lại ở việcquan sát bạn làm, nghe thầy cô giảng giải rồi ghi nhớ kiến thức của bài Ví dụdạy bài toán lớp 3: Bảng nhân 6 Khi dạy học sinh thành lập phép tính “6 x 2

= ?” Thay vì việc giáo viên biểu diễn cho học sinh quan sát thì yêu cầu học sinh

lấy trong bộ đồ dùng thực hành toán lớp 3 hai tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn đặt lên bàn Sau đó học sinh đếm xem có tất cả bao nhiêu chấm tròn vừa lấy được (12 chấm tròn) Từ đó học sinh nêu nhận xét xem 6 chấm tròn được lấy 2

lần thì được bao nhiêu chấm tròn; rồi nhận xét “6 được lấy 2 lần” thì được bao

nhiêu? Từ đó các em sẽ viết được phép tính tương ứng như thế nào? …Như vậy

trong quá trình thành lập phép tính “6 x 2=?” như trên, học sinh đã được “hoạtđộng bằng tay” nhiều và chính điều đó đã giúp cho việc phát hiện, ghi nhớ kiếnthức bền vững, hệ thống và rèn luyện, phát triển tư duy toán học cho các em

Chỉ đạo giáo viên coi trọng cách dạy học toán theo hướng “khuyến khíchhọc sinh tự phát hiện” Tức là giáo viên tổ chức cho học sinh các hoạt động tựtìm tòi, tranh luận, thảo luận để tìm cách giải quyết vấn đề Để giúp giáo viênhiểu rõ vấn đề này tôi đã đưa ra phân tích một ví dụ cụ thể để giáo viên hiểu rõ

rồi sau đó yêu cầu giáo viên tùy từng bài cụ thể, tùy đối tượng học sinh và điều kiện thực tế để vận dụng một cách linh hoạt và phù hợp Tôi đã minh họa bằng

tiết 59, toán 4, bài “Nhân với số có hai chữ số” như sau:

Toán 4, tiết 59: Nhân với số có hai chữ số

Bước 1:

- Giáo viên nêu vấn đề: Tính “36 x 23 = ?”

Làm thế nào để các em tìm ra kết quả của phép nhân “36 x 23” ?

- Học sinh thảo luận và nêu ý kiến

- Giáo viên dựa vào ý của học sinh để giúp học sinh định hướng suy nghĩ:

+ Đây là phép nhân với số có hai chữ số, các em chưa học

+ Các em mới chỉ học nhân với số có một chữ số

Trang 12

+ Vậy các em có thể tìm cách quy về phép nhân với số có một chữ số mà các

em đã học

Bước 2:

Học sinh tự nghĩ cách nhân theo hướng nêu trên, ghi vắn tắt vào giấy các

ý riêng của mình, các em có thể thảo luận nhóm để tìm cách làm Giáo viênquan sát, giúp đỡ học sinh

Bước 3: Học sinh nêu cách làm

Ngày đăng: 08/08/2019, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w