1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm lâm SÀNG, cận lâm SÀNG và TÌNH TRẠNG NHIỄM TRÙNG ở TRẺ EM bị BỆNH mày ĐAY

74 145 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh mày đay liên quan mật thiết đến vai trò củatế bào mast và sự giải phóng histamin nên điều trị bệnh bằng các thuốc khánghistamin và/hoặc corticoid trong thời gian ngắn giúp lành tổn

Trang 1

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

Trang 2

chân thành về tinh thần và kiến thức từ các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè.Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu trường đại học Y Hà Nội và phòng đào tạo đại học, cácthầy, cô trong bộ môn Da liễu cùng toàn thể các thầy, cô của trường đại học Y

Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập trên ghếnhà trường và tiến hành nghiên cứu

Ban Giám đốc, phòng kế hoạch tổng hợp và tập thể cán bộ bác sĩ, điềudưỡng, nhân viên khoa Bệnh da phụ nữ và trẻ em, Bệnh viện Da liễu Trung ương,

đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, thu thập số liệu nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS BS Trần Thị Huyền, giảng

viên bộ môn Da liễu trường đại học Y Hà Nội, bác sĩ Bệnh viện Da liễu Trungương, người đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt quátrình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm khóa luận

đã cho em những góp ý quý giá để hoàn thiện khóa luận

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên

và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 06 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Minh Châu

Trang 3

kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trongbất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Hà Nội, tháng 06 tháng 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Minh Châu

Trang 4

CRP : C-reactive protein

(Protein phản ứng C)LTRA : Leukotriene receptor antagotanist

(Chất đối kháng thụ thể leukotrien)PAF

TNF-alpha

: Platelet activating factor(Yếu tố hoạt hóa tiểu cầu): Tumor necrosis factor alpha(Yếu tố hoại tử u alpha)

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mày đay (urticaria/ hives) là một bệnh da thường gặp Trên thế giới cứ

100 người sẽ có khoảng 15-20 người mắc mày đay cấp tính ít nhất một lầntrong đời [1] Ở Việt Nam, theo Nguyễn Năng An, tỉ lệ này là 11,16% [2].Bệnh gặp ở mọi giới, mọi chủng tộc cũng như mọi lứa tuổi, trong đó chủ yếu

là ở giai đoạn từ sơ sinh đến 9 tuổi và từ 30 đến 40 tuổi [3]

Chẩn đoán mày đay chủ yếu dựa vào lâm sàng Bệnh đặc trưng bởinhững tổn thương ban đỏ, sẩn phù có viền bao quanh, ranh giới rõ với vùng

da lành Chúng có hình dạng và kích thước thay đổi, có thể rải rác hoặc tậptrung thành từng mảng và xuất hiện ở bất cứ nơi nào trên cơ thể, kéo dài 30phút đến tối đa 24 giờ rồi mất đi và xuất hiện các tổn thương mới Bệnhthường rất ngứa, dai dẳng làm bệnh nhân rất khó chịu

Mày đay gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của ngườibệnh Ở người lớn, mày đay làm giảm chất lượng công việc Còn với trẻ nhỏ,bệnh làm trẻ kích thích, quấy khóc, kém ăn, kém chơi Với những trẻ lớn đang

độ tuổi đến trường, bệnh làm trẻ kém tập trung, ngứa ngáy, lo lắng, mất ngủ,mệt mỏi dẫn đến giảm khả năng học tập, thậm chí phải nghỉ học

Một số trường hợp bệnh mày đay đi kèm với phù Quincke Đó là một tổnthương sưng nề sâu dưới da với biểu hiện sưng phù là chính, da phía trên cómàu đỏ hoặc bình thường Chúng thường ít ngứa nhưng đau, rát bỏng và xuấthiện chủ yếu ở môi, mi mắt, lưỡi, đôi khi ở niêm mạc các cơ quan nội tạng(thanh quản, dạ dày, ruột …)

Căn nguyên gây bệnh mày đay rất phức tạp, bao gồm nguyên nhân bêntrong, bên ngoài, thậm chí không rõ căn nguyên Trên cùng một bệnh nhân cóthể có một hoặc nhiều căn nguyên kết hợp Thuốc, thức ăn, mạt bụi nhà, thayđổi thời tiết là những căn nguyên hay gặp nhất Ngoài ra, một số tác giả cho

Trang 9

rằng nhiễm khuẩn là một trong những căn nguyên hàng đầu gây nên tình trạngmày đay cấp ở trẻ nhỏ [4] Bệnh mày đay liên quan mật thiết đến vai trò của

tế bào mast và sự giải phóng histamin nên điều trị bệnh bằng các thuốc khánghistamin và/hoặc corticoid trong thời gian ngắn giúp lành tổn thương, giảmngứa nhanh chóng

Trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về bệnhmày đay nhưng tập trung chủ yếu ở đối tượng người lớn [1],[3] Các nghiêncứu về bệnh mày đay ở trẻ em còn ít [4] Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứunào về đặc điểm của bệnh mày đay ở trẻ em tại Bệnh viện Da liễu Trungương

Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

và tình trạng nhiễm trùng ở trẻ em bị bệnh mày đay” với 2 mục tiêu:

1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh mày đay ở trẻ em được điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 08/2018 đến tháng 04/2019.

2 Nhận xét tình trạng nhiễm trùng ở trẻ em bị bệnh mày đay.

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Đại cương về bệnh mày đay

Sẩn phù ở bệnh nhân mày đay có 3 đặc điểm nổi bật:

- Hình dạng thay đổi với sẩn phù ở giữa, bao quanh bởi một viền đỏ

- Cảm giác ngứa, đôi khi bỏng rát

- Xuất hiện và biến mất trong vòng 30 phút đến 24 giờ trên nền da lành

Phù mạch trong mày đay đặc trưng bởi:

- Sẩn phù đỏ hoặc thay đổi màu sắc da xuất hiện đột ngột, rõ rệt ở dưới da hoặcniêm mạc

- Cảm giác đau, bỏng rát nổi trội hơn là ngứa

- Biến mất chậm hơn so với mày đay (có thể kéo dài tới 72 giờ)

1.1.2 Vài nét lịch sử về bệnh mày đay

Thuật ngữ mày đay có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “urtica” nghĩa là câytầm ma, là loại cây dại, có hoa, thụ phấn nhờ gió, trên thân và lá có chi chítcác lông nhỏ chứa acid formic, khi tiếp xúc với da sẽ gây phản ứng làm cho

da rất ngứa và nhức

Bệnh mày đay đã được đề cập từ rất sớm, Hippocrate (460-377 trướcCông nguyên) đã mô tả các tổn thương rất ngứa ở da do tiếp xúc với lông của

Trang 11

cây tầm ma và do côn trùng cắn, ông gọi nó là “knidosis” – tên Hy Lạp củacây tầm ma (nettle) Đặc biệt ông cũng đề cập đến những vết lằn trên da ởnhững bệnh nhân rối loạn tiêu hóa nhưng các thương tổn này ít ngứa hơn sovới những vết đốt của côn trùng [5].

Năm 1769, bác sĩ người Scotland William Cullen đã sử dụng thuật ngữ

“urticaria” và đặt tên chính thức cho căn bệnh mày đay này trong cuốn sách

“Synopsia Nosalogiae Methodica” [6]

Năm 1882, Quincke phát hiện ra hội chứng phù mạch, sau này đượcmang tên tác giả (phù Quincke) [7]

Năm 1906, bác sĩ Nhi khoa Von Pirquet người Áo, lần đầu tiên sử dụngthuật ngữ dị ứng (allergy) để chỉ khả năng phản ứng đặc hiệu đối với chấtngoại lai của cơ thể mẫn cảm [8]

Năm 1910, Dale đề xuất vai trò của histamin trong cơ chế dị ứng Sau

đó, một loạt các chất trung gian có vai trò trong dị ứng lần lượt được pháthiện: acetylcholin (1914), bradykinin (1949), serotonin (1954), prostaglandin(1936, 1967) và một số chất khác [8]

Thuốc kháng histamin được tìm ra đầu tiên bởi Bovet và Staub năm

1937 [9]

1.1.3 Dịch tễ học

Mày đay là bệnh phổ biến Theo một nghiên cứu tại vương quốc Anh, tỉ

lệ mắc bệnh mày đay là 15-20% trong dân số, trong đó chỉ có 1-3% bệnhnhân phải nhập viện điều trị [1] Tuổi, giới, chủng tộc, nghề nghiệp, vị trí địa

lí và các mùa trong năm được xem như là yếu tố nguy cơ của bệnh Theo sốliệu của trung tâm dịch vụ chăm sóc y tế ngoại trú Mỹ từ năm 1990-1997, phụ

nữ chiếm 69% tổng số người mắc mày đay, bệnh có hai đỉnh tuổi là từ sơ sinhđến 9 tuổi và từ 30 đến 40 tuổi [10]

Trang 12

Mày đay cấp tính có thời gian kéo dài dưới 6 tuần Hầu hết các đợt cấp

có liên quan đến thức ăn, thời tiết, việc sử dụng thuốc hoặc tình trạng nhiễmtrùng ở trẻ nhỏ

Mày đay kéo dài trên 6 tuần được gọi là mày đay mạn tính Mày đaymạn tính được chia ra làm 2 nhóm lớn: mày đay mạn tính có yếu tố khởi phát(45%) và mày đay mạn tính tự phát (55%) với tỉ lệ mắc là 0,5% dân số [11].Theo nghiên cứu của Kanani, có 85% trẻ em bị mày đay không kèm theophù mạch còn 45% người lớn bị mày đay có phù mạch kèm theo [12]

1.1.4 Phân loại mày đay dựa trên thời gian và yếu tố nguy cơ

Sự phân bố dưới typ của mày đay rất rộng và trên một bệnh nhân có thểsong song tồn tại hai hay nhiều dưới typ khác nhau

Hiện nay, mày đay được phân loại phổ biến theo 2 cách: dựa trên thờigian bị bệnh và dựa trên nguyên nhân gây bệnh, yếu tố khởi phát

Bảng 1.1 Phân loại bệnh mày đay

Phân loại theo thời gian Phân loại theo nguyên nhân

Mày đay cấp: bệnh kéo dài

dưới 6 tuần

Mày đay mạn: bệnh kéo dài

trên 6 tuần và thương tổn mày

đay xuất hiện ít nhất 2 lần mỗi

- mày đay do ánh sáng mặt trời

- mày đay do nhiệt

- chứng vẽ nổi

- mày đay do rung động

- mày đay cholinergic

- mày đay do nước

Trang 13

1.1.5 Cơ chế bệnh sinh

Mày đay là bệnh đặc trưng bởi sự hoạt động của tế bào mast Khi có dịnguyên xâm nhập, các tế bào lympho T nhận dạng và tiết ra các kháng thểIgE, chúng gắn vào các thụ thể đặc hiệu ái lực cao FcεRI trên bề mặt tế bàomast và mở đầu cho các chuỗi phản ứng tiếp theo Histamin và các chất trunggian khác, như yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (platelet activating factor, PAF) và cáccytokin được tiết ra từ các tế bào mast hoạt động ở da Kết quả dẫn tới sự hoạthóa hệ thần kinh cảm giác, giãn mạch và thoát huyết tương, sự tập trung tếbào viêm đến vùng tổn thương mày đay Về mô bệnh học, mày đay được mô

tả bởi sự phù nề ở thượng bì và trung bì, cùng với sự giãn mạch và tăng tínhthấm thành mạch, thoát huyết tương ở mô dưới da Còn phù mạch có cơ chếtương tự nhưng xảy ra ở lớp hạ bì và mô liên kết Vùng da bị mày đay thườngbiểu hiện sự tăng các phân tử kết dính nội mô, các peptid thần kinh, yếu tốtăng trưởng Có sự thâm nhiễm các tế bào viêm ra khỏi thành mạch như bạchcầu hạt trung tính, có thể kèm theo bạch cầu ưa acid, bạch cầu ưa base, cácđại thực bào, và tế bào lympho T nhưng không có sự thoái hóa thành mạch.Đây chính là đặc trưng của viêm mạch trong bệnh mày đay Vùng da khôngtổn thương ở bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát cũng có sự gia tăng cácphân tử kết dính, thâm nhiễm các bạch cầu ưa acid và có mặt của các cytokin.Một số tác giả cũng đề cập đến có sự tăng từ nhẹ đến trung bình của các tếbào mast Những nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến phức hợp tự nhiên trongsinh bệnh học của mày đay, chúng góp phần gây ra sự giải phóng histamin từcác tế bào mast ở da Những đặc trưng này của bệnh mày đay cũng được nhậnthấy ở trong một số tình trạng viêm khác nên chúng không đặc hiệu và không

có giá trị chẩn đoán Các dấu ấn sinh học đặc hiệu để phân biệt các typ màyđay khác nhau và phân biệt bệnh mày đay với các trình trạng bệnh khác đangđược tìm kiếm

Trang 14

Hình 1.1 Hoạt động của tế bào mast tại vùng da tổn thương ở bệnh mày đay.

Nguồn:http://www.genomics.sinica.edu.tw/index.php/en/news/news-archives/429-anti-ige

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh mày đay:

Thuốc là một trong những tác nhân hàng đầu được nghi ngờ gây bệnhmày đay Nhiều trường hợp bệnh cải thiện rõ rệt sau khi dừng hoàn toàn thuốcnghi ngờ khởi phát bệnh hoặc được thay thế bằng một nhóm thuốc khác.Các tác nhân vật lý được đề cập đến rất nhiều trong mày đay mạn tính cóyếu tố khởi phát Thông tin đầy đủ của từng loại tác nhân rất quan trọng giúpngười bệnh hiểu rõ để nhận biết và phòng tránh chúng trong đời sống hàng ngày.Tình trạng nhiễm trùng cũng được báo cáo có liên quan tới mày đay mạn

tính Các vi sinh vật được nhắc đến gồm Helicobacter pylori gây bệnh lí dạ

dày, các vi khuẩn vùng mũi họng [13] Kí sinh trùng đường ruột hiếm gặp vàđược nhận thấy là tác nhân gây mày đay mạn tính ở những nước công nghiệpphát triển [13] Trước đây, Candida đường ruột được cho là nguyên nhân quantrọng của mày đay mạn tính [13] nhưng những phát hiện gần đây không ủng hộvai trò của nó trong việc gây ra bệnh mày đay [14] Ngoài các bệnh nhiễmtrùng, các quá trình viêm mạn tính cũng được xác định là yếu tố gây nên bệnh

Trang 15

mày đay mạn tính, đặc biệt các bệnh viêm dạ dày mạn tính, hội chứng tràongược dạ dày thực quản, viêm ống mật, túi mật, viêm gan virus [15]

Mặc dù không có nhiều nghiên cứu về cơ chế tác động của stress nhưngcũng có bằng chứng cho thấy có sự liên quan về mức độ nghiêm trọng và hoạtđộng của bệnh với mức độ stress [16] Đặc biệt, sự căng thẳng về thể chất vàtinh thần có liên quan tới mày đay do cholinergic [17]

Dị ứng thức ăn qua IgE là nguyên nhân hiếm gặp gây ra mày đay mạntính Một số loại thức ăn như hải sản, các loại hạt, trứng, lùa mì, đậu nành làtác nhân gây bệnh thường gặp [15]

1.1.6 Triệu chứng lâm sàng

Ngứa: thường là dấu hiệu đầu tiên, xảy ra ở nơi sắp sửa xuất hiện cácthương tổn, mức độ ngứa mang tính chủ quan của từng bệnh nhân và phụthuộc vào mức độ bệnh Đây là triệu chứng khiến bệnh nhân khó chịu, ảnhhưởng đến công việc, học tập, sinh hoạt

Thương tổn da cơ bản: dát đỏ, sẩn phù, kích thước 1-8 cm, màu đỏ hoặcmàu trắng với viền đỏ xung quanh, đa hình thái, hình tròn, ovan hoặc đa cung,ranh giới rõ với vùng da lành xung quanh Các thương tổn khu trú hoặc lanrộng thành từng mảng lớn, phân bố khắp nơi trên cơ thể Thời gian tồn tạingắn, biến mất hoàn toàn sau 24 giờ

Phù mạch: sưng nề mi mắt, môi, lưỡi, đầu chi và có thể ở cả niêm mạccác cơ quan nội tạng như phù thanh quản gây khó thở, phù mạch ở niêm mạc

dạ dày, đường ruột gây đau bụng, rối loạn tiêu hóa,…

Mày đay có thể tồn tại đơn thuần hoặc kết hợp với phù mạch

1.1.7 Cận lâm sàng

- Mô bệnh học: hình ảnh phù trung bì, mô dưới da, giãn mạch nhưng không có

sự phá hủy thành mạch Có hiện tượng xâm nhập của các tế bào viêm, chủyếu là tế bào lympho tại mô tổn thương

Trang 16

- Xét nghiệm kí sinh trùng, vi khuẩn

Xét nghiệm phân tìm kí sinh trùng đường tiêu hóa

Nội soi dạ dày, xét nghiệm tìm Helicobacter pylori ở những bệnh nhân

có kèm viêm loét dạ dày – tá tràng

1.1.8 Chẩn đoán

1.1.8.1 Mày đay cấp tính

Mày đay cấp tính được chẩn đoán chủ yếu dựa vào tiền sử và triệu chứnglâm sàng Mày đay cấp tính thường tự khỏi và kéo dài tối đa trong vòng 6tuần Vì vậy các test chẩn đoán không được khuyến cáo để chẩn đoán màyđay cấp tính Trừ thường hợp nghi ngờ mày đay do dị ứng typ 1 ở những bệnhnhân nhạy cảm hoặc có những yếu tố liên quan khác như thức ăn, thuốcchống viêm không steroid Trong trường hợp này, test kích thích, test lẩy davới dị nguyên nên được tiến hành để tìm ra nguyên nhân thích hợp giúpphòng tránh

1.1.8.2 Mày đay mạn tính

Việc chẩn đoán mày đay mạn gồm 3 mục tiêu: loại trừ các chẩn đoánphân biệt; đánh giá mức độ hoạt động, ảnh hưởng và kiểm soát bệnh mày đay;xác định các yếu tố nguy cơ làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh hoặc chỉ racác nguyên nhân gây bệnh

Trang 17

1.1.9 Điều trị

1 Mục tiêu điều trị là điều trị cho đến khi khỏi bệnh

2 Cách tiếp cận điều trị mày đay mạn:

a Xác định và loại bỏ nguyên nhân

b Tránh các yếu tố nguy cơ

Xác định và loại bỏ nguyên nhân, tránh các yếu tố nguy cơ

Để loại bỏ nguyên nhân cần phải chẩn đoán chính xác bệnh Tuy nhiênxác định nguyên nhân mày đay mạn ở hầu hết các trường hợp là rất khó, ví dụnhiễm trùng có thể là nguyên nhân, có thể là yếu tố nguy cơ hoặc không liênquan đến bệnh Cách duy nhất xác định nguyên nhân đó là sử dụng test kíchthích mù đôi, triệu chứng bệnh thuyên giảm khi loại bỏ yếu tố được nghi ngờ

là nguyên nhân gây bệnh và các triệu chứng sẽ quay trở lại khi tiếp xúc vớinguyên nhân

Trang 18

Điều trị triệu chứng bằng thuốc

Nguyên tắc chung của điều trị bằng thuốc là để giảm hoàn toàn triệuchứng, sử dụng thuốc tối đa khi cần và tối thiểu nhất có thể Các thuốc có tácdụng khác nhau được lựa chọn trong các đợt khác nhau của bệnh

Lựa chọn chính để giảm triệu chứng là giảm tác dụng của chất trung gian

tế bào mast như histamin, PAF và các thuốc khác tác động trên các cơ quanđích Các triệu chứng của mày đay liên quan với hoạt động của histamin trênreceptor H1 ở các tế bào nội mô và tận cùng thần kinh (gây ngứa) Vì thế,điều trị liên tục bằng kháng histamin H1 là đặc biệt quan trọng trong điều trịmày đay Tuy nhiên, các chất trung gian khác của tế bào mast (PAF,leukotrien, cytokin) có thể liên quan đến quá trình xâm nhập các bạch cầu ưabase, bạch cầu ưa acid và tế bào lympho [19] Các tác nhân này đáp ứng hoàntoàn với một đợt ngắn điều trị corticoid và không đáp ứng với kháng histamin.Kháng histamin thế hệ 1 có tác dụng kháng cholinergic, tác dụng gâyngủ, có tương tác với rượu và các thuốc tác động trên thần kinh trung ươngkhác (an thần, giảm đau ) Chúng có thể gây ra cử động nhanh nhãn cầu khingủ và ảnh hưởng đến học tập, làm việc Các tác động này đặc biệt tăng lênkhi thực hiện các hoạt động phối hợp và phức tạp như lái xe Trong hướngdẫn điều trị mày đay của Mạng lưới về hen và dị ứng toàn cầu tại châu Âu(Global Allergy and Asthma European Network, GA²LEN) khuyến cáo mạnhrằng không sử dụng kháng histamin thế hệ 1 trong điều trị dị ứng kéo dài ởngười lớn và đặc biệt ở trẻ nhỏ [20]

Sự phát triển của thuốc kháng histamin thế hệ 2 đã hạn chế tác dụng gâyngủ và không có tác dụng kháng cholinergic Các thuốc kháng histamin thế hệ

2 mới nên được xem là lựa chọn đầu tiên trong điều trị triệu chứng bệnh màyđay bởi tính an toàn của chúng Tuy nhiên, đến nay nhiều so sánh trong cácthử nghiệm lâm sàng về tác dụng và an toàn của kháng histamin thế hệ 2 vẫncòn chưa được đầy đủ

Trang 19

Có nhiều nghiên cứu chỉ ra lợi ích của việc sử dụng liều cao hơn khánghistamin thế hệ 2 trên bệnh nhân và bằng chứng ở những nghiên cứu trướcđây đều đưa ra kết luận tương tự như việc sử dụng kháng histamin thế hệ 1.

Có sự thay đổi ở các nghiên cứu khác nhau về việc sử dụng liều gấp 4 lần sovới liều khuyến cáo của bilastin, desloratadin, ebastin, fexofenadin,levocetrizin và rupatadin [21] Tuy nhiên, các thuốc kháng histamin ở liềuthông thường là lựa chọn đầu tiên và tăng liều chỉ là lựa chọn thứ hai trongđiều trị mày đay

Các liệu pháp đối với bệnh nhân không đáp ứng kháng histamin

Omalizumab (anti-IgE) được chứng minh có tác dụng rất tốt và an toàntrong điều trị mày đay mạn tính tự phát [22],[23] Omalizumab cũng được báocáo có tác dụng trong mày đay mạn tính có yếu tố khởi phát [24], bao gồmmày đay do lạnh [25], mày đay do ánh nắng [26], mày đay do nhiệt [27],chứng vẽ nổi [28] cũng như mày đay áp lực [29]

Cyclosporin A cũng có tác dụng trực tiếp, trung bình lên sự giải phóngcác chất trung gian của tế bào mast [30] Tác dụng của cyclosporin A trongkết hợp với kháng histamin thế hệ 2 mới được chỉ ra trong các thử nghiệmkiểm soát thuốc an thần cũng như trong các thử nghiệm ở trong mày đay mạntính tự phát, nhưng nó không được khuyến cáo như là thuốc chính do có nhiềutác dụng phụ [31]

Một số thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đã đánh giá tác dụng của khángthụ thể leukotrien (LTRA) Các nghiên cứu khó để so sánh do sự khác nhau vềquần thể nghiên cứu Nhìn chung mức độ bằng chứng về tác dụng của LTRAtrong điều trị mày đay còn thấp và thuốc tốt nhất hiện nay vẫn là montelukast.Hiện tại, các thuốc corticoid bôi ngoài da thường được sử dụng và tácdụng tốt với các bệnh dị ứng, nhưng trong mày đay nó lại không có lợi ích(trừ mày đay áp lực chưa có nhiều bằng chứng) Trong mày đay cấp và đợt

Trang 20

cấp của mày đay mạn tính tự phát, một đợt ngắn corticoid đường uống liều20-50 mg/ngày (prednisone), điều trị tối đa trong 10 ngày có thể có ích tronggiảm thời gian, tình trạng hoạt động của bệnh [32] Chỉ dùng corticoid khimày đay khó khống chế bằng kháng histamin và phải loại trừ tình trạng nhiễmtrùng ở bệnh nhân Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị củacorticoid còn ít.

1.2 Đặc điểm bệnh mày đay ở trẻ em

1.2.1 Dịch tễ học và cơ chế bệnh sinh

Các nghiên cứu về mày đay trẻ em hiện nay còn rải rác nhưng các kếtquả đều cho thấy nguyên nhân, triệu chứng mày đay ở trẻ em cũng tương tựngười lớn Bệnh tập trung nhiều ở lứa tuổi sơ sinh đến 9 tuổi Chỉ có một sốkhác biệt nhỏ ở mày đay trẻ em so với người lớn Nhiều tác giả đã nhận thấymối liên quan giữa mày đay và tình trạng nhiễm khuẩn ở trẻ Theo Liu vàcộng sự, nhiễm khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây ra mày đay ở trẻ em(chiếm 48,8%) [4] Một nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng 30% trẻ em bị màyđay là do virus [33], và ở một nghiên cứu khác thì con số này lên đến 79,5%[34] Bằng phương pháp phân lập đã xác nhận sự có mặt của

Cytomegatovirus, Herpes simplex 1, virus cúm A trong huyết thanh của trẻ

đang mắc mày đay cấp Xét nghiệm huyết thanh học cũng đã xác định được

các virus như Enterovirus, Parvovirus, Epstein-Barr virus [34] Ngoài ra, liên cầu khuẩn nhóm A tan máu beta, Mycoplasma pneumoniae cũng được nhắc

đến với như là nguyên nhân gây bệnh mày đay ở trẻ em [34]

1.2.2 Lâm sàng

Các thương tổn cơ bản ở trẻ em giống với người lớn Ban dát đỏ, sẩnphù, kích thước 1-8 cm, màu đỏ hoặc màu trắng với viền đỏ xung quanh, đahình thái, hình tròn, ovan hoặc đa cung, ranh giới rõ với vùng da lành xung

Trang 21

quanh Các thương tổn khu trú hoặc lan rộng thành từng mảng lớn, phân bốkhắp nơi trên cơ thể, tồn tại dưới 24 giờ Tổn thương gây ngứa nhiều khiến trẻrất khó chịu, mệt mỏi, quấy khóc, mất ăn, mất ngủ, ảnh hưởng nhiều đến sứckhỏe và học tập

Khoảng 15% trẻ em mắc mày đay có kèm theo phù mạch [12] Vị tríxuất hiện thường ở mi mắt, môi, lưỡi, đầu chi Cần đặc biệt chú ý nhữngtrường hợp mày đay kèm theo triệu chứng chỉ điểm có tổn thương phù mạch ởcác cơ quan nội tạng Khi trẻ có dấu hiệu tổn thương đường hô hấp như viêmlong đường hô hấp trên, khò khè, thở rít và các dấu hiệu của phản ứng quámẫn như mất ý thức, trụy tim mạch, các dấu hiệu nặng đường tiêu hóa nhưđau bụng, tiêu chảy cần cho trẻ nhập viện ngay để điều trị, tránh các biếnchứng xấu của bệnh

1.2.3 Chẩn đoán phân biệt

Thương tổn mày đay ở trẻ em cần được chẩn đoán phân biệt với một sốbệnh có phát ban thường gặp, dựa vào các đặc điểm, thời gian tồn tại của ban

và các triệu chứng kèm theo

Sởi: là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus thuộc họ Paramyxoviridae.

Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, gặp chủ yếu ở trẻ 1-6 tuổi Bệnh khởiphát sốt cao đột ngột 39-40°C, viêm long đường hô hấp trên, kết mạc mắt đỏ,

mi mắt sưng, chảy rỉ mắt và có hạt koplik trong miệng quanh lỗ stenon rất đặchiệu Sau 3-5 ngày, ban sởi xuất hiện theo trình tự, bắt đầu từ sau tai, gáy rồiđến trán, má và lan ra toàn bộ vùng đầu mặt cổ Ngày thứ hai, ban lan xuốngvùng thân mình, đùi và đến ngày thứ ba, ban xuất hiện toàn thân Ban cũngbay theo thứ tự xuất hiện, khi ban mọc đến hết hai chân thì ban bắt đầu bay ởmặt Ban sởi điển hình với các dát, sẩn, hình tròn hoặc hình bầu dục, màu đỏtía, sờ mịn như nhung, xung quanh là vùng da lành, không ngứa, sau khi bay

để lại vết thâm trên da, bề mặt phủ phấn trắng trông như vết lằn da hổ

Trang 22

Ban đỏ nhiễm khuẩn: là tình trạng ban đỏ ngoài da ở trẻ em doParvovirus B19 Bệnh hay gặp vào mùa xuân, mùa hè ở các vùng khí hậunóng Bệnh lây qua đường hô hấp, đường máu, từ mẹ sang còn và gây thànhdịch Bệnh khởi phát có những biểu hiện không đặc hiệu như sốt nhẹ, đauđầu Sau vài ngày, xuất hiện ban với hai dấu hiệu nổi bật: hai má đỏ và ban đỏdạng lưới ở chi, thân mình Ở má, thương tổn đỏ da, chắc, hơi nóng rát, đượcgọi là dấu hiệu “slapped cheeks” (như ai đó đánh vào má trẻ) Triệu chứngnày kéo dài 2-4 ngày, sau đó xuất hiện ban màu hồng, dạng lưới ở chi, có thểgặp ở cả thân mình Ban mất đi sau vài ngày, nhưng một số trường hợp kéodài vài tuần

Sốt tinh hồng nhiệt: là bệnh gây ra bởi liên cầu tan máu beta nhóm A, lâyqua đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp với thương tổn da, dùng chung quần

áo, vật dụng nhiễm khuẩn Bệnh thường xảy ra ở trẻ 4-8 tuổi Thời gian ủ bệnh

từ 1 đến 4 ngày Bệnh bắt đầu với dấu hiệu sốt cao đột ngột kèm theo đau họng,hạch vùng cổ sưng to, đau đầu, buồn nôn, nôn, đau mỏi cơ, lưỡi sưng đỏ nhưquả dâu Ban tinh hồng nhiệt xuất hiện sau sốt 12-48 giờ, đầu tiên ở các nếpgấp như dưới tai, cổ, ngực, nách, háng, sau đó lan ra các vùng khác của cơ thểsau 24 giờ Ban màu hồng, dạng cát thô, nhỏ, bóng, đồng đều, có nơi tập trungthành mảng Khi thương tổn da lan rộng, sờ vào da có cảm giác như giấy nhám.Ngày thứ 6 của bệnh, các ban đỏ bắt đầu mờ dần kèm theo bong vảy da nhưdiễn biến của bỏng nắng Quá trình này kéo dài một tuần

Sốt đào ban: gây ra bởi Human Herpes virus 6B, lây qua đường hô hấp.Bệnh gặp ở lứa tuổi nhỏ dưới 3 tuổi Sau thời gian ủ bệnh 2 tuần, trẻ sốt caođột ngột 39-40°C, kéo dài 3 ngày và hết sốt, lúc này ban xuất hiện Đây làdạng dát hồng ban, màu hồng nhạt, mọc thưa, đường kính 2-5mm, khôngngứa Ban xuất hiện đầu tiên ở thân mình hoặc ở mặt rồi lan ra các vùng khác.Ban tồn tại trung bình 4 ngày rồi mất đi không để lại dấu vết

Trang 23

Rubella: là virus thuộc nhóm Rubivirus họ Togaviridae, gây bệnh ở trẻ

em tuổi đi học và người trưởng thành Bệnh thường xảy ra vào mùa xuân.Bệnh lây truyền qua đường hô hấp, mạnh nhất vào thời gian ủ bệnh, khoảng14-21 ngày Ở các bệnh nhi thường nổi ban mà không có tiền triệu gì Banxuất hiện đầu tiên ở mặt, sau đó nhanh chóng lan xuống cổ, cánh tay, thânmình và chân Ban tồn tại khoảng 3 ngày Ban có màu hồng tươi, lúc đầukhông rõ nhưng sau đó liên kết với nhau ở mặt giống như đỏ da toàn thân.Trong vòng 2 ngày, ban ở mặt biến mất, khi đó các ban ở thân lại liên kết vớinhau và trở nên rõ hơn Ngày thứ 3, các ban ở thân cũng biến mất và ngày thứ

4, các ban ở chi cũng mờ dần

1.2.4 Cận lâm sàng

Ngoài những xét nghiệm tương tự người lớn, cần chú ý đến những kếtquả cận lâm sàng nhằm đánh giá tình trạng nhiễm trùng ở trẻ:

- Công thức máu, máu lắng, CRP

- Tổng phân tích nước tiểu

Trang 24

Điều trị kháng sinh ở trẻ có tình trạng nhiễm khuẩn với biểu hiện nhưviêm long đường hô hấp trên, khò khè, đau họng, rối loạn tiêu hóa, tiểu buốt,tiểu rắt…

Điều trị triệu chứng bệnh mày đay bằng thuốc

Nhiều nhà lâm sàng sử dụng kháng histamin thế hệ 1 là lựa chọn đầu tiêntrong điều trị các bệnh dị ứng ở trẻ em vì sự an toàn của các thuốc này đượcbiết rõ hơn các thuốc kháng histamin thế hệ 2 mới vì thời gian sử dụng trênthực hành lâm sàng lâu hơn Cũng vì thế, ở một số quốc gia, thuốc khánghistamin H1 thế hệ 2 mới không được cấp phép để sử dụng ở trẻ em dưới 6tháng tuổi Trong khi đó, có khuyến cáo sử dụng kháng histamin H1 thế hệ 1mặc dù các chỉ số đánh giá lâm sàng của các công ty dược phẩm trên cácthuốc này chưa được chặt chẽ Nhiều bác sĩ chọn kháng histamin H1 thế hệ 1

do tính an toàn hơn so với kháng histamin H1 thế hệ 2 Tuy nhiên, cũng cókhuyến cáo không sử dụng kháng histamin H1 thế hệ 1 trên trẻ sơ sinh và trẻnhỏ Vì thế lúc này lựa chọn đầu tiên trong điều trị mày đay ở trẻ em vẫn làkháng histamin H1 thế hệ 2 và phác đồ tăng liều được xem xét như ở ngườilớn Chỉ một số thuốc được chứng minh có tác dụng và an toàn với trẻ em nhưcetirizin [35], desloratadin [36], fexofenadin [37], levecetirizin [38], rupatadin[39], bilastin [40] và loratadin [35] Thêm vào đó, lựa chọn kháng histaminthế hệ 2 ở trẻ nhỏ phụ thuộc vào tuổi, tính sẵn có và không phải tất cả thuốcđều có sẵn dạng siro, dễ hấp thu đối với trẻ Tuổi thấp nhất được cho phép sửdụng các thuốc này thay đổi theo từng quốc gia

Thuốc kháng histamin H1 (diphenhydramin) được sử dụng dưới dạngđường tĩnh mạch hoặc đường uống bằng viên giải phóng nhanh

Thuốc kháng histamin H2 được cân nhắc ở những bệnh nhân có tìnhtrạng phản ứng mẫn cảm

Liều duy nhất epinephrin giúp giải quyết nhanh tình trạng mày đay ở trẻ,nhưng do tác dụng ngắn nên có thể cân nhắc liều thứ 2

Trang 25

Nếu các tổn thương mày đay không mất sau 2 giờ dùng thuốc, hoặc xuấthiện thêm các triệu chứng khác, có thể dùng thêm corticoid toàn thân(prednisone 1 mg/kg/ngày) không quá 5 ngày để tránh các tác dụng khôngmong muốn của thuốc đối với trẻ [41].

1.3 Một số nghiên cứu về bệnh mày đay ở trẻ em

Nghiên cứu Liu TH, Lin YR, Yang KC và cộng sự về trẻ em mắc màyđay cấp tính lần đầu tại các đơn vị cấp cứu nhi khoa và đơn vị điều trị ngoạitrú từ tháng 1/2000 đến 12/2006 ở 953 trẻ dưới 18 tuổi cho thấy bệnh màyđay gặp ở mọi lứa tuổi Nguyên nhân gây bệnh mày đay rất đa dạng, mỗinguyên nhân đặc trưng ở mỗi lứa tuổi khác nhau, đặc biệt những nguyên nhângây bệnh mày đay đã được xác định có xu hướng tập trung chủ yếu ở trẻ dưới

7 tuổi Tỉ lệ mày đay nhiễm khuẩn chiếm 48,4% số ca nhập viện, nguyên nhânchính là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên Tỉ lệ này giảm dần theo lứa tuổi, trẻnhỏ (56,5%), tiền học đường (51,2%), học đường (42,1%) và thanh thiếu niên(17,1%) [4]

Nghiên cứu Tang N, Mao MY và cộng sự tại khoa da liễu bệnh việnXiangya thuộc trường đại học phía nam trung tâm từ tháng 1/2013 đến tháng5/2017 cho thấy trong số 411 trẻ em bị bệnh mày đay có 314 trẻ bị mày đaycấp tính (76,4%), nguyên nhân nhiễm trùng có tỉ lệ cao nhất, chiếm 41%.Triệu chứng kèm theo chủ yếu là đau bụng và tiêu chảy (44%) Những trẻ bịviêm da cơ địa dễ bị mày đay hơn [42]

Nghiên cứu khác của Bilbao A và cộng sự năm 1999 tại khoa cấp cứunhi trên 44 trẻ từ 1 đến 12 tuổi bị mày đay cấp kèm theo biểu hiện nhiễmtrùng hoặc sốt Kết quả cho thấy có 22 trẻ ở độ tuổi 1 đến 2 tuổi (50%) Có 40trẻ (90,9%) có biểu hiện nhiễm trùng đường hô hấp, trong đó chỉ 4 trẻ đượcchẩn đoán xác định viêm phổi, 4 trẻ còn lại có biểu hiện nhiễm trùng đườngtiêu hóa (9,1%) Căn nguyên virus được tìm thấy ở 35 trẻ (79,5%) Có 38,6%

Trang 26

trẻ có phù mạch kèm theo Trước khi có biểu hiện mày đay, 21 trẻ (47,7%) đãđiều trị kháng sinh và khi được sử dụng lại kháng sinh nghi ngờ thì không cóbất kì tác dụng phụ nào [34].

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tất cả các bệnh nhân từ 0-15 tuổi được chẩn đoán xác định bệnh màyđay và điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 08/2018 đếntháng 04/2019

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

o Tuổi: 0-15 tuổi

o Tổn thương cơ bản của mày đay (tiêu chuẩn bắt buộc):

+ Ban hình dạng thay đổi với sẩn phù ở giữa

+ Cảm giác ngứa, đôi khi bỏng rát

+ Thời gian tồn tại ngắn, biến mất hoàn toàn sau 24 giờ

o Có thể có tổn thương phù mạch kèm theo:

+ Sẩn phù đỏ hoặc thay đổi màu sắc da xuất hiện đột ngột, rõ rệt ở vùng hạ bì,dưới da hoặc màng nhầy

+ Cảm giác đau, bỏng rát nổi trội hơn là ngứa

+ Biến mất chậm hơn so với ban mày đay (có thể kéo dài tới 72 giờ)

o Và/ hoặc có các triệu chứng khác: ngứa, sốt, khò khè, khó thở, đau họng, đaubụng, tiêu chảy

o Cận lâm sàng: đầy đủ các xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm trùng gồmtổng phân tích tế bào máu ngoại và/hoặc CRP

- Tiêu chuẩn loại trừ:

o Sẩn phù kéo dài trên 24 giờ

o Phù mạch đơn thuần

o Các bệnh nhân không được làm xét nghiệm đầy đủ: tổng phân tích tế bào máungoại vi, CRP, máu lắng

Trang 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, tiến cứu

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08 năm 2018 đến tháng 04 năm 2019

2.2.3 Địa điểm nghiên cứu

Khoa Bệnh da phụ nữ và trẻ em, Bệnh viện Da liễu Trung ương

2.2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu thuận tiện Lấy mẫu toàn bộ bệnh nhân từ 0-15 tuổi được chẩnđoán xác định bệnh mày đay cấp tính, mày đay mạn tính và điều trị nội trú trongthời gian từ tháng 08/2018 đến tháng 04/2019 tại bệnh viện Da liễu Trung ương

Kết quả thu được 73 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn, tất cả đều đượcchẩn đoán mày đay cấp

2.2.5 Các bước tiến hành nghiên cứu

2.2.5.1 Lập mẫu bệnh án nghiên cứu (phụ lục 1)

- Thu thập kết quả xét nghiệm cận lâm sàng

- Mỗi bệnh nhân thuộc đối tượng nghiên cứu được hỏi bệnh, ghi nhận các chỉtiêu có trong bộ câu hỏi, đảm bảo tính trung thực và khách quan

• Xử lý số liệu

- Các tính toán sử dụng phần mềm SPSS 20.0

- Các biến rời rạc được mô tả bằng tần suất, tỉ lệ %

Trang 29

- Các biến liên tục được mô tả bằng giá trị trung bình

- Các test thống kê được sử dụng là kiểm định T-test, test chính xác Fisher(Fisher exact test), test χ2

- Sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu có ý nghĩa thống kê nếu p <0,05

2.3 Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu

Bảng 2.1 Các biến số trong nghiên cứu

Tên biến Biến số, Chỉ số Định nghĩa Cáchtính LoạibiếnTuổi - Tuổi trung bình- Nhóm tuổi

Tuổi được tính từ lúc đủtuổi trong ngày sinh nhậtđến trước ngày sinh nhậttiếp theo 1 ngày

Năm Định lượngGiới - Giới nam- Giới nữ có, không Định tính

Tiền sử

dùng

thuốc

- Thuốc kháng sinh đường uống

- Thuốc tiêm không rõ loại

- Thuốc bôi không

rõ loại

Các thuốc được dùng trongvòng 7 ngày trước khi bịbệnh mày đay cấp

có, không

Định tính

có, không

Định tính

Dị ứng đã được chẩn đoántại cơ sở y tế

có, không

Định tính

Nguyên nhân gây mày đaychẩn đoán tại cơ sở y tế

có, không

Định tính

Trang 30

Tên biến Biến số, Chỉ số Định nghĩa Cáchtính LoạibiếnThời

gian

vào viện

Thời gian vào viện

Thời gian kể từ khi xuấthiện triệu chứng bệnh màyđay đầu tiên đến khi vàoviện tính theo ngày

có, không

Định tính

có, không

Định tính

có, không

Định tính

có, không

Định tính

có, không

Định tínhTriệu

Nhiễm trùng tiêu hóa: đaubụng, nôn, tiêu chảy

Nhiễm trùng tiết niệu: tiểu

có, không

Định tính

Trang 31

Tên biến Biến số, Chỉ số Định nghĩa Cáchtính Loạibiến

Nhiễm trùng tai mũi họng:

đau, sưng nề, chảy dịch tai

Nhiễm trùng da: bọngnước, rỉ dịch, vảy tiết,ngứa

Nhiễm trùng răng hàmmặt: đau răng, sưng nề,chảy mủ, hơi thở hôi

≥ 20mg/L và/hoặc có dấuhiệu nhiễm trùng trong kết

có, không

Định tính

Trang 32

Tên biến Biến số, Chỉ số Định nghĩa Cáchtính Loạibiến

trùng

quả tổng phân tích nướctiểu, X-quang ngực, siêu

âm ổ bụng

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu

- Tất cả bệnh nhân đều tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện, được sự đồng

ý của người giám hộ

- Tất cả thông tin liên quan đến bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được giữ bímật

- Các số liệu được thu thập trung thực, các kết quả được xử lý và phân tích theophương pháp khoa học

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua nghiên cứu trên 73 bệnh nhân mày đay từ 0-15 tuổi điều trị nội trútại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 08/2018 đến tháng 04/2019, chúngtôi thu được kết quả như sau:

3.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh mày đay

3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân

3.1.1.1 Đặc điểm về nhóm tuổi

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi (n=73)

Nhận xét: Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 7,47 ± 4,02 tuổi Trong

đó tuổi thấp nhất là 9 tháng tuổi và cao nhất là 15 tuổi

Nhóm tuổi từ 6-12 tuổi gồm 35 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ cao nhất (47,9%),nhóm tuổi 1-5 tuổi gồm 25 bệnh nhân, chiếm 34,2%, nhóm tuổi trên 12 tuổigồm 10 bệnh nhân, chiếm 13,7%, nhóm tuổi dưới 1 tuổi chỉ có 3 bệnh nhân,chiếm tỉ lệ thấp nhất (4,1%)

3.1.1.2 Đặc điểm về giới

Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo giới (n=73)

Nhận xét: Trong 73 bệnh nhân nghiên cứu, có 42 trẻ nam, chiếm 57,5%,

cao hơn so với trẻ nữ là 31 bệnh nhân, chiếm 42,5% Tỉ lệ nam: nữ = 1,4:1

3.1.1.3 Mối liên quan giữa tuổi và giới

Bảng 3.1 Mối liên quan giữa tuổi và giới (n=73)

Trang 34

p = 0,57 (test chính xác Fisher) so sánh tỉ lệ nam và nữ giữa các nhóm tuổi

Nhận xét: Ở nhóm trẻ <1 tuổi, chỉ có bệnh nhân nam Ở nhóm tuổi 1-5

tuổi, tỉ lệ trẻ nam cao hơn trẻ nữ Ở nhóm trẻ 6-12 tuổi và >12 tuổi, tỉ lệ trẻ nữcao hơn trẻ nam

Nhóm tuổi hay gặp nhất ở trẻ nam và trẻ nữ đều là 6-12 tuổi chiếm tỉ lệlần lượt là 45,2% và 51,6% Nhóm tuổi ít gặp nhất là <1 tuổi, chiếm 7,1% đốivới trẻ nam và 0% đối với trẻ nữ Tỉ lệ nam và nữ giữa các nhóm tuổi khácbiệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,57; test chính xác Fisher)

Trang 35

Viêm mũi dị ứng 0 0

Nhận xét: Đa số bệnh nhân chưa phát hiện tiền sử dị ứng trước khi bị

bệnh, chiếm 95,8% Có 1 bệnh nhân dị ứng thuốc, 1 bệnh nhân dị ứng thờitiết, 1 bệnh nhân viêm da cơ địa Không có bệnh nhân nào có tiền sử dị ứngthức ăn, hen phế quản, viêm mũi dị ứng Có 4 bệnh nhân có bố hoặc mẹ cótiền sử bị mày đay do thay đổi thời tiết, chiếm 5,5%

Trang 36

3.1.1.5 Tiền sử dùng thuốc

Bảng 3.3 Tiền sử dùng thuốc trước khi mắc bệnh mày đay (n=73)

Nhận xét: Đa số bệnh nhân không có tiền sử dùng thuốc trước khi mắc

bệnh mày đay, chiếm 98,6% Chỉ có 1 bệnh nhân sử dụng kháng sinh Tedavi(amoxicillin+axit clavulanic) uống, chiếm 1,4%

3.1.2 Đặc điểm lâm sàng

3.1.2.1 Số lần bị bệnh mày đay

Biểu đồ 3.3 Số lần bị bệnh mày đay (n=73)

Nhận xét: Có 67 bệnh nhân mắc bệnh mày đay lần đầu, chiếm đa số

(91,8%) Số bệnh nhân mắc bệnh lần 2 và trên 2 lần là rất thấp, đều chỉ có 3bệnh nhân, chiếm 4,1%

3.1.2.2 Nguyên nhân gây bệnh mày đay trước đây

Bảng 3.4 Nguyên nhân gây mày đay trước đây (n=6)

Trang 37

Nhiễm trùng 0 0

Nhận xét: Trong số 6 bệnh nhân đã từng bị bệnh mày đay trước đây, chỉ

có 1 bệnh nhân xác định được nguyên nhân do thay đổi thời tiết (16,7%), 5bệnh nhân còn lại không xác định được nguyên nhân gây bệnh và không cótình trạng nhiễm trùng kèm theo (83,3%)

3.1.2.3 Thời gian vào viện

Biểu đồ 3.4 Thời gian xuất hiện mày đay trước khi vào viện (n=73)

Nhận xét: Trong 73 bệnh nhân, có 52 bệnh nhân vào viện sau khi xuất

hiện triệu chứng mày đay 3-5 ngày, chiếm tỉ lệ nhiều nhất (71,2%), số bệnhnhân vào viện sau khi xuất hiện triệu chứng mày đay sau 1-2 ngày là 13 bệnhnhân, chiếm 17,9%, 8 bệnh nhân vào viện sau khi xuất hiện triệu chứng màyđay trên 5 ngày, chiếm tỉ lệ thấp nhất (10,9%) Thời gian trung bình từ khixuất hiện triệu chứng đầu tiên đến lúc vào viện là 3,95 ± 2,43 ngày

3.1.2.4 Điều trị trước khi vào viện

Biểu đồ 3.5 Điều trị bệnh mày đay trước khi vào viện (n=73)

Nhận xét: Có 60 bệnh nhân được điều trị bệnh mày đay trước khi vào

viện, chiếm 82,2% Trong đó, có 16 bệnh nhân chỉ điều trị thuốc khánghistamin, chiếm 21,9%; có 11 bệnh nhân chỉ điều trị corticoid, chiếm 12,3%, có

9 bệnh nhân điều trị phối hợp corticoid và kháng histamin, chiếm 12,3% Chỉ có

1 bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng thụ thể leukotrien, chiếm tỉ lệ thấp

Ngày đăng: 07/08/2019, 20:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Zuberbier T, ChantraineHess S, et al. (1995). Pseudoallergen-free diet in the treatment of chronic urticaria - A prospective study, Acta Derm Venereol, 75(6), 484-487 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta DermVenereol
Tác giả: Zuberbier T, ChantraineHess S, et al
Năm: 1995
16. Varghese R, Rajappa M, Chandrashekar L, et al. (2016). Association among stress, hypocortisolism, systemic inflammation, and disease severity in chronic urticaria, Ann Allergy Asthma Immunol, 116(4), 344-348 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ann Allergy Asthma Immunol
Tác giả: Varghese R, Rajappa M, Chandrashekar L, et al
Năm: 2016
17. Kounis NG, Kounis GN, Soufras GD. (2016). Exercise-induced urticaria, cholinergic urticaria, and Kounis syndrome, J Pharmacol Pharmacother, 7(1), 48-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Pharmacol Pharmacother
Tác giả: Kounis NG, Kounis GN, Soufras GD
Năm: 2016
18. Parisi CA, Ritchie C, Petriz N. (2016). Direct Medical Costs of Chronic Urticaria in a Private Health Organization of Buenos Aires, Argentina, Value Health Reg Issues, 11, 57-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Value Health Reg Issues
Tác giả: Parisi CA, Ritchie C, Petriz N
Năm: 2016
19. Vonakis BM, Saini SS. (2008). New concepts in chronic urticaria, Curr Opin Immunol, 20(6), 709-716 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CurrOpin Immunol
Tác giả: Vonakis BM, Saini SS
Năm: 2008
20. Church MK, Maurer M, Simons FE, et al. (2010). Risk of first- generation H1-antihistamines: a GA²LEN position paper, Allergy, 65(4), 459-466 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allergy
Tác giả: Church MK, Maurer M, Simons FE, et al
Năm: 2010
21. Zuberbier T, Munzberger C, Haustein U, et al. (1996). Double-blind crossover study of high-dose cetirizine in cholinergic urticaria, Dermatology, 193(4), 324-327 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dermatology
Tác giả: Zuberbier T, Munzberger C, Haustein U, et al
Năm: 1996
24. Metz M, Altrichter S, Ardelean E, et al. (2011). Anti-immunoglobulin E treatment of patients with recalcitrant physical urticaria, Int Arch Allergy Immunol, 154(2), 177-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int Arch AllergyImmunol
Tác giả: Metz M, Altrichter S, Ardelean E, et al
Năm: 2011
25. Boyce JA. (2006). Successful treatment of cold- induced urticaria/anaphylaxis with anti-IgE, J Allergy Clin Immunol, 117(6), 1415-1418 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Allergy Clin Immunol
Tác giả: Boyce JA
Năm: 2006
26. Guzelbey O, Ardelean E, Magerl M, et al. (2008). Successful treatment of solar urticaria with anti-immunoglobulin E therapy, Allergy, 63(11), 1563-1565 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allergy
Tác giả: Guzelbey O, Ardelean E, Magerl M, et al
Năm: 2008
27. Bullerkotte U, Wieczorek D, et al. (2010). Effective treatment of refractory severe heat urticaria with omalizumab, Allergy, 65(7), 931-932 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allergy
Tác giả: Bullerkotte U, Wieczorek D, et al
Năm: 2010
28. Krause K, Ardelean E, Kessler B, et al. (2010). Antihistamineresistant urticaria factitia successfully treated with anti-immunoglobulin E therapy, Allergy, 65(11), 1494-1495 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allergy
Tác giả: Krause K, Ardelean E, Kessler B, et al
Năm: 2010
29. Bindslev-Jensen C, Skov PS. (2010). Efficacy of omalizumab in delayed pressure urticaria: a case report, Allergy, 65(1), 138-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allergy
Tác giả: Bindslev-Jensen C, Skov PS
Năm: 2010
30. Harrison CA, Bastan R, Peirce MJ, et al. (2007). Role of calcineurin in the regulation of human lung mast cell and basophil function by cyclosporine and FK506, Br J Pharmacol, 150(4), 509-518 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Br J Pharmacol
Tác giả: Harrison CA, Bastan R, Peirce MJ, et al
Năm: 2007
31. Vena GA, Cassano N, Colombo D, et al. (2006). Cyclosporine in chronic idiopathic urticaria: a double-blind, randomized, placebo-controlled trial, J Am Acad Dermatol, 55(4), 705-709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Acad Dermatol
Tác giả: Vena GA, Cassano N, Colombo D, et al
Năm: 2006
32. Asero R, Tedeschi A. (2010). Usefulness of a Short Course of Oral Prednisone in AntihistamineResistant Chronic Urticaria: A Retrospective Analysis, J Investig Allergol Clin Immunol, 20(5), 386-390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Investig Allergol Clin Immunol
Tác giả: Asero R, Tedeschi A
Năm: 2010
33. Nguyễn Thị Diệu Thúy, Lê Thị Minh Hương. (2013). Nguyên nhân mày đay cấp ở trẻ em, Tạp chí nghiên cứu y học, 17(4), 230-234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu y học
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thúy, Lê Thị Minh Hương
Năm: 2013
34. Bilbao A, Garcia JM, Pocheville I, et al. (1999). Roundtable: urticaria in relation to infection. Allergol Immunopatho (Madr), 27, 73 −85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allergol Immunopatho (Madr)
Tác giả: Bilbao A, Garcia JM, Pocheville I, et al
Năm: 1999
36. Gupta S, Khalilieh S, et al. (2007). Pharmacokinetics of desloratadine in children between 2 and 11 years of age, Br J Clin Pharmacol, 63(5), 534-540 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Br J Clin Pharmacol
Tác giả: Gupta S, Khalilieh S, et al
Năm: 2007
37. Meltzer EO, Scheinmann P, Rosado JE, et al. (2004). Safety and efficacy of oral fexofenadine in children with seasonal allergic rhinitis-a pooled analysis of three studies, Pediatr Allergy Immunol, 15(3), 253-260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatr Allergy Immunol
Tác giả: Meltzer EO, Scheinmann P, Rosado JE, et al
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w