Bên cạnh việc sử dụng thuốc uống, một số lượng lớn bệnh nhân cần phải tiêm Insulin để kiểm soátđường huyết hiệu quả.. Nếu tiêm không đúng cách sẽ làm giảm hiệu quảcủa thuốc và gây ra nhữ
Trang 1VŨ THÙY LINH
KH¶O S¸T KIÕN THøC THùC HµNH TI£M
INSULIN CñA NG¦êI BÖNH §¸I TH¸O §¦êNG §IÒU TRÞ
NéI TRó
Vµ NGO¹I TRó T¹I BÖNH VIÖN §¹I HäC Y Hµ NéI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2VŨ THÙY LINH
KH¶O S¸T KIÕN THøC THùC HµNH TI£M
INSULIN CñA NG¦êI BÖNH §¸I TH¸O §¦êNG §IÒU TRÞ
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Vũ Bích Nga
Trang 4ADA : American Diabetes Association - Hiệp hội Đái tháo đường Hoa KỳADR : Adverse drug reaction - Tác dụng không mong muốn của thuốcBMI : Body mass index – Chỉ số khối cơ thể
ĐTĐ : Đái tháo đường
IDF : International diabetes federation - Liên đoàn đái tháo đường thế giớiITQ : Injection Technique Questionnaire – Bộ câu hỏi kỹ thuật tiêm insulin
Trang 5Hình 1.1: lọ thuốc Insulin hàm lượng 100IU/ml và bơm tiêm tương ứng 12
Hình 1.2: lọ thuốc Insulin hàm lượng 40 IU/ml và bơm tiêm tương ứng 12
Hình 1.3: Cấu tạo bút tiêm insulin 13
Hình 1.4: Vị trí tiêm Insulin và góc độ đâm kim tiêm insulin 14
Hình 1.5: Các kiểu xoay vòng vị trí tiêm insulin 16
Hình 1.6: Các bước tiêm insulin bằng bơm tiêm 16
Hình 1.7: Các bước tiêm insulin bằng bút tiêm 17
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh lý không lây nhiễm phổbiến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam Theo thông báo mới nhất của Liênđoàn đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2017 toàn thế giới có 424,9 triệu người bịbệnh ĐTĐ (ở độ tuổi từ 20 -79), có nghĩa là cứ 11 người thì có 1 người bị ĐTĐ, tớinăm 2045 con số này sẽ là 629 triệu, tăng 48% Ở Việt Nam, nếu như năm 1990 tỷ
lệ ĐTĐ chỉ từ 1,1 đến 2,25%, thì năm 2012 tỉ lệ mắc ĐTĐ đã lên tới 5,42%, mộtnửa số người bệnh chưa được chẩn đoán, năm 2017 con số người mắc ĐTĐ là 3,5triệu người Bệnh ĐTĐ gây ra nhiều biến chứng, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnhtim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi… 12% chi phí y tế trên toàn cầu nhữngnăm gần đây là chi cho người lớn bị ĐTĐ, năm 2017 là 727 tỷ USD Tuy nhiên,bệnh ĐTĐ typ 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng việc tuân thủlối sống lành mạnh, dinh dưỡng và tập thể lực hợp lý Để điều trị ĐTĐ hiệu quả cần
có sự kết hợp giữa điều trị thuốc, chế độ ăn uống và luyện tập hợp lý Bên cạnh việc
sử dụng thuốc uống, một số lượng lớn bệnh nhân cần phải tiêm Insulin để kiểm soátđường huyết hiệu quả Insulin không chỉ được sử dụng khi bệnh nhân nằm viện điềutrị nội trú mà còn được sử dụng khi ra viện điều trị tại nhà Việc tiêm Insulin sẽquyết định hiệu quả dùng thuốc Nếu tiêm không đúng cách sẽ làm giảm hiệu quảcủa thuốc và gây ra những phản ứng có hại (ADR) như: hạ đường huyết, ngứa, loạndưỡng mỡ dưới da, bầm tím vị trí tiêm…Vì vậy, người bệnh cần được trang bị kiếnthức đầy đủ về bệnh ĐTĐ và được hướng dẫn thực hành sử dụng Insulin đúng cáchngay trong thời gian điều trị nội trú
Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội là bệnh viện đa khoa hạng I với lưu lượng bệnhnhân khám hàng ngày rất lớn Trong đó, lượng bệnh nhân đến khám tại phòng khámNội tiết đái tháo đường khoảng 150 lượt một ngày Đơn vị Nội tiết – Hô hấp là mộtđơn vị mới được thành lập tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội với 25 giường điều trịnội trú và và hệ thống phòng khám điều trị ngoại trú Xuất phát từ thực tế, nhiềubệnh nhân đến khám ĐTĐ tại bệnh viện đang sử dụng Insulin không đúng cách dẫn
Trang 8đến những biến chứng như hạ glucose máu kiểm soát đường huyết kém Vì vậy, việcnghiên cứu tìm hiểu sự thiếu hụt về kiến thức để đào tạo cho người bệnh về việc sửdụng insulin là rất quan trọng Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Khảo sát kiến thức và thực hành tiêm insulin của người bệnh đái tháo đường điều trị nội trú và ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội” với 2 mục tiêu sau:
1 Khảo sát kiến thức sử dụng insulin của người bệnh ĐTĐ
2 Đánh giá thực hành tiêm insulin ở người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú và ngoại trú, và một số yếu tố liên quan đến thực hành tiêm insulin.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Vài nét về bệnh đái tháo đường (ĐTĐ)
Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăngglucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai.Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóacarbonhydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt
ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh ,
Theo thông báo mới nhất của Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF), năm 2017 toànthế giới có 424,9 triệu người bị bệnh ĐTĐ (ở độ tuổi từ 20-79) trong đó số người ở
độ tuổi lao động chiếm 2/3, có nghĩa là cứ 11 người thì có 1 người bị ĐTĐ, tới năm
2045 con số này sẽ là 629 triệu, tăng 48% Việt Nam không ở trong nhóm 10 nước
có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao nhưng là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh Nếu nhưnăm 1990 tỉ lệ ĐTĐ chỉ từ 1,1% đến 2,25% thì đến năm 2012 tỷ lệ mắc lên tới5,42%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6% Dự tính đến năm
2045, Việt Nam có thể có tới 4,7 triệu người mắc ĐTĐ Bệnh ĐTĐ gây ra nhiềubiến chứng, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắtcụt chi… 12% chi phí y tế trên toàn cầu là chi cho người lớn bị ĐTĐ, năm 2017 là
727 tỷ USD, đến năm 2045 ước tính khoảng 776 tỷ USD
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ: theo ADA, chẩn đoán ĐTĐ khi có một trong
các tiêu chuẩn sau đây:
- Đường huyết thanh lúc đói (nhịn ăn >8 -14 giờ) ≥ 7 mmol/l (126mg/dL)
- Đường huyết tương sau 2 giờ sau khi uống 75g đường Glucose khan ≥ 11,1mmol/l (Nghiệm pháp tăng đường huyết)
- Đường huyết thanh bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l có kèm theo các triệu chứng củatăng đường huyết (khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều, gầy sút)
- HbA1c (định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng) ≥ 6,5%.,
Các thể ĐTĐ:
- Bệnh ĐTĐ typ 1: tế bào β bị phá hủy, đưa đến thiếu hụt insulin hoàn toàn
Trang 10- Bệnh ĐTĐ typ 2: mất dần khả năng tiết Insulin do kháng Insulin
- Đái tháo đường thai kỳ: Bệnh ĐTĐ được chẩn đoán vào 3 tháng giữa, hay 3tháng cuối cuẩ thời kỳ mang thai, có thể không có chuyển thành ĐTĐ rõ
- Các thể đặc hiệu do các nguyên nhân khác như: Hội chứng ĐTĐ đơn gien,bệnh của tụy ngoại tiết (xơ nang tụy), bệnh ĐTĐ do thuốc hoặc hóa chất ,
Mục đích của việc điều trị ĐTĐ là làm giảm các triệu chứng lâm sàng, đạtmục tiêu kiểm soát đường huyết, đạt cân nặng lý tưởng lý tưởng, giảm cân với ĐTĐtyp 2 béo phì, giúp người bệnh có cuộc sống bình thường, hạn chế sự xuất hiện vàtiến triển của các biến chứng Để kiểm soát được đường máu hiệu quả, cần phải kếthợp giữa điều trị bằng chế độ dinh dưỡng, chế độ luyện tập phù hợp, thuốc viênđiều trị ĐTĐ và Insulin
2 Tổng quan về insulin
2.1.1 Cấu tạo và chức năng của insulin
Insulin là hormon tuyến tụy được tổng hợp trong tế bào beta ở đảo tụy, có 51acid amin gồm 2 chuỗi polypeptide Lượng Insulin tiết ra phụ thuộc vào mứcglucose máu Insulin cũng được tiết ra để đáp ứng với lượng carbonhydrate sau bữa
ăn Insulin được tiết 2 pha: pha đầu phóng thích một lượng lớn Insulin ở giai đoạnđầu để làm giảm tổng hợp glucose ở gan, sau đó phóng thích Insulin chậm hơntrong giai đoạn hai để kiểm soát lượng carbohydrate đã được hấp thụ Cơ chế làm
hạ glucose máu của insulin là do tăng sử dụng glucose ở cơ; tăng tổng hợp, dự trữglycogen ở gan, cơ; giảm sinh glucose máu từ các acid amin Trong cơ thể bìnhthường: Insulin được tiết liên tục trong 24 giờ khoảng 0,7 – 0,8 U/kg trong đó 50-60% tổng số Insulin bài tiết ra hàng ngày là để duy trì glucose máu bình thườngqua đêm, khi đói và giữa các bữa ăn 40 – 50% số insulin còn lại để tiêu thụ lượngcarbonhydrate ăn vào và điều chỉnh khi có tăng bất thường về đường máu Insulinnội sinh được chuyển hóa ở gan 50 – 60% và khoảng 15 -20% tại thận (khi đến ốnglượn gần 99% insulin được tái hấp thu rồi giáng hóa ở tế bào mao mạch cầu thậncũng như các tế bào quanh ống thận) Insulin ngoại sinh được giáng hóa ở thận vàngoài thận (gan + mô mỡ) trong đó khoảng 30 – 80% được đào thải qua thận
Trang 112.1.2 Lịch sử insulin trong điều trị ĐTĐ
Việc phát hiện ra insulin vào năm 1922 đánh dấu một bước đột phá lớn trong
y học và trị liệu ở bệnh nhân ĐTĐ Rất lâu trước khi phát hiện ra insulin, người ta
đã đưa ra giả thuyết rằng tuyến tụy tiết ra một chất kiểm soát chuyển hóa
carbohydrate Năm 1869 Paul Langerhans đã phát hiện ra một nhóm tế bào đặc biệt
ở tuyến tụy và sau này gọi là đảo Langerhans Năm 1921, Bác sĩ Frederick Banting
và nghiên cứu sinh Charles Best đã tiến hành thử nghiệm trên tuyến tụy của chó.1922: Banting và Best tiếp tục nghiên cứu và cải thiện kĩ thuật để sản xuất insulin
và Eli Lilly trở thành nhà sản xuất insulin đầu tiên Eli Lilly bắt đầu sản xuấtinsulin từ tuyến tụy động vật nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu.Sự phát triểncủa phương pháp kết tủa đẳng điện dẫn đến insulin động vật tinh khiết hơn và mạnhhơn Năm 1923, Phòng thí nghiệm Insulin Nordisk, bắt đầu sản xuất insulin Vìinsulin cần vài mũi tiêm hàng ngày, các nhà nghiên cứu đã tìm cách kéo dài thờigian tác dụng của nó Vào những năm 1930, HC Hagedorn, một nhà hóa học ở ĐanMạch, đã kéo dài tác dụng của insulin bằng cách thêm protamine Tại Toronto, Scott
và Fisher kéo dài hoạt tính insulin hơn nữa bằng cách thêm kẽm giúp kéo dài tácdụng từ 24 giờ đến 36 giờ Năm 1978, insulin người tái tổ hợp DNA đầu tiên đượcDavid Goeddel và cộng sự sáng chế ra bằng cách kết hợp chuỗi insulin A- và B-trong Escherichia coli Năm 1982, loại insulin đầu tiên sử dụng công nghệ rDNA,Humulin R và N (NPH, tác dụng trung gian), đã được bán trên thị trường Trongthập niên 90, insulin tiếp tục được cải tiến với sự ra đời của một loạt các insulinanalog như Lispro, Aspart, Glulisine, Glargine, Detemir, Glargine
Trong hơn 50 năm, lọ thuốc và ống tiêm vẫn là lựa chọn duy nhất cho sửdụng lâm sàng thông thường Máy bơm insulin được sản xuất đầu tiên được giớithiệu vào những năm 1970, trong khi bút insulin được sản xuất đầu tiên, NovoPen
® (Novo Nordisk) được giới thiệu vào năm 1985 Kể từ đó, nhiều cải tiến và đổimới đã được thực hiện cho cả máy bơm insulin và bút tiêm Hơn nữa, các chấttương tự insulin đã trở nên có sẵn cho phép truyền insulin dưới da liên tục bằng
Trang 12cách sử dụng bơm insulin và liệu pháp insulin sử dụng nhiều mũi tiêm hàng ngày đểphù hợp hơn với mô hình insulin sinh lý
Insulin dạng hít đầu tiên được phát triển bởi Sanofi-Aventis và Pfizer vàđược đưa ra thị trường vào năm 2006 Các thiết bị ống hít cồng kềnh khó sử dụng,không thêm lợi ích sinh lý so với các chất tương tự insulin tác dụng nhanh Nó đãđược đưa ra khỏi thị trường sau hai năm khi không nhận được sự chấp nhận từ bệnhnhân và nhà cung cấp
2.1.3 Phân loại insulin
2.1.3.1 Theo cấu trúc phân tử
- Insulin người: (human insulin/insulin thường/regular insulin): được tổnghợp bằng phương pháp tái tổ hợp DNA, rất tinh khiết, ít gây dị ứng Human insulinhiện có tại Việt Nam gồm insulin thường (regular insulin) và NPH (NeutralProtamine Hagedorn)
- Insulin analog: được tổng hợp bằng kỹ thuật tái tổ hợp DNA, nhưng cóthay đổi cấu trúc bằng cách thay thế một vài acid amin hoặc gắn thêm chuỗipolypeptide để thay đổi dược tính Một số insulin analog gồm insulin tác dụngnhanh như Aspart, Lispro, Glulisine và insulin tác dụng kéo dài như Detemir,Glargine Hiện nay, insulin Degludec tác dụng kéo dài đã được cấp phép lưu hành ởViệt Nam ,
2.1.3.2 Theo thời gian tác dụng
Cả insulin người và analog được chia thành ba loại theo thời gian tác dụng:
- Insulin theo bữa ăn: được tiêm trước các bữa ăn do thời gian bắt đầu tácdụng ngắn hoặc nhanh để kiểm soát glucose máu sau các bữa ăn
- Insulin nền: được tiêm một hoặc hai lần mỗi ngày Các loại insulin có thờigian tác dụng trung bình hoặc dài đáp ứng nhu cầu insulin nền giữa các bữa ăn vàqua đêm do sản xuất glucose ở gan
- Insulin hỗn hợp trộn sẵn: là insulin có hai pha tác dụng, có sự pha trộn củainsulin tác dụng ngắn hoặc nhanh với insulin tác dụng trung bình thành một chế
Trang 13phẩm, kiểm soát đồng thời glucose máu sau ăn cũng như nhu cầu insulin cơ bảnhàng ngày
Bảng 1.1 Phân loại insulin
Regular insulin (humulin R)
Tác dụng nhanh (rapid acting)
Aspart (Novorapid)
Lispo (Humalog)
Glulisine (Apidra) Insulin
trộn sẵn
Kết hợp insulin tác dụng ngăn vàtác dụng trung bình: 30% regularinsulin + 70% NPH
Mixtard 30
Humulin 30/70Mixtard 30
Humulin 30/70
Kết hợp insulin tác dụng nhanh vàprotamin
Novomix 30 (30% aspart+ 70% aspart protamin)
Humalog Mix 75/25 (25% lispro + 75% lispro protamine)
Humalog Mix 50/50 (50% lispo +50% lispo protamine)
Bảng 2.2 Dược động học của các loại Insulin
Insulin Bắt đầu
tác dụng
Đỉnh tác dụng
Thời gian tác dụng
Thời điểm tiêm Insulin Tác dụng ngắn (Short acting)
Tác dụng nhanh (rapid acting analogue)
1-3 giờ
1 giờ1-2 giờ
3-5 giờ3,5 – 4,5 giờ3-5 giờ
5-15 phút trướchoặc ngay sau bữaăn
Trang 14Tác dụng trung bình ( Intermediate acting, NPH)
Insulatard
Humulin N
(NPH)
1,5 giờ1-2 giờ
4-12 giờ4-10 giờ
18-23 giờ14-18 giờ
Trước ăn sáng tốihoặc trước khi đingủ
Tác dụng kéo dài (long-acting analogue)
20-24 giờ17-23 giờ40-42 giờ
Tiêm vào một giờnhất định
18-23 giờ14-18 giờ
30-60 phút trướcbữa ăn
1-4 giờ2-5 giờ2-5 giờ
18-23 giờ14-18 giờ18-24 giờ
5-15 phút trước bữaăn
2.1.4 Chỉ định điều trị insulin
- ĐTĐ typ 1
-ĐTĐ typ 2
- ĐTĐ có toan ceton hoặc tăng
glucose máu nặng (đường máu
- Bệnh nhân có cân nặng thấp hơn cân nặng
lý tưởng hoặc mất cân không phải do chế độăn
- Bệnh nhân có triệu chứng tăng đường máukhi đường máu > 200 mg/dl
- Bất cứ bệnh nhân nào phải nhập viện
Bệnh nhân cần điều trị steroid, bệnh lý tụy,
Trang 15- Không đạt được mục tiêu kiểm soát
glucose máu khi đã dùng 2-3 loại
- Cơ địa dị ứng hoặc mẫn cảm với insulin
2.1.6 Các cách sử dụng insulin hiện nay
Tiêm insulin bằng bơm tiêm
Tiêm insulin bằng bút tiêm insulin
Máy bơm insulin tự động
Insulin dạng xịt
Trong đó sử dụng bơm tiêm và bút tiêm đưa insulin vào cơ thể có chi phí hợp
lý và cách dùng đơn giản, do đó được đa số người bệnh sử dụng
2.1.6.1 Sử dụng lọ thuốc và bơm tiêm insulin
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại insulin dạng lọ thuốc tiêm Cần chú
ý lựa chọn bơm tiêm phù hợp với loại insulin tương ứng Mỗi loại bơm tiêm đều cócác vạch chia tỷ lệ chỉ phù hợp với một nồng độ insulin và sự không phù hợp củaống tiêm với insulin có thể dẫn đến tình trạng thiếu hoặc quá liều nghiêm trọng Ởmột số quốc gia, cả insulin U-40 và U-100 có thể được bán trên thị trường cùngnhau Bệnh nhân nên tránh sử dụng bơm tiêm có kim có thể tháo rời vì bơm tiêmkim gắn vĩnh viễn mang lại độ chính xác liều tốt hơn, có ít không gian chết hơn vàcho phép trộn lẫn các loại thuốc tiêm nếu cần Hiện tại, không có ống tiêm có kimdài dưới 6 mm do không tương thích với một số nút chai
Trang 16 Lọ 1000UI/10ml với 10UI/ml sử dụng bơm tiêm U-100: cứ mỗi vạch trênbơm tiêm sẽ tương ứng với 1 đơn vị insulin được hút ra.
Hình 1.1: lọ thuốc Insulin hàm lượng 100IU/ml và bơm tiêm tương ứng
Lọ 400UI/10ml với 4UI/ml nên sử dụng bơm tiêm U-40
số loại thuốc không có dạng bút tiêm
Cấu tạo bút tiêm insulin: thường có cấu tạo 3 phần như sau:
Trang 17Hình 1.3: Cấu tạo bút tiêm insulin
+ Thân bút: là ống dài hình trụ, phần đầu là màng cao su cùng đường ray xoắn
để gắn kim Phần giữa là một buồng 3ml chứa 300 UI insulin kèm vạch chỉ liều vàvạch chỉ mức để quan sát lượng insulin còn lại trong bút Có hai dạng bút dụng mộtlần và bút tái sử dụng, bút tái sử dụng có thể tháo buồng chứa và thay buồng chứamới sau khi dùng hết Phần cuối là núm bấm vặn xoáy để bơm thuốc, trên núm cócác vạch chia độ để chọn liều insulin
+ Nắp bút: có cấu tạo tương tự bút máy thông thường, để bảo quản bút tiêmsau mỗi lần sử dụng
+ Kim tiêm: chỉ sử dụng một lần, gồm 4 phần: nắp lớn, nắp nhỏ, kim và miếngbảo vệ Khi tiêm, cần phải lựa chọn loại kim tiêm phù hợp để gắn vào bút tiêm đểgiảm đau đớn cho người bệnh Theo chiều dài có các loại: 4mm, 5mm, 6mm, 8 mm,12,7 mm Kim 4 mm được chứng minh là an toàn và hiệu quả ở bệnh nhân trưởngthành và cả trẻ em ở mọi kích cỡ Theo độ dày, có các loại: 28G, 29G, 30G,31G…
Trang 18- Tiêm tĩnh mạch: chỉ dùng trong trương hợp cấp cứu với insulin tác dụngthường và nhanh (humulin insulin hoặc rapid acting analogue) Khi sử dụng theođường này insulin khởi phát tác dụng tức thời, kéo dài gần 45 phút
- Tiêm dưới da: dùng cho hầu hết các trường hợp ,
1.2.8.2 Vị trí tiêm:
+ Dưới da bụng quanh rốn: insulin vào máu nhanh nhất
+ Mặt ngoài cánh tay: insulin vào máu chậm hơn so với tiêm vùng bụng
+ Mặt trước ngoài đùi: insulin vào máu chậm hơn so với tiêm vùng bụng+ Mông: insulin vào máu chậm nhất
Hình 1.4: Vị trí tiêm Insulin và kế hoạch chia vùng tiêm Insulin
Một số lưu ý:
+ Lớp mỡ dưới da càng dày thì tốc độ hấp thu insulin càng chậm
+ Góc đâm kim hay tốc độ bơm thuốc ít ảnh hưởng đến tốc độ hấp thu Tuynhiên tùy theo lớp mỡ dưới da dày hay mỏng để điều chỉnh góc độ phù hợp để tránhtiêm sâu vào bắp Thường lựa chọn góc độ 45o – 90 o
Trang 19+ Phụ nữ có thai 3 tháng cuối cần tránh tiêm quanh rốn (cách ít nhất 5 cm) vàvẫn có thể tiêm cạnh mạng sườn và phải véo da khi tiêm, khuyến cáo dùng kim có
độ dài ≤5mm, đâm kim 45-60 o
+ Các insulin bán chậm hoặc nền cần tiêm ở đùi/ mông
+ Insulin thường/ nhanh nên tiêm vào dưới da bụng
+ Các insulin analog ở mọi vị trí tiêm trên cơ thể đều có tính chất dược độnghọc như nhau
+ Cần thay đổi vị trí tiêm để tránh loạn dưỡng mỡ, các vị trí tiêm cách nhau
≥2cm Thay đổi vùng tiêm sau 1 tháng Không tiêm vào các vị trí loạn dưỡng mỡ(thường là các vị trí nổi sẩn chai) Sát trùng bằng cồn trên da xong phải để khô cồnkhoảng 5-10s rồi mới tiêm , ,
1.2.8.3 Xoay vòng vị trí tiêm
Xoay vòng một cách có hệ thống các vị trí tiêm là thao tác quan trọng với 3
ưu điểm: giúp duy trì việc tiêm đều đặn có hệ thống, tối ưu hóa hấp thu insulin,giảm nguy cơ loạn dưỡng mỡ Cần đảm bảo 3 yếu tố: luân phiên nhất quán giữa cácđiểm tiêm, xoay vòng vị trí tiêm cách ít nhất 1 cm so với vị trí cũ, thay đổi vị trítiêm Không nên xoay vòng tiêm từ vùng này sang vùng khác trong cơ thể thườngxuyên mỗi ngày Quan trọng là xoay vòng trong vùng đang được tiêm, điều này sẽngăn chặn các tác dụng không mong muốn từ việc tiêm cùng một vị trí nhiều lần.bệnh nhân nên lên kế hoạch tiêm theo từng ngày, mỗi ngày trong tuần chọn tiêmmôt vùng và trong ngày đó chỉ quay vòng tại vùng tiêm này Một số cách tiêm quayvòng vị trí tiêm trong một vùng tiêm là: tiêm kiểu đường ngang, kiểu đường cong,kiểu zic zắc, kiểu đan chéo ,
Hình 1.5: Các kiểu xoay vòng vị trí tiêm insulin
Trang 202.1.8 Bảo quản Insulin
Lọ insulin đang sử dụng không cần phải bảo quản lạnh mà có thể để ở nhiệt
độ phòng không quá 1 tháng Lọ insulin chưa sử dụng cần được bảo quản lạnh từ 2o
–8 o c, không để đóng đá Không nên để insulin tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và nhiệt độ >300c Không sử dụng insulin khi insulin trong bị ngả màu đục, đóng cặn, đông cứng, hết hạn sử dụng, hoặc đã mở bút hơn 1 tháng Không bảo quản bút tiêm gắn sẵn kim trên đó, để ngăn không khí lọt vào buồng chứa insulin gây rò rỉ, sai liềukhi tiêm [10]
1.2.9 Kỹ thuật tiêm insulin
1.2.9.2 Tiêm insulin bằng bơm tiêm
Chuẩn bị:
- Rửa tay
- Nếu thuốc Insulin sử dụng lần đầu bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh phải đểthuốc ra ngoài trước 10-15 phút và ghi ngày mở nắp bên ngoài vỏ lọ Lănnhẹ thuốc trong lòng bàn tay 15 - 20 lần (nếu là Insulin hỗn hợp)
- Sát khuẩn nắp cao su lọ thuốc bằng cồn 70 độ, để khô
- Rút kim, đậy nắp kim
- Nếu có bọt khí: Búng nhẹ và đẩy khí ra ngoài bằng cách đẩy nhẹ piston lên
Chuẩn bị vùng tiêm:
- Lựa chọn vùng tiêm một trong bốn vị trí (cánh tay, bụng, đùi, mông) Chú
ý quan sát để tránh mũi tiêm trước đó và tránh vùng da bị teo, phì đại mỡ
- Sát khuẩn vị trí tiêm từ trong ra ngoài theo hình xoáy ốc tối thiểu 2 lần
bằng cồn 70 độ.
Trang 21- Bơm thuốc từ từ cho đến khi hết thuốc trong bơm tiêm
- Rút kim, thả tay véo da, ấn nhẹ miếng bông vào vùng tiêm
Thải bỏ kim sau sử dụng
- Bỏ kim sau sử dụng vào thùng đựng vật sắc nhọn
Hình 1.6: Các bước tiêm insulin bằng bơm tiêm
2.1.8.1 Tiêm insulin bằng bút tiêm
Bước 1: Chuẩn bị tiêm
- Rửa tay
- Bỏ bút tiêm ra khỏi tủ lạnh trước từ 15 – 30 phút
Trang 22- Kiểm tra nhãn đảm bảo đúng loại và còn hạn sử dụng
- Tháo nắp bút, quan sát màu sắc thuốc
- Lăn tròn bút tiêm hoặc di chuyển lên xuống 10 lần để đồng nhất thuốc ( vớiinsulin hỗn hợp)
Bước 2: Gắn kim
- Sát khuẩn miếng nối cao su đầu bút tiêm
- Bỏ miếng niêm bảo vệ ở nắp kim ngoài, vặn kim thẳng và chặt vào bút tiêm
- Tháo nắp lớn bên ngoài kim, giữ lại
- Tháo nắp nhỏ bên trong kim, bỏ đi
Bước 3: Đuổi bọt khí
- Xoay nút chọn liều tiêm để chọn 2 đơn vị
- Hướng kim tiêm lên gõ nhẹ vào đầu bút tiêm vài lần
- Ấn nút bấm liều tiêm hoàn toàn đến 0
- Nếu không thấy luồng insulin xuất hiện ở đầu kim, lặp lại 2 lần nữa để loạibọt khí Nếu vẫn không thấy insulin trào ra, có thể do kim bị tắc, thay kimkhác và thử lại Nếu thay kim, làm test vẫn không thấy insulin thì bút tiêm cóthể đã bị hỏng, không sử dụng bút tiêm này nữa
Bước 4: Định liều tiêm
- Xoay nút chọn liều tiêm để chọn số đơn vị cần tiêm theo y lệnh của bác sỹ
Bước 5: Tiêm thuốc
- Sát trùng da bằng cồn
- Véo da (trường hợp bệnh nhân là trẻ em, hoặc người lớn quá gầy)
- Đâm kim vuông góc vào lớp véo da
- Ấn nút bấm liều tiêm xuống hết cỡ đến khi về số 0
- Giữ nguyên kim từ 5 đến 10 giây trước khi rút ra Mỗi loại bút có cấu tạo
và lực đẩy pít tông khác nhau nên thời gian giữ cũng khác nhau
Bước 6: Sau khi tiêm
- Đưa kim vào nắp lớn, vặn tháo kim rồi bỏ vào thùng chuyên dụng đựng vậtsắc nhọn
Trang 23- Đậy nắp bút tiêm vào bảo quản nơi thoáng mát
Hình 1.7: Các bước tiêm insulin bằng bút tiêm
2.1.9 Tác dụng không mong muốn khi sử dụng insulin
2.1.9.1 Hạ đường huyết
Hạ đường huyết là biến chứng hay gặp của việc sử dụng insulin, là tình trạngđường huyết hạ thấp <70 mg/dl (<3,9mmol/l, nhưng hạ đường huyết có triệu chứnglâm sàng kèm theo thường xảy ra khi đường huyết nằm trong khoảng 45-50 mgl/dl(2,75 mmol/l) Đây là một cấp cứu gây tổn thương não không hồi phục ,
Hạ đường huyết thường do quá liều insulin, do người bệnh bỏ bữa ăn, do vậnđộng quá mức, do rối loạn tiêu hóa Khi có biểu hiện hạ đường huyết cần được chẩnđoán sớm và điều trị kịp thời
Các mức độ hạ đường huyết:
+ Hạ đường huyết mức độ nhẹ: bệnh nhân tỉnh, run tay, cồn cào, hoa mắt, nhịp timnhanh, trống ngực, vã mồ hôi Mức đường huyết thường từ 3,3-3,6 mmol/l
+ Hạ đường huyết mức độ trung bình: bệnh nhân nhìn mờ, giảm khả năng tập trung,
lơ mơ, có thể rối loạn định hướng nếu không can thiệp dễ chuyển sang mức độnặng Mức đường huyết thường từ 2,8 – 3,3 mmol/l
Trang 24+ Hạ đường huyết mức độ nặng: bệnh nhân có thể mất định hướng, cơn loạn thần,
co giật, rối loạn ý thức, hôn mê Mức đường huyết thường dưới 2,8 mmol/l
Hậu quả của hạ đường huyết:
Hạ đường huyết nhẹ làm bệnh nhân thấy bất tiện hoặc sợ hãi về bệnh ĐTĐ
Hạ đường huyết nghiêm trọng có thể gây tổn thương cấp tính cho bệnh nhân, đặcbiệt trong các trường hợp ngã, tai nạn Ước tính 2 -4% người bị ĐTĐ typ 1 tử vong
do hạ đường huyết Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu hạ đường máu tại Anh,bệnh nhân ĐTĐ typ 2 điều trị với insulin dưới 2 năm hoặc trên 5 năm, tỷ lệ hạđường huyết trầm trọng là từ 7 -25%, tần suất là 10 -70 cơn/ 100 bệnh nhân/năm.Theo một số nghiên cứu trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 lớn tuổi, tiền sử hạ đường huyếtnặng có liên quan đến mất trí nhớ
Việc trang bị cho bệnh nhân có những kiến thức về hạ đường huyết là rấtquan trọng Bệnh nhân nên có kiến thức về các tình huống làm tăng nguy cơ hạđường huyết, hạ đường huyết có thể làm tăng nguy cơ gây hại cho bản thân hoặccho người khác chẳng hạn như khi lái xe, việc cân bằng giữa sử dụng insulin và ăncarbonhydrate là cần thiết Những người ở gần gũi với người bệnh ĐTĐ nên đượchướng dẫn sử dụng bộ dụng cụ Glucagon một cách an toàn Tuy nhiên những chiếnlược này không phải lúc nào cũng đủ để phòng ngừa
2.1.9.2 Kháng insulin miễn dịch
Gọi là kháng insulin do miễn dịch khi nhu cầu insulin vượt quá 2đv/kg hoặckhi phải dùng trên 200đv/ngày để kiểm soát đường máu
2.1.9.3 Hiện tượng Somoyi (tăng đường huyết do phản ứng)
Do quá liều insulin, tại thời điểm quá liều dẫn đến hạ đường huyết làmphóng thích nhiều hormone điều hòa ngược như catecholamine, glucagon… gây ratăng đường huyết phản ứng Hiện tượng này có thể xảy ra vào bất kì lúc nào trongngày, nhưng thường xảy ra vào giữa đêm và đo đường huyết sáng lúc đói thấy cao
Có thể nhầm với thiếu liều insulin Nếu chỉ định đo đường huyết giữa đêm có thểthấy có lúc đường huyết hạ thấp Cần phải giảm liều insulin khi có hiện tượng này
2.1.9.4 Loạn dưỡng mỡ