1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số KHÓ KHĂN, THUẬN lợi SAU KHI sát NHẬP mô HÌNH TRUNG tâm KIỂM SOÁT BỆNH tật của 6 TỈNH VIỆT NAM và GIẢI PHÁP đảm bảo NGUỒN NHÂN lực PHÒNG CHỐNG HIVAIDS

60 240 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 463,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐOÀN THỊ NGỌC HÀMỘT SỐ KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI SAU KHI SÁT NHẬP MÔ HÌNH TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT CỦA 6 TỈNH VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO NGUỒN NHÂN LỰC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS Chuyên ngàn

Trang 1

ĐOÀN THỊ NGỌC HÀ

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI SAU KHI SÁT NHẬP

MÔ HÌNH TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT CỦA

6 TỈNH VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

NGUỒN NHÂN LỰC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI – 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

ĐOÀN THỊ NGỌC HÀ

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI SAU KHI SÁT NHẬP

MÔ HÌNH TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT CỦA

6 TỈNH VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

NGUỒN NHÂN LỰC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

Chuyên ngành: Y học dự phòng

Mã Số: 8720163

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Văn Huy

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

(Acquired Immune-Deficiency Symptom) ARV Thuốc điều trị kháng virut HIV

HIV Virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch

(Human Immune-Deficiency Virus) MMT Liệu pháp điều trị thay thế bằng Methadone

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về mô hình trung tâm kiểm soát bệnh tật 3

1.1.1 Trên thế giới 3

1.1.2 CDC Việt Nam 6

1.2 Tổng quan về công tác phòng chống HIV/AIDS 12

1.3 Tổng quan về nguồn nhân lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS 15

1.3.1 Khái niệm nguồn nhân lực y tế: 15

1.3.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần của hệ thống y tế 16

1.3.3 Thực trạng nhân lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS 18

1.3.4 Những thách thức trong công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS 20 1.3.5 Các văn bản, chính sách tác động đến nhân lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS 22

1.4 Tình hình 6 tỉnh thực hiện nghiên cứu 27

1.4.1 Tình hình kinh tế xã hội 27

1.4.2 Hệ thống y tế 28

1.5.3 Tình hình dịch HIV/AIDS tại 6 tỉnh nghiên cứu 28

CHƯƠNG 2 30ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 30

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 30

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 31

Trang 5

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin 33

2.5.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 34

2.6 Phân tích số liệu 34

2.7 Sai số và cách khống chế sai số 34

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35

CHƯƠNG 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ 36

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 36

3.2 Một số thuận lợi/Khó khăn trong công tác phòng chống HIV/AIDS khi sát nhập mô hình CDC 36

3.2 Phân tích một số giải pháp nhằm đảm bảo nguồn nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS trong quá trình sáp nhập, triển khai mô hình Trung tâm kiểm soát bệnh tật tuyến tỉnh 37

3.2.1 Các giải pháp được đề xuất 37

3.2.2 Phân tích các giải pháp 37

CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 38

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 39

DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức CDC Hoa Kỳ 5

Hình 1.2 Một số thay đổi về mô hình tổ chức y tế địa phương 7

Hình 1.3 Định nghĩa cán bộ y tế 16

Hình 1.4 Khung Hệ thống y tế Việt Nam 17

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều năm qua, công tác phòng, chống HIV/AIDS đã và đangđược Chính phủ luôn luôn quan tâm lãnh đạo chỉ đạo tích cực triển khai, tổchức thực hiện Quyết định số 608/QĐ-TTg của Chính phủ năm 2012 khẳngđịnh: “Phòng, chống HIV/AIDS phải được coi là một nhiệm vụ quan trọng,lâu dài…” Trong đó, nguồn nhân lực phòng chống HIV/AIDS là một trongnhững cấu phần quan trọng trong cung cấp dịch vụ để đảm bảo sự sẵn có dịch

vụ, độ bao phủ dịch vụ, và chất lượng của dịch vụ trong phòng chốngHIV/AIDS [1] Năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 33/2007/QĐ-BYT chỉ đạo cụ thể hơn về tăng cường nhân lực cho công tác này [2] [3].Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn

2020 của Chính phủ [3] [4] tuy không cụ thể hóa về nhân lực cho phòngchống HIV/AIDS nhưng là yếu tố nguyên lý, chỉ đạo, thúc đẩy, định hướngcho phát triển nhân lực phòng chống HIV/AIDS

Hiện nay, một trong những thay đổi về hệ thống y tế có tác động đếncông tác phòng chống HIV/AIDS và nguồn nhân lực của hệ thống, đó là Bộ Y

tế đã ban hành các văn bản, chính sách bổ sung để cụ thể hóa việc triển khaiTrung tâm Kiểm soát dịch bệnh tật cấp tỉnh (CDC tỉnh) Ngày 11/12/2015, Bộtrưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số51/2015/TTLT-BYT-BNV, hướng dẫn các tỉnh thực hiện mô hình Trung tâmKiểm soát bệnh tật ở tuyến tỉnh trên cơ sở sáp nhập các trung tâm có cùngchức năng thuộc lĩnh vực y tế dự phòng, trong đó có Trung tâm phòng chốngHIV/AIDS [4] Thông tư số 26/2017/TT-BYT hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu của Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh tật tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương, yêu cầu Sở Y tế chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụtrình tỉnh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định và thời gian thành lập CDC

Trang 8

tôn trọng việc tái cơ cấu rộng hơn và lộ trình chi tiết của hệ thống y tế ViệtNam, với thời gian hội nhập vào ngày 1 tháng 1 năm 2021 [5].

Sự thay đổi này mang tính đột phá trong tổ chức hệ thống y tế dự phòng(YTDP), tuy nhiên nó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đên hoạt động phòng chốngHIV/AIDS nói chung và nguồn nhân lực y tế trong công tác phòng chốngHIV nói riêng, từ việc là một trung tâm trở thành một khoa của CDC tuyếntỉnh Thêm vào đó, trong bối cảnh hiện nay, sự hỗ trợ của quốc tế giảm đi khiViệt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình lại càng đặt ra thách thức đốivới ngành y tế của Việt Nam trong việc duy trì hiệu quả nguồn nhân lực choứng phó với HIV [5]

Mặc dù, đã có một số nghiên cứu trước đây về phòng, chống HIV/AIDSnhưng từ khi triển khai mô hình CDC tuyến tỉnh, cũng chưa có nghiên cứu cụthể nào được báo cáo Các câu hỏi được đặt ra là công tác phòng chống HIV/AIDS hiện nay gặp những khó khăn và thuận lợi gì sau khi sáp nhập CDCtỉnh, đặc biệt là cần có giải pháp để duy trì nguồn nhân lực của công tácphòng chống HIV/AIDS? Để có những nhận định đúng hơn về công tácphòng chống HIV/AIDS trong mô hình mới và định hướng phát triển nhân

lực tốt hơn cho công tác này, nghiên cứu “Một số khó khăn, thuận lợi sau

khi sát nhập mô hình trung tâm kiểm soát bệnh tật của 6 tỉnh Việt Nam và giải pháp đảm bảo nguồn nhân lực phòng chống HIV/AIDS” được tiến

hành nhằm các mục tiêu sau:

1 Mô tả một số khó khăn và thuận lợi trong công tác phòng, chống HIV/ AIDS sau khi sát nhập mô hình trung tâm kiểm soát bệnh tật của 6 tỉnh Việt Nam năm 2018.

2 Phân tích một số giải pháp nhằm đảm bảo nguồn nhân lực phòng, chống HIV/AIDS trong quá trình sát nhập mô hình trung tâm kiểm soát bệnh tật của 6 tỉnh nêu trên.

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về mô hình trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC)

Kỳ và Puerto Rico [6]

Cơ quan này bắt nguồn từ một cơ quan trong thời chiến, là cơ quanphòng chống sốt rét tại các khu vực chiến sự Với ngân sách ban đầu lúc đókhoảng 1 triệu đô, 59% nhân sự cơ quan tham gia chống sốt rét bằng thuốc trừsâu DDT và kiểm soát vùng dịch Trong tổng số 369 nhân viên, các vị trí chủchốt tại CDC trước là chuyên gia về côn trùng Người sáng lập của CDC làtiến sĩ Joseph Mountin tiếp tục vận động cho các vấn đề y tế công cộng và mởrộng trách nhiệm của CDC sang các bệnh truyền nhiễm [7]

Nhiệm vụ của CDC tiếp tục mở rộng, từ phòng chống sốt rét sang bệnhhoa liễu (ngày nay gọi là bệnh lây qua đường tình dục - STD) khi cơ quanphòng bệnh hoa liễu của Dịch vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ (United StatesPublic Health Service) sát nhập vào CDC năm 1957 Không lâu sau đó, Cơquan kiểm soát lao cũng sát nhập vào CDC từ PHS năm 1960, và sau đó, năm

1963, chương trình tiêm chủng được thành lập [6] Hiện nay CDC tập trung

mở rông sang các bệnh mạn tính, phòng chống chấn thương, an toàn lao động,

Trang 10

sức khỏe môi trường, phòng chống khủng bố CDC tiên phong trong mặt trậnchống các bệnh và các nguy cơ sức khỏe, bao gồm cả khiếm khuyết di truyền,virus sông Nile, béo phì, cúm gà, E.coli, tai nạn xe hơi và khủng bố [7].

- Nhiệm vụ:

Nhiệm vụ của CDC là thực hiện công tác y tế công cộng và an toànthông qua việc cung cấp thông tin giúp nâng cao sức khỏe cùng với các bộtrong liên bang Hoa Kỳ và các tổ chức khác CDC tập trung vào việc pháttriển và ứng dụng hệ thống phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật (nhất là bệnhtruyền nhiễm), sức khỏe môi trường, y tế nghề nghiệp, nói chung là các hoạtđộng ngăn ngừa các căn bệnh và giáo dục y tế phổ quát giúp nâng cao sứckhỏe người dân Hoa Kỳ [6]

- Nhân lực:

Nhân sự trong CDC gồm có kỹ sư, chuyên gia côn trùng học, chuyên giadịch tễ học, chuyên gia sinh học, bác sĩ, bác sĩ thú y, chuyên gia khoa học vềhành vi, y tá, kỹ thuật viên y học, chuyên gia kinh tế, chuyên gia y tế côngcộng, chuyên gia độc chất, nhà hóa học, chuyên gia máy tính và thống kê [7].Hơn một phần ba nhân viên của CDC là người thiểu số và dân tộc, nữgiới chiếm gần 60 phần trăm Gần 40% có bằng thạc sĩ, 25% có bằng tiến sĩ

và 10% có bằng bác sĩ Tuổi trung bình nhân viên ở CDC là 46 [7]

- Cơ cấu tổ chức

Trang 11

Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức CDC Hoa Kỳ (Nguồn: cdc.org [6])

Hình trên mô tả cơ cấu tổ chức của CDC Hoa Kỳ Theo đó, CDC Hoa

Kỳ được chia làm 2 khối chính: Khối văn phòng và khối chuyên môn Trong

đó, khối chuyên môn được chia thành 5 bộ phận: i) Viện quốc gia về an toàn

và sức khỏe nghề nghiệp (NIOSH); ii) Dịch vụ Y tế Công cộng và Khoa họcThực hiện (DDPHSIS); iii)bộ phận Khoa học và Giám sát Sức khỏe Cộngđồng (DDPHSS); iv) bộ phận các bệnh không truyền nhiễm (DDNID) và v)

Bộ phận về bệnh truyền nhiễm (DDID)

Trung tâm quốc gia phòng chống HIV / AIDS, viêm gan virut, STD vàphòng chống lao (NCHHSTP) nằm trong khối cơ quan về bệnh truyền nhiễm

Trang 12

1.1.1.2 CDC trên thế giới

Sau khi thành lập, CDC Hoa Kỳ đã trở thành chuẩn mực để kiểm soát vàphòng ngừa dịch bệnh và cung cấp các nguồn lực, giám sát và nghiên cứu trêntoàn thế giới

Hầu hết các nước phát triển khác, bao gồm các quốc gia công nghiệp hóanhư Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, đã thành lập các trung tâm quản lý khoahọc và lãnh đạo các bệnh truyền nhiễm và các mối đe dọa khác [8]

Những quốc gia có trung tâm kiểm soát dịch bệnh cũng tham gia vào các

dự án và lãnh đạo toàn cầu Có nhiều ví dụ về CDC hoạt động để cải thiện sứckhỏe và hạnh phúc của mọi người trên khắp thế giới và xây dựng năng lực y

tế công cộng để chuẩn bị và ứng phó với các bệnh truyền nhiễm và các mối đedọa sức khỏe mới nổi [8]

1.1.2 CDC Việt Nam

Theo Kế hoạch Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giaiđoạn 2016 - 2020, nhiệm vụ thứ nhất liên quan đến quản trị hệ thống y tế làĐổi mới và hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế từ trung ương đến địa phươngsau khi Quy hoạch phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2025 được phêduyệt theo hướng giảm đầu mối, phù hợp với hội nhập quốc tế nhằm sử dụng

có hiệu quả nguồn lực ở các tuyến Trong đó có 3 nhiệm vụ cụ thể được nêutrong Dự thảo Quy hoạch, gồm: (i) sáp nhập bệnh viện (BV) huyện và TTYThuyện thành TTYT có 2 chức năng là phòng bệnh, khám chữa bệnh (KCB) vàquản lý các trạm y tế xã; (ii) từng bước sáp nhập các trung tâm, đơn vị làmnhiệm vụ dự phòng tuyến tỉnh thành Trung tâm kiểm soát bệnh tật tuyến tỉnh(CDC), chuyển nhiệm vụ điều trị sang các bệnh viện; (iii) sáp nhập các đơn vịkiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, vắc-xin, sinh phẩm y tế, ATTP, TTBYT ởtrung ương thành đơn vị kiểm nghiệm, quản lý chất lượng thực phẩm và dượcphẩm Thành lập một số trung tâm kiểm nghiệm vùng [6] Thực hiện theo kế

Trang 13

hoạch này, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số51/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế và Phòng Y tế huyện [4] Đây là vănbản pháp lý quan trọng để tổ chức y tế địa phương tinh gọn, hiệu quả, đảmbảo sự phối hợp, tính liên tục trong cung ứng dịch vụ y tế (DVYT) Thông tư

51 quy định “ thực hiện mô hình Trung tâm Kiểm soát bệnh tật ở tuyến tỉnhtrên cơ sở sáp nhập các trung tâm có cùng chức năng; các trung tâm chuyênkhoa, trung tâm có giường bệnh chuyển về bệnh viện đa khoa tỉnh hoặc thànhlập bệnh viện chuyên khoa khi có nhu cầu và có đủ điều kiện về nguồn lực”.Đây là điểm mới có tính đột phá trong tổ chức hệ thống y tế dự phòng(YTDP) Tính đến tháng 10/2016, đã có 23 tỉnh được UBND tỉnh ban hànhquyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của

Sở Y tế, trong đó 17 tỉnh quy định thực hiện Trung tâm kiểm soát bệnh tật ởtuyến tỉnh [6] Thực tế hiện nay, đã có 32 tỉnh, thành phố trên cả nước thànhlập CDC tuyến tỉnh

Hình 1.2 Một số thay đổi về mô hình tổ chức y tế địa phương

Trang 14

- Chức năng:

Ngày 26/06/2017, Bộ Y tế ban hành thông tư số 26/2017/TT-BYT [9]hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâmKiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Trung tâm Kiểmsoát bệnh tật tỉnh)

Theo Thông tư, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh là đơn vị sự nghiệp y

tế công lập trực thuộc Sở Y tế, có tư cách pháp nhân, trụ sở, con dấu, tàikhoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng theo quy định của pháp luật.Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh có chức năng tham mưu và tổ chứcthực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ (gọi tắt là các hoạtđộng chuyên môn) về phòng, chống dịch, bệnh truyền nhiễm; bệnh không lâynhiễm; phòng, chống tác động của các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sứckhỏe; quản lý sức khỏe cộng đồng; khám phát hiện, điều trị dự phòng và cácdịch vụ y tế khác phù hợp với lĩnh vực chuyên môn trên địa bàn tỉnh theo quyđịnh của pháp luật

2 Thực hiện các hoạt động chuyên môn, chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý,kiểm tra, giám sát phòng, chống bệnh không lây nhiễm (các bệnh ung thư, timmạch, đái tháo đường, phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, tâm thần và

Trang 15

các bệnh không lây nhiễm khác), bệnh do rối loạn chuyển hóa, bệnh nghềnghiệp; sức khỏe trường học, bệnh, tật học đường; tác động của các yếu tốnguy cơ và tình trạng tiền bệnh; tầm soát, sàng lọc, quản lý các bệnh khônglây nhiễm tại cộng đồng.

3 Thực hiện các hoạt động chuyên môn, chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý,kiểm tra giám sát phòng, chống rối loạn dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng; dinhdưỡng tiết chế, dinh dưỡng trong phòng chống các bệnh không lây nhiễm; cảithiện tình trạng dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em, dinh dưỡng cộng đồng; phối hợpthực hiện các hoạt động nâng cao tầm vóc và thể trạng con người Việt Nam

4 Thực hiện các hoạt động chuyên môn, chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý,kiểm tra giám sát phòng, chống các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu tácđộng tới sức khỏe cộng đồng; bảo vệ môi trường đối với các cơ sở y tế, môitrường điều kiện vệ sinh lao động, môi trường điều kiện vệ sinh trường học;chất lượng nước ăn uống và nước sinh hoạt; vệ sinh nhà tiêu hộ gia đình;tham gia các hoạt động phòng chống thiên tai thảm họa, tai nạn thương tích;phối hợp hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng, hỏa táng

5 Thực hiện các hoạt động kiểm dịch y tế; thu thập thông tin, giám sát,kiểm tra, xử lý y tế và cấp chứng nhận cho các đối tượng kiểm dịch y tế; sửdụng con dấu tiếng Anh về kiểm dịch y tế trong hoạt động kiểm dịch y tế biêngiới theo phân công, phân cấp và theo quy định của pháp luật

6 Thực hiện các hoạt động chuyên môn, chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý,kiểm tra, giám sát các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật về sức khỏe sinh sản;chăm sóc sức khỏe phụ nữ, bà mẹ; sức khỏe trẻ sơ sinh, trẻ em; sức khỏe sinhsản vị thành niên, thanh niên, nam giới và người cao tuổi; dịch vụ kế hoạchhóa gia đình; phá thai an toàn theo phạm vi chuyên môn kỹ thuật được phêduyệt; phòng, chống nhiễm khuẩn và ung thư đường sinh sản; phối hợpphòng, chống bệnh lây truyền qua đường tình dục

Trang 16

7 Thực hiện các hoạt động chuyên môn, chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý,kiểm tra, giám sát quản lý sức khỏe cộng đồng, sức khỏe người cao tuổi, sứckhỏe người lao động; thực hiện các hoạt động quản lý sức khỏe hộ gia đìnhtheo phân công, phân cấp.

8 Phối hợp thực hiện các hoạt động phòng, chống ngộ độc thực phẩm;tham gia thẩm định cơ sở đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm; thamgia thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ănuống trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật vàthực hiện các nhiệm vụ khác về an toàn thực phẩm theo phân công, phân cấp

và quy định của pháp luật

9 Thực hiện khám sàng lọc, phát hiện bệnh và điều trị dự phòng theoquy định; tư vấn dự phòng điều trị bệnh; dự phòng, điều trị vô sinh; điều trịnghiện theo quy định của pháp luật; sơ cứu, cấp cứu, chuyển tuyến và thựchiện các kỹ thuật, thủ thuật chuyên môn; khám sức khỏe định kỳ, cấp giấychứng nhận sức khỏe theo quy định của cấp có thẩm quyền và quy định củapháp luật; ký hợp đồng với cơ quan bảo hiểm xã hội để tổ chức thực hiện cácdịch vụ y tế phù hợp với lĩnh vực chuyên môn theo quy định của pháp luật

10 Thực hiện kiểm nghiệm an toàn thực phẩm; xét nghiệm, chẩn đoánhình ảnh thăm dò chức năng phục vụ cho hoạt động chuyên môn, kỹ thuậttheo chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm và thực hiện các biện pháp bảo đảm

an toàn sinh học phòng xét nghiệm theo quy định của pháp luật

11 Thực hiện các hoạt động chuyên môn, chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý,kiểm tra, giám sát truyền thông nguy cơ, truyền thông thay đổi hành vi theohướng có lợi cho sức khỏe, truyền thông vận động và nâng cao sức khỏe nhândân; xây dựng tài liệu truyền thông; cung cấp thông tin và phối hợp với cơquan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong tuyên truyền đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác y tế

Trang 17

12 Thực hiện việc tiếp nhận, sử dụng, cung ứng, bảo quản, cấp phát vàchỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc sử dụng thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, hóachất, trang thiết bị, vật tư, phương tiện phục vụ hoạt động chuyên môn; hóachất và chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y

tế theo phân công, phân cấp của Sở Y tế và theo quy định của pháp luật

13 Là đơn vị thường trực của Sở Y tế về đáp ứng tình trạng khẩn cấpvới dịch, bệnh, các sự kiện y tế công cộng, phòng, chống AIDS, tệ nạn ma túymại dâm; triển khai thực hiện các dự án, chương trình trong nước và hợp tácquốc tế liên quan đến y tế theo phân công, phân cấp của Sở Y tế và quy địnhcủa pháp luật

14 Tổ chức đào tạo, đào tạo liên tục cho đội ngũ viên chức thuộc thẩmquyền quản lý theo quy định; tập huấn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức chuyênmôn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực phụ trách theo phân công, phân cấp của Sở Ytế; cập nhật kiến thức y khoa liên tục cho người hành nghề khám bệnh, chữabệnh; là cơ sở thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe theo quy định củapháp luật

15 Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộkhoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin về lĩnh vực chuyên môn; thực hiệncông tác chỉ đạo tuyến, hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật thuộc lĩnh vựcphụ trách theo phân công, phân cấp của Sở Y tế

16 Thực hiện các chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật

17 Quản lý nhân lực, tài chính, tài sản theo phân công, phân cấp và theoquy định của pháp luật

18 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Sở Y tế giao

và theo quy định của pháp luật

Trang 18

2 Khoa Phòng, chống HIV/AIDS; 3 Khoa Phòng, chống bệnh không lâynhiễm; 4 Khoa Dinh dưỡng; 5 Khoa Sức khỏe môi trường - Y tế trường học

- Bệnh nghề nghiệp; ở địa phương có khu công nghiệp và có nhu cầu thì đượcthành lập khoa Bệnh nghề nghiệp riêng; 6 Khoa Sức khỏe sinh sản; 7 KhoaTruyền thông, giáo dục sức khỏe; 8 Khoa Ký sinh trùng - Côn trùng; 9 KhoaKiểm dịch y tế quốc tế (nơi có hoạt động kiểm dịch y tế biên giới); 10 KhoaDược - Vật tư y tế; 11 Khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dòchức năng; 12 Phòng khám đa khoa, chuyên khoa (thực hiện khi có đủ điềukiện theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và được cơ quannhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập)

1.2 Tổng quan về công tác phòng chống HIV/AIDS

Nhận thức rõ sự nguy hiểm của đại dịch HIV/AIDS, ngay từ đầu Chínhphủ Việt Nam đã coi HIV/AIDS không chỉ là vấn đề y tế mà còn là vấn đề xãhội, đòi hỏi toàn dân, tất cả các cấp, các ngành cùng tham gia phòng, chống.Nhiều văn bản pháp luật được ban hành và thực hiện đã góp phần làm chậmquá trình phát triển dịch trong những năm qua

Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện nguyên tắc 03 thốngnhất do Liên Hợp Quốc khởi xướng, một trong những nội dung đó là cóChiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 vàtầm nhìn 2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số

Trang 19

36/2004/QĐ – TTg, ngày 17/3/2004 [7] Mục tiêu chung được đặt ra trongChiến lược này là “khống chế tỷ lệ nhiễm HIV dưới 0,3% trong cộng đồngdân cư vào năm 2010 và không tăng sau năm 2010; giảm tác hại củaHIV/AIDS đối với sự phát triển của kinh tế xã hội” Các nhóm giải pháp về

xã hội, chuyên môn-kỹ thuật, nguồn lực và hợp tác quốc tế được xác định đểthực hiện chiến lược Sau 5 năm thực hiện, mục tiêu khống chế tỷ lệ nhiễmHIV dưới 0,3% trong cộng đồng dân cư vào năm 2010 đã đạt được Sau khi

có Chiến lược quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS, Chỉ thị số

54/2005/CT-TW ngày 30/11/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

về “Tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống AIDS trong tình hình mới”[2] Chỉ thị nêu rõ “Quyết không để HIV/AIDS phát triển tràn lan thành thànhđại dịch ở nước ta trong thời gian tới” và yêu cầu “Kiện toàn tổ chức bộ máy,nâng cao năng lực cán bộ làm công tác PC HIV/AIDS từ trung ương đến địaphương” Các văn bản chỉ đạo liên quan đến công tác phòng, chốngHIV/AIDS của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã tạo hành langpháp lý cho thành công của chương trình phòng, chống HIV/AIDS ở ViệtNam

Công tác chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS hiện nay được cácban, ngành, đoàn thể ở trung ương, địa phương quan tâm đặc biệt với cơ sởđiều trị cho bệnh nhân HIV tăng lên tục Hệ thống chăm sóc và điều trị HIV/AIDS đã được thành lập trên toàn quốc Tính đến ngày 30 tháng 11 năm

2011, toàn quốc có 318 phòng khám ngoại trú cho bệnh nhân HIV/AIDS.Thống kê đến ngày 31/12/2011, số bệnh nhân AIDS đang được chăm sóc

và điều trị tại các cơ sở là 72.213 bệnh nhân Tính đến 30/11/2011, cả nướcđang điều trị ARV cho 59.469 bệnh nhân AIDS, trong đó trẻ em là 3.208 Các

Trang 20

hoạt động xét nghiệm hỗ trợ điều trị, chăm sóc cũng được đẩy mạnh, có 53máy đếm CD4 tại 33 tỉnh (hiện nay chỉ có 43 máy hoạt động/29 tỉnh/thànhphố), cung cấp 115.000 xét nghiệm CD4 (tính đến hết tháng 11/2011) Xétnghiệm đo tải lượng virút được triển khai tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.Công tác xét nghiệm chẩn đoán trẻ em dưới 18 tháng tuổi đã được triển khaitại 60/63 tỉnh, thành phố.

Công tác phối hợp, chẩn đoán, điều trị và quản lý người bệnh lao/HIVđược Bộ Y tế đặc biệt chú trọng Đến nay, cả nước đã thành lập 47 tiểu banLao/HIV, trong đó trung ương có 1 tiểu ban Lao/HIV và 46 tiểu ban Lao/HIVthuộc các tỉnh/thành phố 152 huyện đã triển khai hoạt động phối hợplao/HIV Số bệnh nhân lao/HIV được điều trị ARV tăng dần qua các năm, từ

949 bệnh nhân năm 2007 lên 1.909 bệnh nhân năm 2010 Tỷ lệ bệnh nhânLao/HIV được điều trị đồng thời cả lao và HIV tăng từ 27,5% năm 2009 lên46% vào năm 2010

Điều trị liên tục HIV/AIDS trong các trung tâm xã hội được đẩy mạnh.Hiện đã có một số tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, TP HồChí Minh, Nghệ An, Bà Rịa- Vũng Tàu thực hiện điều trị HIV/AIDS Điều trịliên tục bao gồm điều trị ARV trong một số Trung tâm 05, 06, đồng thời thiếtlập cơ chế chuyển tiếp chăm sóc, điều trị liên tục cho người nhiễm HIV/AIDSkhi họ ra, vào các Trung tâm 05, 06 và các cơ sở điều trị HIV tại cộng đồngtránh tình trạng bệnh nhân bị gián đoạn điều trị [8] Theo báo cáo năm 2017,kết quả hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục ghi nhận 9 năm liên tiếpgiảm số phát hiện mới, số chuyển sang AIDS và giảm số tử vong do AIDS

Số trường hợp phát hiện mới HIV năm 2017 giảm 47% so với năm 2010 vàgiảm 70% so với năm phát hiện người nhiễm mới cao nhất năm 2007 Số

Trang 21

bệnh nhân AIDS giảm 72% so với năm 2008, giảm 46% so với năm 2010 Sốbệnh nhân tử vong giảm 77% số với năm báo cáo tử vong cao nhất năm 2008,giảm 49% so với năm 2010 Chương trình phòng chống HIV/AIDS trong 15 nămqua đã dự phòng cho 400.000 người tránh khỏi bị nhiễm HIV và 150.000 không

bị tử vong do AIDS Các thành tựu đạt được đã góp phần vào phát triển kinh tế xãhội, giảm đói nghèo [9]

1.3 Tổng quan về nguồn nhân lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS

1.3.1 Khái niệm nguồn nhân lực y tế:

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” Nguồn nhânlực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chứcnăng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triểncủa tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thếgiới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhânlực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnhphục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức [10] Nguồn nhân lực làtổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồnsáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổchức [11]

Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cảnhững người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, ngườilàm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấpcác dịch vụ y tế Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức(như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y ); kể cảnhững người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quânđội, trường học hay các doanh nghiệp) [12]

Trang 22

Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đốitượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biênchế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y),các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược, những người đang tham giavào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (NLYT tưnhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn) [13].

Ở các cơ sở y tế, nguồn nhân lực là nền tảng của những thành tựu vềchăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Có những bằng chứng rõ ràng về sốlượng và chất lượng nguồn lực y tế kết hợp chặt chẽ với kết quả tốt về mức

độ bao phủ tiêm chủng, chăm sóc sức khỏe ban đầu, tử vong trẻ sơ sinh, trẻnhỏ và tử vong mẹ [14]

Hình 1.3 Định nghĩa cán bộ y tế

Nguồn: International Standard Classification of Occupations (2006)

1.3.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần của hệ thống

y tế

Trang 23

Trên cơ sở Khung lý thuyết của hệ thống y tế do Tổ chức Y tế thế giớixây dựng, khung hệ thống y tế Việt Nam được mô tả tại hình dưới đây [15]

Hình 1.4 Khung Hệ thống y tế Việt Nam [15]

Nhân lực y tế được coi là một thành phần rất quan trọng của hệ thống y

tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế Các lựa chọncủa NVYT về sử dụng nguồn lực (như chỉ định xét nghiệm, kê đơn thuốc,hoặc quy định về danh mục trang thiết bị ở các tuyến ) sẽ ảnh hưởng lớn đếntính hiệu quả của toàn bộ hệ thống y tế Khi xây dựng chính sách, nhà hoạchđịnh chính sách thường tập trung vào khâu phát triển nguồn nhân lực, trongkhi cần phải quan tâm đến cả tính hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực cả

từ khía cạnh Nhà nước lẫn các cơ sở y tế [16] Quản lý và điều hành tốt nguồnnhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế mà còn tăngcường công bằng trong CSSK và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực[17] Các đặc tính và tầm quan trọng của nguồn nhân lực y tế trong việc đảmbảo hiệu quả, chất lượng và sự công bằng trong cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏiphải có những chính sách và giải pháp phù hợp để sử dụng nguồn nhân lực y

tế một cách hiệu quả nhất Phát triển nguồn nhân lực không chỉ thông qua đào

Trang 24

tạo, mà còn sử dụng, quản lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ

y tế đến người dân Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thànhphần của hệ thống cung ứng dịch vụ để biết được nhu cầu về quy mô và cơ cấunhân lực y tế như thế nào, ngược lại, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộcmật thiết vào mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực y tế Hệ thống thông tin y tếcũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, tin cậy cho việc lập kế hoạch

và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầu CSSK của nhân dân, đồng thời giúp pháthiện những vấn đề của nguồn nhân lực như phân bổ không hợp lý, năng lựckhông phù hợp để đáp ứng yêu cầu CSSK từ phía người dân và cộng đồng, hoặcphát hiện và phân tích tần suất sai sót chuyên môn để khắc phục Cấp tài chínhcho nhân lực y tế cũng phải đảm bảo cho công tác đào tạo mới và đào tạo liêntục CBYT, đủ để trả lương và chính sách khuyến khích ở mức đảm bảo đượccuộc sống cho CBYT, tạo ra động lực khuyến khích CBYT làm việc có chấtlượng và sẵn sàng làm việc ở các miền núi, vùng sâu, vùng xa, hoặc trong cácmôi trường, chuyên ngành độc hại, nguy hiểm [13]

1.3.3 Thực trạng nhân lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS

Phòng, chống HIV/AIDS là một nội dung lớn của YTDP, do đó nhân lực

PC HIV/AIDS có những điểm giống nhân lực của hệ dự phòng, đồng thời cónhững điểm riêng Các nghiên cứu về nhân lực PC HIV/AIDS trong nhữngnăm gần đây 2005-2012) cho thấy: tương tự như nguồn nhân lực chung của

hệ dự phòng, nhân lực PC HIV/AIDS đang thiếu hụt nghiêm trọng cả về sốlượng và chất lượng Trước năm 2005, các hoạt động dự phòng lây nhiễmHIV chủ yếu được thực hiện bởi đội ngũ CBYT kiêm nhiệm, đến từ trung tâm

y tế dự phòng tỉnh Để thực hiện thành công Chiến lược quốc gia phòngchống HIV/AIDS, Bộ Y tế đã quyết định thành lập các trung tâm PCHIV/AIDS tuyến tỉnh, trực thuộc Sở Y tế và là cơ quan tham mưu cho Sở Y

tế triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh

Trang 25

Việc tuyển dụng nhân viên cho các trung tâm PC HIV/AIDS tỉnh đãkhông được dễ dàng, nhiều trung tâm chỉ có 5 hoặc 6 người Nghiên cứu củaTrần Chí Liêm từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008 tại 14 đơn vị đại diện cho

63 đơn vị PC HIV/AIDS trên toàn quốc cho thấy số cán bộ theo định biên cònthiếu 50% Phân bổ cán bộ theo các khoa tại PAC không đồng đều, các khoachuyên môn như xét nghiệm, giám sát, chăm sóc và điều trị thiếu nhiều cán bộ.Các chuyên gia được đào tạo chuyên sâu như tiến sỹ, thạc sỹ, bác sỹ chuyênngành về y tế công cộng và y học dự phòng còn rất thiếu, chỉ đạt 8,2% Số cán

bộ có trình độ đại học là 31,3%, cán bộ có trình độ trung cấp trở xuống chiếm tỷ

lệ rất cao tới 39,26% Thời gian trung bình làm công tác PC HIV/AIDS khôngcao 2,28 năm) [18]

Theo Niên giám thống kê năm 2012, số lượng người nhiễm HIV/AIDScòn sống trên cả nước là 272.372 người, ở khu vực miền Bắc, Trung, Nam,Tây Nguyên lần lượt là 111.098 người, 23.916 người, 131.960 người, 4.758người [19] Như vậy, trung bình mỗi cán bộ chuyên môn y tế trong hệ thốngphòng chống HIV/AIDS cần quản lý gần 1.273 đối tượng nhiễm HIV/AIDS

và thực hiện công tác dự phòng cho 4.146.994 người dân [20]

Cũng vào thời điểm đó, đã có 63 Trung tâm Phòng chống HIV/AIDSbao phủ khắp 63 tỉnh thành trên cả nước Theo đánh giá chung, số lượng cán

bộ đáp ứng được nhu cầu cơ bản trong công tác phòng chống HIV/AIDS Vềtrình độ chuyên môn, cả nước có 355 bác sĩ, 5 dược sĩ, 62 cử nhân y tế côngcộng… công tác trong hệ thống phòng chống HIV/ AIDS Về trình độ họcvấn, có 613 cán bộ tốt nghiệp đại học, 47 cán bộ tốt nghiệp cao đẳng, 585 cán

Trang 26

đặc biệt tuyến huyện) Chất lượng CB: nói chung tạm đủ để hoàn thành côngviệc hiện nay ở cả 2 tuyến, có trách nhiệm, tâm huyết với công việc Tuy nhiên,trình độ và năng lực chuyên môn, quản lý còn hạn chế do ít được đào tạo, tỷ lệtrung cấp cao, kiêm nhiệm nhiều, thiếu kinh nghiệm thực tế Tỷ lệ bác sĩ chỉchiếm 16,3% Nhân viên y tế có chuyên môn chính là y tế dự phòng và y tếcông cộng chiếm tỷ lệ thấp nhất, 12,1% [22].

1.3.4 Những thách thức trong công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS

Công tác điều trị và chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS mặc dù đạt đượcnhiều thành tựu nhưng cũng đối mặt với rất nhiều khó khăn trong đó vấn đềnhân lực tham gia vào điều trị và phòng chống HIV/AIDS là vấn đề nhứcnhối và khó giải quyết Có rất nhiều thách thức đối với quản lý nguồn nhânlực cho công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam Nhiệm vụ khó khănnhất là ước tính số lượng nhân viên cần thiết cho mỗi đơn vị bởi vì cho đếnnay, trong hệ thống phòng, chống HIV/ AIDS vẫn chưa có đầy đủ tập hợp cácbản vị trí công việc và chưa có một khung năng lực sẵn có [5] Sự thiếu hụtcán bộ y tế tại địa phương, đặc biệt là tuyến huyện, xã và sự bất hợp lý trong

cơ cấu cán bộ giữa khoa chuyên môn và phòng chức năng, hay những khókhăn trong tuyển dụng cán bộ làm việc trong lĩnh vực này là những khó khăntrong công tác quản lý nhân lực y tế của công tác phòng, chống HIV/AIDS tạicác địa phương [23] [24] [25]

Trong khi số cán bộ có trình độ và kinh nghiệm được tuyển dụng thêm ít,các cán bộ kinh nghiệm và năng lực xin chuyển công tác khác hoặc chuyểnlĩnh vực khác, nguyên nhân chính do công việc căng thẳng vất vả và nguyhiểm, trong khi thu nhập còn quá thấp, đãi ngộ ngành nghề, phụ cấp đặc thù,phụ cấp vùng miền và phụ cấp thâm niên chưa tương xứng Các đối tượngnhiễm HIV/AIDS lại thường tập trung vào các thành phần có nguy cơ cao nhưnghiện, chích làm tăng nguy cơ của cán bộ khi chăm sóc các đối tượng [20]

Trang 27

Theo Nguyễn Văn Kính và cộng sự trong một nghiên cứu 2007, bên cạnhnhững khó khăn về số lượng mà cả về chất lượng trong công tác chăm sóc vàđiều trị HIV/AIDS, đó là kiến thức về chuyên môn hạn chế (68%), thời gianlàm việc quá quy định (52%) thiếu thông tin pháp luật liên quan đến phòngchống chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS (20%) và điều kiện kinh tế và hoàncảnh gia đình khó khăn (12%) Thu nhập thấp đã được báo cáo là một trongnhững lý do khiến động lực làm việc thấp [26]

Đi kèm với khó khăn nhân lực, thiếu hụt về kinh phí cũng là một trongnhững khó khăn của Chương trình Phòng, chống AIDS của nước ta hiện nay.Trong những năm trước đây, phòng, chống AIDS là một chương trình mục tiêuquốc gia riêng biệt nên kinh phí được cung cấp khá đầy đủ và kịp thời Nhưnghiện nay ngân sách quốc gia phân bổ cho phòng, chống AIDS thông quaChương trình mục tiêu Y tế - Dân số cấp đợt 1 năm 2016 là 120 tỷ được triểnkhai từ đầu năm 2017, trong đó 60 tỷ mua thuốc Methadone, Buprenophine,ARV; 60 tỷ còn lại cấp cho các địa phương và trung ương để triển khai cáchoạt động phòng, chống AIDS Tuy nhiên, đến nay kinh phí đợt 2 năm 2016 vàkinh phí năm 2017 chưa được cấp phát nên việc triển khai các hoạt độngchuyên môn gặp rất nhiều khó khăn Cho đến tháng 9-2017 mới có 54 tỉnh phêduyệt ngân sách địa phương thực hiện đề án bảo đảm tài chính cho hoạt độngphòng, chống AIDS [27]

Về kinh phí hỗ trợ quốc tế cho phòng, chống AIDS đang giảm rất nhanh.Kinh phí do Chương trình PEPFAR (Hoa Kỳ) hỗ trợ giảm 40% so với 2016, vànăm 2018 đã cắt kinh phí hỗ trợ trực tiếp gồm thuốc điều trị, sinh phẩm xétnghiệm, các hỗ trợ về nhân lực Kinh phí Quỹ Toàn cầu sẽ kết thúc giai đoạnvào cuối năm 2017 và đang chờ đàm phán Sự cắt giảm nguồn lực tài chính củacác dự án hỗ trợ quốc tế và nguồn ngân sách quốc gia bao gồm cả nguồn ngânsách trung ương và địa phương đã làm cho mức độ bao phủ các dịch vụ phòng,

Trang 28

chống AIDS vẫn còn hạn chế Tất cả các lĩnh vực dự phòng, can thiệp giảm táchại, giám sát và xét nghiệm, điều trị ARV và điều trị thay thế đều chưa đạtđược các chỉ tiêu do Chính phủ đề ra do đó rất khó khống chế được dịch bệnhHIV/AIDS [27].

Việc chuyển giao dịch vụ HIV/AIDS từ nhà tài trợ sang cho quốc gia từ

cơ sở dự phòng sang cơ sở điều trị ít nhiều thay đổi quy trình, thủ tục hànhchính đã ảnh hưởng đến việc duy trì điều trị ARV của bệnh nhânHIV/AIDS, nhiều nhân viên y tế trong hệ thống điều trị y tế được chuyểngiao chưa được đào tạo chuyên sâu về chăm sóc, điều trị ARV, nên ảnhhưởng đến chất lượng điều trị ARV Việc chi trả lương hoặc phụ cấp chonhững người tham gia cung cấp dịch vụ cho công tác phòng, chống HIV/AIDS trong nhiều năm qua do kinh phí của các dự án quốc tế chi trả, nay

bị cắt giảm do đó dẫn đến tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về nhân lực[27]

1.3.5 Các văn bản, chính sách tác động đến nhân lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS.

Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc phát triển và duy trì nguồnnhân lực y tế nói chung và nhân lực PC HIV/AIDS nói riêng Chiến lược quốcgia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 của Chính phủ[7] [17] tuy không cụ thể hóa về nhân lực cho phòng chống (PC) HIV/AIDSnhưng là yếu tố nguyên lý, chỉ đạo, thúc đẩy, định hướng cho phát triển nhânlực PC HIV/AIDS Chiến lược nhấn mạnh “HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm,

là mối hiểm họa đối với sức khỏe, tính mạng của con người và tương lai nòigiống của dân tộc Do đó, phòng, chống HIV/AIDS phải được coi là mộtnhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài,…” hay “100% các đơn vị, địaphương trên cả nước, đưa hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trở thành mộttrong các mục tiêu ưu tiên của chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại các

Trang 29

đơn vị và địa phương…” Chiến lược cũng đề ra một loạt các giải pháp lớn,đặc biệt những giải pháp liên quan đến phát triển nhân lực như “Tăng cườngnăng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách phòng, chống HIV/AIDS…” hay

“Tăng dần mức đầu tư, bảo đảm kinh phí cho các hoạt động phòng, chốngHIV/AIDS, tăng cường huy động nguồn lực hỗ trợ từ các nước, các tổ chứcquốc tế và các nguồn kinh phí khác từ trong và ngoài nước…” Chỉ thị số 54CT-TW còn chỉ rõ: “Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ làmcông tác phòng, chống HIV/AIDS từ Trung ương đến địa phương…” [2] Đếnnăm 2007, để cụ thể hóa các văn bản chị đạo của Chính Phủ về công tác PCHIV/AIDS, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 33/2007/QĐ-BYT chỉ đạo cụthể hơn về tăng cường nhân lực cho công tác này Trong mục tiêu tới năm

2010, trong Quyết định ghi rõ: “Nâng cao năng lực cán bộ phòng, chống HIV/AIDS;” và đưa ra giải pháp :” Giải pháp về tăng cường nguồn nhân lực…Đẩy mạnh công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ của hệthống phòng, chống HIV/AIDS; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ đạihọc, trên đại học Có chính sách đãi ngộ hợp lý nhân tài, khuyến khích sửdụng cán bộ y tế phòng, chống HIV/AIDS.…Đa dạng hóa loại hình đào tạocán bộ công tác trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS…” [3] [28] Quyếtđịnh số 608/QĐ-TTg của Chính phủ năm 2012 tiếp tục khẳng định: “Phòng,chống HIV/AIDS phải được coi là một nhiệm vụ quan trọng, lâu dài…” vàđưa ra nhiều giải pháp trong đó có giải pháp: “Xây dựng chế độ, chính sách

về nguồn nhân lực, đổi mới cơ chế tài chính…” [29]

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày 20/5/2005, Thủ tướngChính phủ đã ký Quyết định số 432/QĐ-TTg thành lập “Cục phòng chốngHIV/AIDS Việt Nam” thuộc Bộ Y tế trên cơ sở tách ra từ Cục Y tế Dự phòng

và phòng chống HIV/AIDS Ngày 26/7/2005, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyếtđịnh số 21/2005/QĐ-BYT về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

Trang 30

và cơ cấu tổ chức của Cục Phòng, chống HIV/AIDS Trên cơ sở đó, từ ngày01/08/2005 Cục Phòng chống HIV/AIDS (VAAC) chính thức đi vào hoạtđộng, tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong công tác phòng chốngHIV/AIDS ở nước ta Tiếp theo sự thành lập của Cục VAAC, bộ trưởng BYTtiếp tục đưa ra quyết định số 25/2005/QĐ- BYT “Quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnhthành phố trực thuộc Trung ương” [30] Mặc dù đã có quy định rõ ràng,nhưng báo cáo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và cộng sự cho thấy đếnhết quý II năm 2008 vẫn còn 6 trong số 63 tỉnh thành chưa thành lập đượctrung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh, 11 tỉnh có trung tâm phòng chốngHIV/AIDS chưa đủ nhân lực nên không thành lập đủ 2 phòng và 4 khoa theohướng dẫn của Bộ Y tế Công tác đào tạo chuyên môn đã được triển khainhưng chưa đáp ứng so với yêu cầu công việc, đặc biệt hoạt động lập kếhoạch, giám sát - đánh giá và can thiệp giảm tác hại và điều trị 77,0% sốngười được hỏi có nhu cầu đào tạo nâng cao chuyên môn [23]

Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV thường gọi tắt là TT 08)Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế Nhà nước [31].Thông tư này hướng dẫn định mức biên chế trong các cơ sở y tế nhà nướcthuộc các Bộ, ngành và địa phương, bao gồm: Các cơ sở khám, chữa bệnhBệnh viện, Viện nghiên cứu có giường bệnh, Trung tâm y tế có giường bệnh);các cơ sở y tế dự phòng và các trạm y tế xã, phường, thị trấn Căn cứ của địnhmức biên chế là số dân của các tỉnh, huyện Có thể thấy số biên chế của cáctrung tâm PC HIV/AIDS tương tự như số biên chế của trung tâm Kiểmnghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Số biên chế này dao động từ 25 đến 50người Định mức biên chế đối với Trung tâm Y tế dự phòng quận, huyện, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh cũng được nêu rõ trong TT 08 [32]

Ngày đăng: 07/08/2019, 20:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w