1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp vận dụng bản đồ tư duy vào dạy kiểu bài kể hay nói, viết theo chủ đề trong phân môn tập làm văn lớp 3

30 135 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình Tập làm văn lớp 3, kiểu bài Nói, viết theo chủ điểm rèn luyện cho học sinh kĩnăng nói, viết, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các em củng cốnhững hiểu biết về phạm vi

Trang 1

1.Mở đầu:

1.1 Lý do chọn đề tài

Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của mônTiếng Việt Tập làm văn là phân môn giúp học sinh thực hành vàrèn luyện tổng hợp bốn kỹ năng nghe – nói - đọc- viết, có tínhchất tích hợp các phân môn khác trong môn Tiếng Việt Qua tiếtTập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản nóihoặc viết Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy Chính vìvậy hướng dẫn cho học sinh nói đúng, viết đúng, rèn luyện kĩnăng sử dụng ngôn ngữ là hết sức cần thiết Nhiệm vụ đó phụthuộc phần lớn vào việc dạy - học Tiếng Việt nói chung và phânmôn Tập làm văn nói riêng Trong chương trình Tập làm văn lớp

3, kiểu bài Nói, viết theo chủ điểm rèn luyện cho học sinh kĩnăng nói, viết, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các em củng cốnhững hiểu biết về phạm vi hiện thực được phản ánh trong chủđiểm học tập

Để giúp học sinh có thể nói, viết theo chủ đề một cách có

hệ thống và phát triển và cũng là tiền đề để học sinh có thể làmvăn tốt hơn ở các lớp trên thì việc sử dụng bản đồ tư duy hay sơ

đồ tư duy trong dạy tập làm văn ở lớp 3 là một cách làm tươngđối hiệu quả Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tưduy, … là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộngmột ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thốnghoá một chủ đề… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh,đường nét, màu sắc, chữ viết Đặc điểm tâm sinh lí học sinhTiểu học thường dễ thuộc nhưng chóng quên, các em thườngghi nhớ nhanh nhờ vào quan sát hình ảnh sống động, nhiềumàu sắc Để giúp các em tiếp cận được với tri thức của nhânloại đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy họctheo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Thayđổi từ việc dạy cho học sinh kiến thức là chính chuyển sang dạycho học sinh cách học là chính Làm thế nào để học sinh nói,viết được đoạn văn theo chủ điểm đúng yêu cầu đặt ra, đạtđược mục tiêu của môn học? Để đạt được hiệu quả dạy học, quatìm hiểu tài liệu, tìm hiểu một số cách dạy học, tôi mạnh dạn

“Một số biện pháp vận dụng bản đồ tư duy vào dạy kiểu

Trang 2

bài Kể, nói, viết theo chủ đề ở phân môn Tập làm văn lớp

3 trường Tiểu học Nga Yên”

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Lý luân dạy học môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học

-Đối tượng học sinh lớp 3 trường Tiểu học Nga Yên, huyện Nga Sơn, tỉnhThanh Hóa

Tập làm văn là phân môn học khó trong các phân môn của môn Tiếng việt

Do đặc thù của môn học phải hình thành và rèn cho học sinh khả năng nói vàviết một văn bản ở nhiều thể loại khác nhau Chính vì vậy, phân môn Tập làmvăn ở Tiểu học có nhiệm vụ quan trọng đối với học sinh là rèn kĩ năng nói, viết,giao tiếp, Nói và viết hỗ trợ rất nhiều cho các môn học khác Đặc biệt hơn nữa,

Ở lớp 2, các em mới bước đầu làm quen với môn học này, viết một đoạn vănngắn từ 3 đến 5 câu qua hình thức quan sát tranh ảnh, nghe chuyện, Nhưngbước sang lớp 3 kỹ năng hình thành một đoạn văn yêu cầu cao hơn từ 5 đến 7câu, rồi 7 đến 10 câu Nhưng thực tế hiện nay, phần đa học sinh đều không hứngthú học phân môn Tập làm văn vì các em nghĩ rằng : Mình sẽ không biết nói gì ?viết gì ? để hoàn thành một đoạn văn ngắn theo yêu câu đề bài

Chính vì vậy mà dạy phân môn Tập làm văn 3 là rèn luyện cho học sinh các

kỹ năng tạo lập văn bản, trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, gópphần dạy học sinh sử dụng Tiếng việt trong đời sống sinh hoạt Vì vậy, Tập làmvăn được coi là phân môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các mônhọc khác Trên cơ sở nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn có rất nhiềuđổi mới, nên đòi hỏi tiết dạy Tập làm văn phải đạt được mục đích cụ thể hơn.Ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần có vốn kiến thức, ngôn ngữ về đờisống thực tế Chính vì vậy, việc dạy tốt các phân môn khác không chỉ là nguồncung cấp kiến thức mà còn là phương tiện rèn kỹ năng nói, viết, cách hành văn

Trang 3

cho học sinh Giáo viên phải khích lệ học sinh tích cực, sáng tạo, chủ động tronghọc tập; biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành ngôn bản, văn bản

Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý

tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề,…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Đây làmột sơ đồ mở, nó phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người

Sử dụng bản đồ tư duy là cách thức giáo viên tổ chức cho học sinh suy nghĩ diễnđạt một cách chủ động và sáng tạo trong dạy học Tập làm văn Phương pháp nàyhướng đến việc cá thể hoá tối đa hoạt động nói và viết của học sinh sao cho sảnphẩm làm văn của các em vừa bảo đảm được chuẩn mực cơ bản của một thể loạivăn bản, vừa thể hiện bản chất cái tôi của mỗi học sinh trên cơ sở khai thác kháiniệm và hiểu biết có trước của các em cũng như những ý tưởng và ngôn từ trongcác bài đọc theo chủ đề mà các em đã được học trong SGK

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

- Thực trạng:

Từ thực tiễn của việc dạy và học môn Tập làm văn ở bậc Tiểu học, tôinhận thấy để các em học sinh lớp 3 kể, nói, viết theo chủ đề, chủ điểm cho sẵn làvấn đề không đơn giản Hơn nữa ở lớp 2, các em mới bước đầu làm quen vớimôn học này, viết một đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu qua hình thức quan sáttranh ảnh, nghe chuyện, Nhưng bước sang lớp 3 kỹ năng hình thành một đoạnvăn yêu cầu cao hơn từ 5 đến 7 câu, rồi 7 đến 10 câu theo các chủ đề Đây làdạng kiến thức mới Việc vận dụng kiến thức, vốn hiểu biết của các em đề kể,nói, viết một đoạn văn theo chủ đề là vấn đề khó, bỡ ngỡ với các em Do đó, cònnhiều em chưa biết cách nói, viết đoạn văn theo trình tự, logic Nhiều học sinhcòn lúng túng, nghèo vốn từ để viết câu

- Kết quả thực trạng:

Năm học 2018-2019, tôi được phân công dạy lớp 3B Ngay từ buổi đầu nhậnlớp, tôi bắt tay ngay vào việc tìm hiểu, khảo sát và phân loại khả năng kể, nói,viết đoạn văn Sau khi chấm bài tôi có kết quả như sau:

Lớp Sĩ số được đoạn văn Kể, nói, viết

logic, có sáng tạo.

Kể, nói, viết đoạn đơn giản, đúng yêu cầu.

Kể, nói, viết đoạn văn nhưng chưa biết cách sắp xếp

ý theo trình tự.

Không

kể, nói, viết gì

Qua kết quả khảo sát phân môn Tập làm văn khối lớp 3 bản thân tôi nhậnthấy số lượng học sinh chưa biết và biết kể, nói, viết đoạn văn nhưng chưa biết

Trang 4

cách sắp xếp ý theo trình tự còn nhiều Câu văn lộn xộn, chưa rõ ý, chưa biếtcách sắp xếp trình tự lôgic các sự việc Nhiều khi các em kể, nói, viết văn nhưtrả lời câu hỏi Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên trong đóchủ yếu là các nguyên nhân sau:

Một là: Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em tiếp thu nhanh nhưng cũngnhanh quên, mức độ tập trung học tập chưa cao, các em còn mải chơi nhiều hơnhọc Việc tiếp thu bài còn thụ động theo cách truyền tải của giáo viên nên nó ảnhhưởng đến chất lượng học tập của các em

Hai là: Môn Tập làm văn là một môn khó, nhiều em còn ngại học văn, lười suy

nghĩ nên ở các giờ học các em còn ngại phát biểu, viết bài qua loa cho xongchuyện Học sinh lớp 3 vốn ngôn ngữ cũng như vốn sống của các em chưanhiều, cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn nghèo ý

Ba là: Các em chưa biết cách sắp xếp trình tự các sự việc diễn ra để kể, nói, viết

dẫn đến khi trình bày kể, nói, viết câu văn thường chưa đủ ý, thiếu mạch lạc,lủng củng lộn xộn Trong quá trình làm bài, nhiều em còn lúng túng khi dùng từ,diễn đạt ngôn ngữ vụng, có em viết không đúng yêu cầu của đề bài, có nhữngbài làm đảm bảo về số câu nhưng không đủ ý

Bốn là: Việc tổ chức học tập trên lớp của giáo viên chưa phát huy dược vốn

ngôn ngữ vốn có của các em cũng như chưa khơi dậy ở học sinh sự mạnh dạn tựtin trong học tập Tổ chức các giờ dạy Tập làm văn ( mẫu) ở trong nhà trườngchưa nhiều vì do tiết Tập làm văn khó dạy nên GV ngại dẫn đến GV chưa có cơhội để học tập lẫn nhau nhằm nâng cao năng lực giảng dạy

Với tình hình trên, tôi luôn trăn trở, làm thế nào để học sinh nói và viếtTiếng Việt được tốt hơn Sau một năn nghiêm cứu, tôi xin đề xuất một số giảipháp sau

Trang 5

đề cần học thông qua các tranh ảnh, câu chuyện nhằm lôi cuốn, giúp các em cóvốn hiểu biết về chủ đó Từ đó giúp học sinh nắm vững yêu cầu của đề bài.

- Khi nắm vững yêu cầu của đề bài học sinh định hình cụ thể đối tượngnói hay viết trong trí nhớ đồng thời biết đối tượng đó là ai? Là gì? ở đâu? Lúcnào? vào khung chủ đề Trong trường hợp dùng vật thật hay tranh ảnh thìkhung chủ đề cũng chính là chúng

Ví dụ 1: - Khi dạy về chủ đề: “Gia đình” giáo viên có thể dùng tranh, ảnh sau:

- Mọi người trong gia đình như thế nào?

+ HS: Mọi người trong gia đình rất vui vẻ, quan tâm chăm sóc lẫn nhau

Tương tự với các tranh còn lại

Trang 6

- GV KL và chỉ tranh giới thiệu :

Mỗi người đều có một gia đình của mình, nơi đó có những người thân yêunhư: ông, bà, bố, mẹ, bạn nhỏ và em bé Cũng có những gia đình chỉ có bố mẹ

và con cái Qua mỗi bức tranh các em cũng có thể cảm nhận được mọi ngườitrong gia đình yêu thương nhau và rất hạnh phúc

- Bằng những cảm nhận, hiểu biết về gia đình của mình các em hãy suynghĩ để cùng nói, viết về gia đình của mình trong chủ đề học ngày hôm nay

* Như vậy: Với cách giới thiệu gợi mở đề tài như vậy giáo viên sẽ giúp học sinhnắm vững được yêu cầu của chủ đề cần luyện kể, nói, viết Từ đó học sinh dễdàng liên tưởng đến gia đình của mình và cũng giúp các em dễ dàng hoàn thànhyêu cầu của bài học

Ví dụ 2: - Nói, viết về chủ đề “Thể thao”, giáo viên có thể lựa chọn những bứcảnh về một số môn thể thao, cho học sinh quan sát

Trang 7

- Học sinh kể tên về các môn thể thao có trong tranh.

- Tương tự như chủ đề gia đình giáo viên cũng gợi mở đề tài của bài họcgiúp học sinh hiểu rõ yêu cầu đề bài và từ tranh ảnh học sinh dễ dàng nắm bắtnội dung, từ ngữ cần thiết liên quan đến bài học

2.3.2.Giải pháp 2: Giúp học sinh lập bản đồ tư duy và hình thành kĩ năng sử dụng trong kể, nói, viết về một chủ đề.

Để có bản đồ tư duy (hay sơ đồ tư duy) phục vụ cho tiết dạy giáo viênphải có sự chuẩn bị kỹ, phải suy nghĩ, tìm tòi đặc biệt là các từ ngữ phục vụ theoyêu cầu của từng chủ đề Khi thiết kế cần phải đảm bảo đúng kiến thức của từngbài, từng chủ đề, đảm bảo tính thẩm mỹ

* Hướng dẫn lập bản đồ tư duy: Có thể hiểu bước lập bản đồ tư duy cũng chính

là bước hướng dẫn học sinh lập dàn ý để chuẩn bị cho phần kể, nói, viết theochủ điểm

Yêu cầu học sinh: + Nghĩ trước khi viết

+ Viết ngắn gọn

+ Viết có tổ chức

+ Viết theo ý của mình, có chừa khoảng trống để bổ sung Giáo viên làm mẫu, hướng dẫn học sinh thao tác vẽ khung trung tâm và viếtchủ đề vào khung trung tâm này Sau đó yêu cầu học sinh sử dụng vốn từ ngữ đãthu thập được qua quá trình chuẩn bị để tự hoàn thành bản đồ tư duy của chínhmình Từ bức ảnh trung tâm hoặc từ Chủ đề, học sinh có thể chia thành nhiềunhánh, mỗi nhánh là một ý chính, từ ngữ có liên quan đến chủ đề Từ nhánhchính học sinh vẽ thêm các nhánh nhỏ với các từ ngữ để miêu tả cho ý chính đãnêu Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản

đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi học sinh vẽ một kiểu khácnhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đềnhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng “Bản đồ tư duy” theo một cáchriêng, do đó việc lập bản đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo củamỗi học sinh

Trang 8

Ví dụ: - Đây là khung sơ đồ tư duy thiết kế sẵn có khung trung tâm và

- Từ khung sơ đồ đơn giản này học sinh viết tên chủ đề vào khung trungtâm, tìm các từ ngữ chính có liên quan đến chủ đề điền vào các nhánh chính.Học sinh có thể tìm các từ ngữ miêu tả cho các sự vật ở nhánh chính thì vẽ thêmnhánh phụ

* Hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập làm văn:

- GV có thể thiết kế sơ đồ tư duy trống hoặc có thể để học sinh tự lập bản đồ viếtchủ đề bài học, yêu cầu học sinh suy nghĩ, thảo luận để điền từ trọng tâm có liênquan đến chủ đề

Khi có được các thiết kế rồi giáo viên chú trọng đến việc hướng dẫn họcsinh hình thành các kỹ năng sử dụng nó để xây dựng ý và lập dàn ý cho bài văn

- Với mỗi chủ đề giáo viên đưa bản đồ tư duy để học sinh tập trung độngnão nghĩ về đối tượng đã xác định trong khung chủ đề và viết ra bất kì những từngữ nào liên quan đến đối tượng ấy Khi tiến hành hoạt động này GV cần sửdụng một trong các bước sau:

- Sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh pháttriển ý Cần lưu ý câu hỏi phải có tính chất mở, hướng đến việc khơi gợi kinhnghiệm riêng của các em

Ví dụ đối với văn miêu tả, câu hỏi có thể được triển khai theo hướng mở sau:

Em thấy gì? Em nghe gì? Em nghĩ gì? Em cảm thấy gì?

- Đưa ra một khung sơ đồ trong đó cho sẵn vài ý, phần còn lại để học sinhsuy nghĩ và đưa thêm ý vào để hoàn thành sơ đồ (khung sơ đồ có thể được trìnhbày dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo nội dung từng bài : Bông hoa,chùm bong bóng, mạng nhện, một cây với những cành lá

- Học sinh viết các ý dưới dạng từ hay cụm từ xung quanh chủ đề Giáo viêntuyệt đối tránh viết chốt lại một số từ về đề bài Cần xoá đi những ý đã được ghilên bảng trong giai đoạn làm mẫu nghĩa là khi học sinh làm việc cá nhân trongphiếu học tập thì trên bảng chỉ còn lại khung mạng trống

Chủ đề

Trang 9

Đồng thời để hướng dẫn cho học sinh có kỹ năng sử dụng sơ đồ tư duyphải giúp học sinh đảm bảo các bước sau:

Bước 1: Động não ý tưởng:

Để xây dựng bài kể, nói có sáng tạo là nên để người học đóng vai trò chínhtrong việc tìm hiểu nội dung chủ đề Giáo viên cung cấp chủ đề cho học sinh,yêu cầu học sinh liệt kê các ý tưởng quanh chủ đề đó

Bước 2: Phân loại ý tưởng:

Trong bước này học sinh bắt đầu tìm mối liên kết giữa các ý tưởng và phân loạichúng sao cho bản đồ tư duy trở nên có hệ thống và dễ dàng phân tích

Bước 3: Ghi chép và trình bày ý tưởng:

Ghi chép và trình bày ý tưởng bằng bản đồ tư duy một cách trực quan sinhđộng

- Ví dụ như: khi dạy Tiết Tập làm văn về chủ đề: “Gia đình”, giáo viên có thểđưa ra từ khóa "Gia đình" làm từ trung tâm, sau đó từng học sinh sẽ lên vẽnhánh điền các từ ngữ để nói về từng người trong gia đình của mình bằng những

từ trọng tâm có liên quan đến chủ đề Tương tự mời học sinh tiếp theo khác lên

vẽ nhánh và điền thêm các từ khác hoặc có thể bổ sung thêm từ mà các bạn đãxây dựng trước đó Lần lượt như vậy, sau cùng chúng ta sẽ có một bản đồ hoànchình Giáo viên cũng cỏ thể chuẩn bị sẵn hoặc lấy một bản đồ tư duy mà cả lớp

đã tham gia chinh sửa hoàn chinh để học viên trình bày, thuyết minh

- Đây là sơ đồ tư duy sau khi được học sinh hoàn thiện

* Như vậy với việc hướng dẫn học sinh lập sơ đồ tư duy của một bài kể, nói,

viết đoạn, bài văn ở lớp 3 này là giáo viên đã giúp học sinh lập dàn ý, một sườn

cơ bản của bài văn Từ đó học sinh có thể dễ dàng kể, nói, viết đoạn văn, bàivăn

Ông, bà,

bố mẹ,

Anh, chị, em…

Sinh viên, học sinh,…

Trang 10

2.3.3.Giải pháp 3: Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học dạng bài kể, nói, viết theo chủ đề.

- Sử dụng bản đồ tư duy dạng lược đồ:

Đối với dạng văn kể hay nói, viết theo chủ đề là một đề tài khó đối vớihọc sinh lớp 3, chính vì vậy khi dạy dạng bài này để tiết học có hiệu quả, họcsinh có kỹ năng kể, nói, viết một cách có trình tự, logic theo chủ đề thì ngườigiáo viên sử dụng bản đồ tư duy (hay sơ đồ tư duy) như một phương tiện trựcquan trong các tiết tập làm văn

Ví dụ: Khi dạy tiết Tập làm văn về chủ đề “Quê hương”

Giáo viên yêu cầu học sinh đọc yêu cầu bài tập Giáo viên giúp học sinh hiểu đềbài

- Giáo viên phát bảng nhóm vẽ sẵn sơ đồ tư duy; yêu cầu học sinh thảo luậnnhóm, tìm từ ngữ trọng tâm, có liên quan đến chủ đề: “Quê hương” vào trong sơ

đồ theo các gợi ý:

+ cảnh đẹp ở quê hương em ở đâu?

+ Cảnh đó có gì đẹp?

+ Yêu quê hương, em làm những gì để quê hương ngày càng thêm đẹp?

Sau khi học sinh điền từ xong được như bảng trên, giáo viên cho học sinhlựa chọn quê hương em ở thành thị hay nông thôn Hướng dẫn HS viết các từngữ chỉ cảnh vật ở các nhánh chính; tìm các hình ảnh so sánh, gợi tả để điền vàocác nhánh phụ,…; tiếp tục tìm các từ ngữ nói lên tình cảm của mình…với nơimình đang ở Sau khi tìm các từ ngữ xong giáo viên hướng dẫn học sinh nêumiệng các câu mà mình lập được Ban đầu có thể chưa theo một trình tự nhấtđịnh nhưng các em phải nói trọn vẹn câu Sau đó, mới yêu cầu học sinh tự sắpxếp các câu sao cho hợp lí hơn

- Học sinh sắp xếp các câu vừa đặt thành một đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh

- GV bao quát lớp đặc biệt là chú ý học sinh trung bình và yếu để giúp các emđiều chỉnh

- Yêu cầu học sinh sau khi viết xong, tập kể trong nhóm

Nhà cao tầng, siêu thị,

Xe cộ đi lại đông đúc,

Trang 11

- Trình bày trước lớp: Đại diện các nhóm, học sinh lên kể, nói trước lớp.

Học sinh lớp 3B thảo luận nhóm hoàn thiện sơ đồ tư duy trong tiết Tập làm văn

Ví dụ: - Tiết tập làm văn: Kể về người hàng xóm (TV3 tập1 SGK T68)

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc yêu cầu bài tập Giáo viên giúp học sinh hiểu

đề bài

- Yêu cầu học sinh suy nghĩ về người hàng xóm:

+ Người đó là ai?

+ Làm công việc gì?

+ Tình cảm của người đó đối với gia đình em?

+ Tình cảm của em đối với người hàng xóm…?

- Giáo viên phát bảng nhóm vẽ sẵn sơ đồ tư duy; yêu cầu học sinh thảo luậnnhóm, tìm từ ngữ trọng tâm, có liên quan đến người hàng xóm vào trong sơ đồ.Giáo viên hướng dẫn Học sinh nhìn vào sơ đồ suy nghĩ, hồi tưởng về chủ đề, đặtcâu cho từng từ ngữ vừa tìm được đã được đánh dấu theo thứ tự

1,2,3 để học sinh có thể dễ nhận biết sự việc nào nói trước, viết trước, sự vậtnào nói sau, viết sau

Sau khi tìm các từ ngữ xong giáo viên hướng dẫn học sinh nêu miệng các câu

mà mình lập được Sau đó, mới yêu cầu học sinh tự sắp xếp các câu sao cho hợp

- Yêu cầu học sinh sau khi viết xong, tập kể trong nhóm

- Trình bày trước lớp: Đại diện các nhóm, học sinh lên kể trước lớp

Trang 12

- Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu miệng các câu mà mình lập được Sau đó,mới yêu cầu học sinh tự sắp xếp các câu sao cho hợp lí hơn Đồng thời, giáoviên yêu cầu các học sinh khác lắng nghe để chỉnh sửa cách dùng từ, đặt câu chocác bạn Giáo viên chỉ là cố vấn, trọng tài để các em tự hoàn thiện được bản đồ

tư duy, hình thành được đoạn văn

- Giao việc về nhà: Từ bản đồ tư duy mà các em lập được ở lớp, giáo viên yêucầu học sinh viết thành đoạn văn theo chủ điểm chuẩn bị cho tiết Tập làm vănviết

Học sinh đang hoàn thiện bài trên sơ đồ tư duy và trình bày trước lớp.

* Lưu ý: Khi hướng dẫn học sinh điền từ vào sơ đồ tư duy, giáo viên cần lưu ýhọc sinh tìm các từ khóa, từ trọng tâm, từ làm điểm tựa để dùng phát triển thànhcâu, thành ý từ đó học sinh dễ dàng phát triển thành đoạn, bài văn ngắn

Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tìnhcảm, ý kiến nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học Songsong với quá trình đó giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trảlời của bạn để học sinh rút ra được những câu trả lời đúng, cách ứng xử hay Từ

đó giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn kĩ năng diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câu văn

có hình ảnh, có cảm xúc Trên cơ sở đó, bài văn của các em sẽ trôi chảy, sinhđộng, giàu cảm xúc đồng thời hình thành cho các em cách ứng xử linh hoạttrong cuộc sống

Trang 13

- Sử dụng bản đồ tư duy dạng tranh ảnh :

Ngoài việc sử dụng bản đồ tư duy nêu trên, trong khi dạy tập làm văn lớp

3, chúng ta sử dụng bản đồ tư duy hình ảnh Bản đồ tư duy hình ảnh là mộtphương tiện trực quan, muốn xây dựng được nó để dạy tập làm văn, người giáoviên cũng phải suy nghĩ, tìm tòi đặc biệt là các từ ngữ phục vụ theo yêu cầu củatừng chủ đề, đề bài Giáo viên thiết kế bản đồ tư duy cần phải đảm bảo đúngkiến thức của từng bài, từng chủ đề và đảm bảo tính thẩm mĩ để qua đó học sinhtiếp nhận kiến thức bài một cách tích cực và mang lại hiệu quả giờ học cao hơn

Ví dụ: cũng về chủ đề Gia đình ta sử dụng bản đồ tư duy hình ảnh sau:

Với bản đồ tư duy này giáo viên cũng hướng dẫn học sinh tương tự như

đối với bản đồ hình tròn trên

Ưu điểm của bản đồ tư duy hình ảnh là từ tranh ảnh thật học sinh dễ dàngliên tưởng, liên hệ đến các mối quan hệ của những người có trong gia đình hơnbản đồ tư duy dạng lược đồ Tuy nhiên việc chuẩn bị sẽ công phu và mất nhiềuthời gian hơn

Trang 14

Qua bản đồ tư duy này, học sinh sẽ dựa vào các dữ liệu( các từ ngữ phục

vụ cho đề bài) để hoàn thành bài nói về quê hương dễ dàng hơn

* Như vậy trong quá trình xây dựng và hoàn thiên bản đồ tư duy, học sinh đượcrèn kỹ năng lập dàn ý 1 đoạn văn, bài văn ngắn, học sinh được biết thêm nhiềuvốn từ ngữ của mình và vốn từ của (nhóm bạn) thông qua một chủ đề nào đó,đồng thời cũng được giáo viên sửa cách dùng từ trong từng văn cảnh Mặt khác,với sự giúp đỡ của giáo viên và nhận xét từ các bạn cùng lớp các ý được sắp xếp

và trình bày có hệ thống chứ không lan man, lạc đề

* Có thể nói, sử dụng bản đồ tư duy sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ýtưởng, tìm tòi xây dựng kiến thức mới Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng với màusắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của mỗi người, bản đồ tư duy giúp bộ nãoliên tưởng, liên kết các kiến thức đã học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống

để phát triển, mở rộng ý tưởng Sau khi học sinh tự thiết lập bản đồ tư duy kếthợp việc thảo luận nhóm dưới sự gợi ý, dẫn dắt của giáo viên dẫn đến kiến thúccủa bài học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên

2.3.4.Giải pháp 4: Giúp học sinh biết cách liên tưởng và diễn đạt ý thành đoạn văn, bài văn

Một trong yếu tố quan trọng để giờ dạy Tập làm văn thành công là giúphọc sinh biết liên tưởng và diễn đạt

- Hướng dẫn học sinh liên tưởng, tưởng tượng: Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi

nên đa số bài văn của học sinh lớp 3 có ý tưởng chưa phong phú, sáng tạo, các

em thường trình bày hạn hẹp trong khuôn khổ nhất định Nếu trong một bài Tậplàm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng những gì đã quan sát; hoặcthực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưngkhông có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe Vì vậy, với từng đề bàigiáo viên nên có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởngtượng thêm những chi tiết một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sửdụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày bài văngiàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo Trí tưởng tượng, liên tưởng ở học sinh lứatuổi này rất hồn nhiên ngây thơ và ngộ nghĩnh, cho nên để rèn luyện kĩ năng nàycho học sinh, giáo viên có thể chuẩn bị những câu, đoạn văn hay cho học sinhtham khảo, học hỏi làm phong phú thêm vốn kiến thức cho các em

Ví dụ: Khi dạy về chủ đề: Nói về cảnh đẹp đất nước: Cảnh biển Phan Thiết

Khi học sinh xác định được yêu cầu đề bài nói về cảnh đẹp của một bãi biểnPhan Thiết

- Giáo viên đưa ảnh chụp cảnh biển ở Phan Thiết:

Trang 15

- Yêu cầu HS quan sát ảnh và lần lượt trả lời câu hỏi sau:

+ Ảnh chụp cảnh gì? ở nơi nào? (Cảnh biển ở Phan Thiết.)

+ Màu sắc của cảnh vật trong ảnh ? (Trời trong xanh Mặt biển xanh màu ngọcbích Núi xanh lam Rặng dừa ven bờ xanh rì Bãi cát trắng )

+ Cảnh trong bức ảnh có gì đẹp? cảm nhận của em về cảnh vật đó? (Quangcảnh biển thật là đẹp vì có núi và biển kề bên nhau…

+ Cảnh trong bức ảnh gợi cho em suy nghĩ gì? (Em rất thích/ Em rất tự hào vìđất nước mình có nhiều cảnh đẹp Em muốn được đến ngắm cảnh biển…)

- Gọi HS nói lại toàn bộ theo gợi ý GV theo dõi, cùng HS khác chỉnh

- 1 HS nói theo gợi ý; các HS khác sửa cho HS nói về các dùng từ (nếu lắngnghe, nhận xét và bổ sung (nếu cần)

GV biểu dương học sinh nói tốt, Bình chọn bạn nói hay, chỉnh sửa cho nhữnghọc sinh còn mắc lỗi về dùng từ, đặt câu

- Hướng dẫn học sinh cách diễn đạt ý thành đoạn văn, bài văn.

Sau khi học sinh suy nghĩ, viết tất cả những từ ngữ có liên quan đến chủ

đề mình viết, hoàn thành sơ đồ tư duy

- Giáo viên hướng dẫn học sinh đánh số thứ tự cho các ý tìm được, lưu ýtrình tự chung của thể loại văn đang làm và hướng dẫn có tích chất mở (đoạnvăn miêu tả thì lưu ý những chi tiết nào có ý nghĩa giới thiệu chung thì viếttrước, ý nào miêu tả chi tiết, cụ thể thì viết sau)

- Mỗi học sinh xem lại các ý trong sơ đồ và đánh số thứ tự

- Gọi vài học sinh lên thể hiện sơ đồ của mình đã làm trước lớp để cả lớptheo dõi việc làm mẫu của một số học sinh Ngoài khung sơ đồ làm mẫu, GV vẽsẵn trên bảng các sơ đồ tương tự và che chúng lại Sau khi HS đã tìm ý và hìnhthành sơ đồ trong phiếu bài tập, giáo viên cho một số em lên thể hiện lại ý củamình vào các sơ đồ trên bảng

Ngày đăng: 08/08/2019, 14:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w