Khuôn mặt có thể bị tàn phá,mất tổ chức không thể nhận dạng được khi bệnh nhân có các bệnh lý như ungthư hoặc khi bị tai nạn, các bác sỹ không thể tái lập lại một khuôn mặt phùhợp cho ri
Trang 1CHU VĂN TUỆ BÌNH
NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC ĐẦU-MẶT BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO TRỰC TIẾP
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
CHU VĂN TUỆ BÌNH
NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC ĐẦU-MẶT BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO TRỰC TIẾP
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Đức Nghĩa
Cho đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu-mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên người Kinh và người Mường
Trang 3II Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt 10 III Đánh giá về thẩm mỹ khuân mặt 18
KẾT LUẬN 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các chỉ số thường được sử dụng khi đo nhân trắc trực tiếp 6
DANH MỤC HÌNH Hình 1 Mặt phẳng ngang Frankfurt 4
Hình 2: Các điểm mốc khi đo trực tiếp 6
Hình 3 Các chỉ số thường đo trực tiếp 7
Hình 4 Bộ thước đo nhân trắc Martin 8
Hình 5 đường đỏ: mặt phẳng F, màu xanh 10
Hình 6.a Lúc trẻ - hình tam giác ngược xuống dưới; b lúc già hình tam giác quay ngược lên trên 10
Hình 7 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau 11
Hình 8 Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie và Jerolimov 12
Hình 9 Các dạng khuôn mặt 13
Hình 10 Bộ ba nelson 14
Hình 11 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt 14
Hình 12 Tương quan hình dạng răng cửa với hình dạng cung răng 15
Hình 13 Đầu được xây dựng theo tỉ lệ vàng của Luca Pacioli 16
Hình 14 Khuôn mặt có tỉ lệ xấp xỉ tỷ lệ vàng 61%-62.1% 16
Hình 15 có tỷ lệ vàng giữa các phép đo 2 và 4, 3 và 5, 5 và 8, 6 và 7… 17
Hình 16 Khuôn mặt nhìn nghiêng có các kích thước theo tỷ lệ vàng theo Ricketts 17
Hình 17 Theo Baud Tỷ lệ III/ là 62% tức khoảng 61,8% 17
Hình 18 Một số chuẩn tân cổ điển 20
Trang 5ĐẠI CƯƠNG
Nghiên cứu nhân trắc đầu mặt đã được tiến hành từ những năm trướccông nguyên với mục đích đưa ra được những tiêu chuẩn để phân biệt vềchủng tộc hay ứng dụng trong điêu khắc, hội họa Ngày nay, nghiên cứu nhântrắc học vẫn là một vấn đề rất quan trọng vì đưa ra các con số có giá trị vớingành thiết kế, ngành sản xuất ra những bộ phận ứng dụng trên cơ thể (maymặc, bảo hộ lao động, an toàn giao thông…), ngành phẫu thuật tạo hình vàthẩm mỹ, đặc biệt là trong điều trị các bất thường, các bệnh lý, dị tật vùngđầu-mặt, cũng như theo dõi sự phát triển của đầu-mặt Các yếu tố ảnh hưởngnhiều đến nhân trắc đầu-mặt là di truyền, chế độ dinh dưỡng, bệnh lý tại chỗ
và toàn thân Do vậy, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau
về đặc điểm nhân trắc đầu-mặt để xác định các đặc điểm, số đo đầu mặt củacác chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp chính đó là: đo trực tiếptrên cơ thể sống, phân tích gián tiếp qua ảnh chuẩn hóa, phân tích gián tiếpqua phim chụp XQ từ xa Trong 3 phương pháp này, phương pháp đo trựctiếp trên cơ thể ra đời từ rất sớm, có thể phân tích được cả mô cứng và mômềm và đo được tại những vùng khó bị bao phủ bởi mái tóc
Trên thế giới, dựa vào các phương pháp nghiên cứu trên, các tác giả đãthống nhất về việc có sự khác biệt giữa chủng tộc, giới như trong các nghiên cứucủa E Nagle [1], S Gupta [2] Theo Uysal, có sự khác biệt về nhân trắc đầu-mặtgiữa người Thổ Nhĩ Kỳ và người dân Arập [3] Các nghiên cứu đã chỉ ra rằngcác chỉ số cho một chủng tộc này không thể giống một chủng tộc khác
Khi ứng dụng trong lĩnh vực Y học nói chung và răng hàm mặt, ngoạikhoa, phẫu thuật tạo hình hàm mặt nói riêng, các số đo, chỉ số đầu mặt…lànhững thông tin rất quan trọng trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị
để phục hồi lại các chức năng cơ bản cũng như thẩm mỹ đã mất do bệnh lý
Trang 6thông do tai nạn giao thông, tai nạn lao động Khuôn mặt có thể bị tàn phá,mất tổ chức không thể nhận dạng được khi bệnh nhân có các bệnh lý như ungthư hoặc khi bị tai nạn, các bác sỹ không thể tái lập lại một khuôn mặt phùhợp cho riêng từng ca lâm sàng nếu như không biết được các số đo bìnhthường của họ ở chính thời điểm đó là như thế nào Hiện nay các bác sỹ đã vàđang sử dụng các tiêu chí của người Cáp-ca (chủng tộc Mongoloide) để áp đặtcho người Việt Nam Việc áp dụng một cách áp đặt này theo nhiều nghiêncứu là không phù hợp, đặt biệt là trong lĩnh vực nắn chỉnh răng-hàm, phẫuthuật thẩm mỹ, một yêu cầu ngày càng tăng cao của người dân để nâng caohơn chất lượng cuộc sống
Trang 7I Phương pháp đo trực tiếp
Nhà nhân trắc học người Đức Rudolf Martin đã dành nhiều thời giannghiên cứu các vấn đề liên quan đến đo đạc, mô tả nhân trắc Năm 1925 ông
cho xuất bản cuốn “Lí thuyết nhân chủng học” Năm 1929 ông lại cho xuất bản cuốn “Phương pháp mô tả có hệ thống trong nhân chủng học”, trong đó
trình bày tương đối hoàn chỉnh về các đặc điểm của cơ thể, đặc biệt là ở vùngđầu và mặt Cuốn sách đã thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nghiên cứu nhântrắc học suốt một thời gian dài (dẫn theo [11])
Sau khi hoàn chỉnh hai cuốn sách về nghiên cứu nhân chủng học, năm
1957, Rudolf Martin tiếp tục hoàn thiện phương pháp nghiên cứu nhân trắc
của mình bằng cuốn “Mô tả hệ thống trong nhân trắc học” [29] Năm năm sau, cùng với K Saller và cộng sự, ông lại cho tái bản lần thứ 3 cuốn “Lí
thuyết về nhân trắc học” [3] Trong cuốn sách này ông đã mô tả rất chi tiết về
các mốc đo, các kích thước và chỉ số đầu mặt
Tư thế đầu: Martin và Saller nhấn mạnh tầm quan trọng của tư thế đầu
để xác định được các điểm mốc chính xác nhất, theo đó tư thế đầu khi đo làmắt nhìn thẳng, đầu ở tư thế sao cho mắt và tai cùng nằm trên một mặt phẳngngang Về sau tư thế này đã được mô tả chi tiết và rõ ràng hơn bởi tác giảngười Đức – Virschov, ông đã đề xuất tại Hội nghị Nhân trắc Quốc tế ởFrankfurt và được chọn là mặt phẳng chuẩn của tư thế đầu Theo đó, đường
nối điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt (điểm orbitale) với điểm cao nhất của bình tai (điểm tragion) phải luôn luôn nằm trên mặt phẳng ngang, mặt phẳng này được gọi là mặt phẳng ngang Frankfurt kí hiệu FH.
Trang 8Hình 1 Mặt phẳng ngang Frankfurt
Nguồn: L.G.Farkas (1994) [6].
Các mốc đo: Martin đề xuất các mốc giải phẫu vùng đầu mặt dựa vào các
đặc điểm bên ngoài và một số mốc giải phẫu của xương sọ mặt, cho đến ngàynay các mốc đo ấy vẫn được sử dụng trong các nghiên cứu nhân trắc đầu mặt.Một số mốc đo được Martin đề xuất như sau:
Điểm cao đầu (vertex): Là điểm cao nhất của đầu trên đường giữa
Điểm bên đầu (eurion): Điểm nhô sang bên nhất của vùng thái dương- đỉnh.Điểm sau đầu (opisthocranion): Điểm sau nhất vùng chẩm trên đườnggiữa đầu theo chiều trước-sau
Điểm chân tóc (trichion): Điểm giữa đường chân tóc vùng trán
Điểm trên gốc mũi (glabella): Điểm nhô nhất của đường giữa trán
Điểm lõm mũi (nasion): Nơi lõm nhất của phần gốc mũi
Điểm góc mắt trong (endocanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mídưới ở phía trong
Trang 9Điểm giữa đồng tử (pupil): Điểm chính giữa đồng tử khi mắt nhìn thẳng
và đầu ở tư thế mặt phẳng Frankfurt
Điểm góc mắt ngoài (excanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mí dưới
ở phía ngoài
Điểm gò má (zygion): Điểm ngoài cùng của phần mềm cung gò má.Điểm tai trên (supraurale): Điểm cao nhất của vành tai
Điểm tai dưới (subaurale) Điểm thấp nhất của vành tai
Điểm ống tai ngoài (porion): Nơi cao nhất của lỗ ống tai ngoài
Điểm trước mũi (pronasal): Điểm nhô ra trước nhất của đỉnh mũi
Điểm cánh mũi (alare): Điểm ngoài nhất của cánh mũi
Điểm dưới mũi (subnasale): Điểm trên đường giữa chân mũi, nơi gặpnhau của mũi và môi trên
Điểm môi trên (labiale su¬perius): Điểm trước nhất của viền môi trêntrên đường giữa
Điểm nhú lợi hàm trên (prosthion): Điểm ở mặt trước dưới của nhú lợigiữa hai răng cửa giữa hàm trên
Điểm góc miệng (cheilion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới ởgóc miệng
Điểm gian môi (stomion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới trênmặt phẳng dọc giữa
Điểm môi dưới (labiale inferius): Điểm trước nhất của viền môi dướitrên đường giữa
Điểm cằm trước (pogonion): Điểm nhô ra trước nhất của cằm
Điểm trước-dưới cằm (gnathion): Điểm nằm giữa bờ dưới XHD (giữacằm), ngay dưới cằm
Điểm góc hàm (gonion): Điểm sau nhất và dưới nhất của góc hàm
Trang 10Hình 2: Các điểm mốc khi đo trực tiếp
Bảng 1: Các chỉ số thường được sử dụng khi đo nhân trắc trực tiếp
1 Chiều rộng đầu Khoảng cách giữa hai điểm bên đầu eu-eu
2 Chiều dài đầu Khoảng cách giữa điểm sau đầu và điểmtrên gốc mũi gl-op
3 Chu vi vòng đầu Chu vi vòng đầu đo qua điểm sau đầu vàđiểm trên gốc mũi cvvđ
4 Chiều rộng mắt Khoảng cách giữa điểm góc mắt trongvà góc mắt ngoài ex-en
5 Khoảng cách giữa
hai mắt
Khoảng cách giữa hai điểm góc mắt trong trái- phải en-en
6 Chiều rộng mặt Khoảng cách giữa hai điểm gò má zy-zy
7 Chiều rộng mũi Khoảng cách giữa điểm ngoài nhất cánhmũi trái-phải al-al
8 Chiều rộng hàm dưới Khoảng cách giữa hai điểm góc hàm
9 Chiều rộng miệng Khoảng cách giữa hai điểm góc miệng
10 Chiều cao trán II Khoảng cách giữa điểm chân tóc và điểm
lõm mũi trên mặt phẳng dọc giữa tr-n
Trang 1111 Chiều cao mặt hình thái Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và
điểm trước -dưới cằm n-gn
12 Chiều dài mũi Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và điểm
dưới mũi trên mặt phẳng dọc giữa n-sn
13 Chiều dài tai Khoảng cách giữa điểm cao nhất và thấp
nhất của vành tai sa-sba
14 Chiều dài môi trên Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và
điểm gian môi sn-sto
15 Chiều dài môi dưới và
cằm Khoảng cách giữa điểm gian môi và điểm trước-dưới cằm sto-gn
16 Khoảng cách po-pr Khoảng cách giữa điểm ống tai ngoài và
điểm nhú lợi hàm trên po-pr
17 Khoảng cách n-pr Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và
điểm nhú lợi hàm trên n-pr
18 Chiều cao tầng mặt trên Khoảng cách giữa điểm chân tóc và
điểm trên gốc mũi tr-gl
19 Chiều cao tầng mặt giữa Khoảng cách giữa điểm trên gốc mũi và
điểm dưới mũi gl-sn
20 Chiều cao tầng mặt dưới Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và
điểm trước-dưới cằm sn-gn
Hình 3 Các chỉ số thường đo trực tiếp
Trang 12Dụng cụ đo: Kết quả đo phụ thuộc rất nhiều vào dụng cụ đo Đây cũng
là vấn đề chuyên môn nảy sinh nhiều tranh cãi Tại các Hội nghị Nhân trắchọc Quốc tế, những vấn đề này là tiêu điểm của các cuộc tranh luận, cuốicùng các nhà nghiên cứu cũng tìm được tiếng nói chung của mình Nhiều nhànhân trắc học đã đồng ý với các thước đo của Martin đề xuất và cải tiến [3]
Hình 4 Bộ thước đo nhân trắc Martin
Nguồn: Rudolf Martin (1962) [3]
Các thước đo này được gọi là bộ thước đo nhân trắc Martin Ngoài ra,
tuỳ theo mục đích nghiên cứu còn có thêm các thước đo chuyên dụng nhưthước đo góc, thước đo độ cong, thước đo bề dầy lớp mỡ dưới da
Các kích thước và chỉ số đầu mặt [3]:
- Các kích thước và chỉ số đầu
Để khảo sát hình thái đầu, Martin đo 3 kích thước là chiều dài đầu, chiềurộng đầu, và chu vi vòng đầu Trong đó để đánh giá tương quan giữa chiềurộng và chiều dài đầu ông đã đưa ra chỉ số đầu Dựa vào chỉ số đầu, ông phânloại thành những loại đầu khác nhau như: đầu rất ngắn, đầu ngắn, đầu trungbình, đầu dài và đầu rất dài Chỉ số đầu càng lớn thì đầu càng ngắn
- Các kích thước và chỉ số vùng mặt
Martin phân tích các đặc điểm khuôn mặt dựa vào các kích thước: chiềurộng mặt, chiều cao mặt, chiều cao mặt hình thái, chiều cao trán vv và ông
Trang 13đưa ra chỉ số mặt toàn bộ để phân loại thành những loại mặt khác nhau, theoMartin và Saller, mặt có thể được chia thành 5 loại: mặt rất rộng, mặt rộng, mặttrung bình, mặt dài, mặt rất dài Chỉ số mặt toàn bộ càng lớn thì mặt càng dài.
- Các kích thước và chỉ số mũi
Đặc điểm mũi được đánh giá qua các kích thước chiều rộng mũi, chiềucao mũi Martin cũng đưa ra chỉ số mũi để đánh giá hình thái mũi, theo chỉ sốmũi, ông phân loại thành 7 loại mũi là: mũi cực hẹp, rất hẹp, hẹp, trung bình,rộng, rất rộng và cực rộng Chỉ số mũi càng lớn thì mũi càng rộng
- Độ vẩu
Độ vẩu cũng là một đặc điểm để đánh giá sự khác biệt giữa các chủngtộc trên thế giới Nguyên tắc của việc đánh giá độ vẩu là so sánh tương quangiữa một điểm thuộc xương hàm trên với một điểm thuộc sọ là chuẩn phíasau Bằng phương pháp đo trực tiếp, độ vẩu được đánh giá bằng chỉ số vẩu.Theo Martin, độ vẩu được chia thành các mức độ là: không vẩu, vẩu, rất vẩu.Chỉ số vẩu càng lớn thì độ vẩu càng cao
- Kích thước và chỉ số hàm dưới
Chỉ số hàm dưới đánh giá sự tương quan giữa chiều rộng hàm dưới vàchiều rộng mặt, Martin chia hàm thành 3 loại là: hẹp, trung bình và rộng.Theo đó, chỉ số hàm dưới càng rộng thì hàm càng rộng
Trang 14II Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt
Dựa vào ba điểm đánh giá khuôn mặt: điểm gốc mũi (nasion), điểm dướimũi (sn) và điểm lõm giữa môi dưới và cằm (b) Khuôn mặt hài hoà thì đườngnối 3 điểm này là một đường cong lồi ra ngoài Còn ở khuôn mặt kém hài hoàhơn thì đường này là một đường thẳng và ở khuôn mặt không hài hoà thì làmột đường cong lõm vào trong giống như khuôn mặt hình đĩa lõm hay bộ mặtcủa phù thuỷ Khi còn trẻ, khuôn mặt đẹp là khuôn mặt nằm trong một hìnhtam giác có đỉnh quay xuống dưới Khi già đi, đỉnh tam giác sẽ quay lên trên,
má sẽ sệ xuống và tạo thành cạnh của tam giác Sẽ rất có ích khi chúng takhuyến khích bệnh nhân mang ảnh của họ chụp lúc còn trẻ khi đến khám.Làm như vậy có thể đưa ra một kế hoạch đúng đắn cho quá trình phẫu thuật
để tạo hình lại khuôn mặt lúc trẻ
ngược lên trên
Chiều cao mặt thường được đánh giá bằng một hoặc hai phương pháp.Phương pháp thứ nhất là chia mặt thành 3 tầng mặt bằng nhau (hình 5) nhưminh họa của da Vinci Các phép đo được thực hiện trên đường giữa từtrichion tới glabella, từ glabella đến subnasale và từ subnasale đến menton
Trang 15Phương pháp thứ hai không xét tầng mặt trên bởi vì vị trí của đường chân tócthường rất thay đổi Các phép đo được thực hiện từ nasion tới subnasale và từsubnasale đến menton Với phương pháp thứ hai, tầng mặt giữa chiếm 43%chiều cao và tầng mặt dưới chiếm 57%.
Theo nghiên cứu của Werli và cộng sự năm 2003 ở sinh viên trường mỹthuật tạo hình Strasbourg, khuôn mặt nam lý tưởng thường thẳng hơn, cằm lồihơn trong khi đó những khuôn mặt nữ được thu hút nhất có môi lồi hơn, cáckhuôn mặt quá lồi được đánh giá xấu nhất
Hình 7 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau
Celébie và Jerolimov dựa vào mối tương quan giữa ba kích thước ngangcủa mặt: chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft-ft), chiều rộng giữa 2 xương
gò má (zy-zy) và chiều rộng hàm dưới (go-go) để xác định hình dạng khuônmặt Theo ông mặt hình vuông nếu go = zy = ft hoặc ft = zy hoặc zy = go, mặthình ovale nếu zy > ft và zy > go, mặt hình tam giác nếu ft > zy > go hoặc ft <
zy < go (nếu 2 kích thước chênh nhau khoảng 2mm thì coi như là bằng nhau
Trang 16William theo tư thế mặt nghiêng chia khuôn mặt ra làm ba loại baogồm: mặt thẳng, mặt nhô, mặt lõm căn cứ vào tương quan giữa mặt phẳngGl’-Sn và Sn-Pg’.Theo mặt thẳng được chia ra thành ba loại: Mặt được coi làhình vuông khi zy-zy = go-go; hình ô van (hình trái xoan) khi zy-zy > go-gomức độ chênh lệch ít; hình tam giác khi zy-zy > go - go sự chênh lệch lớn,đỉnh tam giác ở dưới
Hình 8 Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie và Jerolimov 1-5: mặt hình vuông, 6-
8: mặt ovale, 9-10: mặt tam giác.
Trang 17Khuôn mặt nhô Khuôn mặt thẳng Khuôn mặt lõm
Khuôn mặt vuông Khuôn mặt tam giác Khuôn mặt oval
Hình 9 Các dạng khuôn mặt
Nelson đã tập hợp những dấu hiệu nêu rõ mối liên quan hình thái củacung răng, khuôn mặt và thân răng cửa và gọi đó là bộ ba Nelson
Trang 18Hình 10 Bộ ba nelson
Leon Williams quan sát thấy đường viền của khuôn mặt khi xoay ngược
có thể tương đối trùng khớp với hình dạng răng cửa giữa hàm trên tạo nêntính thẩm mỹ cao cho tổng thể khuôn mặt đặc biệt là nụ cười Thuyết hình họccủa ông nói về sự phù hợp của hình dáng khuôn mặt với hình dạng của răngcửa giữa hàm trên Mặc dù thuyết này được đưa ra từ đầu thế kỷ 20 nhưng nóvẫn là thuyết phổ biến nhất được áp dụng khi lựa chọn hình dạng răng củaphục hình thay thế
Hình 11 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt [29].
Bên cạnh tương quan răng – mặt thì tương quan giữa răng và cung răngcũng được cân nhắc trong chọn lựa điều trị Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự tươngứng giữa một cung răng hẹp với răng cửa giữa hàm trên có dạng hình nón,hay một cung răng dạng vuông với một răng cửa giữa hàm trên có dạngvuông Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại cho rằng mối tương quan này khálỏng lẻo, thậm chí nhiều tác giả còn cho rằng hầu như không có sự tươngquan giữa hình thái cung răng và hình dạng của răng cửa giữa hàm trên