1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên người kinh và người mường trong nhóm tuổi 18 25

30 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khuôn mặt có thể bị tàn phá,mất tổ chức không thể nhận dạng được khi bệnh nhân có các bệnh lý như ungthư hoặc khi bị tai nạn, các bác sỹ không thể tái lập lại một khuôn mặt phùhợp cho ri

Trang 1

CHU VĂN TUỆ BÌNH

NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC ĐẦU-MẶT BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO TRỰC TIẾP

CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

CHU VĂN TUỆ BÌNH

NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC ĐẦU-MẶT BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO TRỰC TIẾP

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Đức Nghĩa

Cho đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu-mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên người Kinh và người Mường

Trang 3

II Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt 10 III Đánh giá về thẩm mỹ khuân mặt 18

KẾT LUẬN 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Các chỉ số thường được sử dụng khi đo nhân trắc trực tiếp 6

DANH MỤC HÌNH Hình 1 Mặt phẳng ngang Frankfurt 4

Hình 2: Các điểm mốc khi đo trực tiếp 6

Hình 3 Các chỉ số thường đo trực tiếp 7

Hình 4 Bộ thước đo nhân trắc Martin 8

Hình 5 đường đỏ: mặt phẳng F, màu xanh 10

Hình 6.a Lúc trẻ - hình tam giác ngược xuống dưới; b lúc già hình tam giác quay ngược lên trên 10

Hình 7 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau 11

Hình 8 Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie và Jerolimov 12

Hình 9 Các dạng khuôn mặt 13

Hình 10 Bộ ba nelson 14

Hình 11 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt 14

Hình 12 Tương quan hình dạng răng cửa với hình dạng cung răng 15

Hình 13 Đầu được xây dựng theo tỉ lệ vàng của Luca Pacioli 16

Hình 14 Khuôn mặt có tỉ lệ xấp xỉ tỷ lệ vàng 61%-62.1% 16

Hình 15 có tỷ lệ vàng giữa các phép đo 2 và 4, 3 và 5, 5 và 8, 6 và 7… 17

Hình 16 Khuôn mặt nhìn nghiêng có các kích thước theo tỷ lệ vàng theo Ricketts 17

Hình 17 Theo Baud Tỷ lệ III/ là 62% tức khoảng 61,8% 17

Hình 18 Một số chuẩn tân cổ điển 20

Trang 5

ĐẠI CƯƠNG

Nghiên cứu nhân trắc đầu mặt đã được tiến hành từ những năm trướccông nguyên với mục đích đưa ra được những tiêu chuẩn để phân biệt vềchủng tộc hay ứng dụng trong điêu khắc, hội họa Ngày nay, nghiên cứu nhântrắc học vẫn là một vấn đề rất quan trọng vì đưa ra các con số có giá trị vớingành thiết kế, ngành sản xuất ra những bộ phận ứng dụng trên cơ thể (maymặc, bảo hộ lao động, an toàn giao thông…), ngành phẫu thuật tạo hình vàthẩm mỹ, đặc biệt là trong điều trị các bất thường, các bệnh lý, dị tật vùngđầu-mặt, cũng như theo dõi sự phát triển của đầu-mặt Các yếu tố ảnh hưởngnhiều đến nhân trắc đầu-mặt là di truyền, chế độ dinh dưỡng, bệnh lý tại chỗ

và toàn thân Do vậy, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau

về đặc điểm nhân trắc đầu-mặt để xác định các đặc điểm, số đo đầu mặt củacác chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp chính đó là: đo trực tiếptrên cơ thể sống, phân tích gián tiếp qua ảnh chuẩn hóa, phân tích gián tiếpqua phim chụp XQ từ xa Trong 3 phương pháp này, phương pháp đo trựctiếp trên cơ thể ra đời từ rất sớm, có thể phân tích được cả mô cứng và mômềm và đo được tại những vùng khó bị bao phủ bởi mái tóc

Trên thế giới, dựa vào các phương pháp nghiên cứu trên, các tác giả đãthống nhất về việc có sự khác biệt giữa chủng tộc, giới như trong các nghiên cứucủa E Nagle [1], S Gupta [2] Theo Uysal, có sự khác biệt về nhân trắc đầu-mặtgiữa người Thổ Nhĩ Kỳ và người dân Arập [3] Các nghiên cứu đã chỉ ra rằngcác chỉ số cho một chủng tộc này không thể giống một chủng tộc khác

Khi ứng dụng trong lĩnh vực Y học nói chung và răng hàm mặt, ngoạikhoa, phẫu thuật tạo hình hàm mặt nói riêng, các số đo, chỉ số đầu mặt…lànhững thông tin rất quan trọng trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị

để phục hồi lại các chức năng cơ bản cũng như thẩm mỹ đã mất do bệnh lý

Trang 6

thông do tai nạn giao thông, tai nạn lao động Khuôn mặt có thể bị tàn phá,mất tổ chức không thể nhận dạng được khi bệnh nhân có các bệnh lý như ungthư hoặc khi bị tai nạn, các bác sỹ không thể tái lập lại một khuôn mặt phùhợp cho riêng từng ca lâm sàng nếu như không biết được các số đo bìnhthường của họ ở chính thời điểm đó là như thế nào Hiện nay các bác sỹ đã vàđang sử dụng các tiêu chí của người Cáp-ca (chủng tộc Mongoloide) để áp đặtcho người Việt Nam Việc áp dụng một cách áp đặt này theo nhiều nghiêncứu là không phù hợp, đặt biệt là trong lĩnh vực nắn chỉnh răng-hàm, phẫuthuật thẩm mỹ, một yêu cầu ngày càng tăng cao của người dân để nâng caohơn chất lượng cuộc sống

Trang 7

I Phương pháp đo trực tiếp

Nhà nhân trắc học người Đức Rudolf Martin đã dành nhiều thời giannghiên cứu các vấn đề liên quan đến đo đạc, mô tả nhân trắc Năm 1925 ông

cho xuất bản cuốn “Lí thuyết nhân chủng học” Năm 1929 ông lại cho xuất bản cuốn “Phương pháp mô tả có hệ thống trong nhân chủng học”, trong đó

trình bày tương đối hoàn chỉnh về các đặc điểm của cơ thể, đặc biệt là ở vùngđầu và mặt Cuốn sách đã thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nghiên cứu nhântrắc học suốt một thời gian dài (dẫn theo [11])

Sau khi hoàn chỉnh hai cuốn sách về nghiên cứu nhân chủng học, năm

1957, Rudolf Martin tiếp tục hoàn thiện phương pháp nghiên cứu nhân trắc

của mình bằng cuốn “Mô tả hệ thống trong nhân trắc học” [29] Năm năm sau, cùng với K Saller và cộng sự, ông lại cho tái bản lần thứ 3 cuốn “Lí

thuyết về nhân trắc học” [3] Trong cuốn sách này ông đã mô tả rất chi tiết về

các mốc đo, các kích thước và chỉ số đầu mặt

Tư thế đầu: Martin và Saller nhấn mạnh tầm quan trọng của tư thế đầu

để xác định được các điểm mốc chính xác nhất, theo đó tư thế đầu khi đo làmắt nhìn thẳng, đầu ở tư thế sao cho mắt và tai cùng nằm trên một mặt phẳngngang Về sau tư thế này đã được mô tả chi tiết và rõ ràng hơn bởi tác giảngười Đức – Virschov, ông đã đề xuất tại Hội nghị Nhân trắc Quốc tế ởFrankfurt và được chọn là mặt phẳng chuẩn của tư thế đầu Theo đó, đường

nối điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt (điểm orbitale) với điểm cao nhất của bình tai (điểm tragion) phải luôn luôn nằm trên mặt phẳng ngang, mặt phẳng này được gọi là mặt phẳng ngang Frankfurt kí hiệu FH.

Trang 8

Hình 1 Mặt phẳng ngang Frankfurt

Nguồn: L.G.Farkas (1994) [6].

Các mốc đo: Martin đề xuất các mốc giải phẫu vùng đầu mặt dựa vào các

đặc điểm bên ngoài và một số mốc giải phẫu của xương sọ mặt, cho đến ngàynay các mốc đo ấy vẫn được sử dụng trong các nghiên cứu nhân trắc đầu mặt.Một số mốc đo được Martin đề xuất như sau:

Điểm cao đầu (vertex): Là điểm cao nhất của đầu trên đường giữa

Điểm bên đầu (eurion): Điểm nhô sang bên nhất của vùng thái dương- đỉnh.Điểm sau đầu (opisthocranion): Điểm sau nhất vùng chẩm trên đườnggiữa đầu theo chiều trước-sau

Điểm chân tóc (trichion): Điểm giữa đường chân tóc vùng trán

Điểm trên gốc mũi (glabella): Điểm nhô nhất của đường giữa trán

Điểm lõm mũi (nasion): Nơi lõm nhất của phần gốc mũi

Điểm góc mắt trong (endocanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mídưới ở phía trong

Trang 9

Điểm giữa đồng tử (pupil): Điểm chính giữa đồng tử khi mắt nhìn thẳng

và đầu ở tư thế mặt phẳng Frankfurt

Điểm góc mắt ngoài (excanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mí dưới

ở phía ngoài

Điểm gò má (zygion): Điểm ngoài cùng của phần mềm cung gò má.Điểm tai trên (supraurale): Điểm cao nhất của vành tai

Điểm tai dưới (subaurale) Điểm thấp nhất của vành tai

Điểm ống tai ngoài (porion): Nơi cao nhất của lỗ ống tai ngoài

Điểm trước mũi (pronasal): Điểm nhô ra trước nhất của đỉnh mũi

Điểm cánh mũi (alare): Điểm ngoài nhất của cánh mũi

Điểm dưới mũi (subnasale): Điểm trên đường giữa chân mũi, nơi gặpnhau của mũi và môi trên

Điểm môi trên (labiale su¬perius): Điểm trước nhất của viền môi trêntrên đường giữa

Điểm nhú lợi hàm trên (prosthion): Điểm ở mặt trước dưới của nhú lợigiữa hai răng cửa giữa hàm trên

Điểm góc miệng (cheilion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới ởgóc miệng

Điểm gian môi (stomion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới trênmặt phẳng dọc giữa

Điểm môi dưới (labiale inferius): Điểm trước nhất của viền môi dướitrên đường giữa

Điểm cằm trước (pogonion): Điểm nhô ra trước nhất của cằm

Điểm trước-dưới cằm (gnathion): Điểm nằm giữa bờ dưới XHD (giữacằm), ngay dưới cằm

Điểm góc hàm (gonion): Điểm sau nhất và dưới nhất của góc hàm

Trang 10

Hình 2: Các điểm mốc khi đo trực tiếp

Bảng 1: Các chỉ số thường được sử dụng khi đo nhân trắc trực tiếp

1 Chiều rộng đầu Khoảng cách giữa hai điểm bên đầu eu-eu

2 Chiều dài đầu Khoảng cách giữa điểm sau đầu và điểmtrên gốc mũi gl-op

3 Chu vi vòng đầu Chu vi vòng đầu đo qua điểm sau đầu vàđiểm trên gốc mũi cvvđ

4 Chiều rộng mắt Khoảng cách giữa điểm góc mắt trongvà góc mắt ngoài ex-en

5 Khoảng cách giữa

hai mắt

Khoảng cách giữa hai điểm góc mắt trong trái- phải en-en

6 Chiều rộng mặt Khoảng cách giữa hai điểm gò má zy-zy

7 Chiều rộng mũi Khoảng cách giữa điểm ngoài nhất cánhmũi trái-phải al-al

8 Chiều rộng hàm dưới Khoảng cách giữa hai điểm góc hàm

9 Chiều rộng miệng Khoảng cách giữa hai điểm góc miệng

10 Chiều cao trán II Khoảng cách giữa điểm chân tóc và điểm

lõm mũi trên mặt phẳng dọc giữa tr-n

Trang 11

11 Chiều cao mặt hình thái Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

điểm trước -dưới cằm n-gn

12 Chiều dài mũi Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và điểm

dưới mũi trên mặt phẳng dọc giữa n-sn

13 Chiều dài tai Khoảng cách giữa điểm cao nhất và thấp

nhất của vành tai sa-sba

14 Chiều dài môi trên Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và

điểm gian môi sn-sto

15 Chiều dài môi dưới và

cằm Khoảng cách giữa điểm gian môi và điểm trước-dưới cằm sto-gn

16 Khoảng cách po-pr Khoảng cách giữa điểm ống tai ngoài và

điểm nhú lợi hàm trên po-pr

17 Khoảng cách n-pr Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

điểm nhú lợi hàm trên n-pr

18 Chiều cao tầng mặt trên Khoảng cách giữa điểm chân tóc và

điểm trên gốc mũi tr-gl

19 Chiều cao tầng mặt giữa Khoảng cách giữa điểm trên gốc mũi và

điểm dưới mũi gl-sn

20 Chiều cao tầng mặt dưới Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và

điểm trước-dưới cằm sn-gn

Hình 3 Các chỉ số thường đo trực tiếp

Trang 12

Dụng cụ đo: Kết quả đo phụ thuộc rất nhiều vào dụng cụ đo Đây cũng

là vấn đề chuyên môn nảy sinh nhiều tranh cãi Tại các Hội nghị Nhân trắchọc Quốc tế, những vấn đề này là tiêu điểm của các cuộc tranh luận, cuốicùng các nhà nghiên cứu cũng tìm được tiếng nói chung của mình Nhiều nhànhân trắc học đã đồng ý với các thước đo của Martin đề xuất và cải tiến [3]

Hình 4 Bộ thước đo nhân trắc Martin

Nguồn: Rudolf Martin (1962) [3]

Các thước đo này được gọi là bộ thước đo nhân trắc Martin Ngoài ra,

tuỳ theo mục đích nghiên cứu còn có thêm các thước đo chuyên dụng nhưthước đo góc, thước đo độ cong, thước đo bề dầy lớp mỡ dưới da

Các kích thước và chỉ số đầu mặt [3]:

- Các kích thước và chỉ số đầu

Để khảo sát hình thái đầu, Martin đo 3 kích thước là chiều dài đầu, chiềurộng đầu, và chu vi vòng đầu Trong đó để đánh giá tương quan giữa chiềurộng và chiều dài đầu ông đã đưa ra chỉ số đầu Dựa vào chỉ số đầu, ông phânloại thành những loại đầu khác nhau như: đầu rất ngắn, đầu ngắn, đầu trungbình, đầu dài và đầu rất dài Chỉ số đầu càng lớn thì đầu càng ngắn

- Các kích thước và chỉ số vùng mặt

Martin phân tích các đặc điểm khuôn mặt dựa vào các kích thước: chiềurộng mặt, chiều cao mặt, chiều cao mặt hình thái, chiều cao trán vv và ông

Trang 13

đưa ra chỉ số mặt toàn bộ để phân loại thành những loại mặt khác nhau, theoMartin và Saller, mặt có thể được chia thành 5 loại: mặt rất rộng, mặt rộng, mặttrung bình, mặt dài, mặt rất dài Chỉ số mặt toàn bộ càng lớn thì mặt càng dài.

- Các kích thước và chỉ số mũi

Đặc điểm mũi được đánh giá qua các kích thước chiều rộng mũi, chiềucao mũi Martin cũng đưa ra chỉ số mũi để đánh giá hình thái mũi, theo chỉ sốmũi, ông phân loại thành 7 loại mũi là: mũi cực hẹp, rất hẹp, hẹp, trung bình,rộng, rất rộng và cực rộng Chỉ số mũi càng lớn thì mũi càng rộng

- Độ vẩu

Độ vẩu cũng là một đặc điểm để đánh giá sự khác biệt giữa các chủngtộc trên thế giới Nguyên tắc của việc đánh giá độ vẩu là so sánh tương quangiữa một điểm thuộc xương hàm trên với một điểm thuộc sọ là chuẩn phíasau Bằng phương pháp đo trực tiếp, độ vẩu được đánh giá bằng chỉ số vẩu.Theo Martin, độ vẩu được chia thành các mức độ là: không vẩu, vẩu, rất vẩu.Chỉ số vẩu càng lớn thì độ vẩu càng cao

- Kích thước và chỉ số hàm dưới

Chỉ số hàm dưới đánh giá sự tương quan giữa chiều rộng hàm dưới vàchiều rộng mặt, Martin chia hàm thành 3 loại là: hẹp, trung bình và rộng.Theo đó, chỉ số hàm dưới càng rộng thì hàm càng rộng

Trang 14

II Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt

Dựa vào ba điểm đánh giá khuôn mặt: điểm gốc mũi (nasion), điểm dướimũi (sn) và điểm lõm giữa môi dưới và cằm (b) Khuôn mặt hài hoà thì đườngnối 3 điểm này là một đường cong lồi ra ngoài Còn ở khuôn mặt kém hài hoàhơn thì đường này là một đường thẳng và ở khuôn mặt không hài hoà thì làmột đường cong lõm vào trong giống như khuôn mặt hình đĩa lõm hay bộ mặtcủa phù thuỷ Khi còn trẻ, khuôn mặt đẹp là khuôn mặt nằm trong một hìnhtam giác có đỉnh quay xuống dưới Khi già đi, đỉnh tam giác sẽ quay lên trên,

má sẽ sệ xuống và tạo thành cạnh của tam giác Sẽ rất có ích khi chúng takhuyến khích bệnh nhân mang ảnh của họ chụp lúc còn trẻ khi đến khám.Làm như vậy có thể đưa ra một kế hoạch đúng đắn cho quá trình phẫu thuật

để tạo hình lại khuôn mặt lúc trẻ

ngược lên trên

Chiều cao mặt thường được đánh giá bằng một hoặc hai phương pháp.Phương pháp thứ nhất là chia mặt thành 3 tầng mặt bằng nhau (hình 5) nhưminh họa của da Vinci Các phép đo được thực hiện trên đường giữa từtrichion tới glabella, từ glabella đến subnasale và từ subnasale đến menton

Trang 15

Phương pháp thứ hai không xét tầng mặt trên bởi vì vị trí của đường chân tócthường rất thay đổi Các phép đo được thực hiện từ nasion tới subnasale và từsubnasale đến menton Với phương pháp thứ hai, tầng mặt giữa chiếm 43%chiều cao và tầng mặt dưới chiếm 57%.

Theo nghiên cứu của Werli và cộng sự năm 2003 ở sinh viên trường mỹthuật tạo hình Strasbourg, khuôn mặt nam lý tưởng thường thẳng hơn, cằm lồihơn trong khi đó những khuôn mặt nữ được thu hút nhất có môi lồi hơn, cáckhuôn mặt quá lồi được đánh giá xấu nhất

Hình 7 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau

Celébie và Jerolimov dựa vào mối tương quan giữa ba kích thước ngangcủa mặt: chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft-ft), chiều rộng giữa 2 xương

gò má (zy-zy) và chiều rộng hàm dưới (go-go) để xác định hình dạng khuônmặt Theo ông mặt hình vuông nếu go = zy = ft hoặc ft = zy hoặc zy = go, mặthình ovale nếu zy > ft và zy > go, mặt hình tam giác nếu ft > zy > go hoặc ft <

zy < go (nếu 2 kích thước chênh nhau khoảng 2mm thì coi như là bằng nhau

Trang 16

William theo tư thế mặt nghiêng chia khuôn mặt ra làm ba loại baogồm: mặt thẳng, mặt nhô, mặt lõm căn cứ vào tương quan giữa mặt phẳngGl’-Sn và Sn-Pg’.Theo mặt thẳng được chia ra thành ba loại: Mặt được coi làhình vuông khi zy-zy = go-go; hình ô van (hình trái xoan) khi zy-zy > go-gomức độ chênh lệch ít; hình tam giác khi zy-zy > go - go sự chênh lệch lớn,đỉnh tam giác ở dưới

Hình 8 Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie và Jerolimov 1-5: mặt hình vuông, 6-

8: mặt ovale, 9-10: mặt tam giác.

Trang 17

Khuôn mặt nhô Khuôn mặt thẳng Khuôn mặt lõm

Khuôn mặt vuông Khuôn mặt tam giác Khuôn mặt oval

Hình 9 Các dạng khuôn mặt

Nelson đã tập hợp những dấu hiệu nêu rõ mối liên quan hình thái củacung răng, khuôn mặt và thân răng cửa và gọi đó là bộ ba Nelson

Trang 18

Hình 10 Bộ ba nelson

Leon Williams quan sát thấy đường viền của khuôn mặt khi xoay ngược

có thể tương đối trùng khớp với hình dạng răng cửa giữa hàm trên tạo nêntính thẩm mỹ cao cho tổng thể khuôn mặt đặc biệt là nụ cười Thuyết hình họccủa ông nói về sự phù hợp của hình dáng khuôn mặt với hình dạng của răngcửa giữa hàm trên Mặc dù thuyết này được đưa ra từ đầu thế kỷ 20 nhưng nóvẫn là thuyết phổ biến nhất được áp dụng khi lựa chọn hình dạng răng củaphục hình thay thế

Hình 11 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt [29].

Bên cạnh tương quan răng – mặt thì tương quan giữa răng và cung răngcũng được cân nhắc trong chọn lựa điều trị Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự tươngứng giữa một cung răng hẹp với răng cửa giữa hàm trên có dạng hình nón,hay một cung răng dạng vuông với một răng cửa giữa hàm trên có dạngvuông Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại cho rằng mối tương quan này khálỏng lẻo, thậm chí nhiều tác giả còn cho rằng hầu như không có sự tươngquan giữa hình thái cung răng và hình dạng của răng cửa giữa hàm trên

Ngày đăng: 07/08/2019, 20:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Quyền (1974). Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiêncứu trên người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1974
2. Viện Nghiên Cứ Bảo hộ lao động (1986). Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động, Nxb Khoa học Kĩ thuật, Hà nội, 5 – 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas nhân trắc học người ViệtNam trong lứa tuổi lao động
Tác giả: Viện Nghiên Cứ Bảo hộ lao động
Nhà XB: Nxb Khoa học Kĩ thuật
Năm: 1986
3. Martin R., Saller K. (1962), Lehrbuch der Anthropologie. Vol 3, Stuttgart, Gustav Fischer Verlag, s. 214 - 246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lehrbuch der Anthropologie
Tác giả: Martin R., Saller K
Năm: 1962
4. Downs W.B (1956). Analysis of the Dento – Facial profile. Angle Orthod, 26(4), 191-212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AngleOrthod
Tác giả: Downs W.B
Năm: 1956
5. Steiner C.C (1960). The use of cephalometrics as an aid to planning and assessing orthodontic treatment: report of a case. American Journal of Orthodontics, 46(10), 721-735 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Journal ofOrthodontics
Tác giả: Steiner C.C
Năm: 1960
6. Farkas L.G. (1994). Anthropometry of head and face, Raven press, New York, 2 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anthropometry of head and face
Tác giả: Farkas L.G
Năm: 1994
7. Le T Thuy, Farkas L. G, Rexon C.N (2002). Proportionality in Asian And North American Causasian Faces Using Neoclassical Facial Canos as Criteria, Aesth. Plast. Surg, 2(1), 64-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aesth. Plast. Surg
Tác giả: Le T Thuy, Farkas L. G, Rexon C.N
Năm: 2002
8. Lê Hữu Hưng (1994). Các đặc điểm mô tả của sọ Việt hiện đại. Hình thái học, 4(1), 108-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hìnhthái học
Tác giả: Lê Hữu Hưng
Năm: 1994
9. Nguyễn Đình Khoa (1976), Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, Dẫn liệu nhân chủng học, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà nội, tr. 34-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Khoa
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã Hội
Năm: 1976
10. Lê Gia Vinh, Lê Việt Vùng (2000). Nghiên cứu các đặc điểm nhân trắc đầu, mặt, ứng dụng trong nhận dạng người. Tập san hình thái học, (10), tr 63-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san hình thái học
Tác giả: Lê Gia Vinh, Lê Việt Vùng
Năm: 2000
11. Lê Việt Vùng (2005). Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu, mặt ở người Việt trưởng thành, ứng dụng trong giám định pháp y, Luận án TS y học, Học viện Quân Y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu, mặt ở ngườiViệt trưởng thành, ứng dụng trong giám định pháp y
Tác giả: Lê Việt Vùng
Năm: 2005
13. Netter F.H (2010). “Atlas of human anatomy 4 th edition”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas of human anatomy 4 th edition
Tác giả: Netter F.H
Nhà XB: Nhà xuất bảnY học
Năm: 2010
14. Trịnh Văn Minh (2004). Giải Phẫu Người, Tập I, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, 402 – 436 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải Phẫu Người, Tập I
Tác giả: Trịnh Văn Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2004
15. Hajnisova M. (1968), Growth of the face and basic characteristics of the skull in chidren and youth from 6 to 18 years, Charles University, Praha, 78 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth of the face and basic characteristics of theskull in chidren and youth from 6 to 18 years
Tác giả: Hajnisova M
Năm: 1968
16. Farkas L.G., Ngim R.C.K, Lee S.T (1988). “The fourth dimension of the face: a prelimilary report of growth potential in the face of the Chinise population of Singapore”, Ann. Acad. Med. Singapore, 17, 319 - 345 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The fourth dimension of theface: a prelimilary report of growth potential in the face of the Chinisepopulation of Singapore”, "Ann. Acad. Med. Singapore, 17
Tác giả: Farkas L.G., Ngim R.C.K, Lee S.T
Năm: 1988
17. Hajnis K., Farkas L.G., Ngim C.K. (1994). Racial and ethnic morphometric differences in the craniofacial complex, Raven press, New York, 201 - 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: s" K., Farkas L.G., Ngim C.K. (1994). "Racial and ethnicmorphometric differences in the craniofacial complex
Tác giả: Hajnis K., Farkas L.G., Ngim C.K
Năm: 1994
18. Kirk P.L. (1940). “General problem of identification of human hair through microscopic examination of hair”, Journ. of Amer. Law and Craime, 31, 489 - 496 Sách, tạp chí
Tiêu đề: General problem of identification of human hairthrough microscopic examination of hair”," Journ. of Amer. Law andCraime, 31
Tác giả: Kirk P.L
Năm: 1940
20. Posnick J.C., Farkas L.G. (1994). The application of anthropometric surface measurement in craniomaxillofacial surgery, Raven Press, New York, 126 - 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The application of anthropometricsurface measurement in craniomaxillofacial surgery
Tác giả: Posnick J.C., Farkas L.G
Năm: 1994
21. Posnick J.C., Hreczko T. (1992). “Growth patterns of the orbital region”.Cleft Plaste Craniofac. J., 76 - 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth patterns of the orbital region”."Cleft Plaste Craniofac. J
Tác giả: Posnick J.C., Hreczko T
Năm: 1992
22. Simonin C. (1967).“ De L’Identite” Medecine legale Judiciaire, Librairie Maloine, Paris, 773 - 779 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ De L’Identite” Medecine legale Judiciaire
Tác giả: Simonin C
Năm: 1967

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w