1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP PHẦN I ,Những vấn đề cơ bản chủ nghĩa MacLenin

24 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 202 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề thi và đáp án (có liên hệ thực tế) học phần 1, môn Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mac Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chương trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị hành chính

Trang 1

BÀI 1

1 Các hình thức tồn tại của vật chất

- Định nghĩa vật chất của Lê nin: Vật chất là một phạm trù triết học dùng

để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảmgiác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

Từ định nghĩa này có thể thấy:

Vật chất trong định nghĩ của V.I Lênin phải được hiểu theo nghĩa triết học,nghĩa là nó mang tính khái quát hóa cao, phản ánh tất cả những dạng tồn tại cụ thểcủa vật chất

Vật chất có nhiều thuộc tính nhưng thuộc tính cơ bản nhất là “thực tại kháchquan” nghĩa là vật chất tồn tại độc lập với ý thức của con người Con người muốnhay không muốn thì vật chất vẫn tồn tại tự nó và vận động theo những quy luậtkhách quan vốn có của nó Thuộc tính này là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt cái gì

là vật chất, cái gì không thuộc vật chất Định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin cũngkhẳng định tư duy của con người có thể nhận thức được vật chất

Tồn tại khách quan là thuộc tính cơ bản nhất của vật chất, phân biệt giữa vậtchất với ý thức Ở đây định nghĩa đã giải quyết theo quan điểm của chủ nghĩa duyvật về mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học

Vật chất “được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác củachúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh ” nghĩa là sự vật, hiện tượng vật chất tácđộng lên các giác quan, nhờ đó con người nhận biết về chúng Như vậy, con người

có thể nhận thức được vật chất Ở đây mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học

đã được giải quyết theo lập trường của triết học duy vật biện chứng

Như vậy, định nghĩa vật chất của Lê nin mang tính khái quát hóa cao, phảnảnh tất cả những dạng tồn tại cụ thể của vật chất Vật chất có nhiều thuộc tínhkhách quan nhưng thuộc tính cơ bản nhất là ”thực tại khách quan” – tức là tồn tạikhách quan độc lập với ý thức của con người

Đinh nghĩa về vật chất của Lênin đã khắc phục được những hạn chế của cácquan niệm siêu hình, máy móc về vật chất của các nhà duy vật trước đó Đồng thời

là cơ sở để cổ vũ các nhà khoa học tiếp tục đi sâu khám phá thế giới vật chất vàgiải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản của triết học

Theo triết học Mác- Lê nin, vật chất tồn tại thông qua vận động, không gian vàthời gian Vận động được hiểu như là một phương thức tồn tại của vật chất, làthuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi nói chung, mọiquá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy "

Ví dụ: sự di chuyển của các phương tiện giao thông trên đường (vận động cơ học), sự trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường sống (vận động sinh học), sự thay thế của các hình thái KT-XH (vận động xã hội)

Vận động là thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của vật chất Nhờ vận

Trang 2

Theo triết học Mác – Lê nin có 5 hình hức vận động cơ bản:

- Vận động cơ học là sự dịch chuyển vị trí của các vật thể trong không gian

- Vận động vật lý là sự vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận độngđiện tử, các quá trình nhiệt, điện

- Vận động hóa học là quá trình hóa hợp và phân giải các chất, vận động củacác nguyên tử

- Vận động sinh học là sự trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi trường

- Vận động xã hội là sự biến đổi của lịch sử và xã hội, sự thay đổi, thay thế cácquá trình xã hội này bằng các quá trình xã hội khác

Vận động gắn liền với đứng im Đứng im là vận động trong thăng bằng, trong

- Ngay trong trạng thái đứng im đó cũng có những nhân tố phá vỡ sự đứng im

+ Không gian: Là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính (chiều

dài, rộng, cao), biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt cũng như trật tự phân bố củacác sự vật

Ví dụ: không gian sinh sống của các loài thủy hải sản nước mặn chính là biển Không gian học tập của các em học sinh là lớp học

Bất kể một khách thể vật chất nào cũng chiếm một vị trí nhất định, ở một khungcảnh nhất định trong sự tương quan với các khách thể khác Do đó, không gian làkhông gian của vật Không có không gian ngoài vật chất

+ Thời gian: là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế

tiếp của các quá trình, biểu hiện trình tự xuất hiện, mất đi của sự vật (quá khứ, hiệntại, tương lai)

Ví dụ: Phong trào thi đua ”Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

đã được Bộ GD&ĐT phát động và triển khai thực hiện từ năm học 2008-2009.

Thời gian luôn gắn liền với vật chất, thời gian là thời gian của vật Không cóthời gian thuần túy tách rời khỏi sự vật Thời gian là thời gian của một con người

cụ thể, một lớp học cụ thể, một sự kiện lịch sử cụ thể

Trang 3

Không gian và thời gian có tính khách quan, bời thời gian và không gian làthuộc tính của vật chất, gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất Vật chất tồn tạikhách quan, do vậy, không gian và thời gian của vật chất cũng tồn tại khách quan.

Như vậy, không gian, thời gian và vận động là những hình thức, phương thứctồn tại tất yếu, vốn có của vật chất Chỉ có vật chất tồn tại, vận động vĩnh viễntrong thời gian và không gian và chỉ có không gian, thời gian của vật chất đang vậnđộng Con người nhận thức vật chất thông qua các hình thức và phương thức tồn

tại của nó.

- Liên hệ thực tiễn: lấy ví dụ từ thực tế trong ngành các vấn đề có liên

quan trong đó cần: Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và đề ra giải pháp giảiquyết vấn đề

2 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn:

- Thực tiễn: Là toàn bộ hoạt động vật chất – cảm tính mang tính lịch sử, có

mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

Từ khái niệm nêu trên cho thấy thực tiễn có 3 đặc trưng sau:

+ Thực tiễn không phải lá tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những

hoạt động vật chất-cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng

công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làmthay đổi chúng Ví dụ: Hoạt động sản xuất thóc lúa của người nông dân chính làquá trình người nông dân dùng công cụ lao động tác động vào đồng ruộng, gieotrồng… để tạo ra sản phẩm lao động như mong muốn

+ Thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội: nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt

động cuả con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia đông đảo và trải quanhững giai đoạn lịch sử phát triển nhất định

+ Thực tiễn là hoạt động có mục đích: bởi đây là hạt động nhằm cải tạo tự

nhiên và xã hội phục vụ cho con người Đây là đặc trưng nói lên tính mục đích,tính tự giác của hoạt động thực tiễn

- Lí luận: Lí luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm

thực tiễn, phản ảnh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật củacác sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống những nguyên

lí, quy luật, phạm trù

Ví dụ: Định lí Pitago nêu: “Tổng ba góc trong một tam giác bằng hai vuông”là lí luận, nhưng đây là lí luận toán học- một dạng cụ thể của lí luận Tương tự như vậy, lý luận chính trị là một dạn cụ thể của lý luận nói chung.

Từ khái niệm nêu trên cho thấy lí luận có 3 đặc trưng sau:

Thứ nhất, lí luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ.Thứ hai, cơ sở của lí luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không cótri thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lí luận

Thứ ba, lí luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng

Trang 4

Vai trò quyết định của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện ở chỗ:

- Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, lí luận: Mọi nhận thức đều xuất phát

từ thực tiễn và do thực tiễn quy định Thông qua hoạt động thực tiễn và bằng hoạtđộng thực tiễn con người tác động vào sự vật làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tínhchất, quy luật Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễncung cấp “vật liệu” cho nhận thức Không có thực tiễn thì không có nhận thức

Ví dụ 1: Việc đo dạc ruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp- La

mã cổ đại là cơ sở cho định lí Talet, Pitago… ra đời

Ví dụ 2: Sự xuất hiện học thuyết mácxít ở những năm 40 của thế kỷ XIX cũng bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản lúc bấy giờ.

- Thực tiễn là động lực của nhận thức, lí luận: Thực tiễn luôn chứa đựng

mâu thuẫu, khi giải quyết được mâu thuẫn thì sẽ tạo ra sự phát triển

Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nóicách khác chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giải quyết Nhờ cóhoạt động thực tiễn mà các giác quan của con nguời ngày càng được hoàn thiện,năng lực tư duy lôgíc không ngừng được củng cố và phát triển, các phương tiệnnhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng "nối dài" các giác quan của con ngườitrong việc nhận thức thế giới Nhận thức còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗtrợ con người nhận thức hiệu quả hơn

Ví dụ: kính thiên văn, kính núp, máy vi tính… đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất để giúp con người nhận thức chính xác hơn, đúng đắn hơn

về sự vật.

- Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lí luận: Nhận thức của con người

bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Các tri thức khoa học chỉ có ý nghĩađích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Mục đích cuối cùngcủa nhận thức là nhằm cải tạo hiện thực khách quan, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinhthần của con người

Ví dụ: (liên hệ với câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh “lí luận mà không liên

hệ với thực tiễn là lí luận suông”)

- Thực tiễn là tiểu chuẩn, thước đo của nhận thức để, lý luận:

Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý, bởi chỉ có thông qua thựctiễn con người mới “vật chất háo được tri thức, “hiện thực hóa” được tư tưởng.Thông qua quá trình đó, con người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Khithực tiễn thay đổi thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp Những tri thức đãđạt được trước đây hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn

Việc vận dụng tri thức vào thực tiễn còn có tác dụng bổ sung, hoàn thiệnnhững nhận thức chưa đầy đủ

Ví dụ: Thuyết Nhật tâm của Cô – péc –nic cho rằng trái đất quay xung quanh mặt trời Nhờ có kính viễn vọng tự sáng chế và kiên trì quan sát bầu trời,

Trang 5

Ga – li – lê (1564-1642) đã khẳng định thuyết Nhật tâm của Cô – péc – níc là đúng và còn bổ sung: Mặt trời còn tự quay xung quanh trục của nó.

- Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn nhờ những đặc

trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đốivới hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thựctiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan, biến đổi chính thực

tiễn và biến đổi con người

VD: Những quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng … chỉ đạo, định hướng, soi sáng cho hoạt động thực tiễn của đất nước

- Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng nhân dân

+ Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn giúp hoạt

động thực tiễn chủ động, tự giác, bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn

Từ vai trò của thực tiễn đối với lý luận và lý luận với thực tiễn, trong quá trìnhcông tác ở bất kì một sơ quan đơn vị nào khi xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ đềuphải căn cứ vào thực tiễn của đơn vị, vào các văn bản pháp lí để xây dựng và đề racác giải pháp thực hiện nhiệm vụ mang tính khả thi cao

BÀI 2

3 Các yếu tố hợp thành hình thái kinh tế xã hội? Sự vận dụng của Đảng

Hình thái kinh tế - xã hội là phạm trù chỉ xã hội ở từng nấc thang lịch sửnhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng thiết lập trên một trình độ nhấtđịnh của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xâydựng trên quan hệ sản xuất đó

- Lực lượng sản xuất: Là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư

liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định

- Lực lượng sản xuất biểu thị mỗi quan hệ giữa con người với tự nhiên Là

phương thức kết hợp giữa người LĐ với tư liệu sản xuất và khả năng lao động của

họ tạo ra một sức sản xuất nhất định trong từng giai đoạn lịch sử Lực lượng sảnxuất gồm: Người lao động và tư liệu sản xuất (Người lao động gồm có yếu tố thểlực và trí lực, tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.)Trong

tư liệu sản xuất thì người lao động thể hiện động lực bên trong lực lượng sản xuất,

kĩ năng, trình độ tay nghề, học vấn của người lao động, là yếu tố quan trọng, yếu tốquyết định của lực lượng sản xuất

Chủ nghĩa duy vật đánh giá cao vai trò của người lao động và công cụ laođộng Con người với tư cách là chủ thể của sản xuất vật chất, luôn sáng tạo ra công

cụ tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải, vật chất Người lao động lànhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất Khẳng định điều đó, Lê nin viết: “Lựclượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”

Trang 6

Công cụ lao động: là khí quan vật chất “nối dài”, “nhân lên” sức mạnh củacon người trong quá trình biến đổi giới tự nhiên, là yếu tố quyết định trong tư liệusản xuất Trình độ phát triển của công cụ lao động vừa là thước đo trình độ chinhphục tự nhiên của con người, vừa là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa cácthời đại kinh tế-kĩ thuật trong lịch sử

Khoa học, kỹ thuật có vai trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất.Đặc biệt, ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nguyênnhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất vật chất mà ở những thế kỷđược vật hóa, kết tinh, thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất một cáchnhanh chóng và có hiệu quả như ngày nay Khoa học kĩ thuật trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp bởi vì khoa học kĩ thuật kết tinh trong lực lượng sản xuất KHKT và SX gắn bó mật thiết với nhau Thời gian các phát minh ứng dụng vào

SX ngày càng rút ngắn

Lực lượng sản xuất do con người tạo ra nhưng nó luôn là yếu tố kháchquan Hay nói cụ thể hơn LLSX là kết quả của năng lực hoạt động thực tiễn củacon ngưới, nhưng bản thân năng lực hoạt động thực tiễn này lại bị quyết định bởinhững điều kiện khách quan trong đó con người sinh sống; bởi những LLSX đã đạtđược do các thế hệ trước đó tạo ra

Trình độ của lực lượng sản xuất dùng để chỉ năng lực, mức độ, hiệu quảchinh phục giới tự nhiên thông qua việc sử dụng công cụ lao động tác động vàogiới tự nhiên để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người

Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển vàthay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội

- Quan hệ sản xuất: là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản

xuất vật chất thể hiện ở quan hệ về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổchức quản lí sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động

Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trên cơ sở một trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất Nó được hình thành trong quá trình phát triểnlịch sử, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất làquan hệ cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác của con người

Trong các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ quản lí tổ chức sản xuất và quan hệphân phối sản phẩm lao động Bởi vì ai nắm trong tay tư liệu sản xuất người đó sẽquyết định việc tổ chức, quản lí sản xuất cũng như phân phối sản phẩm Chínhquan hệ sở hữu cũng quy định tính đặc trưng cho từng quan hệ sản xuất của từng

xã hội Do vậy, Quan hệ sản xuất là tiêu chí quan trọng để phân biệt hình thái kinh

tế xã hội này với hình thái kinh tế xã hội khác Ngược lại, quan hệ quản lí, tổ chứcsản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động cũng tác động trở lại đến quan

hệ sở hữu Chúng góp phần hoặc củng cố hoặc phá hoại quan hệ sở hữu Tùy vàođiều kiện hoàn cảnh lịch sử để xét quan hệ nào là quan trọng nhất Tuy nhiên, baquan hệ trong quan hệ sản xuất này thống nhất với nhau

Trang 7

- Kiến trúc thượng tầng: Là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật,

triết học, đạo đức, tôn giáo, nghê thuật,v.v cùng với những thiết chế tương ứngnhư nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể,v.v được hình thành trên một cơ

có đối kháng giai cấp, ngoài bộ phận chủ yếu đóng vai trò là công cụ của giai cấpthống trị còn có những yếu tố đối lập với những bộ phận đó Đó là những quanđiểm, tư tưởng, những tổ chức chính trị của các giai cấp bị trị kiến trúc thượngtầng là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó

- Ngoài những yếu tố cơ bản trên, mỗi hình thái kinh tế - xã hội còn cónhững yếu tố khác như: quan hệ dân tộc, quan hệ giai cấp, quan hệ gia đình, v.v

- Ý nghĩa của sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội

Ra đời đã gần 170 năm, trước những biến đổi to lớn, sâu sắc của thời đại,của thực tiễn nhưng ngày nay học thuyết hình thái kinh tế xã hội vẫn giữa nguyêngiá trị khoa học và ý nghĩa thời đại của nó Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đãchỉ ra quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người Là cơ sở phươngpháp luận của các nhà khoa học để nghiên cứu về xã hội Cung cấp cho con ngườinhững tiêu chuẩn thật sự duy vật và khoa học trong việc phân kỳ lịch sử Giúp conngười hiểu được lôgíc khách quan của quá trình tiến hoá xã hội

- Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

- Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là quá độ bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất vàkiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựucủa nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học vàcông nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất xây dựng nền kinh tế hiện đại

- Vận dụng quy luật lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, Đảng ta chủtrương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

4 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

Trang 8

- Lực lượng sản xuất: Là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư

liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định

- Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Là

phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất và khả năng laođộng của họ tạo ra một sức sản xuất nhất định trong từng giai đoạn lịch sử

- Lực lượng sản xuất gồm: Người lao động và tư liệu sản xuất (Người laođộng gồm có yếu tố thể lực và trí lực Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và

tư liệu lao động.) Trong tư liệu sản xuất thì người lao động thể hiện động lực bêntrong lực lượng sản xuất, kĩ năng, trình độ tay nghề, học vấn của người lao động, làyếu tố quan trọng, yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất

- Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản

xuất vật chất thể hiện ở quan hệ về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổchức quản lí sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động

Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trên cơ sở một trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất Nó được hình thành trong quá trình phát triểnlịch sử, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất làquan hệ cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác của con người

Trong các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ quản lí tổ chức sản xuất và quan hệphân phối sản phẩm lao động Bởi vì ai nắm trong tay tư liệu sản xuất người đó sẽquyết định việc tổ chức, quản lí sản xuất cũng như phân phối sản phẩm Chínhquan hệ sở hữu cũng quy định tính đặc trưng cho từng quan hệ sản xuất của từng

xã hội Do vậy, Quan hệ sản xuất là tiêu chí quan trọng để phân biệt hình thái kinh

tế xã hội này với hình thái kinh tế xã hội khác Ngược lại, quan hệ quản lí, tổ chứcsản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động cũng tác động trở lại đến quan

hệ sở hữu Chúng góp phần hoặc củng cố hoặc phá hoại quan hệ sở hữu Tùy vàođiều kiện hoàn cảnh lịch sử để xét quan hệ nào là quan trọng nhất Tuy nhiên, baquan hệ trong quan hệ sản xuất này thống nhất với nhau

* Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Trình độ của LLSX là trình độ phát triển khoa học công nghệ, khoa học kỹ

thuật, công cụ lao động, phân công lao động và người lao động, nó thể hiện trình

độ chinh phục tự nhiên của con người trong các giai đoạn lịch sử

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tác động qua lại với nhau Mối quan

hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX chịu sự tác động của nhiều quy luật xã hội,trong đó quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng

sản xuất” là quy luật phổ biến chung nhất

- Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ khách quan, vốn có của mọi quá trình sản xuất.

Trang 9

- Giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ thống nhấtbiện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệsản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất.

+ LLSX ở trình độ nào sẽ có QHSX tương ứng Nhưng khi lực lượng sảnxuất phát triển, kim loại ra đời năng suất lao động tăng lên, xuất hiện của cải dưthừa làm nảy sinh lòng tham, xuất hiện tư hữu

+ Nhu cầu con người ngày càng cao, công cụ lao động ngày càng phát triển,khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ

+ Xuất phát từ nhu cầu trong quan hệ sản xuất của con người

+ Khi LLSX thay đổi thì QHSX sớm hay muộn cũng phải thay đổi theo đểphù hợp với LLSX

Ví dụ: 05 hình thái kinh tế xã hội thì sẽ có 5 lực lượng sản xuất, 5 quan hệ sản xuất tương ứng Nghĩa là khi LLSX thay đổi thì QHSX phải thay đổi.

- QHSX tác động trở lại LLSX:

QHSX là hình thức kinh tế của phương thức sản xuất còn LLSX là nội dungkinh tế của phương thức sản xuất Theo nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin thìhình thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại LLSX

+ LLSX là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, nó luôn vận động và biến dổi.QHSX mang tính ổn định tương đối LLSX và QHSX luôn mâu thuẫn, tạo sự pháttriển

VD: Giám đốc đang có quyền sở hữu công ty, ông ta không muốn trao quyền cho ai (QHSX mang tính ổn định) Muốn thay đổi thì phải có 1 cuộc cách mạng (Tính ổn định tương đối).

Biểu hiện: QHSX tác động trở lại LLSX theo hai hướng:

+ Tích cực: QHSX phù hợp với sự phát triển của LLSX, thúc đẩy LLSXphát triển

+ Tiêu cực: QHSX không phù hợp với LLSX, kìm hãm sự phát triển củaLLSX

Ví dụ: Quá trình sản xuất vật chất, người lao động bỏ ra sức và lực để sản xuất, nếu đượctrả công xứng đáng thì họ sẽ sản xuất đạt hiệu quả hơn NHưng ngược lại, sẽ tạo ra tỉ suất lao động thấp, không hiệu quả.

Như vậy, muốn thúc đẩy LLSX phát triển, phải phát triển TLSX, phát huytối đa nhân tố con người, đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ và hội nhậpquốc tế

* Sự vận dụng quy luật ở Việt Nam:

+ Trước đổi mới (1986) Đảng ta đã không vận dụng không đúng quy luậtnày, vi phạm quy luật,cụ thể:

Trang 10

Chủ trương xây dựng sớm một nền kinh tế XHCN thuần nhất với hai hìnhthức sử hữu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể trong khi trình độ LLSX cònthấp kém phát triển không đồng đều là một chủ trương nóng vội, chủ quan duy ýchí, vi phạm quy luật, làm trái quy luật khách quan.

Từ những sai làm trong nhận thức,dẫn tới những sai lầm trong chỉ đạo thựctiễn Cụ thể:

Một là: xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về TLSX một cách ồ ạt, trong khi chế

độ sở hữu tư nhân đó đang còn tạo ra địa bàn sản xuất cho sự phát triển LLSX

Hai là: Xây dựng chế độ công hữu về TLSX một cách tràn lan, trong khi

LLSX còn thấp kém và phát triển không đồng đều (VD: chỉ thừa nhận thành phần

là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN,bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lànhmạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọngcủa nền kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và

cạnh tranh theo pháp luật Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật về sự phù hợp

giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX trong thời kì đổi mới đã làm cho nềnkinh tế nước ta phát triển vượt bậc Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng,tạo đà cho sự phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phí lao động xãhội cần thiết

Trong sản xuất, Quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mứchao phí lao động cá biệt nhỏ hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì mới đạtđược lợi thế trong cạnh tranh (Muốn vậy phải ứng dụng khao học kĩ thuật vào sản xuất )

Trong trao đổi, thực hiện theo nguyên tắc ngang giá, hai bên được lợi về giátrị sử dụng còn lượng giá trị là bằng nhau Hàng hóa được trao đổi trực tiếp vớinhau theo một tỉ lệ nào đó, có nghĩa là chúng kết tinh một lượng lao động bằngnhau Khi có tiền xuất hiện để mua bán thì giá cả hàng hóa phải dựa trên cơ sở giátrị của nó

Trang 11

Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa.Giá cả lên xuống xoay quanh trục giá trị Giá cả phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cạnhtranh, cung – cầu, sức mua của đồng tiền.

Quy luật giá trị có các chức năng sau:

- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:

+ Điều tiết sản xuất là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành,các lĩnh vực sản xuất Các yếu tố sản xuất sẽ dịch chuyển đến các ngành thu hútđược nhiều lợi nhuận, quy mô SX được mở rộng Còn các ngành thua lỗ hoặc thuđược ít lợi nhuận sẽ thu hẹp SX Sự điều tiết như vậy là cần thiết, mang lại hiệuquả kinh tế

+ Nếu Cung < Cầu, khi đó giá cả > giá trị thì hoàng hóa bán chạy hơn, ngườisản xuất sẽ có lãi và mở rộng quy mô, đẩy mạnh sản xuất để tăng Cung

+ Nếu Cung > Cầu, khi đó giá cả < giá trị, hàng hóa sản xuất ra nhiều màkhó tiêu thụ, người sản xuất sẽ không có lãi và phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặcngừng sản xuất mặt hàng này để chuyên sang sản xuất mặt hàng khác

+ Nếu Cung = Cầu, giá cả = giá trị: thị trường bão hòa và người sản xuất sẽtiếp tục sản xuất mặt hàng này Tuy nhiên đây là điều hiếm thấy

+ Điều tiết lưu thông: sự tác động của quy luật giá trị thể hiện ở chỗThu hútluồng hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao Do đó làm cho lưuthông hàng hóa thông suốt, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cânbằng nhất định (Cần phân phối hợp lí các nguồn giữa các vùng KT thì lưu thông

Sự biến động của giá cả trên thị trường không chỉ mang ý nghĩa làm rõ sựbiến động về kinh tế mà còn có tác dùng điều tiết nền kinh tế hàng hóa

Ví dụ: Cuộc khủng hoảng giá lợn năm 2017:

Năm 2015, 2016, giá lợn tăng mạnh => nhiều người đổ xô vào nuôi lợn => Cung > Cầu => Năm 2017: giá lợn tụt rất thấp trong một thời gian dài khiến nhiều hộ chăn nuôi, trang trại phải ngừng sản xuất, bỏ chuồng chuyển sang nuôi vịt và một số nghề khác để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Như vậy, thực chất sự điều tiết lưu thông của quy luật giá trị là điều tiết khốilượng hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi giá cả cao, tạo ra mặt bằng giá cả xãhội và sự cân bằng hàng hóa giữa các thị trường Giá trị hàng hóa mà thay đổi thì

Trang 12

những điều kiện làm cho tổng thể khối lượng hàng hóa có thể tiêu thụ được cũng

sẽ thay đổi

- Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động:

Mỗi người sản xuất có điều kiện sản xuất khác nhau dẫn tới hao phí lao động

cá biệt khác nhau Vì vậy Người SX muốn có lãi phải hạ thấp giá trị cá biệt HHcủa mình thấp hơn giá trị XH Muốn vậy, những người sản xuất hàng hóa phải cảitiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm,tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất, cải tiến chất lượng, mẫu mã hàng hóacho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Quá trình này diễn ra liên tục sẽ làm cholực lượng sản xuất xã hội phát triển

VD: Sự phát triển của công ty Viễn thông Viettel… Hoa quả SX theo tiêu chuẩn kĩ thuật cao sẽ bán nhanh hơn.

- Phân hóa người SX thành giàu nghèo:

Trong kinh tế hàng hóa, những người sản xuất hàng hóa không có điều kiệnsản xuất thuận lợi, mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xãhội cần thiết, thường xuyên thắng thế trong cạnh tranh sẽ thu được nhiều lãi, giàulên và có thể tiếp tục mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh,thuê lao động và ngày càng giàu có, trở thành ông chủ Ngược lại, những người sảnxuất hàng hóa không có điều kiện sản xuất thuận lợi, lại gặp rủi ro nên hao phí laođộng cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì khi bán hàng hóa sẽrơi vào tình trạng thua lỗ, thậm chí có thể bị phá sản, trở nên nghèo khó, phải đilàm thuê

Chính do tác động nhiều mặt của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hànghoas thực sự là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản

* Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực (điều tiết sản xuất vàlưu thông hàng hóa, phát triển lực lượng sản xuất xã hội,…), vừa có tác động tiêucực (tạo sự phân hóa giàu nghèo) Do đó, cùng với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóaphát triển, nhà nước ta cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chếmặt tiêu cực đặc biệt là trong điều kiện nền KTHH nhiều TP theo định hướngXHCN của nước ta hiện nay để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật giá trị đối với việc phát triển kinh tế ở Việt Nam:

Nghiên cứu quy luật giá trị không chỉ để hiểu biết sự vận động của sản xuấthàng hóa mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh tế ở Việt Nam

Trước thời kì đổi mới, chúng ta phủ nhận sản xuất hàng hóa và quy luật giátrị nên không khai thác được các nguồn lực, nền kinh tế kém phát triển, rơi vàokhủng hoảng Việt Nam chúng ta còn kinh tế bao cấp, HH tiền tệ bị phủ nhận

Trong thời kì đổi mới, kinh tế nước ta từ kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấpchuyển sang thực hiện cơ chế thị trường, Nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa tạo điều kiện cho các quy luật kinh tế phát huy tác dụng, Phát triển sảnxuất hàng hóa, quy luật giá trị hoạt động, tạo nên cạnh tranh, phát triển KT buộc

Ngày đăng: 08/08/2019, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w