1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ của SIÊU âm đàn hồi mô TRONG ĐÁNH GIÁ các nốt TUYẾN GIÁP có CHỈ ĐỊNH CHỌC hút tế bào BẰNG KIM NHỎ ở BỆNH NHÂN 60 TUỔI tại BỆNH VIỆN hữu NGHỊ

59 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, đặc biệt đối với các bệnh nhân cao tuổi, việc đánh giá hiệuquả của siêu âm đàn hồi mô trong khảo sát các tổn thương khu trú nói chung và tuyến giáp nói riêng đến nay còn chưa

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng

HÀ NỘI – 2019 MỤC LỤC

Trang 2

1.1 Giải phẫu siêu âm tuyến giáp 3

1.2 Cấu trúc vi thể tuyến giáp 4

1.3 Phân loại ung thư tuyến giáp 4

1.3.1 Ung thư tuyến giáp thể nhú 5

1.3.2 Ung thư tuyến giáp thể nang: 6

1.3.3 Ung thư không biệt hoá 7

1.3.4 Ung thư tuyến giáp xuất phát từ các tế bào cạnh tuyến giáp 7

1.4 Các tổn thương lành tính của tuyến giáp dạng u 8

1.4.1 Nhân tăng sản tuyến giáp 8

1.4.2 U dạng keo 8

1.4.3 U tuyến giáp thể hỗn hợp 8

1.4.4 U tuyến 8

1.5 Tổn thương nhân tuyến giáp ở người già 9

1.6 Sự đa dạng trong tổn thương mô bệnh học và tình trạng ung thư tuyến giáp ở người già 9

1.7 Các phương pháp chẩn đoán tế bào học tuyến giáp 11

1.7.1 Phương pháp chọc hút tế bào học bằng kim nhỏ 11

1.7.2 Phương pháp chẩn đoán mô bệnh học bằng kĩ thuật chọc kim sinh thiết: 12

1.7.3 Sinh thiết khối u 12

1.8 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh tuyến giáp 12

1.8.1 Chụp cắt lớp vi tính 12

1.8.2 Chụp MRI đánh giá tuyến giáp 13

1.8.3 Siêu âm 2D 14

1.8.4 Siêu âm Doppler màu tuyến giáp 17

1.8.5 Siêu âm đàn hồi mô tuyến giáp 17

Trang 3

1.9.2 Tình hình nghiên cứu siêu âm đàn hồi mô trên thế giới 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 23

2.2.2 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu 23

2.3 Thiết lập các biến số nghiên cứu 24

2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 27

2.4.1 Thăm khám lâm sàng: 27

2.4.2 Siêu âm 2D tuyến giáp: 27

2.4.3 Thực hiện và đọc kết quả siêu âm đàn hồi mô 28

2.4.4 Tiến hành thực hiện kĩ thuật FNA 29

2.4.5 Thu thập và xử lí số liệu 30

2.4.6 Xử lí số liệu: 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu 33

3.1.1 Phân bố theo giới 33

3.1.2 Phân bố theo lý do vào viện 33

3.1.3 Phân bố theo vị trí nhân tuyến giáp 34

3.1.4 Phân bố số lượng nhân tuyến giáp đủ tiêu chí trong nghiên cứu trên một bệnh nhân 34

3.2 Đặc điểm nhân tuyến giáp trên siêu âm 2D 35

3.2.1 Đặc điểm phân bố theo kích thước 35

3.2.2 Đặc điểm về mật độ âm 36

3.2.3 Đặc điểm về hình dáng 36

3.2.4 Đặc điểm về đường bờ 36

Trang 4

3.3 Đặc điểm của siêu âm đàn hồi mô biến hình( Strain Elastography) dựa

theo thang điểm của Asteria 38

3.4 Đặc điểm của TBH-MBH 38

3.4.1 Đặc điểm các nốt theo kết quả FNA 38

3.4.2 Đặc điểm các nốt theo kết quả giải phẫu bệnh 39

3.4.3 Giá trị của FNA với giải phẫu bệnh 39

3.5 Giá trị của siêu âm 2D sau khi đánh giá TI-RADS 40

3.6 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô sóng biến dạng( Strain Elastography): 40 3.6.1 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô sóng biến hình 40

3.6.2 Giá trị của sự kết hợp siêu âm đàn hồi mô sóng biến hình và siêu âm 2D 41

3.7 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô bán định lượng trong đánh giá nhân giáp.41 3.7.1 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô bán định lượng trong chẩn đoán nhân giáp ác tính 41

3.7.2 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô bán định lượng kết hợp với siêu âm 2D trong chẩn đoán nhân giáp 42

3.8 Giá trị của đặc điểm độ cứng tính theo kilopascal (kPa) của nhân tuyến giáp trên siêu âm với kết quả mô bệnh học 42

3.8.1 Giá trị của đặc điểm độ cứng tính theo kilopascal (kPa) của nhân tuyến giáp trên siêu âm với kết quả mô bệnh học 42

3.8.2 Giá trị của kết hợp siêu âm 2 D và siêu âm đàn hồi mô tính điểm độ cứng của nhân tuyến giáp với kết quả mô bệnh học: 43

3.9 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô kết hợp siêu âm 2D trong đánh giá nốt tuyến giáp đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh: 44

3.9.1 Giá trị của kết hợp siêu âm đàn hồ mô với siêu âm 2D 44

Trang 5

3.9.3 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô Strain Elastography có kết hợp với

siêu âm 2D 453.9.4 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô Strain Ratio có kết hợp với siêu âm

2D và siêu âm đàn hồi Strain Ratio đơn độc 463.9.5 Giá trị siêu âm đàn hồi mô Strain Elastography kết hợp với siêu âm

2D và siêu âm 2D đơn độc 463.9.6 Giá trị siêu âm đàn hồi mô Shear Way Elastography có kết hợp với

siêu âm 2D và siêu âm đàn hồi mô Shear Way Elastography đơnđộc 47

CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 48

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Biểu đồ 3.1 Độ nhạy, độ đặc hiệu của các đặc điểm nghi ngờ cao trên siêu

âm 2D trong chẩn đoán nhân tuyến giáp 45Biểu đồ 3.2 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô Strain Elastography có kết hợp

với siêu âm 2D và siêu âm đàn hồi mô Strain Elastographyriêng rẽ 45Biểu đồ 3.3 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô Strain Ratio có kết hợp với siêu

âm 2D và siêu âm đàn hồi mô Strain Ratio 46Biểu đồ 3.4 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô Strain Ratio có kết hợp với siêu

âm 2D và siêu âm 2D đơn độc 46Biểu đồ 3.5 Giá trị của siêu âm Shear way Elasto và siêu âm 2D kết hợp 47

Trang 7

Bảng 3.1 Phân bố theo giới của bệnh nhân nghiên cứu 33

Bảng 3.2 Phân bố theo lý do vào viện 33

Bảng 3.3 Phân bố theo vị trí nhân tuyến giáp 34

Bảng 3.4 Phân bố số lượng nhân trên một bệnh nhân 34

Bảng 3.5 Phân bố theo kích thước khối u 35

Bảng 3.6 Kích thước nhân giáp đối chiếu với kết quả TBH-MBH 35

Bảng 3.7 Đặc điểm về mật độ âm theo nhân giáp 36

Bảng 3.8 Đặc điểm về hình dáng theo nhân giáp 36

Bảng 3.9 Đặc điểm về đường bờ 36

Bảng 3.10 Đặc điểm về vôi hóa 37

Bảng 3.11 Phân độ TI-RADS trên siêu âm theo số nốt 37

Bảng 3.12 Đặc điểm của nhân giáp phân bố theo thang điểm Asteria 38

Bảng 3.13 Tỷ lệ nhân giáp theo kết quả FNA 38

Bảng 3.14 Kết quả giải phẫu bệnh 39

Bảng 3.15 Giá trị của FNA đối chiếu với giải phẫu bệnh 39

Bảng 3.16 Đánh giá giá trị của siêu âm 2D và phân độ TI-RADS với kết quả giải phẫu bệnh 40

Bảng 3.17 Giá trị của siêu âm đàn hồi mô sóng biến hình theo thang điểm Asteria 40

Bảng 3.18 Giá trị của sự kết hợp siêu âm đàn hồi mô sóng biến hình và siêu âm 2D 41

Trang 8

Bảng 3.20 Giá trị của đặc điểm độ cứng tính theo kilopascal(kPa) của nhân

tuyến giáp trên siêu âm với kết quả mô bệnh học 43Bảng 3.21 Giá trị của kết hợp siêu âm 2 D và siêu âm đàn hồi mô tính điểm

độ cứng của nhân tuyến giáp với kết quả mô bệnh học 43Bảng 3.22 Giá trị của kết hợp siêu âm đàn hồi mô với siêu âm 2D trong chẩn

đoán nhân tuyến giáp 44

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Hiệp hội ung thư quốc gia của Mỹ(National Cancer Institute) ungthư tuyến giáp chiếm 3.1% trong tất cả các loại ung thư mắc mới, tuy nhiênchỉ có 0.3% trong số các bệnh nhân chết do loại ung thư này hàng năm ở Mỹ[1] Năm 2018 ước tính có khoảng 53,990 ung thư tuyến giáp mới phát hiện

và có khoảng 750,000 người chung sống với ung thư tuyến giáp[1] Trongdân số nói chung, tỉ lệ ung thư tuyến giáp cao nhất ở độ tuổi từ 51-60 tuổi[2]

Tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp tăng lên theo thời gian, gần như tăng gấp đôi từnăm 1973 đến 2002 trong đó đáng chú ý là ung thư thể nhú nhỏ(<2cm) là ungthư chiêm chủ yếu trong tỷ lệ tăng lên này [3] Theo định nghĩa của Liên hợpquốc và WHO thì người già là những người có lứa tuổi trên 60 tuổi và ungthư tuyến giáp là ung thư phổ biến ở người già Nốt tuyến giáp thì phổ biếnhơn ở người già, tuổi càng lớn thì tỷ lệ gặp nhân tuyến giáp càng lớn cũngnhư số lượng nốt càng tăng[4] Một nghiên cứu đa trung tâm trên các bệnhnhân ở Đức không có triệu chứng lâm sàng chỉ ra rằng tỷ lệ phát hiện nốttuyến giáp trên siêu âm là 80% ở nữ và 74% ở nam trên 60 tuổi[5]

Cùng với sự phát triển của y học trong những thập niên của công nghệ

kĩ thuật vừa qua, càng ngày vai trò của siêu âm trong chần đoán ung thư tuyếngiáp càng được khẳng định trong đó bổ sung nhiều cho chẩn đoán Tuy nhiên,siêu âm cũng như các hệ thống TiRADs trên thế giới đề ra vẫn đưa đến chobác sĩ nhiều kết quả dương tính giả Điều này đưa lại các can thiệp không cầnthiết gây tốn kém cũng như là gây ra những vấn đề tâm lí cho ngườibệnh.Siêu âm 2D được sử dụng rộng rãi để đánh giá tổn thương dạng nốt củatuyến giáp cũng như tổn thương tuyến giáp lan tỏa nhưng độ nhạy và độ đặchiệu chưa cao Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ(FNA) được sử dụng như làbước tiếp theo để tiến hành chẩn đoán Tỷ lệ ung thư lên đến 20% trong cáctổn thương không điển hình và lên đến 60% đối với tổn thương nghi

Trang 10

ngờ.Khoảng 20% số tổn thương cần phải lặp lại FNA do không chẩn đoánđược [6]

Trong thập kỷ vừa qua, siêu âm đàn hồi mô (USE) được đánh giá làcông cụ bổ sung cần thiết trên nhiều nước trên thế giới, đã khẳng định vai tròcủa nó trong việc cung cấp thêm các thông tin giúp phân biệt các tổn thươnglành tính và ác tính với độ đặc hiệu cao (85%) và đang được ứng dụng caotrên lâm sàng [7]

Ở nước ta, đặc biệt đối với các bệnh nhân cao tuổi, việc đánh giá hiệuquả của siêu âm đàn hồi mô trong khảo sát các tổn thương khu trú nói chung

và tuyến giáp nói riêng đến nay còn chưa phổ biến Do đó, để góp phần vàoviệc nghiên cứu và khẳng định vai trò của siêu âm đàn hồi mô và tiến đến ápdụng thường quy trong thực hành lâm sàng tại bệnh viện, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài : “ Nghiên cứu vai trò của siêu âm đàn hồi mô trong đánh giá các nốt tuyến giáp có chỉ định chọc hút tế bào bằng kim nhỏ ở bệnh nhân >60 tuổi tại bệnh viện Hữu Nghị ” với các mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm hình ảnh của siêu âm 2D và siêu âm đàn hồi mô của

các nốt tuyến giáp có chỉ định chọc hút tế bào bằng kim nhỏ bệnh nhân >60 tuổi.

2 Xác định giá trị của siêu âm đàn hồi mô trong chẩn đoán tổn thương

các nốt tuyến giáp ở bệnh nhân >60 tuổi.

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giải phẫu siêu âm tuyến giáp

Hình 1.1 Giải phẫu siêu âm tuyến giáp

(Nguồn: Robert A: )

(Đầu mũi tên trắng: Eo tuyến giáp; Đầu mũi tên đen: Thùy phải và thùy trái tuyến giáp; Mũi tên cong đặc: Cơ ức đòn chũm; Mũi tên đen: Cơ trước giáp; Mũi tên mở: Khí quản; Hai mũi tên trắng: Thực quản; Mũi tên cong rỗng:

Động mạch cảnh chung)

Trên lớp cắt ngang qua tuyến giáp đi từ nông vào sâu thấy: tổ chức đầu

tiên là da và tổ chức dưới da, biểu hiện bằng vùng đậm âm đều, chiều dày phụthuộc vào tổ chức dưới da, khoảng 1-2mm

Sau tổ chức dưới da là lớp cân cổ nông, phía bên có bọc cơ ức đònchũm, cơ này luôn thấy rõ trên siêu âm dưới dạng giảm âm chạy dọc phíatrước phần bên của thùy tuyến

Trang 12

Tiếp đến là cân cổ giữa bọc lấy cơ ức móng và cơ ức giáp Các cơ nàymỏng biểu hiện là băng giảm âm chạy dọc phía trước ngoài tuyến.

Tiếp theo là tuyến giáp có hình chữ H, gồm hai thùy phải trái kết nốivới nhau qua phần eo tuyến Nhu mô tuyến giáp có cấu trúc âm đồng nhất,mịn, tăng âm nhẹ so với cấu trúc cơ ức đòn chũm Trong nhu mô tuyến có thểthấy các cấu trúc ống mạch hình tròn, bầu dục có ranh giới rõ, có thành, đó làmạch máu vào tuyến (tĩnh mạch) Trên siêu âm Doppler màu hoặc Doppler

năng lượng sẽ nhận biết rõ các cấu trúc này

1.2 Cấu trúc vi thể tuyến giáp

Tuyến giáp phân thành các tiểu thùy trong đó mỗi tiểu thùy có 20-40nang tuyến Tổng có khoảng 3x10^6 nang tuyến chứa chất dạng keo,kíchthước không đều và đường kính 30-50micromet Nang tuyến gồm những tếbào khối, nối liền nhau, các tế bào hình trụ khi bị kích thích bởi TSH sẽ tiết rahormon còn khi dẹt lại là khi ở trạng thái nghỉ Các nang tuyến tổng hợpthyroglobulin đưa vào lòng tuyến và quá trình tổng hợp hormon xảy ra tại đây

Ngoài ra còn có các tế bào cận nang gồm các tế bào lớn, tế bào hơitròn, có nguyên sinh chất sáng, xen vào giữa màng đáy và các tế bào nangquanh chất keo, trong chứa nhiều hạt vi thể chế tiết calcitonin

1.3 Phân loại ung thư tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp xuất phát từ tế bào nang giáp được chia thành cácdưới type gồm : Ung thư thể nhú(PTC), ung thư dạng nang (FTC), Ung thư tếbào Hurthle(HCC) và ung thư kém biệt hóa hay ung thư thoái sản Các tổnthương ác tính khác trong tuyến giáp bao gồm ung thư tuyến giáp thể tủy xuấtphát từ tế bào C, lymphoma tuyến giáp hoặc ung thư thứ phát

Trang 13

1.3.1 Ung thư tuyến giáp thể nhú (PTC)

Ung thư tuyến giáp thể nhú là ung thư hay gặp nhất của ung thư tuyếngiáp biệt hóa(DTC) chiếm đến 80- khoảng từ 80-85% của các ung thư tuyếngiáp Thường xảy ra cả hai lứa tuổi, trong đó đỉnh là từ 30-60 tuổi và xảy ra ở

nữ gấp 3 lần so với nam Loại ung thư này xuất phát từ tế bào nang giáp vàtiền sử có phơi nhiễm phóng xạ như điều trị ung thư đầu cổ xạ trị sẽ làm tăngcao tỷ lệ mắc Ung thư tuyến giáp thể nhú thường lan tràn theo đường bạchmạch và hạch vùng và tổn thương cả hai bên gặp trong gần 1/3 số ca đượcchẩn đoán Trong một số ít trường hợp có thể có di căn phổi, não và xương

Giải phẫu bệnh:

- Về đại thể nhân có thể nhỏ như một vết sẹo nhỏ hoặc lớn và nang hóahoặc đặc Nhân lớn đôi khi có bọc nhưng thường thì bở không rõ và có nhiều

mô xơ và canxi hóa

- Về vi thể: Bao giờ cũng có cấu trúc nhú trong u Hình ảnh chiếm ưu thế

là các nhú gồm lưới mô liên kết – mao mạch nâng đỡ, nhân tế bào có xuhướng tự che phủ, nhạt màu gọi là “nhân thủy tinh mờ” , 40% có các hình thểcẩu, có nhiều lớp canxi gọi là psammoma Bào tương sáng hay ưa acid Các tếbào biểu mô nằm thành một lớp , biệt hóa rõ trên nền các nhánh sợi , mạchmáu Ung thư hay di căn theo đường bạch mạch , di trú lâu dài trong cáchạch vùng cổ 50% bệnh nhân đã có di căn hạch lúc phát hiện ra bệnh Cónhiều ung thư dạng nhú có biệt hóa dạng nang, gọi là carcinoma nhú nang hỗnhợp Ung thư biểu mô nhú xơ cứng thường không có vỏ bọc, là một loại biếnthể cấu trúc của ung thư dạng nhú Đường kính thường dưới 1cm và tiềm ẩn

về lâm sàng, chỉ phát hiện sau khi có di căn hạch cổ, loại u này xâm nhiễm

mô giáp lân cận và trung tâm có một tổ chức xơ đôi khi có cầu canxi Mộtnghiên cứu theo dõi ung thư giáp thể nhú tai Nhật Bản cho thấy bệnh nhânnhỏ hơn 40 tuổi có tiến triển thành bệnh lí thực sự trên lâm sàng Định nghĩa

Trang 14

là sự phát triển rõ ràng về kích thước , đường kính >1.2cm , hoặc có di cănhạch Ngược lại với lứa tuổi trên 60 thì hầu như các tổn thương này khôngthay đổi, khuyến cáo rằng ở hầu hết các bệnh nhân già thì chỉ theo dõi [8]

1.3.2 Ung thư tuyến giáp thể nang:

Carcinoma nang: Chiếm khoảng 5-10% ung thư tuyến giáp Thườnggặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới và tần suất cao ở 50 đến 60 tuổi, khả năngcông kích mạnh hơn thể nhú

- Về đại thể có hai hình thái: dạng cục nhỏ có vỏ bọc rất giống utuyến nang, khối xâm lấn rõ toàn bộ một thuỳ làm tuyến to không đều.Chất u xám trắng có thể lan qua vỏ hay xâm lấn khí quản, cơ, da và cácmạch máu vùng cổ

- Về vi thể, cấu trúc và tế bào u giống trong tuyến giáp đang hình thànhhay đã thành thục Không thấy bất kỳ cấu trúc nhú nào U có cấu tạo bởinhững nang có đường kính thay đổi, hoặc kết hợp những túi nang với các dây

tế bào

Nhân đặc và tăng sắc Bào tương thường giống với bào tương tế bàobiểu mô nang bình thường, song có thể thấy tế bào Hurthle hoặc tế bào sáng ởtừng vùng hay khắp u Nếu u hoàn toàn tạo bởi tế bào Hurthle hay tế bàosáng thì được coi là biến thể đặc hiệu U có xu hướng lan theo đường máu

và di căn xa, nhất là xương, có khi là triệu chứng lâm sàng đầu tiên Dicăn hạch hiếm

Những biến thể cấu trúc: Loại biệt hoá rõ; các túi tuyến u giống tuyếncủa mô giáp bình thường, u giáp dạng tuyến hoặc u tuyến nên một số trườnghợp được gọi là “ u tuyến di căn”, “ u tuyến ác tính”, “ u tuyến giáp di cănlành tính” Loại biệt hoá vừa; u được cấu tạo bởi những tế bào có cấu trúc đặchay bè với những mức độ biệt hoá hình túi khác nhau

Trang 15

1.3.3 Ung thư không biệt hoá (ung thư thoái sản):

Chiếm khoảng 3-5% các loại carcinom tuyến giáp và đây là loại ác tínhnhất trong các loại ung thư tuyến giáp Ung thư biêu mô không biệt hoá hầunhư chỉ gặp ở người trên 60 tuổi,trên 50% bệnh nhân sau khoảng thời gian dài

có bướu tuyến giáp hoặc adenoma hoặc carcinoma dạng nhú hay dạng nangtiến triển chậm U được cấu tạo bởi những tỉ lệ khác nhau của các tế bào hìnhthoi, tế bào khổng lồ, tế bào nhỏ, thường nguỵ trang một sarcom Thường tìmđược những cấu trúc biểu mô xác định, thường có sự pha trộn nhiều cấu trúc,thành phần, kể các tế bào Malpighi Đôi khi có cả những ổ xương, sụn và cảnhững tế bào dạng huỷ cốt bào Ở một số trường hợp, u hình như đại diện giaiđoạn cuối của sự biệt hoá một ung thư biểu mô nhú hay nang, ở định vịnguyên phát hay di căn Ở một số trường hợp khác, ung thư có thể kết hợpmột u tuyến hay một u giáp dạng tuyến Trường hợp có vết tích ung thư biểu

mô nhú hay nang, cần xếp u vào loại không biệt hoá.Ung thư biểu mô khôngbiệt hoá là loại hung hãn nhất trong mọi ung thư tuyến giáp Có 3 biến thể:typ hình thoi; cấu tạo chủ yếu bởi tế bào hình thoi Typ tế bào khổng lồ có u

tế bào khổng lồ chiếm ưu thế kém tế bào hình thoi, thường gặp các hình tếbào và nhân kỳ quái, có thể thấy có nhiều nhân chia không điển hình.Typ tếbào nhỏ, tế bào nhỏ hơn tế bào biểu mô nang và có ít bào tương Tế bàothường tròn hay bầu dục, nhân tăng sắc, chúng tạo thành đám đặc hoặc bó lantoả giống một lympho ác tính

1.3.4 Ung thư tuyến giáp xuất phát từ các tế bào cạnh tuyến giáp

Ung thư tuyến dạng tuỷ (carcinoma đa bào tuyến giáp): Chiếm tỉ lệ 10% các loại ung thư tuyến giáp và thường nằm ở 2/3 vùng ngoài trên củatuyến giáp Phát sinh từ tế bào cận nang ( tế bào C) trong tuyến giáp, ung thưbiểu mô tuỷ là một loại u thần kinh nội tiết nguyên mẫu với 3 đặc điểm: chấtđệm dạng tinh bột, sự kết hợp di truyền, chế tiết calcitonin và các peptid khác

Trang 16

5 Về đại thể, có hai dạng: u kín đáo ở một thuỳ; nhiều cục ở cả hai thuỳ.

U mềm dạng thịt hoặc chắc, có sạn, màu trắng xám đến màu vàng nâu Những

u lớn có thể có hoại tử, chảy máu và lan ra ngoài bao tuyến giáp

- Về vi thể, u thường chứa chất dạng tinh bột và cấu tạo bởi những tế bàotròn đa diện hay hình thoi, xếp thành lớp, dây hay bè Cấu trúc u thường códạng cơ quan, hiếm có hình giả nang và những hình giả tạo giống nhú Hìnhthái môt học giống một carcinoid, một u phó hạch, u nguyên bào tiểu đảo tuỵhoặc nột ung thư biểu mô không biệt hoá Tế bào u có đặc điểm cấu trúc vàchức năng giống tế bào C Chất dạng tinh bột giống như chất trong bệnhnhiễm tinh bột toàn thể, có thể gây ra phản ứng dị ứng , u thường di căn vàohạch bạch huyết vùng nhưng tiến triển kéo dài

1.4 Các tổn thương lành tính của tuyến giáp dạng u

1.4.1 Nhân tăng sản tuyến giáp

Đó là thể bướu cổ thường gặp nhất ở người trưởng thành Ở vùng bướu

cổ lưu hành, tuyến giáp to ra do xuất hiện nhiều nhân hình cầu hay hình bầudục đường kính từ 2 mm đến 5-6 cm Ngoài ra tổ chức tuyến gốc xuất hiệnnhư những sợi mỏng bị chèn ép và biến dạng bởi những nhân

1.4.2 U dạng keo

Về đại thể có sự tăng kích thước tuyến giáp do sự hiện diện của rất nhiềunhân không có vỏ bọc, phân định ranh giới không rõ ràng Về vi thể mỗi nangtuyến đều giãn rộng và chứa chất keo dày đặc quá mức Những thay đổi nangtuyến này quan sát thấy trong bản thân các nhân cũng như ở tổ chức nhu môxung quanh

Trang 17

kính trên 3cm, đơn độc, có thể có ở bất kể chỗ nào của tuyến giáp, ranh giớirất rõ vì có bao xơ liên tục và u chèn ép mô giáp bình thường xung quanh.Hình thái và diện cắt tuỳ thuộc loại mô học của u: U căng mỏng, dạng gelatinđối với các u tuyến keo; u giống thịt,mềm, khá đồng nhất; nâu nhạt hay nâu

đỏ nhạt,hơi trong ở một số trường hợp khác;mềm và có những tổ chức chảymáu hoặc trái lại, có những vùng xơ cứng màu trắng nhạt, có canxi hoá

1.5 Tổn thương nhân tuyến giáp ở người già

Tổn thương tuyến giáp dạng nốt khá phổ biến trên thực hành lâm sàngcũng như yêu cầu đặt ra xử lí đặc biệt trên bệnh nhân già Việc đánh giá nhântuyến giáp càng ngày được sự quan tâm từ các bác sĩ đa khoa và các bác sĩ nộitiết do một vài yếu tố, bao gồm độ tuổi, tăng lên về việc sử dụng siêu âmtrong chẩn đoán và gia tăng tình trạng béo phì Gần 50% các bệnh nhân trên

65 tuổi có nốt tuyến giáp được phát hiện trên siêu âm[9] Một nghiên cứukhác trên 6,391 bệnh nhân đánh giá nốt tuyến giáp ở một trung tâm giáo dục,Kwong và cộng sự chỉ ra rằng có sự tăng lên về số lượng nốt tuyến giáp theo

sự tăng lên của tuổi, tăng lên trung bình từ 1.55 nốt >= 1cm ở bệnh nhân

20-29 tuổi lên trung bình là 2.21 nốt >=1cm ở bệnh nhân >= 70 tuổi, chứng tỏnguy cơ tăng lên là 1.6% trên một tuổi cho tình trạng đa nốt tuyến giáp [4].Cuối cùng, sự già hóa dân số, đặc biệt là gia tăng tỷ lệ béo phì có thể là mộttrong những yếu tố đóng góp vào tình trạng gia tăng số lượng nốt tuyến giáp.Các dữ liệu từ một vài nghiên cứu trong các chủng tộc khác nhau thì các yếu

tố khác có liên quan đến tình trạng gia tăng nốt tuyến giáp gồm béo phì, giới

nữ, phơi nhiễm phóng xạ, thiếu hụt iod và hút thuốc Đây là một vài yếu tốcần lưu ý khi đánh giá nốt tuyến giáp tiềm tàng ở bệnh nhân già.[10]

1.6 Sự đa dạng trong tổn thương mô bệnh học và tình trạng ung thư tuyến giáp ở người già

Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng có sự đa dạng trong việc phân bổ môbệnh học theo độ tuổi Lin và cộng sự tiến hành nghiên cứu hồi cứu phân tích

Trang 18

204 trường hợp ung thư tuyến giáp với bệnh nhân trên 60 tuổi cho thấy142(70%) trường hợp ung thư là biệt hóa cao và trong đó 68% là ung thư thểnhú, 30% là ung thư dạng nang và 2% là ung thư tế bào Hurthle Hai chín(29%) của ung thư tuyến giáp là kém biệt hóa trong đó có 39 nốt tăng sản, 9tổn thương di căn đến tuyến giáp, 7 lymphoma, 4 ung thư tế bào vảy và 4nhân không đủ tế bào để giải thích và chỉ có 3(2%) là ung thư tuyến giáp thểtủy Các dữ liệu này cho thấy rõ ràng ung thư tuyến giáp thể nhú ít hơn thểnang ở bệnh nhân già cũng như là tỷ lệ các khối u kém biệt hóa.[11] Girardi

và cộng sự tiến hành nghiên cứu hồi cứu trên 596 bệnh nhân ung thư tuyếngiáp cũng chỉ ra tương tự rằng tỷ lệ ung t hư tuyến giáp thể nhú ít gặp hơn ởbệnh nhân già, và tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp dạng nang, ung thư tuyến giápkém biệt hóa và loạn sản[2] Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các đặc điểmkhác giữa nhóm người già >= 65 tuổi so sánh với nhóm trung tuổi (25-44 tuổihoặc 45-64 tuổi); cụ thể là khối u nguyên phát to hơn( trung bình là 2.1cm ởnhóm người già và 1.5cm ở nhóm từ 25-44 tuổi và 1.1cm ở nhóm 45-64 tuổi)

và gia tăng tỷ lệ các tổn thương ngoài tuyến giáp( trung bình là 43% ở nhómngười già và 25.3% ở nhóm từ 25-44 tuổi và 28.6% ở nhóm 45-64 tuổi)[2] Dicăn hạch gặp nhiều nhất ở các lứa tuổi khác(<24 và >70) Một nghiên cứu hồicứu khác phân tích trên 1,022 bệnh nhân có phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp củaPayne và cộng sự đã chỉ ra rằng ung thư biệt hóa cao ( ví dụ PTC hay FTC),

và di căn hạch xảy ra phổ biến hơn ở bệnh nhân nhỏ hơn 50 tuổi, và ung thư

vi nhú phổ biến hơn ở bệnh nhân trên 50 tuổi [12] Chereau và cộng sự đánhgiá mô bệnh học và sự gia tăng của bệnh lí trong chẩn đoán ở người già(65-75tuổi ) và rất già(>75 tuổi) so sánh với nhóm người trẻ trên 3,835 bệnh nhânđiều trị ở các trung tâm giáo dục từ năm 1978-2014[13] Đáng chú ý rằng các

số liệu này chỉ ra có sự tăng lên rõ rệt trong kích thước của khối u nguyênphát, số lượng khối u, tình trạng xâm lấn vỏ bao, giai đoạn TNM cao, và dicăn hạch cũng như di căn xa ở nhóm bệnh nhân rất già[13] Chọn lọc từ các

Trang 19

nghiên cứu trên nhận thấy rằng tình trạng bệnh lí lan tràn hơn ở nhóm bệnhnhân già và có sự gia tăng của các dưới typ mô bệnh học tiến triển.

1.7 Các phương pháp chẩn đoán tế bào học tuyến giáp

1.7.1 Phương pháp chọc hút tế bào học bằng kim nhỏ

Phương pháp chọc hút tế bào (Fine Needle Aspiration - FNA) được thựchiện vào năm 1930, Martin Ellis, Stewant là những người đầu tiên thực hiện

và báo cáo tại bệnh viện Memorial, New York Tuy nhiên, phương pháp nàykhông được sử dụng rộng rãi ở Mỹ cho tới năm 1970 Ở Châu Âu trong vòng

40 năm trở lại đây nhiều tác giả như Sodertron, Lopes, Cardogo, Franzen đã

sử dụng phương pháp này và đánh giá có giá trị rất cao trong chẩn đoán ungthư FNA còn có giá trị để đánh giá ung thư tái phát và tình trạng di căn hạchnách,hạch thượng đòn Phương pháp này có nhiều ưu điểm: Thủ thuật đơngiản, thực hiện nhanh, không cần chuẩn bị BN, kết quả nhanh và có độ tin cậyrất cao.Tuy nhiên kết quả chẩn đoán còn tuỳ thuộc vào kỹ thuật lấy bệnhphẩm,làm tiêu bản và kinh nghiệm của người đọc kết quả Hạn chế của FNA

là chỉ cho biết cấu trúc về mặt tế bào mà không cho biết cấu trúc mô học của

tổ chức khối u như sự phát triển, xâm lấn, phá huỷ, sự phát triển vô tổ chức và

sự di căn vào đường máu, đường bạch mạch Kết quả chọc hút tế bào bằngkim nhỏ được trả lời thành 4 dạng:

- Ác tính( dương tính): Chiếm khoảng 4-5%, có thể là một trong các loạiung thư thể nhú, thể nang, thể tủy, không biệt hóa…

- Lành tính( âm tính) : Chiếm khoảng 69-74% với các tổn thương nhưnang keo, viêm tuyến giáp bán cấp, viêm tuyến giáp Hashimoto

- Nghi ngờ( không xác định) : Quá sản, quá sản tế bào Hurthle, và cáckết quả khác nhưng không khẳng định là ung thư

- Không xác định: Chỉ thấy tế bào bọt( foam cell), hoặc chỉ thấy dịchnang, hoặc có quá ít tế bào, hoặc có quá nhiều hồng cầu hoặc làm khô quámạnh Những trường hợp này nên chọc lại dưới hướng dẫn của siêu âm

Trang 20

1.7.2 Phương pháp chẩn đoán mô bệnh học bằng kĩ thuật chọc kim sinh thiết:

Về mục đích, phương pháp chẩn đoán mô bệnh học bằng kĩ thuật chọckim sinh thiết bằng kim lớn nhằm mục đích chẩn đoán mức độ mô học, trướckhi tiến hành phẫu thuật Phương pháp này được tiến hành dưới hướng dẫncủa siêu âm hoặc của cắt lớp vi tính, Hiện nay trên lâm sàng phương pháp nàyđược lựa chọn tối ưu cho các cơ quan khác như phổi, thận, gan, vú,… Tuynhiên đối với tuyến giáp, tỷ lệ các bác sĩ tiến hành sinh thiết tuyến giáp bằngkim lớn chưa nhiều do các tai biến có thể xảy ra như chảy máu, gieo rắc tếbào ung thư, khó thực hiện với những u ở sâu Tuy nhiên, đối với các u ởnông thì phương pháp này là một phương pháp mang lại hiệu quả cao, đánhgiá được tổn thương mô bệnh học, và đưa lại cho bác sĩ điều trị những đánhgiá tốt nhất trước khi quyết định phẫu thuật hay hướng điều trị đúng cho bệnhnhân

1.7.3 Sinh thiết khối u

Sinh thiết khối u là phương pháp lấy bỏ khối u và gửi giải phẫu bệnh,xem xét được các cấu trúc đại thể cũng như vi thể của khối u, cho phép đánhgiá loại tổn thương, mức độ xâm lấn cũng như sự biến đổi cấu trúc về tế bào,tình trạng đảo lộn cấu trúc xung quanh, xâm lấn hạch vùng Sinh thiết khối u

là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán xác định, chẩn đoán giai đoạn từ đó đưa ra cácbiện pháp điều trị thích hợp cũng như đối chiếu với các kết quả chẩn đoán

1.8 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh tuyến giáp

1.8.1 Chụp cắt lớp vi tính

Hiện nay,có rất nhiều thế hệ máy chụp cắt lớp vi tính như CT đa dãyđầu dò, CT xoắn ốc, SPECT, PET, với tốc độ xử lí hình ảnh nhanh, rõ ràng,

Trang 21

cho phép đánh giá được nghi ngờ sự ác tính của tổn thương, tình trạng di cănhạch lân cận và tình trạng di căn xa Tuy nhiên, không có các đặc điểm đặchệu để chẩn đoán phân biệt tổn thương lành tính hay ác tính trên CT, do đó,vẫn chưa rõ ràng khi sử dụng Ct để chẩn đoán ung thư tuyến giáp mới pháthiện Gần đây, một vài nghiên cứ chỉ ra rằng các đặc điểm phổ biến nhất củaung thư tuyến giáp thể nhú bao gồm giảm tỷ trọng không đồng nhất, chiều caocao hơn chiều rộng, không có vôi hóa và ngấm thuốc không đống nhất[14] Các đặc điểm để đánh giá một tổn thương nghi ngờ là ác tính trên phim CTbao gồm bờ không đều, có xâm lấn ra khỏi vỏ bao, có hạch xung quanh, tổnthương xâm lấn các cấu trúc xung quanh Các yếu tố nghi ngờ trên CT baogồm dấu hiệu xâm lấn xung quanh và có hạch bất thường vùng lân cận.Cácdấu hiệu của một tổn thương hạch bất thường gồm thành phần hoại tử, có vôihóa , ngấm thuốc và đường kính trục ngắn của hạch >1.5cm đối với hạch ở

cơ hai bụng cùng bên hoặc >1cm ở hạch các vùng khác Hạch nhóm cổ IV và

cổ VI thì nghĩ đến nguy cơ di căn cao hơn nhóm khác.Vì vậy, đánh giá kíchthước của nốt tổn thương và tuổi của bệnh nhân là yếu tố để quyết định nêntheo dõi cho các bệnh nhân mà kỳ vọng sống trung bình và không có dấu hiệuhình ảnh nghi ngờ Cần tiến hành siêu âm đánh giá thêm với những bệnhnhân dưới 35 tuổi mà nốt có đường kính trục ngắn >1cm ở mặt phẳng axial ,với bệnh nhân trên 35 tuổi thì nên theo dõi nếu giá trị này >1.5 cm và đối vớitổn thương gồm nhiều nốt thì nên đánh giá nốt lớn nhất[15]

1.8.2 Chụp MRI đánh giá tuyến giáp

Chụp MRI đánh giá tuyến giáp là một phương pháp ít được áp dụng trênthực hành lâm sàng do vấn đề kinh tế cũng như kỹ thuật thăm khám Cũngnhư chụp CT, MRI tuyến giáp không có các dấu hiệu đặc hiệu để đánh giá tổnthương ung thư tuyến giáp, MRI chỉ giúp đánh giá tình trạng di căn hạch, xâmlấn các cấu trúc xung quanh tuyến giáp và tình trạng di căn đến các bộ phận

Trang 22

khác Một số đặc điểm của ung thư tuyến giáp thể nhú trên phim MRI tín hiệucủa tổn thương trên chuỗi xung T2 SIR và ADC thấp hơn rõ ràng so với tổnthương lành tính tuy nhiên không có sự khác biệt trên T1SIR Độ nhạy, độđặc hiệu và độ chính xác cho chẩn đoán ung thư tuyến giáp thể nhú trên chuỗixung T2SIR lần lượt là 86%, 100%, 0.929 và trên ADC là 93%, 93%, và0.929; và là 93%, 93%, và 0.929 khi kết hợp cả T2SIR và ADC [16]

1.8.3 Siêu âm 2D ( siêu âm thường quy)

1.8.3.1 Vai trò của siêu âm

Từ những năm 70 đến gần đây, siêu âm được đưa vào sử dụng nhưmột công cụ thường quy đánh giá các tổn thương ở tuyến giáp trong đó cácgiá trị của siêu âm mang lại rất lớn vì có thể xác định có hay không các tổnthương nhân tuyến giáp, đặc biệt các nhân không đánh giá được trên lâmsàng.Siêu âm giúp đánh giá được các tổn thương này là thuộc tuyến giáp haykhông, các tổn thương được phát hiện này sẽ được đánh giá theo các bảngđiểm phân loại nguy cơ ác tính để lựa chọn biện pháp tiếp theo phù hợp chobệnh nhân Theo bảng điểm phân loại TIRADS của ACR ( Hiệp hội điệnquang Hoa Kỳ) dựa vào 5 đặc điểm siêu âm và cách cho điểm gồm :

- Thành phần:

 Cấu trúc trống âm, hoàn toàn là nang dịch(0 điểm)

 Nhân thoái hóa nang dạng bọt biển(0 điểm)

 Nang hỗn hợp hoặc nhân đặc (1 điểm)

 Nhân đặc hoặc hầu như là tổ chức đặc (2 điểm)

- Cấu trúc âm:

 Trống âm : 0 điểm

 Tăng âm hoặc đồng âm: 0 điểm

 Giảm âm: 1 điểm

Trang 23

 Rất giảm âm: 2 điểm

- Hình dạng :

 Chiều rộng lớn hơn chiều cao (0 điểm)

 Chiều cao lớn hơn chiều rộng( 3 điểm)

- Đường bờ

 Bờ nhẵn (0 điểm)

 Bờ đều (0 điểm)

 Bờ không đều, đa thùy( 2 điểm)

 Xâm lấn vỏ bao ( 3 điểm)

- Tình trạng vôi hóa

 Không vôi hóa hoặc vôi hóa lớn(có đuôi sao chổi lớn) (0 điểm)

 Vôi hóa thô( 1 điểm)

 Vôi hóa viền (2 điểm)

 Vi vôi hóa( đốm tăng âm lấm tấm) (3 điểm)

- Cộng điểm từ 5 đặc tính trên, từ đó xác định mức độ TI-RADS gồm:

 0 điểm: TI-RADS 1- Lành tính- không FNA

 2 điểm : TI-RADS 2- Không nghi ngờ- không FNA

 3 điểm : TI-RADS 3- Nghi ngờ ít- FNA nếu ≥ 2.5cm, theo dõi nếu ≥1.5 cm

 4-6 điểm: TI-RADS 4- Nghi ngờ vừa- FNA nếu ≥ 1.5cm, theo dõi nếu

≥ 1cm

 ≥ 7 điểm: TI-RADS 5- Nghi ngờ nhiều- FNA nếu ≥ 1cm, theo dõi nếu

≥ 0.5cm

Trang 24

1.8.3.2 Các tổn thương lành tính trên siêu âm 2D tuyến giáp

- Nang tuyến giáp:

Nang thật sự của tuyến giáp rất hiếm, phần lớn là nang thứ phát sauquá trình nang hoá các nhân tuyến, nang keo là quá trình kết tụ các túi nangtrong bướu giáp keo Hình ảnh nang cũng giống với nang các tuyến khác, trênhình siêu âm rất rõ, trong nang không có hồi âm, đồng nhất tạo ra vùng tăng

âm tương đối phía sau nang, thành nang nhẵn đều

- Tăng sản dạng nốt

Trên nền nhu mô xuất hiện nhiều nốt, kích thước lớn nhỏ khác nhau,hình ảnh siêu âm điển hình là các nốt đồng âm với nhu mô tuyến, bờ đều,vòng Halo đều, mảnh Đôi khi có hiện tượng nang hoá trung tâm do xuấthuyết, hoại tử hoặc tích tụ keo

- Viêm khu trú tuyến giáp

Vùng tổn thương có độ hồi âm giảm, bờ không đều, ranh giới không rõ,tăng sinh mạch máu Tổn thương tiến triển có thể tạo ổ áp-xe với những hình

Trang 25

ảnh hốc dịch hồi âm lợn cợn, bờ thô ráp, có thể có hạch lân cận.

- U tuyến tuyến giáp

Với hình ảnh siêu âm là một khối, đa số là đồng âm hoặc tăng âm so vớinhu mô tuyến, có vòng Halo mảnh, đều Có thể có vôi hoá thô, tích đống, nốtlớn, vỏ sò hoặc vi vôi hoá Có thể dịch hoá trung tâm

1.8.4 Siêu âm Doppler màu tuyến giáp

Ngày nay siêu âm Doppler đã đóng góp phần quan trọng trong khảo sáttình trạng tăng sinh mạch máu ở các khối u, nhất là các khối u ác tính trong

đó có ung thư tuyến giáp Khảo sát siêu âm Doppler trên tổn thương khu trútuyến giáp cho nhiều thông tin có giá trị Đánh giá về huyết động như sự tướimáu, mẫu dòng chảy và chỉ số kháng trở (gia tăng sự tưới máu, rối loạn dòngchảy và giảm chỉ số trở kháng trong ung thư) Là một trong các phương phápthăm dò hình thái, cấu trúc và kích thước khá chính xác, khách quan và antoàn so với một số thăm dò cận lâm sàng khác

1.8.5 Siêu âm đàn hồi mô tuyến giáp

Dựa trên nguyên lí rằng các tổn thương ung thư thường chắc và cứng, do

đó, siêu âm đàn hồi mô đánh giá độ cứng của mô, cung cấp thêm về bản chấtcủa khối u Trên lâm sàng hiện nay có hai loại siêu âm đàn hồi mô được ứngdụng là sóng biến dạng theo chiều dọc( Strain Elastography ) và sóng biếndạng ngang ( Shear way Elastography)

1.8.5.1 Nguyên lí - kỹ thuật của phương pháp siêu âm đàn hồi mô Strain Elastography:

Khi áp một lực nén lên trên vùng mô cần khảo sát, vùng mô này đượccấu thành từ nhiều loại mô khác nhau, thì lực nén sẽ tác động lên tất cả các

Trang 26

điểm của vùng mô khảo sát làm mô tổ chức đó căng lên, điều nhận xét đặcbiệt quan trọng là ở nơi nào có tính chất chắc hơn thì ở đó chịu sức căng kémhơn, còn mô có tính chất mềm hơn thì chịu sức căng lớn hơn, như thế quađánh giá sức căng thì có thể biết được độ đàn hồi của mô Đối với StrainElastography thì đòi hỏi một lực nén từ đầu dò theo cơ chế lực tác dụng cơhọc thuần túy, khi đó thì mô biến dạng từ lực nén được đo đạc và tính tỷ lệgiữa ảnh B-mode và ảnh elastography.Khi đó lực nén cần được thực hiện liêntục và khi đó, sự chuyển động đi qua đi lại của hình ảnh lốm đốm sẽ đượchình thành, các thông tin về độ đàn hồi được chuyền tới máy theo đường âmvang RF Các mô cứng hơn thì ít dịch chuyển hơn so với mô mềm do đó được

mã hóa theo các thang màu theo quy ước, từ màu đỏ(mô mềm) đế màuxanh( mô cứng) và tùy theo cài đặt của máy

Hình 2.1 Nguyên lí của các kĩ thuật đàn hồi mô hiện nay

Trang 27

Hình 2.2 Các thang điểm độ cứng của Strain Elastography gồm:

A: Thang điểm theo Rago và cộng sự:

- Độ 1: Biến dạng toàn bộ nốt

- Độ 2: Biến dạng phần lớn của nốt

- Độ 3: Biến dạng một phần ngoại vi của nốt

- Độ 4: không có biến dạng trong nốt

Trang 28

- Độ 5: Không có biến dạng trong nốt và vùng ngoại

vi xung quanh nốt

B: Thang điểm Asteria và cộng sự:

- Độ 1: Biến dạng hoàn toàn nằm trong nốt

- Độ 2: Biến dạng phần lớn nốt

- Độ 3: Phần cứng chiếm gần toàn bộ

- Độ 4: Toàn bộ nốt đều cứng

1.8.5.2 Siêu âm đàn hồi mô bán định lượng( Strain Ratio):

Là tỷ số về độ cứng vùng cần thăm khám với mô lành xung quanh có cùng độsâu, tỷ số này được máy phân tích một cách tự động Bác sĩ là người đặt ROIvào vị trí cần đo độ cứng so với nhu mô xung quanh, dựa vào kích cỡ ROI và

vị trí đặt nên gọi là bán định lượng

1.8.5.3 Siêu âm đàn hồi mô sóng biến dạng ngang( Shear way Elastography):

Khi phát một sóng âm rung động vào tổn thương, các sóng này truyềnqua tổ chức bị biến dạng theo chiều ngang, khi đó, người ta đánh giá sự biếndạng này dựa vào tốc độ di chuyển của mô Lực nén này được phát ra từ đầu

dò theo hãng máy nên không phụ thuộc vào lực người làm, ứng dụng trongnhân giáp gồm sóng biến dạng âm và độ biến dạng âm ARFI.Màu được biểuhiện tốc độ hoặc độ đàn hồi, mô mềm là màu xanh, mô cứng sẽ màu đỏ

Hình 2.3 Cơ chế siêu âm đàn hồi mô sóng biến dạng ngang

Trang 29

1.9 Tình hình nghiên cứu siêu âm đàn hồi mô trong và ngoài nước

1.9.1 Tình hình nghiên cứu siêu âm đàn hồi trong nước

Phạm Như Ánh và cộng sự nghiên cứu trên 63 nhân giáp trên tổng số 57bệnh nhân , siêu âm đàn hồi mô bán định lượng SR=4.35 có độ nhạy 69% và

độ đặc hiệu 76,2% với p=0,001, tỷ lệ dự báo dương tính là 85,29% và tỷ lệ dựđoán đúng là 71,43%

Phạm Diệu Hương và cộng sự nghiên cứu trên 72 nốt tuyến giáp, siêu

âm đàn hồi mô bán định lượng SR ≥ 2.5 có ý nghĩa trong chẩn đoán ung thưvới độ nhạy và độ đặc hiệu 83,3% và 78,3%

Nguyễn Hữu Thịnh và cộng sự nghiên cứu 44 nốt với siêu âm đàn hồi

mô định tính, độ nhạy 80%, độ đặc hiệu 97,44%, giá trị dự đoán dương tính80%, giá trị dự đoán âm tính 97,44%

Hiện nay chưa hề có nghiên cứu nào đối với siêu âm đàn hồi mô sóngbiến dạng ngang trên mẫu bệnh nhân già, đây là kỹ thuật mới nổi vài năm gầnđây và hầu như chưa có nhiều nghiên cứu có tính chất hệ thống

đo độ cứng so với nhu mô xung quanh, dựa vào kích cỡ ROI và vị trí đặtnên gọi là bán định lượng

1.9.2 Tình hình nghiên cứu siêu âm đàn hồi mô trên thế giới

Hiện nay trên thế giới ứng dụng siêu âm đàn hồi mô mới được phát triểntrong hơn một thập kỷ qua Trong đó có thể thấy nhiều nghiên cứu về siêu âmđàn hồi mô các các loại u ở các cơ quan khác nhau, ví dụ các khối u phầnmềm vùng cổ, vùng chi, và đánh giá hạch Đối với tuyến giáp nhiều nghiêncứu siêu âm đàn hồi mô đánh giá được công bố năm 2019 Nghiên cứu củaLi-Jen Liao và cộng sự nghiên cứu trên 185 bệnh nhân có nhân tuyến giáp, cósiêu âm đàn hồi mô sóng biến dạng và bán định lượng trong đó giá trị SWE ≥

Ngày đăng: 07/08/2019, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lin, J., et al., Characteristics of thyroid carcinomas in aging patients.European journal of clinical investigation, 2000. 30(2): p. 147-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Characteristics of thyroid carcinomas in aging patients
12. Do, B.A., et al., Is age associated with risk of malignancy in thyroid cancer? Otolaryngology--Head and Neck Surgery, 2014. 151(5): p. 746- 750 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is age associated with risk of malignancy in thyroidcancer
13. Chereau, N., et al., Prognosis of papillary thyroid carcinoma in elderly patients after thyroid resection: a retrospective cohort analysis.Medicine, 2016. 95(47) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prognosis of papillary thyroid carcinoma in elderlypatients after thyroid resection: a retrospective cohort analysis
14. Kim, D.W., Computed tomography features of papillary thyroid carcinomas. Journal of computer assisted tomography, 2014. 38(6): p.936-940 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Computed tomography features of papillary thyroidcarcinomas
15. Hoang, J.K., et al., Managing incidental thyroid nodules detected on imaging: white paper of the ACR Incidental Thyroid Findings Committee. Journal of the American College of Radiology, 2015. 12(2):p. 143-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing incidental thyroid nodules detected onimaging: white paper of the ACR Incidental Thyroid FindingsCommittee
16. Noda, Y., et al., MRI of the thyroid for differential diagnosis of benign thyroid nodules and papillary carcinomas. American Journal of Roentgenology, 2015. 204(3): p. W332-W335 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MRI of the thyroid for differential diagnosis of benignthyroid nodules and papillary carcinomas
17. Liao, L.-J., et al., Comparison of strain elastography, shear wave elastography, and conventional ultrasound in diagnosing thyroid nodules. Journal of Medical Ultrasound, 2019. 27(1): p. 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of strain elastography, shear waveelastography, and conventional ultrasound in diagnosing thyroidnodules
18. Zhao, C.-K. and H.-X. Xu, Ultrasound elastography of the thyroid:principles and current status. Ultrasonography, 2019. 38(2): p. 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ultrasound elastography of the thyroid:"principles and current status

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w