Môn Tiếng Việt giúp các em có các kĩ năng nghe, nói,đọc, viết phục vụ cho việc học và giao tiếp; ngoài ra môn Tiếng Việt cung cấpcho các em vốn từ ngữ phong phú để các em sử dụng trong q
Trang 1MỤC LỤC
Tran g
1.Mở đầu………1
1.1 Lí do viết sáng kinh nghệm……… 1
1.2 Mục đích nghiên cứu……… 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu……….2
1.4 Phương pháp nghiên cứu………2
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm………2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm………2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm………2
2.3 Một số biện pháp thực hiện………5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục……….18
3 Kết luận và kiến nghị………18
3.1 Kết luận………18
Trang 31 Mở đầu
I.1 Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm
Môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học tập cũngnhư giao tiếp của các em Môn Tiếng Việt giúp các em có các kĩ năng nghe, nói,đọc, viết phục vụ cho việc học và giao tiếp; ngoài ra môn Tiếng Việt cung cấpcho các em vốn từ ngữ phong phú để các em sử dụng trong quá trình giao tiếp.Phân môn Luyện từ và câu là phân môn đóng vai trò quan trọng đối với việcphát triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng,
là chìa khóa mở ra kho tàng văn hóa trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội của conngười Hơn nữa, phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh lĩnh hội Tiếng Việt,văn hóa, là công cụ giao tiếp tư duy và học tập Đối với học sinh lớp 2, vốn từcủa các em còn rất hạn chế, việc tìm hiểu và sử dụng từ còn lúng túng, gặp rấtnhiều khó khăn cần phải được bổ sung và phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập
và giao tiếp Muốn nói hay viết giỏi đều phải dùng từ Từ là vật liệu để cấuthành ngôn ngữ Hiểu được nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thếnào cho hợp văn cảnh, đúng ngữ pháp còn khó hơn Cho nên, việc dạy cho họcsinh nắm vững Tiếng Việt không thể không coi trọng việc dạy phân môn luyện
từ và câu, đặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các môn học khác ở các lớp họctrên Để dạy học luyện từ và câu ở lớp 2 có hiệu quả, không những đòi hỏi ngườithầy phải biết cách khai thác từ ngữ qua vốn sống của trẻ nhằm xây dựng hệthống kiến thức trên cơ sở khai thác qua các câu có từ thuộc chủ đề nhằm bổsung, củng cố, khắc sâu hệ thống kiến thức cho trẻ Ngoài ra người giáo viênphải biết phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp đặc trưng của môn họcnhư phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, hỏi đáp theo cặp, tổchức trò chơi… để học sinh được thực sự tham gia xử lí các tình huống có vấn
đề, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh nói được một câu hay, giàu cảm xúc là một kĩ năng khó của phân môn Luyện từ và câu Bởi vậy,hiệu quả giờ dạy Luyện từ và câu còn hạn chế Một phần người dạy còn chưatìm ra quy trình và phương pháp dạy thích hợp Hơn nữa đây là phân môn hoàntoàn khó đối với học sinh lớp1, 2 Với đối tượng này vốn từ ít, kỹ năng diễn đạtcòn hạn chế, các em đọc còn chưa lưu loát vì vậy ít nhiều hạn chế đến khả năngđặt câu đúng, câu hay, diễn đạt bằng lời nói, lời kể và cách diễn xuất của mìnhqua từng đoạn chuyện, câu chuyện Vì vậy, các em thiếu tính mạnh dạn, tính tựtin trong học tập Mặt khác, với học sinh tiểu học, vốn từ mà các em có đượcchủ yếu dựa trên kinh nghiệm sống và cách hiểu tự nhiên còn hạn chế Đa số các
em chỉ mới hiểu được một số nét nghĩa một cách chung chung chứ chưa đầy đủ
và chưa chính xác Đặc biệt, khả năng vận dụng các từ đã học vào giao tiếp vàhọc tập còn nhiều hạn chế, học sinh còn gặp khó khăn và bị lúng túng trong việctìm từ và sử dụng từ Làm giàu vốn từ cho học sinh ngoài việc cung cấp thêmcác từ mới, giúp học sinh hiểu nghĩa của từ còn tạo tính thường trực của từ nhằmnâng cao khả năng lựa chọn và sử dụng từ của học sinh khi học các môn học nóiriêng và trong cuộc sống nói chung [6]
Trang 4Với mong muốn giúp học sinh tăng thêm vốn từ, tăng khả năng sử dụng
từ, câu trong học tập và giao tiếp, tôi đó lựa chọn viết đề tài: “Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 A trường Tiểu học Nga Điền 1 thông qua phân môn Luyện từ và câu” để cùng các bạn đồng nghiệp trao đổi thảo luận.
Từ đó, giúp học sinh học Phân môn Luyện từ và câu một cách hiệu quả nhất
I.2 Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng một số biện pháp dạy – học cho Phân môn Luyện từ và câu nhằmlàm giàu vốn từ ngữ cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học củathầy và trò trường Tiểu học Nga Điền 1 – Nga Sơn – Thanh Hóa trong giờ họcLuyện từ và câu giúp học sinh biết sử dụng từ ngữ trong đời sống hàng ngày
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua phân mônLuyện từ và câu
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm:
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong những năm gần đây, phong trào đổi mới phương pháp dạy họctrong trường Tiểu học được quan tâm và đẩy mạnh không ngừng để ngay từ cấpTiểu học, mỗi học sinh đều cần và có thể đạt được trình độ học vấn toàn diện,đồng thời phát triển được khả năng của mình về một môn học, nhằm chuẩn bịngay từ bậc Tiểu học những con người chủ động, sáng tạo đáp ứng được mụctiêu chung của cấp học và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
Giáo dục Tiểu học là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho
sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông Vì vậyphương pháp dạy học ở bậc tiểu học có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần hìnhthành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, hình thành nếp tư duy sángtạo ngay từ khi các em bắt đầu đến trường phổ thông
Trong các môn học ở tiểu học môn Tiếng Việt là môn có vị trí hết sứcquan trọng Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức ban đầucòn là công cụ giúp cho học sinh học các môn khác Đặc biệt là phân mônLuyện từ và câu là phân môn đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triểnngôn ngữ của học sinh nói chung và của học sinh lớp Hai nói riêng Trong thực
tế môn Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng là chìa khóa mở ra kho tàng vănhóa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người.Hơn nữa phân môn Luyện
từ và câu giúp học sinh lĩnh hội Tiếng việt, văn hóa là công cụ giúp học sinh sửdụng Tiếng Việt đạt hiệu quả tốt mà còn học tốt các môn học khác, rèn cho họcsinh bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết thành thạo
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh biết cách giao tiếptốt, viết được đoạn văn ngắn thì phải làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh Làm
Trang 5giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh lớp Hai là một việc làm quan trọng trong phânmôn Luyện từ và câu.Việc phát triển và làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinhgóp phần giúp học sinh có kĩ năng dùng từ để đặt câu và giao tiếp tốt Hơn nữa,phân môn Luyện từ và câu hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 2 Vì các em từlớp 1 lên, các em mới làm quen với thể loại này Với đối tượng này vốn từ ít, kỹnăng nói và viết diễn đạt còn hạn chế Học sinh chưa hiểu sâu về nghĩa các từngữ và bản chất của câu nên khi nói và viết một đoạn văn các em thường bộc lộcác yếu điểm về diễn đạt như : từ lặp lại nhiều, câu không rõ nghĩa, các câutrong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi Họcsinh thường dập khuôn theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Với mục tiêu chung của môn Tiếng Việt thì mục tiêu của phân môn Luyện từ
và câu là một bộ phận nhỏ của môn Tiếng Việt hết sức cần thiết để giúp học sinh
mở rộng và phát triển vốn từ làm cho vốn ngôn ngữ của các em càng phong phú;việc giúp học sinh nắm ý nghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ để bồi dưỡng cho các
em thói quen dùng từ chính xác, nói – viết thành câu, có ý thức sử dụng TiếngViệt có văn hóa trong học tập và giao tiếp
Thông qua mục tiêu chương trình cũng như cụ thể hóa được vai trò của nhân
tố từ ngữ trong việc sử dụng Tiếng Việt Bên cạnh đó, phân môn Luyện từ vàcâu ở lớp 2 còn góp phần quan trọng giúp học sinh mở rộng và phát triển vốn từ
Từ đó, học sinh sẽ có một vốn từ nhất định để hình thành thói quen dùng từ, nói
và viết thành câu: có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong học tập, giao tiếp
và thích học Tiếng Việt Do đó, người giáo viên dạy lớp 2 ( hay dạy bậc Tiểuhọc ) cần phải hội đủ các yếu tố như: Có kiến thức sâu rộng và chính xác củaphân môn này, nắm vững mục tiêu chung cũng như mục tiêu của từng bài dạy;
có những hiểu biết cơ bản về nội dung bài học, về ý đồ của sách giáo khoa và vềcấu trúc của từng bài theo các thông tin thể hiện ở sách giáo khoa; có năng lựcgiảng dạy nhất định, biết sử lí và linh hoạt sáng tạo trong quá trình dạy- học.Đây chính là cơ sở vững chắc để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tốtnhất, các em biết vận dụng thành công vốn từ trong học tập và giao tiếp.[6]
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Bước vào đầu năm học, nhà trường phân công cho tôi chủ nhiệm lớp 2A.trong quá trình trực tiếp giảng dạy các em tôi cảm thấy hầu hết các em chưa biếtnói thành câu Các em giao tiếp với nhau lời lẽ cụt ngủn, đôi khi nói năng cộclốc không lịch sự Ngôn ngữ của các em rất hạn chế, vốn sống còn ít, vốn hiềubiết về Tiếng Việt chưa nhiều, việc nói và viết thành câu, thành một đoạn văngặp nhiều khó khăn
Việc dạy từ ngữ cho học sinh chính là quá trình giáo viên khơi dậy sựhiểu biết và cảm nhận của các em về người, vật và cuộc sống xung quanh Điều
đó đòi hỏi giáo viên có phương pháp mở rộng vốn từ giúp các em tìm đượcnhiều từ ngữ và biết sử dụng từ ngữ một cách thích hợp, sử dụng từ chính xác vàhay khi nói và viết Song thực tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp 2 vốn sống củacác em còn hạn chế do đó khi diễn đạt nói và viết học sinh còn gặp nhiều khókhăn
a Thuận lợi:
- Nhà trường:
Trang 6+ Nhà trường thường mở các chuyên đề để giáo viên dự giờ, trao đổi kinhnghiệm lẫn nhau Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn trường đều tạo điều kiệncho giáo viên trao đổi, tháo gỡ những vướng mắc trong chuyên môn.
+ Một số tranh ảnh trực quan để phục vụ cho các bài Luyện từ và câu ở lớp 2
đã có sẵn ở thư viện: Tranh các chim, loài cá, thú…
+ Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy họcnhưng đôi khi cũng ngại không dám thoát li các gợi ý của sách giáo khoa, sáchhướng dẫn vì sợ sai
+ Đối với một số giáo viên do sử dụng đồ dùng dạy học nói chung và đồ dùngtrực quan nói riêng chưa được thường xuyên, nên việc sử dụng còn nhiều lúngtúng
- Học sinh:
+ Quan sát học sinh khi học phân môn Luyện từ và câu Tôi yêu cầu các emtìm từ ngữ thuộc các chủ đề, chủ điểm đang học Đa số các em tìm được rất ít từhoặc không tìm được từ, chỉ khi cô giáo gợi mở sát vào từng ngữ cảnh học sinhmới tìm được từ mà giáo viên yêu cầu
+ Qua tiết học phân môn Tập làm văn, tôi thường quan sát các em trong việctrả lời câu hỏi, đặt câu, viết đoạn văn ngắn tờ 3- 5 câu Tôi thấy các em đa sốchưa biết đặt câu, sử dụng từ chưa chính xác, chỉ hơn1/4 số học sinh trong lớpbiết dùng một số mẫu câu đơn giản
+ Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học Luyện từ vàcâu
Kết quả khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm của lớp 2A ( lớp thựcnghiệm ) và lớp 2B ( lớp đối chứng )
từ của các em còn nghèo nàn, nhiều em còn tìm từ không đúng yêu cầu và có rấtnhiều em không tìm được từ Những hạn chế trên một phần là giáo viên chưachú ý đúng mức đến dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh.Trong quá trình dạy
Trang 7giáo viên ít tạo điều kiệncho học sinh được hoạt động nhiều với từ nên khả năngthường trực từ ở học sinh và sử dụng khi cần thiết chưa cao Có bài tập cần sửphải sử dụng hoạt động thảo luận nhóm, thì giáo viên lại tổ chức làm việc chung
cả lớp, có bài tập đề bài cần tổ chức cho học sinh hoạt động cá nhân thì giáoviên lại tổ chức trò chơi học tập tập trung đối tượng học sinh năng khiêu Thờigian bố trí cho từng hoạt động chưa phù hợp, hệ thống câu hỏi và hình thức thựchành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu, chưa phân loại đối tượng học sinh để dạyhọc cho phù hợp
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu và vận dụng: “Một số biệnpháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Luyện từ và câu”
2.3 Một số biện pháp thực hiện:
Biện pháp 1: Cung cấp, mở rộng và nhân vốn từ ngữ cho học sinh:
Cung cấp vốn từ giúp học sinh có vốn từ phong phú, để học sinh tự tin trong
giao tiếp, biết dùng từ để đặt câu trong mọi tình huống giao tiếp, biết nói và viếtnhững câu văn hay giàu cảm xúc, các em có khả năng diễn đạt được trí tưởng
tượng của mình trong từng câu truyện kể…
Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, vốn từ của các em còn nghèo nàn, việc
sử dụng từ ngữ trong giao tiếp còn nhiều hạn chế Hầu hết học sinh sử dụng từngữ chưa phù hợp, chưa chính xác Vì vậy, tôi đã cung cấp vốn từ cho học sinhgiúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lý Khi dạy Luyện từ
và câu tôi đã chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh, bằng cách cho các em thi
nhau tìm những từ ngữ thuộc chủ đề, chủ điểm các em đang học, khuyến khíchhọc sinh tìm càng nhiều từ càng tốt Khi học sinh không tìm được từ nhiều, tôi
đã nêu câu hỏi gợi mở để các em hiểu và dễ dàng tìm được
Bên cạnh đó, tôi đã giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa, gần nghĩa,trái nghĩa phù hợp với chủ đề các em học
*Về từ cùng nghĩa:
Học sinh lớp hai chưa học khái niệm về từ cùng nghĩa, nên học sinh rất khókhăn tìm được những từ cùng nghĩa, vì thế tôi cho học sinh mở rộng các từcùng nghĩa theo một số trường hợp sau:
- Những cặp từ cùng nghĩa có cấu tạo nghich đảo:
Ví dụ: Dạy bài 1 tuần 12 Mở rộng vốn từ ngữ về tình cảm[1]
Bài tập yêu cầu ghép tiếng theo mẫu để tạo thành các từ chỉ tình cảm gia đình
Để dạy bài tập này tôi cho các em dùng những cặp từ cùng nghĩa có cấu tạonghịch đảo: yêu thương – thương yêu, yêu quý – quý yêu, yêu mến - mến yêu,thương mến - mến thương
Dựa vào cấu tạo nghich đảo ấy học sinh dễ dàng tìm được nhiều cặp từ cùngnghĩa khác theo yêu cầu cô ra
- Từ cùng nghĩa theo địa phương:
Khi dạy mở rộng vốn từ về con vật, tôi cho học sinh mở rộng vốn từ bằngcách khai thác vốn từ cùng nghĩa theo vùng, miền
Ví dụ: Giáo viên treo tranh vẽ con ngan và hỏi học sinh: miền bắc gọi con vậtnày là con gì? (con ngan), còn miền Nam gọi con vật này là con gì? (con vịtxiêm) Dùng cách hỏi như vậy vơí các con vật khác:
con ngan- vịt xiêm, con heo - con lợn, con hổ- con cọp…
Trang 8Với cách khai thác từ địa phương giáo viên khuyến khích học sinh phân vùng
- Từ chỉ sự vật
Ví dụ: dạy về từ chỉ sự vật, tôi đặt câu hỏi gợi mở cho học sinh tìm các từ gầnnghĩa Chẳng hạn:
Tổ quốc còn gọi là gì? ( non sông, đất nước, giang sơn, quốc gia,…)
Tương tự cách hỏi như vậy với:
- Từ chỉ tinh chất : dũng cảm, can đảm, anh dũng, gan dạ hiền lành, hiền hậu,nhân hậu, vv…
- Từ chỉ hoạt động: ăn, xơi, , bưng, bê, cắp, ôm…
* Từ trái nghĩa: giáo viên cần phân biệt cụ thể nghĩa các từ mà cho học sinh
xét từ trái nghĩa theo các trường hợp sau:
Những cặp từ trái nghĩa chỉ hoạt động: làm chơi, lên xuống, bay đậu, đi dừng, đứng - ngồi…
Những cặp từ trái nghĩa chỉ tính chất: đẹp xấu, hiền dữ, đen trắng, -lạnh…
nóng Những cặp từ trái nghĩa có cùng một tiếng gốc:
Ví dụ: bền lòng / nản chí, tốt bụng/ xấu bụng, đẹp mã/ xấu mã
- Những cặp từ trái nghĩa không cùng một gốc
Ví dụ: ấm áp/ lạnh lẽo, cứng rắn/ mềm dẻo, dũng cảm/ hèn nhát
*Chú trọng nhân vốn từ của học sinh
Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng thành từ có nghĩa, để học sinh tìm đượcnhiều từ, tôi hướng dẫn các em tìm các từ ghép, từ láy cùng gốc:
Ví dụ: Cho học sinh tìm một số từ chỉ màu đỏ khác nhau Tôi cho học sinh quansát nhiều màu đỏ, yêu cầu học sinh nhận xét mức độ đỏ của từng màu mà phânbiệt được tên của màu đỏ đó
- Từ ghép: đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ hoe, đỏ chót, đỏ rực
- Từ láy: đo đỏ, đỏ đắn…
Ngoài ra, tôi cho học sinh tìm từ dựa vào tiếng cho trước
Ví dụ dạy bài 1 tuần 25 luyện từ và câu lớp 2
Bài tập yêu cầu tìm từ có tiếng biển[2]
Tôi cho học sinh dựa vào tiếng cho trước tìm từ có tiếng biển đứng trước hoặctiếng biển đứng sau: biển cả, biển rộng, biển đông, sóng biển, nước biển, cábiển…
Hoặc dạy bài 3 tuần 33Luyện từ và câu lớp hai về chủ đề nhân dân: Tìm từ ngữchỉ nghề nghiệp tôi cho học sinh một tiếng cho trước ghép lại thành từ có nghĩa:thợ:
Trang 9Học sinh dễ dàng tìm được các từ có tiếng thợ: thợ điện, thợ cơ khí, thợ mỏ, thợhàn, thợ may, thợ mộc…
*Hướng dẫn học sinh phát hiện các từ ngữ xoay quanh một đề tài:
Để các em phân biệt được các từ ngữ, giáo viên thường xuyên luyện cho các emtheo các bài tập từ đơn giản đến phức tạp
Ví dụ: Tìm các từ có hai tiếng trở lên chỉ các kiểu mưa khác nhau: mưadầm, mưa phùn, mưa rào, mưa ngâu, mưa bóng mây, mưa rả rích, mưa đá, mưa
Ví dụ : Khi dạy về chủ đề thầy cô giáo tôi cho các em tìm những câuthành ngữ nói về công ơn của thầy cô giáo chẳng hạn: Một chữ cũng là thầy, nửachữ cũng là thầy Hoặc: Muốn sang phải bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải
Dạy về chủ đề gia đình cho học sinh tìm những câu thành ngữ nói về công ơncha mẹ: công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,hoặc: Con có cha như nhà có nóc, con có mẹ như măng ấp bẹ…
Dạy về chủ đề các loài chim cho học sinh tìm những câu thành ngữ nói về cácloài chim: nói như vẹt, hót như khướu, đen như quạ, hôi như cú
Trong quá trình giảng dạy, tôi thường liên hệ những nội dung kiến thức cóliên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn: Tập đọc, chính tả và phânmôn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ về sự vật, hiệntượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ ngỡ khi gặpnhững đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp Giúp học sinh có hiểu biết về đềtài, vận dụng kỹ năng thực hành để học sinh có vốn kiến thức và vốn từ phongphú, đa dạng Khi học sinh đã có vốn từ phong phú thì chắc chắn các em sẽ tựtin trong giao tiếp, học sinh trình bày lời nói của mình sẽ lưu loát hơn Các emđứng trước đám đông sẽ tự nhiên mà không ngại ngùng e sợ
Khi sử dụng phương pháp trên vào dạy học sinh mở rộng vốn từ ngữ, tôithấy kích thích sự sáng tạo của học sinh trong quá trình tìm từ ngữ, rèn luyện tưduy cho học sinh Học sinh tìm được nhiều từ mới hơn khi kết hợp với phươngpháp gợi mở của giáo viên
Biện pháp 2: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập và sử dụng từ.
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học trong đó dưới sựhướng dẫn của giáo viên mà các thành viên trong nhóm thực hiện việc trao đổi,thảo luận, chất vấn và chia sẻ lẫn nhau
Quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy rất ít giáo viên sử dụng phương pháp thảoluận nhóm trong quá trình dạy học làm giàu vốn từ, đặc biệt là trong nhiệm vụ
mở rộng vốn từ cho học sinh Trong bài dạy, giáo viên chủ yếu sử dụng phươngpháp cá nhân làm việc độc lập, phương pháp vấn đáp để dạy các bài tập mở rộngvốn từ Số lượng từ ngữ học sinh nắm được trong giờ học không cao và không
Trang 10bền vững Khi huy động vốn từ theo chủ đề, mỗi học sinh chỉ huy động đượckhoảng 1, 2 từ, nhiều nhất là 4, 5 từ Thậm chí có học sinh không huy động đượcmột từ ngữ nào Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là dogiáo viên ít vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào trong giờhọc, không tạo diều kiện để cho học sinh có thể hoạt động nhiều hơn với từ, lặp
di, lặp lại các thao tác với từ để có thể nhớ từ một cách bền vững Hơn nữa, khảnăng giao tiếp của học sinh nay còn yếu, học sinh diễn đạt chưa rõ ràng, mạchlạc vì trong quá trình học, học sinh không được thao tác nhiều với từ Vì thế,trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để mở rộngvốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ[4]
- Chuẩn bị các phương tiện dạy học như: phiếu bài tập, bảng để học sinh ghikết quả thảo luận nhóm…
Bước 2: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
- Giáo viên chia nhóm học sinh
- Tùy theo đặc điểm của bài tập, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinh thảoluận theo những cách khác nhau: chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi, chia nhóm theohình thức ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ nhận thức và mức độ nắm vốn từcủa học sinh… Mỗi cách chia nhóm đều có ưu và nhược nhất định, khi lựa chọngiáo viên phải linh hoạt, thường xuyên thay đổi hình thức để tránh nhàm cháncho học sinh
- Giao nhiệm vụ thảo luận cho học sinh
Nhiệm thảo luận nhóm được cụ thể hóa trong phiếu bài tập ( hoặc phiếu giaoviệc ) cho cả nhóm
Ví dụ 1: Khi dạy bài 1, Tuần 4 – TV2, tập 1- trang 35, Mở rộng vốn từ: Từchỉ sự vật, GV sử dụng phiếu thảo luận:
PHIẾU HỌC TẬP
Thảo luận nhóm 4, nói cho bạn nghe và nghe bạn nói các từ theo mẫu trongbảng sau rồi ghi vào bảng trong thời gian 2 phút:
Chỉ người Chỉ đồ vật Chỉ con vật Chỉ cây cối
M: học sinh M: ghế M: Chim sẻ M: Xoài
Trang 11Ví dụ 2: Ở bài tập 1, Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về Bác Hồ, Tuần 30, TV2 –Tập 2- Trang 104, ta có thể hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm theo phiếu họctập sau:
PHIẾU HỌC TẬP Thảo luận nhóm 4, trong thời gian 2 phút, tìm các từ:
a Nói lên tình cảm của Bác Hô đối với thiếu nhi:………
- Học sinh thảo luận nhóm
Trong bước này, học sinh thực hiện các yêu cầu của phiếu bài tập, giáo viênquan sát hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết,đảm bảo mọi nhóm đềuthảo luận sôi nổi, hiệu quả
- Các nhóm báo cáo kết quả
Trong thời gian các nhóm báo cáo kết quả, giáo viên tạo điều kiện cho cácnhóm khác nhận xét, bổ xung để đi đến kết quả thảo luận cuối cùng lớp
- Giáo viên tổng kết, chốt lại kiến thức cần nhớ sau khi thảo luận nhóm vàtuyên dương những nhóm, cá nhân tiêu biểu, nhắc nhở những nhóm, những cánhân chưa tích cực để lần sau các em cố gắng hoạt động hiệu quả hơn
Phương pháp thảo luận nhóm nhằm hình thành năng lực giao tiếp, kĩ nănghợp tác, khả năng suy nghĩ độc lập Với phương pháp này, học sinh được học từbạn và tất cả các em dều được tham gia hoạt động giao tiếp tôi đã vận dụngnhững ưu điểm của phương pháp dạy học này như một biện pháp làm giàu vốn
từ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếpcho học sinh luyện tập sử dụng từ[3]
Trang 12Học sinh thảo luận nhóm trong tiết Luyện từ và câu Biện pháp 3: Tổ chức các trò chơi học tập giúp học sinh mở rộng vốn từ
Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên và chủ yếu
là vui chơi, giải trí và thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng Nhưng quatrò chơi, người chơi có thể rèn luyện các giác quan, tạo cơ hội giao lưu với mọingười cùng hợp tác với mọi người, cùng hợp tác với đồng đội trong nhóm, tổ
Ở bậc tiểu học cũng như các bậc học khác, sử dụng trò chơi trong quá trìnhhọc tập làm cho việc tiếp thu tri thức bớt đi sự khô khan, có thêm sự sinh động,hấp dẫn Từ đó hiệu quả học tập của học sinh tăng lên
Trong giờ mở rộng vốn từ, học sinh phải thực hiện các nhiệm vụ để làm giàuvốn từ cho mình Nếu giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp cho cả tiết dạy thìhiệu quả giờ học không cao, học sinh thụ động, lười suy nghĩ Sử dụng trò chơihọc tập là phương pháp dạy học tích cực Từ đó làm thay đổi không khí tronglớp học, tạo ra sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ vũ nhiệttình của các bạn trong lớp Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú hơn vớiviệc học từ ngữ trong các bài mở rộng vốn từ, làm giảm bớt đi sự khô khan củabài học, học sinh tiếp thu từ và nghĩa của từ nhanh, phân loại, quản lí vốn từđúng, sử dụng từ chính xác , linh hoạt
Thứ nhất: Trò chơi ghép nhanh tên sự vật
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật ( người, đồ vật, con vật, cây cối, ) được vẽdưới đây ( bài tập 1 tuần 3, TV2- tập 1 Trang 26)
Ví dụ 2: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người Hãy tìm từ chỉmỗi hoạt động đó ( bài tập 2 tuần 7, trang 59, TV2- Tập 1)
Ví dụ 3: Hãy nêu tên các con vật có trong hình ( bài tập 3 tuần 16 trang 134,TV2, Tập 1)